1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong thi nhân việt nam của hoài thanh hoài chân

103 2,3K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân
Tác giả Hoài Thanh, Hoài Chân
Người hướng dẫn T.S Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 365 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Mã số: 5.04.08

Ngời hớng dẫn khoa học: T.S Phan Mậu Cảnh

Vinh - 2002

Trang 2

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Phê bình văn học là bộ môn thuộc lĩnh vực nghiên cứu văn học.Vănbản phê bình văn học, xét ở mặt phong cách học văn bản, là một thể loại thuộckiểu văn bản nghị luận văn học, trong phong cách văn bản chính luận Vừa là

bộ môn của lí luận nghiên cứu phê bình văn học, vừa là thể loại của phongcách văn bản chính luận, ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học rất phongphú, đa dạng Nó vừa mang những đặc điểm của ngôn ngữ chính luận vừa có

đặc điểm của ngôn ngữ văn chơng Vì thế, tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trongvăn bản phê bình là một điều hết sức thú vị

Hơn nữa, nghiên cứu về ngôn ngữ trong các văn bản nghị luận, từ lâu đã

đợc nhiều ngời quan tâm – nhất là ở bộ môn Tập làm văn Ngời ta nghiêncứu sâu tới cách thức lập luận trong việc tạo dựng đoạn văn, văn bản; cách lựachọn và sử dụng từ ngữ sao cho phù hợp với từng kiểu văn bản Tuy nhiên,việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản nghị luận ở các tác giả

cụ thể cha nhiều Do vậy, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản phêbình văn học ở các tác giả cụ thể vẫn là một điều mới mẻ và cần thiết

1.2 “Thi nhân Việt Nam “ là công trình đầu tiên phát hiện, tập hợp, tổngkết về phong trào Thơ Mới, đồng thời cũng là công trình đầu tiên nghiên cứumột cách tổng quát về phong trào này Với công lao ấy, “Thi nhân Việt Nam”

có vai trò của ngời mở đờng tài hoa và tinh anh ” trong quá trình nghiên cứuThơ Mới, đồng thời nó có một vị trí đáng kể trong lí luận nghiên cứu và phêbình văn học Những đóng góp quan trọng về quan niệm, nguyên tắc và phơngpháp phê bình văn học đã nâng hợp tuyển này lên vị trí tiên phong trong lĩnhvực này Do vậy, nghiên cứu về “Thi nhân Việt Nam “ từ trớc tới nay mới chỉchủ yếu đợc chú ý ở phơng diện trên.Tuy nhiên, thành công của “Thi nhânViệt Nam” không chỉ dừng lại ở đấy Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong hợptuyển là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của nó Với

đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong "Thi nhân Việt Nam” của Hoài

Thanh - Hoài Chân" chúng tôi mong góp phần tìm hiểu, xem xét hợp tuyển

này từ góc độ ngôn ngữ học để có một cách nhìn cụ thể và hệ thống về đặc

điểm của loại văn bản phê bình

1.3 Kiểu văn bản nghị luận văn học trong đó có phê bình văn học làmột trong những nội dung đợc giảng dạy ở trờng phổ thông, trong phân mônTập làm văn và Ngữ pháp văn bản Với đề tài này, chúng tôi mong muốn giúpngời đọc hiểu sâu hơn về đặc điểm phê bình văn học (nhất là phê bình thơ )nói riêng và văn bản nghị luận nói chung về cách sử dụng từ ngữ, cách thứclập luận trong đoạn văn, cách tổ chức ý và dựng đoạn nội dung…trong văntrong vănbản Từ đó có thể tự rút ra những bài học bổ ích cho mình trong quá trìnhgiảng dạy Tập làm văn và Ngữ pháp văn bản ở trờng phổ thông

Trang 3

2 Lịch sử vấn đề:

2.1 Phê bình văn học ở Việt Nam là một bộ môn có tuổi đời rất trẻ.Tiền thân của hoạt động phê bình là hình thức thẩm bình, ngâm vịnh xa Chomãi đến đầu thế kỉ XX, khi văn hoá Pháp đã ảnh hởng không nhỏ đến đờisống văn hoá tinh thần của ngời Việt thì phê bình văn học mới chính thức trởthành một bộ môn nghiên cứu Hơn nữa, trớc đây phê bình văn học chỉ là hoạt

động của một số ít ngời trong xã hội,chỉ những ngời đợc trang bị kiến thức về

lí luận văn học và những ngời say mê văn học mới làm công việc này Đội ngũ

độc giả cũng không nhiều bằng độc giả của văn chơng Do vậy, nghiên cứu vềphê bình văn học còn rất ít ngời chú ý Ngời ta mới chỉ dừng lại chủ yếu ở ph-

ơng diện lí luận văn học, nghiên cứu những nguyên tắc, phơng pháp, đặc trngcủa phê bình văn học

Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong khi nghiên cứu về các nhà phê bình và biênkhảo (1942) đã đa ra cách hiểu của mình về hoạt động phê bình: “Phê bình tức

là dẫn đờng cho độc giả, tức là đọc giúp cho độc giả, tức là vạch rõ chỗ haychỗ dở của tác giả, nghĩa là chỉ cho tác giả thấy rõ con đờng nên theo, thì mộtkhi đã có đủ các loại văn khác mà không có loại văn phê bình, văn chơng cóthể ví nh một con thuyền không chèo, không lái” [28- tr583]

Lại Nguyên Ân tập hợp các bài viết trong cuốn “Văn học và Phê bình” đãtìm cách xác định đờng biên của phê bình văn học với khoa học, chính luận vàvăn học Ông xác định vị trí của nó: “Phê bình đứng giữa văn chính luận, khoahọc và văn học…trong văn; vị trí “giáp ranh”, chỗ ‘đứt nối’giữa các ngành khoa học màkhông thể mất đi vị trí của mình ” [1- tr 216]

Ngoài ra , còn một số các nhà nghiên cú khác: Trần Đình Sử, Đỗ ĐứcHiểu, Hà Minh Đức, Vơng Trí Nhàn…trong văn đều đã đa ra những cách hiểu và giảithích khác nhau về phê bình văn học ở phơng diện lí luận văn học

Xét ở mặt lý thuyết ngôn ngữ học, văn bản phê bình văn học là một thểloại trong phong cách văn bản nghị luận Từ trớc đến nay, nghiên cứu đặc

điểm ngôn ngữ trong phê bình văn học chỉ đợc xem xét chung trong khinghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghị luận và nghị luận văn học.Thực ra, nghiên cứu sâu lí thuyết về kiểu và thể loại văn bản này lại tập trung

ở môn Tập làm văn và Ngữ pháp văn bản Những đặc điểm về kết cấu vănbản, đoạn văn,về cách dùng từ đặt câu trong các văn bản nghị luận đợc hai bộmôn này chỉ ra một cách khái quát nhất,chung nhất Có thể kể tên một số cuốnsách, giáo trình chúng tôi lấy làm cơ sở lí thuyết cho nghiên cứu đề tài.Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm với giáo trình:

“Ngữ pháp văn bản và việc dạy Tập làm văn” (Nhà xuất bản giáo dục –1985), Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Đức Dân với cuốn “Tiếng Việt” (phầnNgữ pháp văn bản) (Nhà xuất bản giáo dục –1984)…trong văn, các giáo trình phongcách học của Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú…trong văn

Trang 4

Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ phê bình ở các tác giả cụ thể rất ít đợc chú

ý Bởi trong phê bình văn học, cái quan trọng là phơng pháp, quan niệm vànhững nguyên tắc của nhà văn phê bình thể hiện nh thế nào trong văn bản.Qua việc phân tích, bình luận tác phẩm văn học, nhà phê bình rút ra điều gì bổích cho lí luận nghiên cứu phê bình văn học hay có những nhận xét đánh giágì về tác giả, tác phẩm định hớng cho hoạt động tiếp nhận và sáng tác văn học

Do vậy, các công trình viết về các nhà văn phê bình chủ yếu nghiên cứu ở

ph-ơng diện lí luận phê bình và nghiên cứu văn học Nhiều công trình, bài viết vềcác nhà văn phê bình nh: Đặng Thai Mai, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan…trong vănđều lànhững bài viết ở góc độ lí luận nghiên cứu văn học

Nh vậy, xét về mặt lí thuyết cho đến nay cha có một công trình nàonghiên cứu về ngôn ngữ phê bình Trong khi đó, những công trình về ngônngữ nghệ thuật, ngôn ngữ báo, ngôn ngữ hội thoại…trong vănđều đã có rất nhiều và đã

có những đóng góp đáng kể Sự khuyết thiếu này cho thấy nghiên cứu về ngônngữ phê bình văn học là mới mẻ và rất cần thiết trong sự phát triển ngày mộtcao của bộ môn khoa học này

2.2 Là công trình đầu tiên nghiên cứu về Thơ Mới, “Thi nhân ViệtNam” ngay từ đầu đã thu hút đợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Thực

ra, nói đến công trình đầu tiên có xem xét đến “Thi nhân Việt Nam” phải kể

đến cuốn “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan xuất bản năm 1942 Trongcuốn sách này, Vũ Ngọc Phan không trực tiếp viết về “Thi nhân Việt Nam”

mà là viết về công việc phê bình của Hoài Thanh Dù vậy, ở đây, Vũ NgọcPhan cũng đã chỉ ra đợc những u điểm, khuyết điểm trong “Thi nhân ViệtNam” dới con mắt của một nhà phê bình Ông nhận xét: “Thi nhân Việt Namkhông mang cái tên một quyển sách phê bình cũng phải, vì nếu là phê bình thìchỉ phê bình có một mặt, phê bình rặt những cái hay cái đẹp…trong văn” [28- Tr 604].Tiếp đến là một loạt những công trình, những bài viết của các nhà nghiêncứu khác viết về Hoài Thanh, trong đó đều có đề cập đến “Thi nhân ViệtNam” Có thể kể tên một số học giả nh: Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung,Phạm Thế Ngũ,…trong vănHầu hết các học giả này đều nhìn nhận, đánh giá “Thi nhânViệt Nam” ở góc độ nghiên cứu và phê bình văn học Đa số họ khẳng địnhnhững đóng góp quan trọng của “Thi nhân Việt Nam” về quan niệm và phơngpháp phê bình đối với lí luận nghiên cứu phê bình văn học Đồng thời, các họcgiả cũng đề cao vai trò của “Thi nhân Việt Nam” trong quá trình nghiên cứu

về phong trào Thơ Mới

Cùng với Thơ Mới, sau nhiều năm thăng trầm, mãi đến gần đây, “Thinhân Việt Nam” mới lại đợc xem xét, nhìn nhận một cách đúng đắn hơn và có

vẻ toàn diện hơn Năm 1992, cuộc hội thảo “Kỷ niệm 50 năm ra đời “Thinhân Việt Nam” và 10 năm ngày mất của Hoài Thanh” đã đợc tổ chức tại HàNội Các bản tham luận tham gia hội thảo đều tập trung khẳng định giá trị

Trang 5

tổng kết của “Thi nhân Việt Nam” đối với phong trào Thơ Mới (các tham luậnnày về sau đợc in trong cuốn “Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam”- Nhà xuấtbản Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành, năm 1995) Trong số các tham luận đó,nhiều tác giả đã có hớng nghiên cứu về phơng diện ngôn ngữ của “Thi nhânViệt Nam” Có thể kể tên một số tham luận nh: “Đi tìm đặc điểm văn phongtrong Thi nhân Việt Nam” của Văn Giá“, “ Những chuẩn mực để định giá thơ

ca của tác giả Thi nhân Việt Nam” của Cao Xuân Thử , “Phê bình thơ hay thơphê bình” của Thiếu Mai…trong văn

Văn Giá trong bài “ Đi tìm đặc điểm văn phong trong Thi nhân ViệtNam”đã bớc đầu nghiên cứu về ngôn ngữ của tập sách ở đây, tác giả bài viết

đã làm phép thống kê, so sánh và đa ra những nhận xét của mình về văn phongHoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” Đó là “cách diễn đạt ví von, hình ảnhkhá đặc sắc và đắc dụng”, “tác giả (Hoài Thanh –Tác giả luận văn) đã dùngnhững hình dung ngữ, những hình ảnh đầy tính nghệ thuật” Về cách dùng từtrong “Thi nhân Việt Nam”, tác giả bài viết cũng đa ra nhận xét: “Nếu ta quansát kỹ, ta thấy Hoài Thanh dùng rất nhiều từ chỉ mức không chính xác định:cái vẻ, cái dáng, tựa nh, tuồng nh, phảng phất, thử, cảm giác chung, đâu

đây…trong văn” Cuối cùng, tác giả rút ra kết luận: "Hoài Thanh không a quyết địnhluận, không a bộc lộ thẳng đuột cột sống ý tởng, cỡng bức ngôn từ Câu văn vìthế mà mềm mại, uyển chuyển, khơi gợi” [30 - tr 52-53]

Trong bài “Nguồn gốc của Thi nhân Việt Nam”, tác giả Chu Văn Sơn đãnhận ra: ""Thi nhân Việt Nam” cám dỗ ngời ta bằng thứ văn chơng óng ả,gấm thêu của nó…trong vănNgời đọc đã lạc vào thế giới hình sắc các hồn thơ, tất cảcác nét mong manh mà tơi tắn, vẻ biến ảo mà rỡ ràng của nó đợc sống dậybằng cả một nguồn văn ngập tràn ẩn dụ tinh tế Mỗi đoạn bình dù ngắn baogiờ cũng là một áng văn lí thú…trong văn” Và tác giả “Thi nhân Việt Nam” đã “phổcác hồn thơ nhập vào thân xác mới là các ẩn dụ của mình.” [14- tr36]

Với bài viết “Những chuẩn mực để định giá thi ca của tác giả “Thi nhânViệt Nam””, Cao Xuân Thử không những đã nêu ra một số những tiêu chuẩn

để định giá Thơ Mới mà còn phần nào đã chạm tới một số điểm nổi bật củangôn ngữ phê bình trong “Thi nhân Việt Nam” Dù không chủ ý, tác giả bàiviết đã chỉ ra đợc những từ và cụm từ chỉ cùng một trờng nghĩa cùng một chủ

đề trong những văn bản về Lan Sơn và tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”.Những bài viết trên đây cha thực sự là những bài nghiên cứu ở góc độngôn ngữ nhng những ý kiến của các tác giả có thể xem là những gợi ý ban

đầu cho đề tài

Là một mắt xích trong chuỗi sự nghiệp phê bình của Hoài Thanh, “Thinhân Việt Nam” trở thành một nội dung không thể thiếu trong các đề tài khoahọc nghiên cứu về ông Khi tìm hiểu về phong cách phê bình của Hoài Thanh,các học giả đã xem “Thi nhân Việt Nam” là nguồn t liệu chính chứa đựng

Trang 6

những quan niệm, phơng pháp và nguyên tắc phê bình của ông Nguyễn Văn

Đờng trong đề tài mang tên: “Nghệ thuật bình thơ của Hoài Thanh với phơngpháp bình giảng ở nhà trờng phổ thông” (Luận án phó tiến sĩ - Đại học S phạm1997), đã đa ra một hệ thống các đặc điểm phong cách bình thơ của HoàiThanh Trong đó có một nhận xét: Hoài Thanh “rất ý thức và thành công trongviệc trau dồi ngôn ngữ bình thơ, duyên dáng, sâu đẹp, gọn, gợi nh thơ”, “kếtcấu bài bình linh hoạt theo lối nêu, gợi vấn đề”, “lời văn giản dị mà không đơngiản, trong sáng, kín đáo, trau chuốt mà không cầu kỳ, dí dỏm mà không thô,lời hàm súc, ý sâu xa, ngọt ngào mà không sáo, gợng” Đây là một nhận xétcô đọng, khái quát về một số đặc điểm ngôn ngữ phê bình của Hoài Thanh.Một công trình khác có tính tổng kết lại “ sự nghiệp phê bình văn họccủa Hoài Thanh “ là của Trần Hạnh Mai (Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Hà Nội2000) Cũng nh hầu hết các nghiên cứu khác về “Thi nhân Việt Nam”, trongluận án của mình, Trần Hạnh Mai khẳng định giá trị có một không hai của

“Thi nhân Việt Nam” Đồng thời, ở chơng 3 của luận án: “Một số đặc điểm

phong cách”, tác giả Trần Hạnh Mai còn để Lời văn duyên dáng, trang nhã

“ làm thành một mục lớn và là một nét phong cách của Hoài Thanh Trong

mục này, tác giả đã chỉ ra đợc cái phần dôi ra của phát ngôn“ ” trong văn phêbình của Hoài Thanh Phần “dôi ra” ấy là cái “tôi” của tác giả ở “phía saunhững lời, những tiếng”

Nh vậy, mặc dù đã có rất nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứusong các học giả mới chỉ dừng lại ở hai điểm sau:

1 Khẳng định giá trị của “Thi nhân Việt Nam” trong nghiên cứu vàphê bình văn học

2 Điểm qua hoặc chỉ nêu ra một số đặc điểm của “văn phong” trongngôn ngữ phê bình của “Thi nhân Việt Nam”

Chúng tôi xem những điều mà các học giả đi trớc đã làm đợc là nhữnggợi ý ban đầu, là cơ sở, là chỗ dựa tin cậy để tìm hiểu, khám phá về văn phongphê bình trong “Thi nhân Việt Nam” Mặt khác với hệ thống các tri thức líluận về ngôn ngữ học, chúng tôi muốn nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn những đặc

điểm của ngôn ngữ phê bình trong “Thi nhân Việt Nam” Qua đó, nhằm lí giảinguyên nhân sâu xa làm nên sức hấp dẫn đến mê đắm lòng ngời của những cáigọi là “văn phong phê bình “, “lời văn duyên dáng, trang nhã”, “kết cấu bàibình linh hoạt”…trong văn mà các nhà nghiên cứu đã nêu

3 Mục đích nghiên cứu:

Khi nghiên cứu , luận văn hớng tới những mục đích sau:

1.Chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghị luận văn học và vănbản phê bình văn học, chỉ ra những nhân tố chi phối những đặc điểm của ngônngữ trong “Thi nhân Việt Nam”

Trang 7

2 Bằng những tri thức về ngôn ngữ học với các thao tác: phân tích, tổnghợp, so sánh…trong văn, luận văn góp phần chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ quantrọng của văn bản trong “Thi nhân Việt Nam” Đó là những đặc điểm về kếtcấu văn bản, về cách tổ chức ý và dựng đoạn nội dung trong văn bản phê bình.

