Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng khi giải quyết các trường hợp liên quan đến việc thực hiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN
DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN
DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ MINH HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của pháp luật Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Minh Hùng trong thời gian qua Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác./
Tác giả
Lê Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI 8
1.1 Khái quát về nghĩa vụ tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 8
1.1.1 Khái niệm, các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại 8
1.1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại 8
1.1.1.2 Các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại 8
1.1.2 Khái niệm về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 12
1.1.3 Đặc điểm của việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 14
1.2 Chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 18
Trang 51.2.1 Người hưởng di sản thừa kế theo di chúc, theo pháp luật 19
1.2.2 Người hưởng di sản do được di tặng 24
1.2.3 Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng 25
1.2.4 Người quản lý di sản trong trường hợp di sản chưa được chia 26
1.3 Phạm vi, thứ tự, thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa tài sản do người chết để lại 30
1.3.1 Phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 30
1.3.1.1 Trường hợp di sản chưa được chia 31
1.3.1.2 Trường hợp di sản đã được chia 32
1.3.2 Thứ tự thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 35
1.3.3 Thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 40
2.1 Các khái niệm chưa được giải thích rõ 40
2.1.1 Về khái niệm nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 40
2.1.2 Về khái niệm tài sản do người chết để lại 44
2.2 Nghĩa vụ tài sản của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng và người được di tặng 50
2.3 Những vướng mắc khác liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 56
2.3.1 Khi người thừa kế có hành vi che giấu những di sản của người chết để lại nhằm tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ 56
Trang 62.3.2 Thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp di sản không có người thừa kế 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63 KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ tăng trưởng,
là giai đoạn mà nền kinh tế phục hồi và phát triển sôi động Cùng với đó, tài sản của thành viên trong xã hội cũng được tăng lên đáng kể cả về số lượng và chất lượng
Từ đó xuất hiện nhiều hơn những quan hệ tài sản, trong đó thừa kế cũng không phải
là ngoại lệ
Trong pháp luật dân sự, vấn đề thừa kế luôn là vấn đề phức tạp do xung đột quyền lợi của các bên và xuất phát từ đặc trưng là các bên tham gia quan hệ này thường có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đến Bộ luật dân sự năm 2005 và mới đây nhất là Bộ luật dân sự năm 2015
Đây là vấn đề phức tạp, dễ phát sinh tranh chấp, mặt khác lại ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa những người có huyết thống, gây nhiều khó khăn cho các chủ thể tham gia vào giao dịch cũng như cho cơ quan tố tụng trong việc giải quyết
Về cơ bản, chế định thừa kế trả lời và giải quyết hai câu hỏi lớn, đó là: tài sản thừa kế của người chết để lại thuộc về ai và nghĩa vụ mà họ để lại sẽ đồng thời chấm dứt hay tiếp tục được thực hiện, cách thức và thủ tục thực hiện hai vấn đề trên như thế nào Trên thực tế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề lớn thứ nhất trong khi vấn đề thứ hai lại ít được đề cập đến Mặc dù pháp luật Việt Nam quy định khá cụ thể về những vấn đề xoay quanh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản di người chết để lại, tuy nhiên thực tiễn vẫn còn tồn tại một số vướng mắc trong quá trình áp dụng Việc đi sâu phân tích vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản về mặt lý thuyết cũng như trong thực tiễn
Do đó, là một người nghiên cứu, là người đang công tác tại cơ quan tiến
hành tố tụng, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của pháp luật Việt Nam” là để đi sâu làm rõ những vấn đề cơ bản
Trang 8về di sản thừa kế cũng như những quy định về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản Bên cạnh đó, tác giả sẽ có một vài bình luận về việc áp dụng pháp luật trên thực tế Bình luận chỉ dựa trên ý kiến cá nhân của tác giả là chính, do đó tác giả rất mong nhận được sự góp ý (nếu có)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng ở nước ta đã có nhiều sự quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề thừa kế Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu tác giả thấy rằng vấn đề này đã được đề cập, trình bày và phân tích trong một số sách chuyên khảo, luận văn thạc sỹ luật học và bài viết trên các tạp chí, trong đó có thể kể đến một số các tài liệu như sau:
Sách chuyên khảo, giáo trình
+ Lê Minh Hùng (2019), Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb
Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung cơ bản của giáo trình là khái quát về quyền tài sản, khái luận về quyền thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán nghĩa vụ và phân chia di sản Như vậy, giáo trình cũng có đề cập đến thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, đưa ra những khái luận cơ bản liên quan đến nguyên tắc thực hiện, căn cứ thanh toán nghĩa
vụ tài sản, chủ thể và thứ tự ưu tiên thanh toán Tuy nhiên giáo trình chỉ mang tính khái quát, cơ bản để người đọc dễ tiếp cận mà chưa phân tích một cách chuyên sâu
+ Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội Với tài liệu chuyên khảo trên đây, các tác giả đã phân tích, nghiên cứu những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 với mục đích phổ biến các quy định mới, cung cấp cho người đọc sự nhìn nhận một cách tổng quan và sâu hơn về các quy định của pháp luật dân sự, đồng thời cũng đưa ra những đánh giá về ưu, nhược điểm của các quy định mới trong Bộ luật dân sự năm 2015 Ngoài ra, tác giả còn lồng ghép sự bình luận, phân tích về sự thay đổi giữa Bộ luật dân sự năm 2005 và
2015 Vấn đề liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại cũng
Trang 9được tác giả nhắc đến Tuy nhiên, vấn đề này chưa thực sự được nghiên cứu, phân tích chuyên sâu, có hệ thống
+ Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học – Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí
Minh Tương tự như tài liệu chuyên khảo trên, tác giả chỉ đánh giá về mặt tổng quan đối với Bộ luật dân sự năm 2015, chưa nghiên cứu tập trung vào vấn đề cụ thể, nhất
là đối với thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
+ Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án,
Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Tương tự như tài liệu chuyên khảo trên, tác giả cũng đã nghiên cứu xoay quanh những vấn đề liên quan đến thừa kế cũng như thực tiễn xét xử, từ đó đưa ra những bản án và bình luận bản án; tập hợp, phân tích, bình luận những quyết định, bản án của Tòa án Tổng thể các chuyên đề trong cuốn sách tập trung vào 04 mảng lớn của thừa kế trong đó có chuyên đề nghiên cứu về thanh toán và phân chia di sản
+ Trương Hồng Quang (2016), Điểm mới về thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 2015 và những tình huống thực tế, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội
Tài liệu tập trung nghiên cứu những điểm mới về thừa kế của Bộ luật dân sự 2015
từ đó lồng ghép những tình huống thực tế thường phát sinh trong đời sống thực tế nhằm đem đến đọc giả những hiểu biết chung và dễ dàng vận dụng trong đời sống thường ngày Tuy nhiên để đi sâu phân tích khoa học về vấn đề thực hiện nghĩa vụ tài sản, và những điểm bất cập có liên quan đến vấn đề này thì vẫn chưa được làm
Trang 10định pháp luật, đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực, chưa có Bộ luật dân sự năm 2015 thay thế
+ Nguyễn Hồng Nam (2008), Điều kiện có hiệu lực của di chúc, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đề cập đến những điều kiện để di chúc có hiệu lực, trong đó có nhắc đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sản
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ nghiên cứu các vấn đề xoay quanh thừa kế, nhưng không đi sâu tìm hiểu về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Mặc dù có một bài luận liên quan trực tiếp đến vấn đề này, nhưng lại áp dụng đối với Bộ luật dân sự năm 2005 Hơn thế nữa, cách tác giả đi vào làm rõ những vấn đề lý luận có sự khác biệt so với luận văn nêu trên Hầu hết, những nội dung liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại vẫn chưa được quan tâm sâu sắc vì trên thực tế, vấn đề không xảy ra nhiều cả trong thực tế tranh chấp lẫn trong nghiên cứu Xuất phát từ đó, luận văn góp phần làm rõ hơn về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và một số bất cập khi áp dụng vào thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của tác giả là nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam liên quan đến vấn đề về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, so sánh với các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005, các văn bản pháp luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành Từ