Đồng thời, nêu lên những đặc điểm về nghệ thuật sử dụng từ ngữ với các

ph-ơng thức tu từ tạo nên lời văn và giọng điệu trong “Thi nhân Việt Nam”

3 Qua việc nghiên cứu trên, luận văn cố gắng rút ra những kết luận ban đầu

về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học để góp phần thiết thựccho việc dạy Tập làm văn ở nhà trờng phổ thông

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn chủ yếu xem xét những đặc điểm ngôn ngữ đặc sắc, nổi bậttrong tập “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân

- Ngoài ra, luận văn sẽ khảo sát thêm một số tác phẩm phê bình của HoàiThanh, tham khảo những bài viết về “Thi nhân Việt Nam” để hiểu thêm vềtuyển tập này Luận văn cũng khảo sát thêm ngữ liệu trong một số tác phẩmphê bình của các nhà phê bình khác nh: Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan…trong văn để

so sánh, đối chiếu làm nổi bật những đặc điểm ngôn ngữ của “Thi nhân ViệtNam”

Qua tìm hiểu Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong "Thi nhân Việt Nam“ ”

quan trọng của ngôn ngữ tác giả phê bình trong tuyển tập này nói riêng và đặc

điểm của ngôn ngữ phê bình văn học nói chung

7 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, th mục và tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chơng:

Chơng 1: Ngôn ngữ phê bình và “Thi nhân Việt Nam”

Chơng 2: Đặc điểm về kết cấu trong “Thi nhân Việt Nam”

Chơng 3: Đặc điểm lời văn phê bình trong “Thi nhân Việt Nam”

Trang 8

Chơng 1 Ngôn ngữ phê bình và “Thi nhân Việt Nam”

Văn bản - với t cách là sản phẩm và phơng tiện của hoạt động lời nói- ờng đợc xây dựng theo một kiểu phong cách chức năng nào đó Các phongcách chức năng khi tồn tại ở dạng văn bản thì sẽ có các loại văn bản: loại vănbản nghị luận , loại văn bản báo chí, loại văn bản hành chính…trong vănTrong mỗi loạilại có nhiều kiểu: kiểu văn bản giáo khoa, kiểu văn bản luận văn, kiểu văn bảnhội thảo…trong văn (thuộc loại văn bản khoa học); kiểu văn bản tin tức, kiểu văn bảncông luận , kiểu thông tin- quảng cáo…trong văn(thuộc loại văn bản báo chí)…trong vănTrongmỗi một kiểu lại đợc chia thành nhiều thể loại văn bản: thể loại mẩu tin, thểloại phóng sự, thể loại phỏng vấn…trong văn(thuộc kiểu tin tức); lời kêu gọi, báo cáochính trị, xã hội bình luận…trong văn(thuộc văn bản nghị luận chính trị)…trong văn

Theo sự phân loại trên, văn bản phê bình văn học là một trong những thểloại của nghị luận văn học- một kiểu trong phong cách văn bản chính luận

1.1 Văn bản nghị luận văn học và phê bình văn học

1.1.1 Văn bản nghị luận và nghị luận văn học

Nghị luận là một từ Hán Việt Các nhà nghiên cứu đã tìm cách giải thích

từ này trong nhiều cuốn từ điển “Từ điển văn học” do Nguyễn Lân chủ biên

(Nxb KHXH,1991) giải thích: Nghị luận: bàn bạc cho ra phải trái “ ” HoàngPhê trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” ( Nxb KHXH, 1992) cũng đã đa ra cách

giải thích: Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề gì đó “ ” Theo

Trang 9

các cách giải thích trên thì Nghị luận chính là bàn bạc và đánh giá cho ra

phải trái về một vấn đề gì đó Vấn đề đợc đa ra bàn bạc, đánh giá có thể là

một vấn đề xã hội, vấn đề chính trị hay kinh tế, văn hoá hoặc văn học nghệthuật…trong văn

Từ cách lí giải trên, các tác giả đã đa ra một cách giải thích về nghị luận:

Văn nghị luận: Thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết

Thể văn này bắt nguồn từ một thể văn trong văn chơng cổ: thể luận Đây làmột thể văn điển hình nhằm trình bày t tởng và học thuyết chính trị, triết học,văn nghệ, lịch sử, đạo đức…trong văn

Sách giáo khoa Tập làm văn 10 do Trần Thanh Đạm chủ biên, (sách

chỉnh lí hợp nhất năm 2000- Nxb GD tái bản lần thứ nhất), xem: Văn nghị

luận là một thể văn trong Tập làm văn cũng nh văn miêu tả, văn tự ,văn cảm tởng Trong cuốn sách này, các tác giả viết: “Nếu bài văn thiên về trình bày

các ý kiến, các lí lẽ thì nó đợc gọi là lối văn nghị luận” Các tác giả giải thíchrộng hơn về lối văn này: “Lối văn không loại trừ mà bao gồm lối văn cảm tởng

và lối văn miêu tả, văn tự sự khi cần thiết Song chủ yếu nó nhằm trình bày ýkiến để giải thích, chứng minh, biện luận, thuyết phục về một vấn đề gì đó Nónhằm tác động vào trí tuệ và lí trí cuả ngời đọc nhiều hơn vào cảm xúc, tìnhcảm hay tởng tợng Nó là sản phẩm của t duy lôgic” [tr 6]

Theo nhóm tác giả: Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng: Văn bản nghị

luận là kiểu văn bản dùng để trình bày, bình luận , đánh giá theo một quan

điểm nhất định những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, t tởng ,văn hoá…trong văn [36 - tr.30]

Trong sự hiếm hoi định nghĩa về văn bản nghị luận, định nghĩa này cóthể xem là tơng đối hoàn chỉnh

Trên cở sở những cách giải thích và định nghĩa trên, có thể hiểu về vănbản nghị luận nh sau:

Văn bản nghị luận là văn bản thuộc phong cách văn bản chính luận,

dùng lí lẽ để trình bày, bình luận, đánh giá theo một quan điểm nào đó những

sự kiện, những vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội, văn học, nghệ thuật…

Là sự cụ thể hoá của phong cách văn bản chính luận, văn bản nghị luận

có những chức năng: thông báo, chứng minh, tác động Khi thực hiện nhữngchức năng này,văn bản nghị luận có những đặc trng sau:

Đặc trng thứ nhất là tính trí tụê: ở những văn bản có khuôn hình sẵn nh

văn bản hành chính công vụ (các loại giấy tờ, công văn, đơn từ ), ngời viết ítkhi phải hoạt động t duy Còn các văn bản khác: văn bản khoa học, văn bảnnghị luận, văn bản báo chí…trong vănlại buộc ngời viết phải có một sự đầu t cao để suynghĩ, lựa chọn…trong văntrong quá trình tạo lập văn bản Tính trí tuệ biểu hiện ở chỗ:ngời viết phải am hiểu vấn đề mình đang viết một cách sâu sắc, nắm vững các

Trang 10

mối quan hệ của vấn đề đó với các vấn đề xung quanh (bởi vì có khi nhờnhững vấn đề xung quanh mà cả ngời viết và ngời đọc, ngời nghe hiểu sâu hơn

đợc vấn đề trung tâm) Chỉ có hiểu sâu, nắm vững thì mới phân tích đợc vấn

đề một cách thấu đáo, thuyết phục, chiếm đợc sự đồng tình của ngời nghe,ngời đọc “Tuyên ngôn độc lập” (1945) của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ điều

đó Đa vấn đề độc lập dân tộc ra trớc nhân dân Việt Nam và cả nhân dân yêuchuộng hoà bình trên thế giới, Ngời đã phân tích tỉ mỉ về độc lập dân tộc ở

Mỹ, ở Pháp trong các bản tuyên ngôn của chính nớc họ Không những thế, vịChủ tịch còn nói đến cả những vấn đề nhân quyền trong bản tuyên ngôn về

"Nhân quyền và dân quyền" của cách mạng Pháp năm 1791 để chỉ rõ sự xâmlợc của thực dân Pháp ở Đông Dơng là hoàn toàn vô lí Thực hiện cuộc xâm l-

ợc này, không những thực dân Pháp đã vi phạm bản tuyên ngôn mà còn là mộthành động độc ác đối với con ngời Bên cạnh những vấn đề chính trị, Bác cònrất am hiểu về lịch sử Những dẫn chứng mang tính lịch sử trong tuyên ngôn

đã kêu gọi đợc sự đồng tình, thuyết phục đợc đông đảo quần chúng nhân dânthế giới thấy đợc: Độc lập dân tộc, tự do dân chủ ở Việt Nam là hoàn toànchính đáng Đó là một quyền không thể phủ nhận đợc

Đặc trng thứ hai là tính lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Văn bản nghị

luận thờng nói, viết về một vấn đề có tính thời sự, thu hút sự chú ý của ngờinghe, ngời đọc bằng chính nội dung của vấn đề đó.Tuy nhiên, để mang lại chongời nghe, ngời đọc sự tập trung chú ý cao độ khi tiếp nhận văn bản, ngời viếtphải có một năng lực sử dụng ngôn từ thực thụ Năng lực sử dụng ngôn ngữcho phép ngời ta sử dụng đợc các cách lập luận chặt chẽ, khả năng dùng từngữ thích hợp trong văn bản nghị luận Vấn đề đa ra phải đợc phân tích, giảithích bằng lí lẽ, bằng những căn cứ vững chắc dựa trên cơ sở khoa học xác

Đặc trng cuối cùng là tính đại chúng Do nội dung của một văn bản nghị

luận thờng là một vấn đề nào đấy đang đợc mọi ngời quan tâm nên phạm vi

đối tợng giao tiếp – tiếp nhận của nó là rất rộng Đối tợng của kiểu văn bảnnghị luận có khi là những ngời có cùng một chuyên môn (nghị luận văn học,nghị luận kinh tế) cũng có khi bao gồm tất cả mọi tầng lớp nhân dân ở mọilứa tuổi và mọi trình độ (lời kêu gọi, lời hiệu triệu ) Sự đa dạng về đối tợng,

Trang 11

nội dung, mục đích mà ngời viết muốn đa ra và đạt đợc buộc họ phải có nhữngcách thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp Vấn đề đa ra phải dễ hiểu, đợc diễn đạtbằng những từ ngữ trong sáng, cấu trúc ngôn từ đơn giản, rõ ràng, mạch lạc.

Có nh vậy mới đáp ứng đợc khả năng tiếp nhận văn bản của quần chúng nhândân

Xét về nội dung ý nghĩa và lô gích sự vật, văn bản nghị luận đợc chia rathành nhiều kiểu: nghị luận chính trị, nghị luận kinh tế, nghị luận xã hội…trong văn

Nghị luận văn học là một trong những kiểu văn bản ấy.

Khái niệm về nghị luận văn học cho đến nay vẫn cha đợc nhiều ngời chú

ý định nghĩa và mới chỉ là một khái niệm dùng để chỉ một kiểu bài trong Tậplàm văn ở chơng trình phổ thông Sách giáo khoa Tập làm văn10 do giáo s

Trần Thanh Đạm chủ biên đã đa ra quan niệm: Nghị luận văn học là lối văn

nghị luận mà nội dung là một vấn đề văn học Vấn đề văn học ấy có thể là

một ý kiến về lí luận văn học, một nhận định về một nền, một thời kỳ, xu hớngvăn học, một nhận xét về tác giả, tác phẩm văn học Trong cuốn sách này, cáctác giả cũng chỉ ra: Kiểu nghị luận văn học rất gần với nghị luận xã hội Vìvậy, nhiều ngời (nhất là học sinh phổ thông) rất hay có sự nhầm lẫn giữa hai

kiểu bài này Chẳng hạn, với đề bài: Bằng thực tế đời sống, hãy chứng minh

sẽ là nghị luận xã hội Còn với đề bài: Bình giảng câu tục ngữ : "Học thày

loại bình giảng văn học

Qua sự phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận về văn bản nghị luận nh

sau: Văn bản nghị luận văn học là văn bản mà nội dung đa ra để bàn bạc,

bình luận, đánh giá là một vấn đề văn học.

Khi bàn về các vấn đề văn học, văn bản nghị luận văn học thờng đợc thểhiện ở các thể loại: tiểu luận văn học, tổng quan văn học, phê bình văn học

1.1.2 Văn bản phê bình văn học

Phê bình văn học là một ngành rất trẻ trong nghiên cứu văn học Nó chỉxuất hiện ở Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XX với một sốnhững cây bút tiêu biểu nh: Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai,Hải Triều, Tầm Vu, Vũ Ngọc Phan…trong văn Thông thờng trong các nghiên cứu về

phê bình văn học, ngời ta đặt hai thuật ngữ nghị luận và phê bình văn học

cạnh nhau để tạo thành: nghị luận phê bình văn học (tập “Nghị luận phê bìnhvăn học”- Nxb GD, H.1976) Thực ra hai thuật ngữ này không khác xa nhau

mà có quan hệ cấp độ nh đã phân tích ở trên Phê bình văn học là một thể loạitrong nghị luận văn học

“Từ điển Tiếng Việt” (tập 2 - Nxb KHXH, H.1984) giải thích về phê

bình văn học: Một bộ môn của khoa học nghiên cứu văn học sử Phê bình văn

Trang 12

học thờng hớng vào những đối tợng chủ yếu là những hiện tợng văn học đang diễn ra trớc mắt Nó có nhiệm vụ kịp thời biểu dơng, khẳng định những tác phẩm, nhà văn và khuynh hớng t tởng nghệ thuật theo đúng một quan điểm văn học nhất định, đồng thời kiên quyết đấu tranh phê phán những cái ngợc lại.

“Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên giải thích: "Phê bình vănhọc - bộ môn chuyên phân tích các tác phẩm nhằm mục đích đánh giá và hớngdẫn việc sáng tác” [tr 776]

Lại Nguyên Ân trong cuốn “Văn học và phê bình” (Nxb TPM,H.1984)

lại đa ra cách hiểu: Phê bình văn học là sự luận bàn và bình giá sáng tác văn

học hoặc đúng hơn là sáng tạo ngôn từ” [1-tr 213] ở cuốn sách này, tác giả

cũng đã đa ra cách xác định vị trí của phê bình văn học trong khoa học, vănhọc và chính luận trên cở sở so sánh về đối tợng nghiên cứu, về hình thức tduy…trong văn

Trong cuốn “Nhà văn phê bình", cuốn sách khảo cứu văn học Việt Namthời kỳ 1932-1945, hai tác giả Mộng Sơn Bình và Đào Đức Chơng cùng đa ra

một định nghĩa: Phê bình văn học là suy nghĩ, mổ xẻ, nhận định, đánh giá“ ”[tr 9] Nh thế có nghĩa là: phạm vi đối tợng nghiên cứu của phê bình văn học,theo hai tác giả, đã đợc mở rộng sang đối tợng của các thể loại nh: tiểu luậnvăn học, tổng quan văn học…trong văn

Trên cơ sở về khái niệm phê bình văn học, ta có thể rút ra kết luận về vănbản phê bình văn học nh sau:

Văn bản phê bình văn học là thể loại văn bản xem xét, phân tích và đánh

cho việc sáng tác văn học

“Phê bình văn học là sáng tác văn học đặc biệt- văn học phê bình” (LạiNguyên Ân) Đối tợng trực tiếp của phê bình văn học không phải là đời sốngthực tế sinh động hằng ngày nh văn học mà là đời sống trong văn học, đờisống văn học Đời sống văn học là đối tợng trực tiếp còn đối tợng gián tiếp là

đời sống trong văn học hay cụ thể hơn là những tác giả, tác phẩm văn họctrong hiện tại và cả quá khứ Với nội dung là phân tích, lí giải, cắt nghĩa đối t-ợng, phê bình văn học có khả năng đánh giá những giá trị tích cực của các tácphẩm, công lao của các tác giả văn học; đồng thời phê phán, rút ra nhợc điểmcủa các tác giả, tác phẩm ấy để điều chỉnh đúng hớng hoạt động sáng táctrong thời điểm hiện tại

Hớng về những tác giả, tác phẩm đơng đại, phê bình văn học là biểu hiệncủa một bộ phận d luận xã hội đơng thời với những vấn đề về các tác giả, tácphẩm ấy ở đây, nhà phê bình trình bày quan điểm, thái độ của mình đối vớicác tác giả, tác phẩm văn học ý kiến, thái độ ấy có thể đợc đông đảo công

Trang 13

chúng đồng tình nhng cũng có thể bị những ý kiến trái ngợc phản bác lại.Nghĩa là bản thân nó cũng tạo ra xung quanh mình không khí tranh luận sôinổi song đầy tính thơì sự Đây chính là tính chính luận của phê bình văn học Với t cách là trung gian - “ngời môi giới”- giữa công chúng với tác phẩmvăn học, giữa tác giả và độc giả, phê bình văn học có vai trò quan trọng trongsáng tạo và tiếp nhận văn học Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học rấtphong phú, đa dạng Nhìn nhận nó, tái hiện nó nh thế nào trong văn bản phêbình văn học lại phụ thuộc vào chính quan điểm nghệ thuật và tài năng củanhà phê bình Qua sự phân tích, bình giá của nhà phê bình, tác phẩm văn học

có thể hay hơn, sống động hơn, giá trị đợc nâng cao hơn Nhng cũng có thể dophê bình văn học mà nó bị hạ thấp đi Phê bình văn học trở thành công đoạnlựa chọn, đào thải tác phẩm văn học trong hành trình từ tác giả đến độc giả.Tuy nhiên để làm đợc cái công việc gọi là bình giá tác phẩm, định danh tácgiả, điều quan trọng trớc tiên cần có ở một nhà phê bình là phải có một trình

độ lí luận nhất định, vững vàng về chuyên môn và phong phú về kiến thức đờisống văn hoá xã hội…trong vănViệc xác định cho mình một quan điểm nào đó (mỹhọc, triết học, lí luận học, văn hoá học ) sẽ giúp nhà phê bình có một hệthống phơng pháp phù hợp và nhờ thế cách nhìn nhận, đánh giá về tác giả vàtác phẩm cũng xác đáng hơn, hợp lí hơn Có một quan niệm, một hệ thống ph-

ơng pháp riêng, một trình độ khoa học, một cách nhìn nhân độc đáo đó chính

là biểu hiện của tính khoa học trong văn bản phê bình văn học

Phê bình văn học dù có đánh giá về một tác giả, một vấn đề hay một trào

lu, khuynh hớng …trong vănvăn học cũng đều phải xuất phát từ tác phẩm văn học Tácphẩm văn học là tác phẩm nghệ thuật, còn thế giới trong tác phẩm văn học làthế giới hình tợng (đó lại là đối tợng nghiên cứu của phê bình văn học) Quátrình phân tích, bình luận, lí giải tác phẩm văn học là quá trình tái tạo lại thếgiới nghệ thuật, thế giới hình tợng có trong tác phẩm theo quan điểm của nhàphê bình Vì vậy, cuộc sống trong tác phẩm phê bình văn học là cuộc sống đã

đợc khúc xạ qua hai lần lăng kính (nhà văn và nhà phê bình ) Cuộc sống ấyphong phú hơn cuộc sống trong tác phẩm văn học vì nó đợc nhà phê bìnhxem xét một cách tổng thể và sâu sắc hơn, phân tích và lí giải theo nhiều cáchkhác nhau Dới con mắt của phê bình văn học, tác phẩm văn học giống nhmột viên xúc sắc nhiều mặt, lật mặt nào cũng thấy óng ánh những sắc màu.Mỗi nhà phê bình nhìn thấy ở nó những sắc màu khác nhau Tất nhiên, cáinhìn của nhà phê bình cũng chịu sự chi phối sâu sắc của đời sống lịch sử,chính trị, văn hoá, xã hội Nhà văn Vũ Trọng Phụng và “vụ án” về ông đãphần nào làm sáng rõ vấn đề này Những điều trên đây là biểu hiện của tínhnghệ thuật trong văn bản phê bình

Nh vậy, văn bản phê bình văn học vừa có tính chính luận vừa có tínhkhoa học lại vừa có tính nghệ thuật Đặc điểm này đã tác động trực tiếp tớingôn ngữ văn bản phê bình văn học làm cho ngôn ngữ trong thể loại văn bản

Trang 14

này có đặc điểm riêng khác với các thể loại khác trong kiểu nghị luận văn học.

Cụ thể là:

Đặc điểm về kết cấu: Văn bản phê bình văn học không có kết cấu cố

định thành khuôn hình, khuôn mẫu nh các loại văn bản hành chính hoặc cáckiểu văn bản nghị luận khác Giống nh các thể lọai văn bản này, văn bản phêbình văn học thờng có 3 phần (trừ đầu đề ) Đó là các phần: đặt vấn đề (phần

mở đầu), giải quyết vấn đề (phần nội dung chính hay phần triển khai) và kếtthúc vấn đề Các phần này có vị trí, vai trò và nhiệm vụ giống nh khi chúng ởtrong những loại văn bản đã đề cập ở trên Số câu chữ trong từng phần cũngkhông hạn chế Nhng do đối tợng của phê bình văn học không nhất thiết làmột tác phẩm, một tác giả, một trào lu văn học trọn vẹn mà có thể chỉ là mộtvấn đề về tác giả, trào lu, một đoạn văn, một khổ thơ, thậm chí chỉ là một câuthơ Hơn nữa, văn bản phê bình văn học chịu sự chi phối của quan niệm, ph-

ơng pháp và cá tính của nhà phê bình Mỗi nhà phê bình có một quan niệm,một phơng pháp, một cá tính riêng khi phê bình văn học.Vì vậy, kết cấu vănbản hoàn chỉnh hay cha hoàn chỉnh, số lợng câu chữ dài hay ngắn phụ thuộcvào nội dung phê bình, vào ý muốn chủ quan của các nhà phê bình Đó là

điểm khác biệt nổi bật của văn bản phê bình văn học so với các thể loại vănbản nghị luận khác

Đặc điểm về từ ngữ: Ngoài lớp từ toàn dân và khả năng sử dụng từ ngữ

đúng yêu cầu, từ ngữ trong văn bản phê bình văn học còn có những đặc điểmsau:

- Thờng xuyên sử dụng lớp từ chuyên dụng với tần số cao Đó là những

từ thuộc về chuyên ngành văn học và nghiên cứu văn học nh: tác phẩm, nhânvật, ngôn từ, lời văn, giọng điệu…trong vănKhả năng sử dụng từ ngữ trong phê bìnhvăn học cũng khác với văn bản phê bình văn xuôi, khác với văn bản phê bìnhkịch Chẳng hạn phê bình thơ thờng sử dụng các từ ngữ nh: vần, nhịp, nhịp

điệu, dòng thơ , khổ thơ…trong vănTrong khi đó phê bình văn xuôi lại có những từ: ng

-ời kể chuyện, cốt truỵên, diễn biến tâm lí, nội tâm, l-ời văn…trong vănHơn thế nữa, đốivới mỗi tác giả tác phẩm khi nghiên cứu, nhà phê bình còn phải sử dụngnhững từ ngữ cho phù hợp với nội dung, chủ đề, với phong cách của từng nhàthơ, nhà văn

Ví dụ nh trong bài "Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đam San", Chu XuânDiên có đoạn bình:

"Trong khung cảnh ấy của đời sống dân tộc, Đam San nổi bật lên nh một nhân vật kỳ diệu, có sức mạnh lôi cuốn lòng ngời Hình tợng Đam San là hình tợng ngời anh hùng của quần chúng, thể hiện ớc mơ và sức mạnh của quần chúng Quần chúng yêu thích Đam San, gắn cho Đam San những đức tính phi thờng kỳ vĩ, có tính chất thần thoại Đó là một con ngời "khoẻ nh voi đực",

"tiếng nói tiếng cời nh sấm vang, sét đánh", khi ngồi thì "trông dẻo nh con rắn

Trang 15

trong hang, con hùm bên bờ suối", khi nằm thì "tóc dài thả xuống đựng trong một cái chiêng", khi đi thì "ung dung, khoan thai, hai tay đánh xa một cách tuyệt đẹp thoăn thoắt nh con rắn Prao huê"[22 - tr.92-93].

ở đoạn văn trên, tác giả phê bình sử dụng những từ ngữ mang tính khoa

học chuyên ngành nh: nhân vật, hình tợng anh hùng, tính chất thần thoại để phân tích bình luận Mặt khác những từ ngữ nh: sức mạnh lôi cuốn lòng ngời,

ớc mơ và sức mạnh quần chúng, đức tính phi thờng, kỳ vĩ đều phù hợp với

nội dung chủ đề của tác phẩm Để tăng sức thuyết phục, tác giả đã chọn ranhững dẫn chứng tiêu biểu lấy từ "Bài ca chàng Đam San" minh hoạ cho luận

điểm: Đam San là nhân vật kỳ diệu, phi thờng.

- Đặc điểm thứ hai trong cách sử dụng từ ngữ của văn bản phê bình vănhọc là: từ ngữ giàu tính hình tợng và sắc thái biểu cảm Tính hình tợng và sắcthái biểu cảm làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị biểu cảm và sức hấp dẫn của lờivăn phê bình Hai đặc tính này có đợc là do các nhà phê bình đã sử dụng biệnpháp tu từ ngữ nghĩa và từ vựng, cộng với kết quả lựa chọn và kết hợp từ ngữtrong câu văn Biện pháp tu từ tạo hình tợng thờng là ẩn dụ, nhân hoá, sosánh…trong vănCác kết hợp từ ngữ để tạo ra định ngữ nghệ thuật làm cơ sở cho việc tạonhịp điệu trong lời văn phê bình Ví dụ: Nhà phê bình Đặng Thai Mai khi nóitới chủ nghĩa nhân đạo trong truyện Kiều, tác giả đã đa ra lời bình:

Lời than vãn của Kiều cũng là tiếng nức nở của tất cả những ngời đàn bà

bị đầy đoạ Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du cố nhiên mới chỉ biểu hiện

tinh thần hiếu sinh của đạo Phật, cha phải là chiến đấu tính cho nhân đạo,

gầm trời cang hạn” [22-tr 280].

Trong lời bình trên, tác giả đã sử dụng các ẩn dụ: lời than vãn, tiếng nức

nở, giọt nớc mắt, hạt ma móc cần thiết cho cảnh vật dới một gầm trời cang hạn Bằng cách nói hình tợng ấy, Đặng Thai Mai đã chỉ ra điểm khiếm khuyết

có tính lịch sử trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du Đó là: Nguyễn Dumới chỉ đa ra cái lòng thơng cảm mà cha chỉ ra đợc một lối thoát- sự phảnkháng, đấu tranh cho con ngời

Văn bản nghị luận nói chung và văn bản phê bình văn học nói riêngthiên về t duy logic và lập luận chặt chẽ do đó có nhu cầu lớn trong việc sửdụng các từ quan hệ- các quan hệ từ Đấy là những h từ ngữ pháp biểu hiệnquan hệ của các t tởng, quan hệ giữa các ý phục vụ cho lập luận Chúng liênkết các bộ phận lớn hơn (đoạn văn , nhiều đoạn văn) của văn bản

Chẳng hạn: Thi sĩ Tây phơng thờng nhìn cảnh tợng của tạo vật bằng con

mắt của họa sĩ, họ chú trọng đến hình thức, màu sắc kỳ diệu, đến những cảm tởng, rung động mà hai thể ấy gây nên Thi sĩ Đông phơng, đặc biệt là thi sĩ

Trang 16

đời Đờng thì kín đáo và vì thế thâm thuý hơn Những lời thơ họ chẳng qua là tiếng thở dài không cầm hết và chỉ có thế [28- tr 315].

Đặc điểm về cú pháp: Câu trong văn bản nghị luận nói chung và văn bản

phê bình văn học nói riêng rất phong phú về kiểu loại, đa dạng về cấu tạo.Việc sử dung kiểu câu nào (nghi vấn , trần thuật, cảm thán ) là do nhu cầuthông tin tác động, chi phối Câu trong văn bản phê bình thờng là câu có đầy

đủ thành phần Đặc điểm này có đợc là do kết quả của một quá trình t duylôgic cộng với cảm hứng sáng tạo trong thởng thức tác phẩm văn học Hơnnữa, do phải lập luận để thuyết phục ngời đọc bằng lí lẽ nên câu trong vănbản phê bình văn học thờng là câu dài, có nhiều vế, hoặc các vế của câu dài đ-

ợc ngắt ra thành nhiều câu ngắn liên tục Câu dài cũng có thể là câu ghéphoặc câu đơn mở rộng thành phần Các vế trong câu thờng có sự kết hợp nhịpnhàng về ngữ âm, cú pháp, từ ngữ…trong văntạo nên sự cân đối, hài hoà mềm mại,

uyển chuyển trong diễn đạt Ví dụ:

Thờng thờng thì ngời ta không hiểu họ Lu vì hồn nhà thi sĩ nh chỉ bàng bạc, phảng phất trong cái thế giới vô hình: trong một hơi thở, trong bóng trăng mờ, trong vài vong hồn hay là những nhỏ nhặt quá mà ngời thờng bỏ

Động mạnh là hồn thi sĩ sẽ tan ngay [38- tr 394]

Một đặc điểm quan trọng về cú pháp trong phê bình văn học là dùng cácbiện pháp tu từ cú pháp: lặp, đảo, sóng đôi cú pháp Các biện pháp này tạonhịp điệu và làm tăng tính nhạc cho lời văn phê bình

Ví dụ : Ai dám bảo rằng cái hình ảnh của ngời chinh phu lại kêu rạo rực

trong lòng ngời cô phụ ? Ai dám tả mùa thu bằng tiếng kêu xào xạc của chân một con nai ngơ ngác đạp trên lá vàng khô [38- tr395]

Cấu trúc câu nghi vấn đợc lặp lại tạo sự cân xứng cho đoạn văn, biện

pháp điệp cú pháp Ai dám bảo?, Ai dám tả ? làm cho lời văn trở nên nhịp

nhàng, uyển chuyển, dễ nhớ, dễ thuộc

Ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học có những đặc điểm riêng sovới ngôn ngữ trong một số thể loại nghị luận khác Đó là kết cấu văn bản phêbình có sự linh hoạt, đa dạng, từ ngữ phù hợp với nội dung và đối tợng phêbình, dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm, gợi đợc sự liên t-ởng, tởng tợng phong phú trong độc giả Các biện pháp tu từ cú pháp đợc sửdụng nhiều nh: mở rộng, lặp, đảo, sóng đôi…trong văntạo nên sự cân đối nhịp nhàngcho lời văn phê bình Với những đặc điểm trên, ngôn ngữ phê bình rất gần vớingôn ngữ thơ Chỉ có điều mang đặc điểm của văn xuôi nên nó không có sựhiệp vần nh thơ Những đặc điểm trên là đặc điểm chung của văn bản phê bìnhvăn học ở mỗi loại văn bản phê bình: phê bình thơ, phê bình văn xuôi lại cónhững nét riêng biệt Hơn thế nữa, ở mỗi nhà phê bình lại có cá tính sáng tạo,

Trang 17

có quan niệm và phơng pháp phê bình khác nhau tạo nên sự phong phú trongphong cách của văn bản phê bình.

1.2 Những nhân tố chi phối đặc điểm ngôn ngữ trong "Thi nhân Việt

Nam"

1.2.1 Giới thiệu về Thi nhân Việt Nam“ ”

Xã hội Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX đầy những biến

động phức tạp Với hai sự kiện lớn về chính trị mang tính lịch sử, đời sống xãhội Việt Nam bị ảnh hởng về mọi mặt Trên mặt trận văn học diễn ra nhiềucuộc tranh luận sôi nổi đầy tính học thuật Tiêu biểu là các cuộc tranh luận:

Duy vật và duy tâm, Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, Thơ

cũ và Thơ mới Những cuộc tranh luận cứ liên tiếp nhau diễn ra - điều mà

trong lịch sử cha từng thấy bao giờ - đã thu hút sự chú ý và tham gia của rấtnhiều ngời trong giới văn sĩ, nhất là những ngời làm công tác nghiên cứu vănhọc

Đáng chú ý trong số đó là hai cuộc tranh luận: Nghệ thuật vị nghệ thuật

và nghệ thuật vị nhân sinh, Thơ mới và thơ cũ Cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị

nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh” diễn ra giữa hai phái: Một bên là HoàiThanh làm chủ soái cùng các cây bút phê bình khác: Lê Tràng Kiều, Lu Trọng

L, Thiếu Sơn…trong vănMột bên là Hải Triều cầm trịch với Phan Văn Hùm, Bùi CôngTrừng, Hồ Xanh, Cao Văn Chánh…trong vănCuộc tranh luận này xảy ra từ năm 1935

đến năm 1939 thì kết thúc Nội dung của nó là tranh luận về cái đích của nghệthuật và các vấn đề khác trong văn học Quan điểm của phái “Nghệ thụât vịnghệ thuật”: “văn chơng trớc hết phải là văn chơng đã”, “một bài văn hay làmột bông hoa” [39- tr26] Các học giả ở phái này đề cao tính nghệ thuật củavăn chơng, thấy rõ tác dụng của nó đối với đời sống con ngời là nuôi dỡng vàlàm phong phú thêm đời sống tâm hồn của con ngời Xét trong điều kiện hoàncảnh lịch sử bấy giờ thì đây là một quan niệm thoát ly đời sống xã hội tức làkhông quan tâm đến vấn đề đấu tranh giải phóng con ngời- vấn đề mà xã hộibấy giờ đang cần

Chính quan điểm thoát ly đó là chỗ để phái “Nghệ thuât vị nhân sinh”công kích Phái này lại cho rằng văn học nghệ thuật là phải vì con ngời mà tr-

ớc hết là những ngời lao khổ trong xã hội Chữ “nhân sinh’ ở đây đã bị thu hẹplại là điểm để cho phái “vị nghệ thuật” chỉ trích Cho đến nay, thời gian đãchứng minh rằng cả hai quan điểm đó đều đúng, tiến bộ, chúng không mâuthuẫn nhau mà bổ sung cho những khuyết điểm của nhau Cái đích cuối cùngcủa cả hai là đều vì con ngời Một bên là vì con ngời mà văn học phải phản

ánh và đấu tranh; một bên vì con ngời, văn học phải là những bông hoa nuôidỡng tâm hồn con ngời Đó là những quan niệm có tính chân lý cho quá trìnhsáng tạo văn học nghệ thuật

Trang 18

Một cuộc tranh luận khác lâu dài và sôi nổi thậm chí còn rầm rộ hơnnhiều là cuộc đấu tranh giữa Thơ cũ và Thơ mới (cách gọi của “Thi nhân ViệtNam”) Cuộc đấu tranh này diễn ra trong 10 năm trời, làm nên một “cuộccách mạng trong thi ca”, chính thức đem đến cho nền thi ca dân tộc một sắcdiện mới Nó đợc bắt đầu từ những năm 30 và kết thúc khi “Thi nhân ViệtNam” ra đời Nội dung của cuộc đấu tranh này hớng về nội dung và hình thứccủa thơ Thực ra, đây là cuộc đấu tranh giữa cái “Tôi” và cái “Ta” nh “Thinhân Việt Nam” đã khẳng định Một bên Thơ Mới- đại diện của cái “Tôi’ hiện

đại- công kích thơ cũ là lối thơ gò bó, khuôn sáo, không thành thực, không tựnhiên Còn bên kia Thơ Cũ lại chỉ trích Thơ Mới nông cạn, dễ dãi, không cótính nghệ thuật, chẳng qua là “bọn dốt làm thơ” mà thôi

Trớc tình hình đó, Thơ Cũ âm thầm tồn tại một cách yếu ớt trong lòngnhững ngời chung thủy với nó Còn Thơ Mới dõng dạc, đờng hoàng, nghiễmnhiên trên vũ đài dành cho ngời chiến thắng với một phong cách tân kỳ, hiện

đại Sự xuất hiện các nhà thơ mới nh: Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, ChếLan Viên, Lu Trọng L, Nguyễn Bính…trong vănlàm cho nền thơ cũ hoàn toàn thất thế.Mời năm trời hình thành, phát triển, lên đỉnh cao vinh quang và có những biểuhiện suy thoái, Thơ Mới có mặt trên thi đàn Việt Nam là một qui luật tất yếu

Là ngời say Thơ Mới nh một ngời tình si, lúc tỉnh táo lại, Hoài Thanh – HoàiChân đã khái quát lại toàn bộ quá trình ấy, tổng kết nó và giới thiệu cho maisau 46 gơng mặt tiêu biểu của Thơ Mới trong “Thi nhân Việt Nam”

“Thi nhân Việt Nam” ra đời, một mặt nh sự minh chứng cho quan điểmnghệ thuật của Hoài Thanh – Hoài Chân, mặt khác lại là sự tổng kết lại chocuộc đấu tranh giữa Thơ Mới và Thơ Cũ, khái quát diện mạo chung của ThơMới Sự ra đời của “Thi nhân Việt Nam” cũng là một tất yếu lịch sử Tất yếu

đó chỉ có Hoài Thanh – Hoài Chân thực hiện đợc chứ không ai khác

Sau Cách mạng, cùng với Thơ Mới, “Thi nhân Việt Nam” đã phải trảiqua nhiều thăng trầm Ngay cả đến ngời cha đẻ của nó cũng không thừa nhận

nó mà xem đó là một sai lầm Nhng giá trị của “Thi nhân Việt Nam” đã đợcthời gian khẳng định Vị trí và vai trò của nó là không thể phủ nhận trong lýluận nghiên cứu và phê bình văn học và trong lòng độc giả Trớc khi mất,Hoài Thanh đã từng bộc bạch với ngời con trai của mình: “Cha biết văn chơngcủa cha cũng vầy vậy thôi Nếu không có cuốn “Thi nhân Việt Nam” thì chắcgì ngời ta đã công nhận cha là một nhà văn” [Tr399]

Với mục đích là tổng kết về một phong trào thơ và giới thiệu các thi nhân

đơng đại, “Thi nhân Việt Nam” có vai trò là ngời khởi xớng, ngời dẫn đờngtiên phong nghiên cứu về toàn bộ phong trào Thơ Mới Sau này còn rất nhiềuhọc giả nghiên cứu về vấn đề này giống Hoài Thanh - Hoài Thanh nh: “ThơMới- những bớc thăng trầm” của giáo s Lê Đình Kỵ, “Con mắt thơ” của ĐỗLai Thúy, “Phong trào thơ mới” của Phan Cự Đệ Nhng không có một cuốn

Trang 19

sách nào có vị trí và vai trò đặc biệt nh “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh –Hoài Chân đã công phu đọc hàng ngàn, hàng vạn bài thơ của phong trào này,lựa chọn những tác phẩm hay và xây dựng thành chân dung văn học cho 46 thinhân ở mỗi nhà thơ, Hoài Thanh – Hoài Chân lại tìm đợc nét nổi bật, đángghi nhận để góp lại thành bó hoa rực rỡ hơng sắc của Thơ Mới Việc nhóm cácnhà thơ thành ba dòng thơ là một sự định hình, định giá quan trọng cho phongtrào Thơ Mới Nó là một sự định hớng, một cái tay vịn cho những ai nghiêncứu về Thơ Mới sau này.

Bên cạnh đó, phong cách phê bình trong “Thi nhân Việt Nam” là đại diệncho một khuynh hớng mới trong phê bình văn học, khuynh hớng phê bìnhnghệ sĩ và lối “phê bình tình cảm” [23 – tr136], đối lập với khuynh hớng phêbình khảo cứu Điểm khác nhau chủ yếu giữa hai khuynh hớng phê bình này

1.2.2 Những nhân tố chi phối đặc điểm ngôn ngữ trong Thi nhân Việt

Nam

Ngôn ngữ là một nhân tố quan trọng trong hoạt động giao tiếp (cùng vớingời nói, ngời nghe, đối tợng đợc đề cập hay phản ánh, đờng kênh giao tiếp vàvăn bản) Nó chịu sự tác động và qui định bởi các yếu tố ngoài ngôn ngữ nh:hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tợng tham dự giao tiếp Trong “Thi nhân Việt Nam”, cuộc giao tiếp giữa nhà phê bình và độc giả

là cuộc giao tiếp tự nguyện Đây là cuộc giao tiếp giữa những ngời tri âm,những ngời có cùng một niềm say mê là Thơ Mới Tuy nhiên với vai trò là

“ngời dẫn đờng” nên trớc khi thực hiện cuộc giao tiếp, đòi hỏi nhà phê bìnhphải có một sự chuẩn bị công phu trớc những thông tin sẽ mang đến cho ngời

đọc

Đề tài trong “Thi nhân Việt Nam” là đề tài về phong trào Thơ Mới về tácgiả, tác phẩm Thơ Mới Đề tài đó gắn liền với mục đích mà nhà phê bình đề ralà: vừa thông tin vừa trao đổi t tởng và những ý kiến, quan niệm về thơ ca nóichung và Thơ Mới nói riêng với độc giả Đồng thời qua đó, tác động đến sựtiếp nhận và thởng thức văn học nghệ thuật của đông đảo công chúng yêunghệ thuật

Tác giả "Thi nhân Việt Nam" luôn chú trọng xác định đối tợng giao tiếpcủa mình Trong những lời cuối cùng của tập sách, nhà phê bình dành hẳn mộtbài viết cho độc giả để thổ lộ những tâm sự khi viết sách, những quan niệm về

Trang 20

nghệ thuật của mình Việc xác định rõ đối tợng khiến nhà phê bình luôn có tthế chủ động khi giao tiếp Đối tợng đó là những ngời có hiểu biết về thơ,những ngời yêu Thơ Mới và quan tâm đến phê bình văn học.

Những nhân tố trên tác động trực tiếp, quy định sự lựa chọn và sử dụngcác phơng tiện từ ngữ, kết cấu văn bản trong phê bình văn học cũng nh trongtuyển tập “Thi nhân Việt Nam” Những nhân tố này đều là những nguyênnhân trực tiếp, dễ thấy Bên cạnh đó còn có những nhân tố khác, nhữngnguyên nhân sâu xa bên trong mà không phải ai cũng thấy đợc Đó là nhữngquan niện về nghệ thuật và phê bình, những phơng pháp phê bình tạo nên nétkhác biệt nổi bật giữa các tác giả hay nói chính xác hơn là tạo nên phong cáchcủa nhà phê bình

Trớc đây, trong một bài luận, Hoài Thanh đã từng trình bày quan niệmcủa mình về phê bình ngay ở tựa đề “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật,tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” (Tiểu thuyết thứ bảy, số 35-ngày 26-1-1935) [39 - tr15] Mục đích cuối cùng của nghệ thuật cũng nh của phê bình

là “đi tìm cái đẹp” Cuộc đi tìm cái đẹp ấy đều không làm cho ngời ta hết đóinhng nuôi dỡng tâm hồn con ngời, giúp con ngời quên mọi buồn đau trongcụôc đời

Cụ thể hơn trong lời “ Nhỏ to…trong văn” cuối sách, Hoài Thanh – Hoài Chânlại đã lý giải vì sao trong “Thi nhân Việt Nam” chỉ chủ yếu là khen mà ít chê

hoặc không chê: "Trong cuốn sách này, ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin

rằng không phải vì tôi không thấy cái dở Nhng tôi nghĩ rằng cái dở thì không tiêu biểu gì hết Đặc sắc mỗi nhà thơ là chỉ ở trong những bài hay" Bản chất

của nghệ thuật là cái đẹp, cái hay Đặc sắc của nghệ thuật cũng là ở chỗ đó.Tìm ra cái dở của mỗi nhà văn không khó nhng cái dở không phải là cái tiêubiểu, cái đặc sắc Giá trị của bài thơ, bài văn là đã đem đến cho ngời đọcnhững điều bổ ích gì trong đời sống tâm hồn Đấy mới là điều đáng nói, đángviết

Về công việc phê bình văn học, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra:

"Phê bình tức là dẫn đờng cho độc giả, tức là đọc giúp cho độc giả, tức là

vạch rõ những chỗ hay chỗ dở của tác giả, nghĩa là chỉ cho tác giả thấy rõ con đờng nào nên theo" [28 - tr583].

Với quan niệm nh vậy, ở cuốn “Nhà văn hiện đại”, Vũ Ngọc Phan tìm tấtthảy cả những chỗ hay cả những chỗ dở - mà chủ yếu là phê những chỗ dở- đểviết bằng một giọng văn đầy sắc lạnh, tỉnh táo Trái hẳn với những lời phêbình luận chứng đầy lý trí ấy, ở “Thi nhân Việt Nam” ngời ta bắt gặp mộtniềm hứng khởi tràn trề khi nhà phê bình viết về Thơ Mới Lời văn mợt màtrong sáng, đẹp nh chính những điều tác giả tìm thấy trong tác phẩm nghệthuật Bài viết cũng dài ngắn khác nhau, giống nh tác phẩm thơ, nhà phê bình

Trang 21

tự để cho cảm xúc của mình chảy ra theo ngòi bút Khi nào dòng cảm xúc ấydừng lại thì cũng là lúc tác giả ngừng viết và kết thúc bài viết.

Quan niệm thứ hai là hiểu cho đúng không phải cho đủ hình sắc các hồn

thơ Quan niệm này chi phối việc lựa chọn, trích dẫn thơ và việc tạo ý, tổ chức

ý, dựng đoạn trong văn bản phê bình Vì chỉ quan tâm đến những bài thơ hay,chỉ hiểu đúng những điểm nổi bật trong sự nghiệp một đời thơ cho nên nhàphê bình có thể tạo văn bản theo sở thích chủ quan của mình Chính ý thứcchủ quan mang đậm cái “tôi” rất trung thực ấy lại là một điểm khuyết mà saunày cũng vì nó mà “Thi nhân Việt Nam” và tác giả của nó phải chịu bao nhiêunhững đắng cay, sóng gió Với quan niệm ấy, khi phê bình, nhà văn hiểu chỗnào thì viết chỗ ấy, hiểu kỹ, hiểu sâu chỗ nào thì bình sâu, bình tỉ mỉ chỗ ấy,bất luận là văn bản ngắn hay dài, bất luận là đời thơ ấy nhiều hay ít Tuynhiên, những lựa chọn và cách hiểu của “Thi nhân Việt Nam” đều rất đúng vàhay, đều trở thành những luận đề đúng đắn, chuẩn xác cho quá trình nghiêncứu Thơ Mới sau này

Với phơng châm: "lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời", nhà phê bình quan niệm: "mỗi bài thơ hay là một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn" Quan

niệm này phần nào chi phối khả năng lựa chọn và sử dụng từ ngữ trong “Thinhân Việt Nam” Vì vậy, khi đọc “Thi nhân Việt Nam” ngời ta thấy nhữnghình ảnh, những từ ngữ đầy chất thơ, dễ thấm vào hồn ngời Cái hồn trong thơ

và cái hồn của nhà phê bình gặp gỡ trong “Thi nhân Việt Nam” đầy đồng

cảm: “Chớ làm kinh động chút hồn đang nơng mình trong bụi cỏ, hãy lắng

Tâm hồn nhà phê bình hoà quyện với tâm hồn của thi nhân tạo nên giọng

điệu cảm xúc trong lời văn và chất nghệ sĩ trong phơng pháp phê bình của

“Thi nhân Việt Nam”

Về phơng pháp phê bình, tác giả “Thi nhân Việt Nam” cha hề có mộtphát biểu nào về phơng pháp phê bình văn chơng Song qua “Thi nhân ViệtNam” và những bài viết của nhà phê bình (nhất là trớc Cách mạng thángTám) ta thấy tác giả là ngời có phơng pháp phê bình rất riêng, vừa kế thừatruyền thống lại vừa mới mẻ hiện đại

Đọc “Thi nhân Việt Nam”, cái điều mà ai cũng cảm nhận đợc là lối điểmbình rất tài tử, rất nổi bật Đây là một đặc điểm trong phơng pháp thẩm bìnhthơ cổ điển Phơng Đông Phơng pháp này phổ biến trong đời sống phê bìnhvăn học một thời ở Trung Quốc và Việt Nam ở Việt Nam, các nhà phê bình

cổ điển gồm có: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn,Nguyễn Khuyến, Tản Đà…trong văn ơng pháp này biểu hiện ở một số điểm sau:Ph

Trang 22

- Lời bình cô đọng, súc tích, chú giải tờng tận hoặc trực tiếp hoặc giántiếp qua những bài vịnh tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm.