đó có sự đối chiếu với thực tiễn xét xử tại Tòa án, đặc biệt khai thác sâu thực trạng giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sản thừa kế trong thực tế hiện nay
Trang 11Tác giả thực hiện việc so sánh pháp luật, nhận định, phân tích những bất cập, không thống nhất giữa các quy định trong văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng, đưa ra những kiến nghị, đề xuất hướng khắc phục nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng khi giải quyết các trường hợp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản, di sản dùng để thực hiện tài sản, những chủ thể có nghĩa vụ liên quan và những vấn đề xoay quanh nghĩa vụ tài sản khác
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Thừa kế là một vấn đề lớn và khá phức tạp Trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến một mặt trong một vấn đề rộng lớn đó Luận văn đi vào phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản của thừa kế và việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết Kết hợp với việc phân tích các quy định của luật hiện hành cùng với việc đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Do luận văn phục vụ cho vấn đề ứng dụng nên ngoài căn cứ lý thuyết còn được viện dẫn dựa trên các sự việc, bản án có thực để tạo tính
thuyết phục về nội dung và quan điểm sửa đổi, bổ sung
Đề tài không nghiên cứu so sánh với pháp luật của các nước Đề tài giới hạn nghiên cứu trong lĩnh vực thừa kế theo hệ thống pháp luật Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn được xuyên suốt đúng với mục đích và phạm vi đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp, cụ thể:
Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ các khái niệm,
cơ sở lý luận, quy định của pháp luật, ý nghĩa, phương pháp thực hiện nghĩa vụ tài
Trang 12sản, những vấn đề về thừa kế, sử dụng phương pháp lịch sử để so sánh giữa BLDS
2005 và BLDS 2015 Mặt khác, tác giả còn sử dụng phương pháp chứng minh, tổng hợp nhằm chứng minh cho các luận điểm được đưa ra và tổng hợp các luận điểm
đó
Chương 2, ngoài phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, tác giả sử dụng thêm phương pháp bình luận bản án để làm nổi bật lên thực tiễn xét xử của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại trong thực tế hiện nay Từ đó đưa ra những bất cập cũng như kiến nghị hoàn thiện
Ngoài ra, tại phần kết luận của từng mục và kết luận chương, phương pháp tổng hợp được vận dụng để khái quát những vấn đề pháp lý tác giả phân tích
6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đều dựa trên tình hình hiện tại của xã hội, khi các tranh chấp về thừa kế ngày càng phức tạp Vì vậy, đây sẽ là một công trình có thể giải quyết được các vướng mắc như cách xác định phần di sản thừa kế, các trường hợp buộc phải thực hiện nghĩa vụ tài sản cũng như hậu quả pháp lý của nó, đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả còn đi sâu phân tích những bất cập, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật nên
đề tài còn có giá trị tham khảo trong quá trình thi hành tại các cơ quan nhà nước và góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật trong giai đoạn Bộ luật dân sự mới sửa đổi, bổ sung cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành
Bố cục của đề cương chi tiết
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có hai chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề chung về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại
Trang 13Chương 2 Bất cập của pháp luật về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại và kiến nghị hoàn thiện
Trang 14CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN
DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI 1.1 Khái quát về nghĩa vụ tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
1.1.1 Khái niệm, các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
1.1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Trong BLDS năm 2015 có một số điều luật nhắc đến cụm từ “nghĩa vụ tài sản”1 nhưng đến hiện tại vẫn chưa có một quy định cụ thể đề cập đến khái niệm, đặc điểm của cụm từ này Do đó, có thể dựa vào khái niệm nghĩa vụ để giải thích cho khái niệm nghĩa vụ tài sản
Theo đó, nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định
vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)2 Có thể thấy, nghĩa vụ người chết để lại là những nghĩa vụ nêu trên do người chết đáng
lẽ phải thực hiện nhưng không thể thực hiện được nữa nên chuyển giao cho người thừa kế Như vậy, nhìn chung nghĩa vụ tài sản là những nghĩa vụ liên quan đến tài sản, gắn liền với tài sản, có thể chuyển giao được và không chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết đi