- Lối điểm bình kí thác tài hoa tài tử, sự tri âm tri kỷ sâu sắc giữa nhàthơ và nhà phê bình tạo nên mối quan hệ đồng cảm, đồng điệu, gắn bó, hoànhập với nhau một cách tự nhiên Chính vì lối điểm bình này mà nhiều ngờixếp tác giả của “Thi nhân Việt Nam” là “ nhà phê bình ấn tợng chủ nghĩa” [30

- tr26] Thực chất của phê bình ấn tợng là khẳng định ấn tợng chủ quan độc

đáo của nhà phê bình đối với tác phẩm văn học, phủ nhận mọi tiêu chuẩnchung khách quan “Thi nhân Việt Nam” cũng có dấu vết của phơng pháp phêbình này ở những lời nhận xét về chân dung thi nhân Thơ Mới:

… Ngời ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh thơ Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh

Nhng về phơng pháp phê bình, “Thi nhân Việt Nam” hoàn toàn khôngtheo chủ nghĩa ấn tợng

Sự tâm đầu ý hợp, đồng thanh tơng ứng, đồng khí tơng cầu giữa nhà phêbình với nhà thơ làm cho “Thi nhân Việt Nam” có mối quan hệ chặt chẽ vớiThơ Mới đến nỗi hễ nhắc đến Thơ Mới là phải nói tới “Thi nhân Việt Nam” vàngợc lại Có thể nói, Thơ Mới đã tìm đợc tiếng nói tri âm tri kỷ là “Thi nhânViệt Nam”

- Phơng pháp thẩm bình cổ điển còn thể hiện trong “Thi nhân Việt Nam”

là ở khả năng lựa chọn những bài thơ hay, những câu thơ đẹp để phân tích,trích dẫn Với năng lực cảm thụ nhạy bén, nhà phê bình đã nắm bắt đợc cái

“thần” trong tác phẩm của mỗi thi nhân và trong từng câu thơ để chú tâm bìnhgiá vào những câu hay, chữ đắt theo cách cảm nhận và cá tính của nhà phêbình

- Phơng pháp bình thơ trong “Thi nhân Việt Nam” còn chịu ảnh hởng sâusắc của phơng pháp phân tích tác phẩm văn chơng của các tác nhà phê bìnhvăn học phơng Tây hiện đại (chủ yếu là Pháp) nh Andrê Gide, RimbôAragông, Rôngxa…trong văn Trong phơng pháp này, nhà phê bình dùng lý trí khoa học

để phân tích, mổ xẻ, lý giải những bí ẩn trong thơ qua cấu trúc câu chữ, cấutrúc hình tợng…trong văn Vận dụng thành quả của các nghiên cứu về khoa học tựnhiên, xã hội khác trong phê bình Qua phân tích nhà phê bình tái tạo thế giớinội tâm, tâm trạng trong bài thơ, đồng sáng tạo với nhà thơ bằng cảm xúc và t-ởng tợng của mình, đa đến cho độc giả phê bình một thế giới nghệ thuật mớivừa tơng đồng với thế giới nghệ thuật trong Thơ Mới nhng lại đầy sáng tạo vàmới mẻ

Trang 23

Không những chỉ kế thừa, phát huy hai phơng pháp thẩm bình trên, nhàphê bình còn biết kết hợp hài hoà ở một mức độ nhất định hai phơng pháp đótrong phê bình Đó là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, giữa trực cảm và phântích, giữa các yếu tố trong văn bản và các yếu tố ngoài văn bản thơ…trong vănSự kếthợp đó hoà đồng nhuần nhuyễn cộng với kinh nghiệm vốn sống cũng nh suyngẫm riêng của nhà phê bình đã tạo nên phơng pháp phê bình vừa quen, vừa lạrất độc đáo.

Tóm lại: Văn bản phê bình văn học là một thể loại trong kiểu văn bảnnghị luận thuộc phong cách chính luận Những đặc điểm về thể loại văn bảncùng với quan niệm và phơng pháp phê bình văn học đã tác động hoặc trựctiếp hoặc gián tiếp lên đặc điểm ngôn ngữ của thể loại văn bản này Ngôn ngữtrong "Thi nhân Việt Nam" cũng không nằm ngoài sự tác động ấy Là cuốntuyển tập có vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phê bình văn học, "Thinhân Việt Nam" đã thực sự lôi cuốn độc giả bằng lời văn hấp dẫn, bằng nhữngkiểu kết cấu đầy ấn tợng của nó Lời văn và kết cấu văn bản trở thành những

đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của tuyển tập phê bình có một không hai này

Trang 24

Kết cấu là một thuật ngữ đợc nhiều ngành khoa học sử dụng Chỉ riênglĩnh vực khoa học nghiên cứu văn học cũng đã có những quan niệm khácnhau.

- Quan niệm của lý luận nghiên cứu văn học: Trong lý luận nghiên cứuvăn học nói đến kết cấu là kết cấu của tác phẩm Các giáo trình lý luận vănhọc đều có sự nghiên cứu về kết cấu của tác phẩm văn học ở các giáo trình

này các nhà lý luận đã đa ra những định nghĩa về kết cấu: Kết cấu chính là

kiến trúc của tác phẩm, là toàn bộ tổ chức phức tạp của tác phẩm Khảo sát kết cấu chính là khảo sát phơng diện cấu trúc của nó” [12-tr.149].

Nhóm biên soạn cuốn “Từ điển thuật ngữ Văn học” (Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) cũng đã đa ra một cách giải thích về kết cấu:

Kết cấu: Toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm

ở cuốn từ điển này, các tác giả đã phân biệt đợc kết cấu với bố cục và giảithích, phân tích rõ hơn về thuật ngữ kết cấu Theo cách giải thích này “Tổchức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tơng quan bênngoài, giữa các bộ phận chơng đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong,nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm, bố cục là một phơng diệncủa kết cấu Ngoài bố cục, kết cấu gồm: Tổ chức thời gian không gian nghệthuật của tác phẩm, nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thànhphần của cốt truyện, nghệ thuật trình bày bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện…trong vănsao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật”.[16 –tr.131]Nh vậy kết cấu theo quan niệm của lý luận văn học nó không chỉ là mộtcách tổ chức sắp xếp các yếu tố nội dung theo trình tự của hình thức ngôn từnhất định mà nó còn nhiều những yếu tố khác có trong tác phẩm văn học

- Quan niệm của thi pháp học: Trần Đình Sử trong giáo trình: “Một số

vấn đề thi pháp văn học hiện đại” định nghĩa Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ

thuật sinh động của tác phẩm” [31-tr.122] Để luận giải, giáo s đã cho những

phân tích chi tiết cụ thể về kết cấu Kết cấu là cách “Xây dựng nhân vật tínhcách biểu hiện quan niệm về con ngời, về không gian và thời gian, sắp xếp cácchi tiết để tạo thành bức tranh sống động khả năng cảm nhận cuộc sống ấy saocho có thể rút ra đợc những ý nghĩa nhân sinh, những phản ứng tình cảm nhtác giả mong đợi" Trong kết cấu tác phẩm gồm các phơng diện: Hệ thốnghình tợng, nhân vật, sự kiện, chi tiết nghệ thuật, hệ thống điểm nhìn và tổ chứcvăn bản, khả năng lựa chọn tổ chức sắp xếp các yếu tố nhân vật, cốt truyện,thời gian, không gian nhằm thể hiện điểm nhìn nghệ thuật

Kết cấu trong tác phẩm văn học có nguyên tắc rất quan trọng đó lànguyên tắc tổ chức cái nhìn sao cho bằng cảm thụ trực tiếp, ngời đọc nắm bắt

đợc ý nghĩa sâu xa và tổng quát về hình tợng nghệ thuật cũng nh biểu hiện đợcniềm rung cảm Tuy nhiên, kết cấu tác phẩm văn học phụ thuộc vào đặc trngthể loại ở mỗi thể loại văn học có những đặc trng khác nhau, do đó cũng có

Trang 25

những nguyên tắc kết cấu khác nhau: Kết cấu của tác phẩm thơ khác với tácphẩm kịch và khác với tác phẩm văn xuôi…trong vănKết cấu của truyện kể dân gian th-ờng diễn ra theo trình tự tuyến tính: Cái gì xảy ra trớc kể trớc, cái gì xảy ra sau

kể sau Trong khi đó kết cấu trong văn học viết mà cụ thể là ở văn xuôi lạihoàn toàn khác Kết cấu và cốt truyện không trùng khít nhau, không gian củangời kể chuyện có thể khác không gian nhân vật, trình tự kể chuyện cũngkhông theo chiều tuyến tính Ngay cả điểm nhìn của thể loại này cũng rấtphong phú đa dạng, có thể nhìn theo ngôi của ngời kể chuyện, cũng có khinhìn theo ngôi của nhân vật…trong văn Chẳng hạn, trong tác phẩm “Chí Phèo” củaNam Cao, kết cấu kể chuyện không diễn ra theo chiều thời gian mà có sự hồivọng, bổ sung giữa hiện tại và quá khứ Hiện tại bổ sung chi tiết cho quá khứ

và ngợc lại, để ngời kể chuyện hoàn chỉnh cuộc đời Chí Phèo, từ khi sinh ra

đến khi trởng thành, đi ở tù đến khi kết thúc cuộc đời Lời tự sự có khi là củangời kể chuyện, có khi là của Chí Phèo, có khi lại của Thị Nở…trong vănTất cả đã làmthành kết cấu của tác phẩm, mà qua đó Nam Cao muốn chuyển đến cho ngời

đọc bi kịch về sự tha hoá của con ngời trong xã hội thực dân phong kiến Việtnam đầu thế kỷ XX

Trong ngôn ngữ học, khái niệm kết cấu đợc sử dụng nhiều trong phầnngữ pháp và ngữ pháp văn bản: kết cấu cú pháp, kết cấu đoạn văn, kết cấu vănbản

Theo quan niệm của O.I Moskalskaja trong cuốn “Ngữ pháp văn bản”(do Trần Ngọc Thêm dịch), kết cấu có vai trò quan trọng trong việc tạo vănbản và tạo kiểu văn bản Trong cuốn sách này, O.I Moskalskaja đã dẫn định

nghĩa của E.G Rizen trong phần giải thích: "Kết cấu của tác phẩm là sự

thống nhất bên trong của nội dung và sự phân đoạn bên ngoài của tác phẩm thành các bộ phận và tập hợp các hình thức kết cấu - lời nói" [24- tr113].

Cũng trong trang này, nhà văn bản học đã đa ra khái niệm "tính định hình kết

cấu" và xem đó là tiêu chí để khu biệt văn bản với những câu ngẫu nhiên

không tạo thành văn bản: “Trong khi văn bản có một kết cấu nhất định thìchuỗi câu ngẫu nhiên không đợc định hình về mặt kết cấu” Nh thế có nghĩa lànhờ có kết cấu mà “văn bản” mới đợc gọi là văn bản Tính định hình kết cấunày chỉ áp dụng cho những văn bản có kích thớc nhỏ, vì chính ở đây mới xuấthiện vấn đề cần thiết khu biệt văn bản với chuỗi câu ngẫu nhiên

Kết cấu qui định kiểu văn bản (loại hình các văn bản) Để thực hiệnchiến lợc và đạt đợc mục đích giao tiếp mỗi kiểu văn bản đều có một kiểu kếtcấu nhất định Kết cấu văn bản th từ khác kết cấu văn bản điện thoại, kết cấuvăn bản tin tức khác kết cấu văn bản đơn từ…trong văn

Nh vậy, O.I.Moskalskaja khẳng định kết cấu có vai trò quan trọng trongviệc tạo văn bản và định kiểu văn bản trong giao tiếp

Trang 26

ở Việt Nam , việc nghiên cứu kết cấu văn bản còn rất mới giống nh sựnon trẻ của bộ môn Ngữ pháp văn bản vậy Trong các giáo trình phong cáchhọc hay phong cách học văn bản đều không có một sự nghiên cứu cụ thể nào

về kết cấu loại hình văn bản Còn Ngữ pháp văn bản và phân môn Tập làm vănlại cũng chỉ nghiên cứu về kết cấu của văn bản nói chung mà thôi

Trong các giáo trình Ngữ pháp văn bản, kết cấu chung của văn bản đã

đ-ợc nhiều ngời quan tâm ở đây, đã có những định nghĩa và sự phân tích sâuhơn về các yếu tố tạo nên kết cấu Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh,Trần Ngọc Thêm trong giáo trình "Ngữ pháp văn bản và việc dạy Tập làm

văn” đã định nghĩa: "Kết cấu: Đó là cách nhóm các yếu tố của nội dung (các

luận điểm, các sự kiện) theo một sơ đồ nhất định Bản thân cách nhóm này là

sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố nội dung, còn hình thức nó qui định ở một mức độ nhất định đặc tính chung và những đặc điểm riêng của văn bản” [3-

tr130]

ở một cuốn giáo trình khác: "Tiếng Việt (Phần Ngữ pháp văn bản)”,

Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Dân cũng đã nêu ra: "Kết cấu: Đó là cách tổ

chức các yếu tố nội dung (những sự kiện, hiện tợng, luận điểm) theo một kiểu

Theo các cách định nghĩa trên, kết cấu thuộc phạm trù hình thức nhnghoàn toàn không chỉ là hình thức Nhờ có kết cấu mà việc tổ chức nghĩa trongvăn bản đợc thực hiện một cách có hệ thống, có hiệu quả Cùng một nội dungnhng nếu tổ chức theo cách này thì sẽ cho ta một hiệu quả giao tiếp tơng ứng,còn nếu tổ chức theo cách khác thì hiệu quả giao tiếp sẽ khác

Để hiểu rõ khái niệm kết cấu, ta cần phân biệt kết cấu với cấu trúc và bố

cục:

Theo quan niệm cũ (truyền thống) kết cấu là cấu trúc Tuy nhiên hiệnnay, hai khái niệm này đã có sự phân biệt tơng đối rạch ròi Thực ra kết cấu vàcấu trúc có nội hàm gần giống nhau: cùng chỉ về các yếu tố nội dung và hình

thức để tạo thành văn bản Cấu trúc bao gồm những yếu tố và quan hệ hữu

hạn giữa chúng, những liên kết quen thuộc, phi cá tính Đó sự tổ chức nội tại

có tính ổn định các mối quan hệ qua lại của các yếu tố mà nếu thay đổi mộtyếu tố nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi của những yếu tố khác nhng vẫn giữnguyên cấu trúc Kết cấu “động”hơn cấu trúc Kết cấu có thể thay đổi theo sựsáng tạo của con ngời Nó mang dấu ấn cá nhân rõ rệt Chẳng hạn: Một câu

đơn chuẩn mực bao giờ cũng có cấu trúc: Chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ đây làcấu trúc phi cá tính, đúng trong mọi trờng hợp Cấu trúc đó khi đi vào văn bảnchịu sự qui định của thể loại và cá nhân sản sinh ra nó nên có thể đảo đi, thêm,bớt các thành phần mà vẫn chấp nhận đợc, vẫn đúng Đấy là kết cấu Điều này

có nghĩa rằng nếu nh cấu trúc là mặt phi cá tính, ổn định thì kết các là mặt

động, thờng xuyên biến đổi theo ý đồ của ngời tạo văn bản

Trang 27

Kết cấu cũng khác với bố cục Bố cục là một biểu hiện của kết cấu trên

bề mặt Đó là sự phân đoạn về nội dung, biểu hiện qua hình thức văn bản bằngnhững kí hiệu nh dấu hoa thị, sự cách dòng, đánh số hay sự phân chia thànhchơng, mục, phần, đoạn…trong vănQua những dấu hiệu về mặt hình thức nh trên, ngời

đọc có thể nhận biết đợc bằng trực quan Cơ sở của sự phân chia bố cục là nộidung thông tin, sự việc và mục đích thực tế của ngời tạo dựng văn bản Trongkhi đó, cơ sở của kết cấu rộng hơn, nó bao gồm khả năng chú ý đến đối t ợngcủa con ngời trong một đơn vị thời gian- tức là chú ý đến đối tợng giao tiếpcủa văn bản, đến sự tiếp nhận và tính hiệu quả của nó

Tóm lại, khái niệm kết cấu là một khái niệm thuộc phạm trù hình thứccủa văn bản Các yếu tố hình thức của văn bản nh câu, đoạn văn, phần, mở

đầu, kết thúc…trong văn đều tham gia vào kết cấu Kết cấu đóng vai trò quan trọng là

tổ chức các yếu tố nội dung và hình thức thành một chỉnh thể văn bản làmsống dậy hiện thực, sống dậy nội dung văn bản và thiết lập cho nội dung ấymột trật tự hữu hiệu trong giao tiếp Cơ sở để hình thành kết cấu khi xây dựngvăn bản là khả năng to lớn, tiềm tàng của ngôn ngữ và ý đồ giao tiếp (haychiến lợc giao tiếp) cũng nh năng lực sử dụng ngôn ngữ của ngời tạo lập vănbản Mục đích của kết cấu là tái hiện thế giới và cuộc sống hiện thực, bộc lộcảm quan của ngời viết về đời sống ấy đồng thời là con đờng giúp độc giảkhám phá văn bản theo gợi ý của ngời tạo lập ra nó

2.1.2 Kết cấu trong văn bản phê bình văn học :

Trong phê bình văn học, kết cấu không phải là điều ngời ta quan tâm,chú ý khi nghiên cứu Là một thể loại của văn bản nghị luận thuộc phong cáchvăn bản chính luận, điều thu hút sự chú ý của ngời đọc văn bản phê bình vănhọc không phải ở kết cấu mà ở khả năng và cách thức lập luận hớng tới nộidung, chủ đề của văn bản Bởi đặc điểm quan trọng trong những kiểu loại vănbản này là sự lôi cuốn, hấp dẫn về những vấn đề đợc đa ra toát lên từ những lý

lẽ, luận cứ, luận chứng có trong văn bản Lập luận trở thành điểm chú ý đầutiên của ngời tạo văn bản và nội dung nghiên cứu chính về văn bản phê bìnhvăn học cũng nh các thể loại văn bản nghị luận khác

Hơn nữa, lâu nay trong quan niệm truyền thống, đã là văn bản thì phải

đầy đủ các phần: mở đầu, nội dung và kết luận Sự có mặt đầy đủ các thànhphần trên bảo đảm tính hoàn chỉnh trọn vẹn cho văn bản

Văn bản phê bình văn học vì thế cũng không đi chệch khỏi “đờng ray”

ấy Tuy nhiên trong thực tế, kết cấu của thể loại văn bản này phong phú hơnnhiều Nếu ta xem cách thức lập luận là đặc điểm ngôn ngữ nổi bật để hiệnthực hoá văn bản phê bình, là cách để thuyết phục ngời đọc, ngời nghe theo ýcủa ngời tạo văn bản thì kết cấu lại là cơ sở để tổ chức các lập luận ấy Vai tròcủa kết cấu trong thể loại văn bản này không chỉ là tổ chức triển khai nội dungvăn bản theo chiến lợc giao tiếp mà chủ của nó đề ra Chiến lợc ấy lại bị chi

Trang 28

phối bởi mục đích giao tiếp Nếu anh chủ trơng mang đến cho đối tợng giaotiếp những thông tin về một vấn đề gì đó mà anh cho là quan trọng thì cónghĩa là ngay lúc ấy anh phải thuyết phục ngời nghe theo một hớng nào đóbằng chính lý lẽ và lập luận của anh Bên cạnh đó anh phải ý thức đợc nói nhthế nào, theo cách nào thì có hiệu quả hơn Điều này buộc anh phải xác địnhmột kết cấu rõ ràng cho văn bản ngoài những khuôn mẫu đã có sẵn Tức làanh phải sáng tạo Sự sáng tạo đem đến cho ngời đọc những kiểu kết cấu mới,làm cho họ luôn có cảm giác mới mẻ, cuốn hút và ý thức khám phá tích cực Không có sự bắt buộc về khuôn hình nh một số thể loại văn bản khoahọc hay văn bản hành chính, văn bản phê bình văn học có khuôn hình tự doxét trong một chừng mực nào đấy Điều đó cho phép các nhà phê bình mặcsức sáng tạo văn bản theo những kiểu kết cấu phù hợp với sở trờng và mục

đích giao tiếp đặt ra Đa số họ có thói quen tạo văn bản theo khuôn hình cósẵn, truyền thống Trong khi đó, một số khác lại a sáng tạo Sự sáng tạo đóthể hiện ở chỗ nhà phê bình có thể thay đổi thờng xuyên các kiểu kết cấu màkhông làm phơng hại gì đến nội dung cần thông tin Và hơn thế nữa còn huy

động đợc tính tích cực trong việc tiếp nhận văn bản của đối tợng giao tiếp Tácgiả “Thi nhân Việt Nam” đã làm đợc điều ấy

Lật giở từng trang trong tập “Thi nhân Việt Nam”, điều đầu tiên gây sựchú ý cho thị giác độc giả là độ ngắn dài không đồng đều của các bài viết.Toàn bộ tập sách có 49 bài viết chính thức là 49 kiểu kết cấu với 49 kích cỡkhác nhau Chúng tôi qui ớc gọi mỗi bài nh vậy là một văn bản Văn bản dàinhất là tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” gồm 32 trang với kết cấu 3 phần

rõ ràng và bố cục chặt chẽ; văn bản ngắn nhất là “Lu Kỳ Linh”, không kể 4dòng ghi vắn tắt tiểu sử con ngời, sự nghiệp, bài viết phê bình này chỉ vẻn vẹn

6 dòng Sáu dòng mà đủ cả phê, cả bình cho một đời thơ Quả thực, phải là

ng-ời bản lĩnh lắm thì nhà phê bình mới làm đợc điều đó

Văn bản trong "Thi nhân Việt Nam" có kết cấu đa dạng Dựa trên cơ sở

sự có mặt đầy đủ hay không đầy đủ các phần, có thể chia kết cấu trong tuyểntập thành hai kiểu: Kiểu văn bản có kết cấu hoàn chỉnh và kiểu văn bản có kếtcấu cha hoàn chỉnh

2.2 Các kiểu kết cấu trong Thi nhân Việt Nam“ ”

2.2.1 Sự đa dạng của kết cấu.

Sự ngắn dài của các văn bản trong “Thi nhân Việt Nam” đợc lý giải mộtcách thuyết phục khi đi vào tìm hiểu sâu hơn kết cấu của từng văn bản Trongngữ pháp văn bản, một văn bản đợc gọi là hoàn chỉnh thờng có kết cấu baphần: phần mở đầu, phần nội dung, và phần kết thúc ( ở đây chỉ nói tới vănbản thông thờng, còn gọi là bài viết) Văn bản trong “Thi nhân Việt Nam” cónhiều kiểu kết cấu Nếu đem so sánh với các tập sách tơng tự của một số nhàphê bình khác - “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan, một cuốn sách ra đời

Trang 29

cùng thời với “Thi nhân Việt Nam” chẳng hạn - thì điều đó sẽ hiển hiện rõnét

Trong quyển ba tập hai của “Nhà văn hiện đại” có 19 văn bản viết về banhóm: Phê bình và biên khảo, kịch, và thơ ở đó, văn bản nào độ dài cũng t-

ơng đơng nhau, văn bản nào cũng đầy đặn hoàn chỉnh cũng có kết cấu ba phần

nh kết cấu chuẩn Kết cấu ấy trở thành khuôn hình chung, khuôn mẫu thốngnhất cho tất cả các văn bản trong toàn quyển, toàn tập và cả bộ sách Khảo sátcác mục IV, V, VI trong quyển ba tập hai, với 19 văn bản thì có tới 9 văn bản

từ 10 trang trở lên (gồm những bài viết về Thiếu Sơn, Lu Trọng L, Vũ ĐìnhLong, Vi Huyền Đắc…trong văn) Văn bản dài nhất là bài viết về Thế Lữ với độ dài 15trang và văn bản ngắn nhất là bài viết về Vũ Hoàng Chơng cũng đã 4 trang

Nh thế, độ dài ngắn giữa các văn bản có khác nhau nhng không chênh nhauquá lớn nh trong “Thi nhân Việt Nam” Hơn nữa, các phần trong các văn bảntơng đối giống nhau Phần mở bao giờ cũng nêu một cách khái quát nhất, mộtnhận xét có tính lý luận về đối tợng đợc viết Phần nội dung bao giờ cũng lànhững lời khen - chê rõ ràng, nhất quán mà chủ yếu là phê nhiều hơn bình.Phần kết luận là phần chốt lại những điều đã nói ở hai phần trên Với cách tạovăn bản nh trên, Vũ Ngọc Phan tỏ ra là ngời luôn chú trọng tới tính cân đối,nhất quán giữa các bài viết, tính chuẩn mực và toàn vẹn của một văn bản.Cách làm của Vũ Ngọc Phan có một u điểm là: Đem đến cho độc giả mộtcái nhìn hệ thống về đối tợng nghiên cứu, đồng thời giúp độc giả dễ dàng hơnkhi tiếp nhận văn bản (độc giả cứ theo khuôn mẫu ấy, mô hình ấy mà hiểu vănbản, không phải lúng túng khi chuyển từ văn bản này sang văn bản khác).Song, cách làm ấy lại cũng vô tình đem đến cho độc giả cảm giác đơn điệubuồn tẻ, nhàm chán vì tính công thức của nó Tất nhiên điều đó có vẻ khôngquan trọng lắm, bởi vì rằng trong phê bình văn học cái quan trọng là nhà phêbình đã mang lại những nội dung t tởng sâu sắc gì, những quan niệm mới mẻgì về nghệ thuật qua cách phê bình về nhà văn, nhà thơ và tác phẩm của họ

Đồng thời qua sự phê - bình những cái hay cái dở, cái đợc cái cha đợc của đốitợng, độc giả có thể tự rút ra cho mình những bài học gì để điều chỉnh đúng h-ớng hoạt động sáng tác văn học

Nhng theo lý thuyết của hoạt động giao tiếp, bất kì một cuộc giao tiếpnào cũng phải có những mục đích mà ngời tham gia giao tiếp đặt ra Giao tiếpbao giờ cũng phải hớng tới một kết quả nào đấy Do vậy, khi tham gia giaotiếp, ngời trong cuộc bao giờ cũng phải xây dựng cho mình một chiến lợc giaotiếp (dù vô tình hay cố ý ) Chiến lợc giao tiếp đợc hiện thực hoá trong môhình kết cấu văn bản Và nh thế có nghĩa là: Kết cấu văn bản trở thành mộtnhân tố quan trọng trong việc thực hiện những ý đồ của ngời sáng tạo ra nó.Một cuộc giao tiếp thành công bao giờ cũng làm cho ngời tham gia cảm thấy

bị hấp dẫn ngay từ đầu, thoải mái trong quá trình giao tiếp và mãn nguyện khikết thúc Sự nhàm chán, buồn tẻ đơn điệu rõ ràng sẽ không cho một kết quả

Trang 30

giao tiếp nh mong muốn “Thi nhân Việt Nam” đã khắc phục đợc điều đóbằng chính việc sử dụng linh hoạt nhiều kiểu kết cấu Chính Hoài Thanh đã

từng bày tỏ: Một bài bình thơ có lẽ không cần thiết phải có một kết cấu cố

định, kết cấu nh thế nào là tùy vào mục đích, nội dung câu chuyện Có nh vậy mới đủ sức hấp dẫn ngời ta Qua tâm sự ấy có thể nhận ra một điều, khi sáng

tạo văn bản nhà phê bình luôn luôn chú ý đến hiệu quả giao tiếp do đó rấtquan tâm đến độc giả - đối tợng tham gia giao tiếp, những ngời sẽ cùng nóichuyện thơ với tác giả

Hơn nữa, cuộc giao tiếp giữa nhà phê bình và độc giả trong “Thi nhânViệt Nam” là cuộc giao tiếp về nghệ thuật mà cụ thể là về thi ca, về Thơ Mới

Đó là một cuộc giao tiếp tự nguyện, bởi nội dung của nó là thế giới hình tợng

và thế giới ngôn từ nghệ thuật của Thơ Mới, mục đích của nó là tìm sự đồngcảm, tri âm tri kỉ trong thởng thức nghệ thuật Với phơng châm “lấy hồn tôi đểhiểu hồn ngời” và “hiểu cho đúng không phải cho đủ - hình sắc các hồn thơ”,nhà phê bình chủ yếu là bình bằng cảm xúc, bằng những tình cảm chân thànhhơn là bình bằng lý trí, lý luận Chỉ những gì trong thơ mang lại cho tác giảniềm say mê, hứng khởi, sự rung cảm mãnh liệt thì tác giả mới viết Nhà phêbình đã bộc bạch: “đối với một quyển sách, mình có ý liến gì lạ lạ mới nên hạbút phê bình; không thì thôi” [38 – tr38] Và khi đã viết thì viết một cách hàohứng say sa và chìm đắm Viết rất hay những cái hay cái đẹp ở trong thơ Cáimục đích cuối cùng của nhà phê bình là giới thiệu cho độc giả những chândung văn học mới, phát hiện hộ độc giả những câu, những khổ, những đoạnthơ hay của các thi sĩ lãng mạn đơng thời Cho nên, trong phê bình, HoàiThanh - Hoài Chân a điểm hơn a diện, văn bản dài ngắn không chừng

Một lý do nữa có thể hiểu đợc, lý giải đợc về sự đa dạng của kết cấutrong “Thi nhân Việt Nam” là sự tập hợp phong phú các gơng mặt của ThơMới Cùng trong một phong trào thơ, giữa các thi sĩ có những điểm tơng đồng

là cái tôi trữ tình đợc thể hiện trong những hình thức nghệ thuật mới mẻ hiện

đại Nhng giữa họ lại có nhiều chỗ khác nhau Mỗi thi sĩ có một giọng nóiriêng, một phong cách riêng, hợp thành các bè Tập hợp nhiều bè lại thành dànhợp sớng Thơ Mới (điều này đợc tác giả phê bình phân tích rõ trong tiểu luận

Một thời đại trong thi ca) Nhà phê bình đã nhìn tác giả, tác phẩm Thơ Mới

bằng cái nhìn nhạy cảm, nắm bắt đợc cái thần trong tác phẩm của mỗi nhàthơ Song, trong một đời thơ không phải mọi tác phẩm đều hay đều đẹp, đều

dễ hiểu Khi thởng thức tác phẩm, hiểu đến đâu nhà phê bình viết đến đó bấtluận ngắn - dài Có khi với những tác phẩm mà nhà phê bình cho là khó hiểuthì ngời viết cả ra cho bạn đọc tham khảo rồi có thể từ đó có những cách hiểu

đúng hơn, trúng hơn (Các bài văn bản về Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đợctrình bày theo cách này) Lại có khi trong một thi sĩ, tác giả phê bình chỉ tìm

đợc một điểm nào đó đặc sắc hoặc một tứ thơ hay để bình mà đúng hơn là gợi

Trang 31

ý cho độc giả Đấy chính là tính hiện đại trong phong cách phê bình của “Thinhân Việt Nam”

2.2.2 Kiểu văn bản có kết cấu hoàn chỉnh.

Thông thờng, một văn bản có kết cấu hoàn chỉnh gồm có các phần : Mở

đầu, nội dung và kết luận Trong "Thi nhân Việt Nam" ngoài ba phần naỳ, vănbản hoàn chỉnh còn coá thêm phần giới thiệu tác giả tác phẩm đứng ở vị trí

đầu tiên Do vậy đa số các văn bản có kết cấu hoàn chỉnh ở tuyển tập gồm có

4 phần: Giới thiệu, mở đầu, nội dung và kết luận Số văn bản có kiểu kết cấunày 32/49 (65,3%)

Cấu trúc của một văn bản phê bình nói chung có 2 phần: phần phê vàphần bình Cấu trúc này đợc sử dụng và sắp xếp nh thế nào là hoàn toàn phụthuộc vào cá tính sáng tạo của nhà phê bình Sự sắp xếp khác nhau tạo nênnhững sơ đò kết cấu khác nhau Chính sơ đồ kết cấu cũng là một biểu hiện vềphong cách của nhà văn phê bình

Là một ngời tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc giao tiếp: nói có đầu có

đuôi, có ngọn có ngành, Vũ Ngọc Phan chủ yếu viết phê bình theo kiểu kếtcấu hoàn chỉnh Mặt khác, do sự chi phối sâu sắc của quan niệm về phê bìnhvăn học nên trong các bài viết của mình Vũ Ngọc Phan chủ yếu nghiêng vềphê nhiều hơn bình, chỉ ra và nhận xét những điểm yếu, điểm khuyết của đốitợng hơn là khen ngợi Ông thờng nhìn đối tợng theo một chiều nên chỉ hoặc

là khen, hoặc là chê, mà số lợng bài chê nhiều hơn bài khen Trong khi đóHoài Thanh - Hoài Chân trong tập "Thi nhân Việt Nam" cũng thờng viết theokết cấu hoàn chỉnh nhng nội dung khen - chê, bình - phê là khác nhau trongtừng văn bản Hầu hết khi viết về các thi nhân Thơ Mới, tác giả thờng khennhiều hơn là chê, bình nhiêù hơn là phê Vì vậy sơ đồ kết cấu trong các vănbản là có khác nhau Trong nhiều bài viết, phần phê đợc đẩy lên phần mở đầu

nh các bài về Huy Thông, Nguyễn Vỹ, Thái Can

"Tôi đã cố đọc đi đọc lại thơ Thái Can để mong tìm lại cái say sa ngày trớc Nhng lòng tôi cứ dửng dng Sao bây giờ tôi thấy thơ Thái Can sáo quá

mà những thiếu nữ trong thơ Thái Can thì hầu hết ẻo lả đến khó chịu Nhất là những nụ cời Những nụ cời sao mà vô duyên mà trơ trẽn thế !".

Lời phê đặt ở phần mở đầu nhng vấn đề giải quyết ở phần nội dung lạikhông phải những điều đã nêu Với những nhà thơ nh thế tác giả phê bìnhluôn tìm thấy sau những điểm khuyết là cái hay cái đẹp, là những chỗ mạnhcủa thi nhân Phê chỉ là cơ sở để tác giả bình hay hơn mà thôi

Trong khi đó, ở một số bài viết khác phần phê lại đợc xuống phần kếtluận sau khi đã bình "rặt những cái hay, cái đẹp" của thi sĩ Đó những kết luậntrong bài viết về Chế Lan Viên, Nguyễn Bính Chốt lại những cảm nhận vềthơ thi nhân bằng những lời phê, tác giả phê bình thờng viết với một giọng văn

Trang 32

nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm thía Chẳng hạn kết luận của Nguyễn Bính, nhàphê bình đã nhận xét:

"Đáng trách chăng là giữa những lời giống hệt ca dao, bỗng chen vào một đôi lời quá mới Ta thấy khó chịu nh vào một ngôi chùa có những ngọn

đèn điện trên bàn thờ Phật Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên

lố lăng".

Thế mạnh của kiểu kết cấu hoàn chỉnh là tạo nên những văn bản chuẩnmực, toàn vẹn, đa lại những thông tin một cách đầy đủ, trọn vẹn về đối tợng.Vì thế yêu cầu đặt ra cho ngời tạo văn bản là phải thực sự có một sự đầu t lớn,công phu, nhất là đối với những bài tiểu luận dài nh " Một thời đại trong thica" Qua khảo sát, những văn bản có kết cấu hoàn chỉnh đều là những bài viết

về các phong cách thi nhân nổi bật, các nhà thơ tiêu biểu nh : Xuân Diệu, HuyCận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn Mỗi một nhà thơ là đại diệncho một dòng thơ hoặc một khuynh hớng thơ nổi bật trong phong trào ThơMới Vì vậy trong những văn bản này, kết cấu các phần đợc trình bày mộtcách rõ ràng với sự phân tích tỉ mỉ, chi tiết và lời văn ngập tràn cảm xúc

Đặc biệt, trong kiểu kết cấu hoàn chỉnh, các thủ pháp kết cấu đợc sửdụng một cách triệt để để tạo nên các kiểu quan hệ khác nhau (quan hệ chuỗi,quan hệ song song) Các thủ pháp đó là: Liệt kê, móc xích, hỏi - đáp, songhành, tơng phản Có khi trong một bài viết tác giả sử dụng hầu hết các thủpháp này nh tiểu luận "Một thời đại trong thi ca" chẳng hạn Với nội dung làtổng kết về phong trào Thơ Mới, ở bài viết này tác giả đã tái hiện lại cuộc đấutranh gay gắt giữa Thơ Cũ và Thơ Mới bằng thủ pháp liệt kê Nhất là trong

đoạn phản ánh sự phản ứng của những ngời bênh vực thơ Thơ Cũ và nhữngngời đấu tranh cho Thơ Mới, tác giả đã viết bằng hai đoạn văn dài với cácquan hệ chuỗi:

"Tháng 6 năm 1934 Ông Lu Trọng L diễn thuyết tại

Tháng 1 năm 1935 Ô Đỗ Đình Vợng diễn thuyết tại

Tháng 1 năm 1935 Cô Nguyễn Thị Kiêm diễn thuyết tại

Tháng 11 năm 1935 "

Ngoài mục đích thông báo, sự liệt kê liên tục về thời gian và hành độnglàm tăng thêm không khí căng thẳng, gay gắt của cuộc đấu tranh Cứ nh vậynội dung của văn bản đợc trình bày một cách trọn vẹn

Bên cạnh đó sự chặt chẽ của văn bản lại đợc tạo thành bởi hàng loạtnhững đoạn văn viết theo thủ pháp móc xích hoặc tơng phản:

"Có những thi nhân chỉ tìm ý thơ trong tình yêu của một ngời Trái lại, trong thơ Thế Lữ thấp thoáng hình ảnh không biết bao nhiêu ngời Mỗi thiếu

Trang 33

nữ đi qua trong đời thi nhân hay trong trí tởng thi nhân đều mang theo một chút hơng ân ái".

Các thủ pháp kết cấu không chỉ đợc dùng trong một đoạn văn mà diễn ratrong toàn văn bản Chúng không chỉ đợc dùng độc lập, riêng rẽ, tách biệt màthờng nằm trong sự đan xen nhau để hiện thực hoá nội dung của văn bản.Một điều đáng chú ý nữa trong các bài viết có kết cấu hoàn chỉnh là: độdài ngắn không đều của các văn bản Mặc dù có cùng một kiểu kết cấu nhngtiểu luận "Một thời đại trong thi ca" dài 32 trang, bài phê bình về Hàm Mặc

Tử dài 8 trang, còn bài viết về Mộng Huyền lại chỉ có 12 dòng Điều này chothấy, khác với Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh- Hoài Chân trong "Thi nhân ViệtNam" không hề quan tâm đến tính cân đối giữa các bài viết trong tổng thểtuyển tập Dờng nh nhà phê bình chỉ viết là để trớc hết thoả mãn niềm say mê

đối với Thơ Mới và sau đó là vì sự tiếp nhận của độc giả, vì mục đích giao tiếpcủa mình mà thôi

Nh vậy, trong "Thi nhân Việt Nam" kiểu kết cấu hoàn chỉnh vẫn chiếm

số lợng lớn Điều này chứng tỏ nhà phê bình a cách nói có đầu có cuối hơn.Tuy nhiên do những cảm nhận mang tính chủ quan của tác giả, sự phong phú

về phong cách của các thi nhân cũng nh sự chi phối của mục đích giao tiếpnên độ dài và sơ đồ kết cấu của kiểu văn bản này là không hoàn toàn nh nhau.Hiệu quả là văn bản trong "Thi nhân Việt Nam" luôn có một sự biến đổi linhhoạt và có tính tác động cao đối với ngời đọc

2.2.3 Kiểu văn bản có kết cấu cha hoàn chỉnh.

Bên cạnh những văn bản có hình thức kết cấu hoàn chỉnh còn có nhữngvăn bản có hình thức kết cấu cha hoàn chỉnh Kiểu kết cấu này gồm có 17 vănbản chia thành hai kiểu nhỏ hơn: Kiểu kết cấu hai phần và kết cấu một phần.Trong những văn bản này các phần có khi đợc mở rộng thêm, có khi lại rútgọn đi (mà chủ yếu là rút gọn) Những văn bản hai phần lại chia thành banhóm nhỏ hơn:

Nhóm 1: Những văn bản chỉ có kết cấu gồm phần mở đầu và phần triển

khai còn phần kết thúc bị rút gọn Nhóm này bao gổm các bài viết về TháiCan, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên, Mộng Tuyết, Vũ Hoàng Chơng…trong vănPhần mở

đầu và phần triển khai trong những văn bản này vẫn đợc tiến hành bình thờng,chỉ có phần kết thúc bị rút gọn đi, văn bản để ngỏ kết luận Những dòng cuốicùng khép lại vẫn thuộc về phần nội dung, vẫn là những lời bình với các thaotác phân tích, chứng minh…trong vănTác giả không trực tiếp đa ra một kết luận nào nh-

ng qua phần bình ở trên ngời đọc có thể tự rút ra đợc những nhận xét về thi sĩ.Trích đoạn cuối cùng trong văn bản của Vũ Hoàng Chơng sẽ thấy đợc điều đó:

Trang 34

"Con thuyền say kia chính là linh hồn và cuộc đời của thi nhân Rút lại,

hy vọng cao nhất của ngời là quên Quên hết thảy những thứ lợm giọng của khách làng chơi:

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

Sát gần đây nữa, cặp môi điên

Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,

Đa hồn say về tận cuối trời Quên."

Đoạn văn trên về hình thức không phải là một kết luận bởi ở đây tác giảkhông sử dụng thao tác tổng hợp khái quát để chốt lại những vấn đề đã đa ra,cũng không trực tiếp phát biểu những cảm nhận suy nghĩ của mình về thinhân Nhng qua những điều đã nêu ra ở phần nội dung ngời đọc có thể rút ramột điều: Chàng thi sĩ họ Vũ kia sở dĩ muốn say và say nhiều, say triền miên

là vì chàng muốn để quên, đợc quên và quên đi tất thảy Chỉ có say và quên thìmới không phải chứng kiến không phải chịu những nỗi buồn cuộc đời đangdiễn ra quanh mình, mới không phải ghi nhận vào tâm trí những điều khôngmuốn biết

Nhóm 2: Những văn bản chỉ có phần triển khai và phần kết thúc, phần

mở đầu bị rút gọn Nhóm kết cấu này có những bài viết về Yến Lan, PhạmHầu, Bích Khê, Phan khắc Khoan…trong vănTrong nhóm này lại xảy ra hai trờng hợp:Một là tác giả rút hẳn phần mở, tức là phần mở hoàn toàn bằng zero () Nhàphê bình bỏ qua hẳn phần đặt vấn đề để đi thẳng trực tiếp vào phê bình tácphẩm Chẳng hạn trong văn bản về Bích Khê, câu đầu tiên đã là một câu bình:

thơ Việt nam:

Ô! Hay buồn vơng cây ngô đồng

Không ngần ngại, bằng trực cảm của mình, nhà phê bình đã đa ra nhữnglời nhận xét ngay khi đặt bút viết với những ý kiến đầy tự tin, đầy bản lĩnh.Với năng lực cảm thụ tinh nhạy nhà phê bình đã cẩn thận, tỉ mỉ lựa chọn tronghàng triệu câu thơ để mang đến cho độc giả những câu thơ tài hoa đầy sức gơị

nh thế

Hai là tác giả nhập phần mở vào phần nội dung Lúc này phần mở trởthành những câu mở đâù trong đoạn văn đầu tiên của phần nội dung Chẳnghạn khi viết về Phan Khắc Khoan:

xem … "

Trang 35

Nhóm 3: Rút gọn phần nội dung, chỉ còn lại phần mở đầu và phần kết

thúc Thực ra những văn bản thuộc nhóm này không nhiều, chỉ có hai văn bản:viết về Yến Lan và Đoàn Phú Tứ, nhng nó làm thành một kiểu kết cấu giống

nh hai nhóm trên chúng tôi vẫn gọi là một nhóm Khi viết về Yến Lan trongphần đặt vấn đề (dài hơn phần kết luận) nhà phê bình cũng giãi bày thẳngthắn:

"Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng nh đi trong mây mù Khi đầu thì cũng hay hay, nhng dần lâu cơ đồ ngạt thở Chỉ thấy mờ mờ con đờng chảy, êm nh những dòng sông và nhất là những vầng trăng vẫn thờng ám ảnh các nhà thơ Bình Định Ngoài ra chịu không biết sau màn mây mù ấy có gì"

Có lẽ, tác giả vì “không biết sau màn mây mù ấy có gì” nên trích ra vàibài thơ có “cái không khí là lạ nhng nhẹ nhàng” để độc giả tự đọc, tự suy

ngẫm và thởng thức Còn Đoàn Phú Tứ, nhà phê bình cũng cảm thấy hình

ảnh mờ quá không thể đoán mẩu đời kia nh thế nào Có khi cả nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ” Chỉ vì không hiểu rõ nên tác giả đã rút hẳn phần nội

dung chính thành một bài bình riêng sau khi trích thơ (bài bình "Màu thời

gian") Chính nhà phê bình đã từng viết khi gặp những bài thơ khó hiểu: "Mỗi

bài thơ là một cánh cửa mở cho tôi lối vào tâm hồn Những tâm hồn không lối vào, những tâm hồn bng bít, thì tôi còn biết gì mà nói".

Nh vậy với những thi sĩ có những bài thơ khó hiểu đối với nhà phê bìnhthì: hoặc tác giả viết tất cả những cảm tởng về toàn bộ sự nghiệp thơ của thinhân để độc giả có thể tìm hiểu kĩ hơn, sâu hơn mà đa ra những suy nghĩkhác, hoặc là sẽ không viết gì để ngời đọc tự tìm lấy và nghiền ngẫm theocách của mình Đây quả là một sự tôn trọng tuyệt vời của tác giả “Thi nhânViệt Nam” dành cho độc giả mà không phải ai cũng làm đợc

Kiểu kết cấu cuối cùng là kiểu văn bản một phần Những bài viết vềThanh Tịnh, Thúc Tề, Vân Đài, Đỗ Huy Nhiệm, Lu Kì Linh thuộc kiểu vănbản này (chiếm 10% trong tổng số văn bản) Không đặt vấn đề, không đa rakết luận tác giả hoặc chỉ bình thoáng qua tác phẩm hoặc chỉ đa ra một nhậnxét nào đó có tính chất ấn tợng về thi sĩ, về một nét trong nội dung hay một

điểm nổi bật trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm (vần, giọng, điệu…trong văn)

"Chọn thơ Vân Đài tôi phân vân quá Bài nào cũng đợc Không có gì sâu sắc Vân Đài chỉ là một ngời chơi thơ Nhng lời thơ bao giờ cũng nhẹ nhàng,

những gì rất mong manh bình yên

Những câu xôn xao nhất nh:

Gió xuân đâu biết cho lòng thiếp

Ôm ấp bên mình thiếp mãi chi?

Trang 36

thì lại là những câu phỏng theo thơ Đờng Ai ngờ thơ Đờng còn có thể gửi về cho thơ Việt thời nay chút hơng sắc dục".

Những điều mà nhà phê bình nêu ra đều là những gợi ý đúng hớng để

độc giả có thể tự mình trực tiếp khám phá sâu hơn vào tác phẩm nghệ thuậttrong sự nghiệp của một thi sĩ Đây chính là một trong những “cách dừng lại

đúng lúc” mà nhà phê bình đã chủ trơng Hiểu nh thế nào, viết nh thế ấy, chỉcần đúng không cần đủ Nếu chỉ hiểu ít mà viết nhiều tác giả vẫn có thể làm

đợc nhng bài bình sẽ trở thành rỗng và sáo Mà điều này lại tuyệt đối cấm kịvới một bài phê bình và nhất là đối với một nhà phê bình chân chính Tác giảcủa “Thi nhân Việt Nam” đã từng rất tâm đắc với ý kiến của giáo s Trơng

Chính: Bình thơ nh ngời đánh đàn đệm cho ngời ta hát Bình thơ mà nói cha

đến là không đạt, nói quá là tán Phải biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ để

ng-ời đọc suy nghĩ Cũng có khi không nên nói gì cả để ngng-ời đọc tiếp xúc thẳng với câu thơ không môi giới" [38-tr.210-215] ý kiến này không chỉ là nguyên

tắc phê bình của Trơng Chính mà nó trở thành nguyên tắc của nhiều nhà phêbình trong đó có Hoài Thanh – Hoài Chân

Kết cấu văn bản trong “Thi nhân Việt Nam” nh vậy luôn luôn có sự thay

đổi linh hoạt Đó chính là một biểu hiện trong phơng pháp phê bình của HoàiThanh - Hoài Chân vừa cổ điển vừa hiện đại Tính cổ điển biểu hiện ở lối phêbình thởng ngoạn tài hoa tài tử, điểm nhiều hơn diện Tính hiện đại lại đợc bộc

lộ qua cách tác giả rất coi trọng đối tợng tiếp nhận văn bản và cảm thụ văn

ch-ơng (độc giả ) vì thế đọc “Thi nhân Việt Nam” độc giả luôn cảm thấy một sựlôi cuốn hấp dẫn đến lạ kì Hơn thế nữa sự đa dạng trong kết cấu văn bản cũng

chính là một biểu hiện của cái tôi cá nhân, biểu hiện của "khát vọng đợc thành

thực" của nhà phê bình và phần nào phản ánh đợc diện mạo chung của phong

trào Thơ Mới Nó là sự hội tụ của nhiều phong cách, nhiều gơng mặt, nhiềudòng thơ trong cùng một thời gian, làm nên một cuộc cách mạng có mộtkhông hai trong lịch sử thi ca Việt Nam

2.3 Các kiểu mở đầu và kết thúc trong Thi nhân Việt Nam“ ”

Trong các văn bản khoa học, phần mở đầu thờng mang nhiệm vụ thôngtin thuần tuý nghiêng về cách trình bày lôgic Nó chỉ đơn giản là chứa đựngnhững thông tin cần thiết về những vấn đề mà tác giả sẽ trình bày ở phần nộidung Với các văn bản mang tính chất giao tiếp công cộng lớn nh tin tức, bàibáo, tờng thuật…trong vănPhần mở đầu ngoài nhiệm vụ thông tin những nội dung sẽ

Trang 37

trình bày còn có một nhiệm vụ tâm lý quan trọng Đó là nó có nhiệm vụ thuhút sự chú ý của độc giả, lôi cuốn, hấp dẫn họ ngay từ đầu Là một thể loạivăn bản đợc hình thành từ một bộ phận d luận xã hội về vấn đề văn học, vănbản phê bình văn học cũng có nhiệm vụ tâm lí ấy.

Để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên, phần mở đầu trong “Thinhân Việt Nam” có nội dung và cấu tạo đa dạng Những nội dung thông tin

mà phần này đa ra bao giờ cũng là những vấn đề về tác giả tác phẩm Thơ Mới.Những vấn đề ấy, đợc trình bày theo ba kiểu: Mở trực tiếp, mở gián tiếp, vàrút gọn mở

Mở trực tiếp là kiểu mở thờng thấy nhất trong nhiều loại văn bản Kiểu

mở này trình bày theo cách đi thẳng, nói thẳng vào vấn đề cần bàn trong vănbản mà không phải qua một sự bóng gió xa gần nào Các nhà phê bình luậnchứng nh Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai a cách mở này hơn Đa số các vănbản trong tập phê bình văn học “Nhà văn Việt Nam” Vũ Ngọc Phan nghiêng

về kiểu vào đề này hơn Khảo sát mời văn bản phê bình về mời thi sĩ Thơ Mớithì có tám văn bản đặt vấn đề theo kiểu trực tiếp Với giọng văn tỉnh táo, lờivăn gãy gọn, nhà phê bình trực tiếp đa luôn ngời đọc vào những vấn đề mà tácgiả sẽ nói tới trong nội dung Phần mở trong văn bản “Lu Trọng L” chỉ gồmmột câu ngắn gọn với hai vấn đề đặt ra rõ ràng:

“ Có thể tóm tắt tất cả những ý trong thơ của Lu Trọng L vào hai chữ

"Tình và mộng" là hai vấn để nổi bật trong thơ Lu Trọng L cũng là hai

nội dung quan trọng xuyên suốt bài phê bình của Vũ Ngọc Phan Khai tháchai vấn đề này, nhà phê bình đã tìm cách phân tích và lý giải nó một cách thấu

đáo để cuối cùng đi đến kết luận: Thơ Lu trọng L "là tấm gơng phản chiếutâm hồn một hạng thanh niên Việt Nam buồn nản trong lúc hai nền văn hoá

Đông Tây giao nhau"

Tác giả “Thi nhân Việt Nam” cũng vào đề theo kiểu ấy nhng khôngnhiều, chỉ 9/49 văn bản (18,4%) mà thôi Những văn bản viết về Đoàn Phú

Tứ, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ…trong văn đều có phần mở tơng tự nh vậy Chỉ có điều nóitrực diện bằng một câu ngắn gọn rõ ràng quá nh thế cũng không phải là sở tr-ờng của Hoài Thanh – Hoài Chân Cho nên rất ít văn bản có cách vào đề theokiểu một câu nh trên

Lời mở trong “Thi nhân Việt Nam” bao giờ cũng nh một sự giãi bày:Giãi bày về những cảm nhận của nhà phê bình đối với thi nhân:

"Thơ Mộng Huyền đôi ba bài đến với tôi nh một hơi gió hiền hoà Tôi nghĩ đến hơi gió ngàn năm vẫn đìu hiu trên sông Hơng".

Những vấn đề mà tác giả phê bình đặt ra bao giờ cũng là những điểm nổi

bật trong nội dung: đó là cái nghiệp say“ ” đã tồn tại từ muôn thở lại trở về

Trang 38

trong thơ Vũ Hoàng Chơng; còn thơ Đoàn Văn Cừ là nơi ghi lại những hình

ảnh cuộc đời Việt Nam xa còn lu lại trong thời gian này”, ở Bàng Bá Lân là

cảm hứng về “đồng quê xứ Bắc” với sự hoà quyện của tình và cảnh hài hoàcân đối trong thi phẩm…trong vănNhững vấn đề trên trở thành chủ đề xuyên suốt vănbản phê bình, chi phối mọi yếu tố nội dung và hình thức trong văn bản Khivào đề theo kiểu trực tiếp, nhà phê bình luôn đứng ở vị trí của mình - một nhàphê bình - để nhìn nhận, đánh giá tác giả tác phẩm Vị trí ấy, khi thì hiện ratrên câu chữ bằng lời phát biểu trực tiếp về thi nhân:

"Tôi thấy Tế Hanh là một ngời tinh lắm Tế Hanh đã ghi đợc đôi nét thần

Ngay từ câu mở đầu cái “tôi” chủ quan đã bộc lộ một cách trực diện, xác

định chủ thể của phát ngôn và quan hệ giữa chủ thể với đối tợng đợc nói (ở

đây chủ thể là nhà phê bình và đối tợng là thi sĩ) Trong cách mở này, tác giảphê bình thực hiện luôn không chỉ nêu vấn đề mà còn bình sâu hơn vào vấn đềấy: Vấn đề đợc đa ra trong bài viết về Tế Hanh là những “nét thần tình về cảnhsinh hoạt chốn quê hơng”, thì tiếp đó Hoài Thanh – Hoài Chân đã thực hiệnluôn những thao tác phân tích, bình luận ngay trong phần mở đầu Đa ngời

đọc vào thẳng vấn đề nh vậy đã giúp họ có một sự nắm bắt nhanh chóngnhững điều cốt yếu tác giả sẽ nói tới mà không cần phải qua một khâu liên t-ởng, tởng tợng nào

Trong kiểu mở trực tiếp, Hoài Thanh – Hoài Chân thờng đặt những vấn

đề về đối tợng trong mối quan hệ và sự so sánh xa gần với những thi sĩ khác.Lúc này, vị trí của nhà phê bình bị ẩn đi, lời bình trở nên khách quan, tỉnh táohơn Đó là cách mở trong bài viết về Vũ Hoàng Chơng, Bàng Bá Lân…trong văn Đặtthi nhân trong sự so sánh nên đặc điểm về phong cách thi nhân đợc xác định

rõ ràng hơn và càng nổi bật Qua đó, ngời đọc có thể dễ dàng nhận ra vị trí củathi nhân trong làng Thơ Mới

"Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính Nhng ngời hiểu cảnh

Sự cảm nhận sâu sắc hay đúng hơn là sự thấu hiểu cả những rung độngtinh vi của thi nhân sau những câu, những chữ, những hình ảnh trong tác phẩmnghệ thuật mang đến cho ngời đọc một cách vào đề vừa chi tiết vừa cụ thể.Hầu nh tất cả những trạng thái cảm xúc, những rung động thẩm mĩ của thinhân đều không thể lọt qua con mắt nhạy bén, tinh tờng của nhà phê bình Đểrồi từ những phát hiện bằng tâm hồn ấy, tác giả đã đa ra những nhận xét,những lời bình vừa chuẩn xác, vừa bao quát cho cả một đời thơ Những vấn đề

đợc phát hiện đầu tiên ấy giống nh một lối nhỏ đa ngời đọc vào khám phá thếgiới nghệ thuật muôn hình sắc của Thơ Mới

Cùng với những cách mở trên, trong kiểu mở trực tiếp còn có một dạng

mở có cấu tạo đặc biệt - phần mở chỉ gồm một

Trang 39

câu Với cấu tạo ấy, nội dung của phần mở chỉ nh một lời đề dẫn trựctiếp, đơn giản để ngời đọc hớng vào nội dung chính sẽ trình bày ở phần nộidung.

Nh vậy, tác giả phê bình đã sử dụng cùng lúc nhiều dạng mở khác nhau.Cùng là mở trực tiếp nhng có khi tác giả xuất hiện ngay từ đầu xác định vị trí

cụ thể của mình trong việc đa ra các vấn đề nội dung Có khi với vị trí là ngờidẫn dắt, giới thiệu tác giả ẩn đi cho ngời đọc trực tiếp làm việc với thi nhânqua một số gợi ý của ngời dẫn, lại có khi nhà phê bình chỉ đa ra một lời giớithiệu ngắn gọn hớng ngời đọc vào nội dung chính mà thôi Kiểu mở trực tiếp

đáng lẽ là khô khan, cứng nhắc nhng nhờ thế đã khắc phục đợc điều đó vàcũng nhờ thế, ngời đọc đã chú ý một cách đều đặn khi tiếp cận văn bản phêbình

Bên cạnh lối mở trực tiếp, trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh

-Hoài Chân còn sử dụng nhiều cách mở gián tiếp Thực chất của cách mở gián

tiếp là lối nói vòng, nói tránh rất quen thuộc của ngời phơng Đông Biểu hiệncủa kiểu mở này là tác giả, chủ thể của phát ngôn, không đi thẳng vào vấn đềcần bàn mà chỉ nêu một cách gián tiếp thông qua một vấn đề khác Vấn đềkhác có thể là một câu chuyện đợc lấy ra từ chính nội dung tác phẩm ThơMới, cũng có thể là những ấn tợng có tính chủ quan về chân dung thi nhân,hay một tình huống có thật hoặc tởng tợng làm tiền đề cho câu chuyện thơ màtác giả sẽ kể…trong văn Kiểu mở gián tiếp trong “Thi nhân Việt Nam” chiếm số lợng28/49 (bằng 57,1%)

Mang dáng dấp của thể loại phê bình thi thoại, văn bản phê bình trong

“Thi nhân Việt Nam” thờng vào đề bằng những lời tự sự Đó là những câuchuyện thơ mà ngời kể là nhà phê bình, nhân vật chính trong câu chuyện là thinhân, cốt truyện là nội dung toát lên từ thi phẩm Câu chuyện lâm li cảm động

về một cuộc tình duyên không thành trong "Hai sắc hoa ti gôn" của T.T.Kh

đ-ợc “kể” lại với giọng thiết tha, chân thực với cách vào đề kể về tình huống cóthật đối với tác giả của nó Giọng văn lúc vào đề trầm buồn nh những dòng hồi

kí về một con ngời đầy sầu muộn và bí ẩn là tác giả bài thơ hay chính nhân vậttrữ tình trong câu chuyện tình yêu đầy đau khổ ấy:

"Hồi tháng 9 năm 1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một chuyện ngắn của

gôn Hai bài đều kí tên T.T.Kh và đều một nét chữ run run ” Hai bài đều kí tên T.T.Kh và đều một nét chữ run run…" … "

Bằng những dòng hồi kí, tác giả tái hiện lại sự xuất hiện đột ngột và uẩnkhúc của T.T.Kh trong làng thơ với những bài thơ đầy chất tự sự Câu chuyện

có thật là cái cầu để dẫn dắt độc giả vào một câu chuyện tình yêu trong tác

Trang 40

phẩm Nhà phê bình trở thành ngời kể chuyện đầy nhiệt tình, hào hứng vàsáng tạo.

Cách vào đề bằng những tình huống có thật nh vậy có trong các trongvăn bản về Trần Huyền Trân, Thế Lữ, Mộng Tuyết, Phan Văn Dật…trong vănĐó lànhững tình huống dẫn dắt nhà phê bình đến với thi nhân Những tình huốngviết theo kiểu hồi ký thờng mở đầu bằng trạng ngữ thời gian:

đến hết cuốn sách, khi có những lời “ nhỏ to” chỉ dành cho độc giả

Tình huống mở đầu câu chuyện thơ có khi là có thật nh trên, nhng cũng

có khi tình huống, khung cảnh làm nền cho câu chuyện thơ không xác định vềthời gian mà cũng có thể là do trí tởng tợng của nhà phê bình tạo ra (không cóthật):

- Tôi cầm bút viết bài này thì văng vẳng bên tai tôi giọng ca Nam Bình

đ-a sđ-ang từ nhà bên cạnh Giọng cđ-a âm thầm đ-ai oán mỗi lần nghe lại khiến lòng tôi bồn chồn, chân tay tôi rời rã.

Cái “giọng ca Nam Bình” ấy có thể không phải từ nhà bên cạnh mà là từtrong tâm tởng hay từ những ám ảnh về thế giới nghệ thuật trong thơ Chế LanViên đa lại Thật khó xác định Chỉ có điều, nó trở thành những dòng gợi ý

đầu tiên khi đi vào khám phá thi phẩm Chế Lan Viên, dự báo cho nội dung đa

ra, đó là thế giới kỳ dị, hãi hùng trong tập “Điêu tàn”

Tơng tự vậy, không gian mở ra ngay từ những dòng đầu trong văn bản vềQuách Tấn đậm đặc không khí thơ Đờng Trong không gian đã rất tĩnh lặng

mà tác giả vẫn phải “lắng lòng’ để đón những câu thơ Quách Tấn thì quả thựckhông có một sự cảm nhận tinh tế nào hơn Nhà phê bình khi ấy đã đi tới chỗ

vi điệu nhất của hồn thơ, cảm nhận đợc cả những rung động tinh vi nhất trongtâm hồn thi nhân:

"Đêm đã khuya, tôi ngồi một mình xem thơ Quách Tấn Ngoài kia có lẽ trăng sáng lắm Nhng trời về thu, khí trời lạnh lạnh, cửa sổ bên bàn viết đóng kín Ngọn nến trên bàn toả ra một bàu ánh sáng chỉ đủ chỗ tôi ngồi Chung quanh tối cả Tối và im Một thứ im lặng dày đặc Trong ấy có muôn ngàn thứ

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Nguyễn Phúc (chủ biên). Hoài Thanh và "Thi nhân Việt Nam". Nxb Hội Nhà văn. H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn. H. 1995
2. Diệp Quang Ban. Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (tái bản lần 1). Nxb GD. H. 1999 Khác
3. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm. Ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn. Nxb GD. H. 1985 Khác
4. M.Bakhtin. Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (ngời dịch Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn) tái bản lần thứ nhất. Nxb GD. 1998 Khác
5. Nguyễn Phan Cảnh. Ngôn ngữ thơ. Nxb Văn hoá thông tin. H. 2001 Khác
6. Huy Cận, Hà Minh Đức. Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca. (tái bản lÇn 1). Nxb GD. H. 1997 Khác
7. Đỗ Hữu Châu. Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb GD. H. 1999 Khác
8. Nguyễn Hữu Chỉnh. Quan hệ ngữ pháp trong văn bản. Tạp chí ngôn ngữ số 6 n¨m 2002 Khác
9. Hồng Dân, Cù Đình Tú, Bùi Tất Tơm. Tiếng Việt 11 (sách chỉnh lý hợp nhất n¨m 2000). Nxb GD. H. 2000 Khác
10. Phan Huy Dũng. Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình). Luận án tiến sĩ ngữ văn. H. 1999 Khác
11. Trần Thanh Đạm, Lơng Duy Cán. Làm văn 10 (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000). Nxb GD. H. 2001 Khác
12. Hà Minh Đức, Lê Bá Hán. Cơ sở lý luận tập 2. Nxb Đại học và THCN. H. 1985 Khác
13. Nguyễn Văn Đờng. Nghệ thuật bình thơ của Hoài Thanh và phơng pháp giảng bình thơ ở trờng phổ thông. Luận án PTS. ĐHSP HN. 1997 Khác
14. Văn Giá. Nhà văn và tác phẩm trong nhà trờng (tái bản lần 1). Nxb GD. H. 1999 Khác
15. Nguyễn Thị Thanh Hà. Hiện tợng láy với việc tạo tính nhạc trong thơ ca. Tạp chí Ngôn ngữ số 4, 5 năm 2002 Khác
16. Lê Bá Hán, Trình đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học (in lần thứ 2). Nxb ĐHQG. H. 1997 Khác
17. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học văn bản. Nxb GD. H. 1994 Khác
18. Đinh Trọng Lạc. 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tái bản lần 2). Nxb GD. H. 1998 Khác
19. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà. Phong cách học tiếng Việt (tái bản lần thứ 4). Nxb GD. H. 1999 Khác
20. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà. Thực hành phong cách học tiếng Việt. Nxb GD. H. 1993 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w