1.1.1.2 Các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Như trình bày ở trên, nghĩa vụ tài sản của người chết là những nghĩa vụ phát sinh từ những hành vi trước khi chết của người đó để phục vụ cho nhu cầu của họ, những nghĩa vụ này do chính bản thân người chết phải thực hiện nhưng người này
1 Xem Điều 614, Điều 615, Điều 620, Điều 632 BLDS năm 2015
2 Xem Điều 274 BLDS năm 2015
Trang 15chưa thực hiện hoặc đang thực hiện thì chết Theo đó, nghĩa vụ tài sản phải là một loại nghĩa vụ gắn liền với tài sản và có thể chuyển giao, đó là một loại nghĩa vụ chuyển giao một loại tài sản nào đó cho chủ thể có quyền
Căn cứ vào Điều 658 BLDS năm 2015, các loại nghĩa vụ do người chết để lại bao gồm:
Thứ nhất, nghĩa vụ với nhà nước Cụ thể: Thuế và các khoản phải nộp khác
vào ngân sách nhà nước Theo đó, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân
và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế3 Do đó, khoản này cũng được xem là nghĩa vụ buộc phải thanh toán nếu người chết chưa thực hiện hoàn tất Ở quy định này của BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi so với BLDS năm 2005 ở chỗ: sửa đổi nội dung
“các khoản nợ khác đối với Nhà nước” thành “các khoản phải nộp khác vào ngân sách Nhà nước” Xét thấy, quy định của BLDS năm 2015 hợp lý hơn bởi “trong Nhà nước pháp quyền, chỉ có khoản tiền trả cho ngân sách Nhà nước, phục vụ lợi ích chung của xã hội thì mới được ưu tiên, còn những khoản nợ khác thì phải xem Nhà nước cũng là một chủ thể bình đẳng như cá nhân, pháp nhân mới đúng với bản chất của quan hệ dân sự”.4
Thứ hai, nghĩa vụ đối với cá nhân và tổ chức khác Đây thường là nghĩa vụ
phát sinh nhiều nhất, phổ biến nhất bởi chúng là những nghĩa vụ xuất phát từ những giao dịch dân sự khi người để lại di sản còn sống mà chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ Nhóm nghĩa vụ này bao gồm:
- Tiền cấp dưỡng còn thiếu: Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình
2014, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em
3 Theo https://hocluat.vn/wiki/thue/ , truy cập ngày 27/12/2020
4 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 567
Trang 16với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định Theo đó, tính đến thời điểm người để lại
di sản chết, nghĩa vụ cấp dưỡng chưa được người đó thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ thì phải chuyển giao cho người thừa kế tiếp tục thực hiện Tuy nhiên, vì cấp dưỡng là nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân, do đó nghĩa vụ này cũng chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết đi Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phải thực hiện nốt đến thời điểm người để lại di sản chết đi và đối với khoản cấp dưỡng còn thiếu
- Tiền công lao động: Đây là nghĩa vụ của người chết đi trong trường hợp họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người lao động (tiền lương, tiền công lao động) mà họ đã ký kết hợp đồng lao động khi còn sống
- Tiền bồi thường thiệt hại: Số tiền này cũng là số tiền khi còn sống người để lại thừa kế chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người có quyền mà gây thiệt hại cho người đó Như vậy, những người hưởng thừa
kế phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc bồi thường cho những người bị thiệt hại
- Tiền phạt: là khoản tiền được trả do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của một bên (có thỏa thuận chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng)5 Nghĩa vụ này phát sinh khi người để lại di sản bị vi phạm theo điều khoản của hợp đồng nhưng chưa kịp thực hiện thì qua đời Do đó, nghĩa vụ này sẽ được chuyển giao cho người thừa
kế thực hiện
- Các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác: Đây là những nghĩa vụ tài sản được người để lại di sản xác lập thông qua những giao dịch dân sự khi còn sống Do đó, đối với những trường hợp người để lại di sản chưa thực hiện
5 Xem thêm Điều 418 BLDS năm 2015
Trang 17hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình với những người có quyền thì người hưởng thừa kế buộc phải tiếp tục thực hiện
Bên cạnh những nghĩa vụ nêu trên, Điều 658 BLDS năm 2015 cũng quy định thêm một số trường hợp buộc phải sử dụng di sản của người chết để thanh toán và không được coi là nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Cụ thể:
Thứ nhất, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ: người sống nương nhờ
không phải là người thừa kế, họ không được thừa kế di sản của người chết Họ là người không thể tự nuôi sống bản thân mà phụ thuộc vào trợ cấp từ người khác Do
đó, để tránh gây ra những khó khăn đột xuất cho người sống nương nhờ, cần trích một phần khối di sản của người chết để giúp đỡ họ6 Tuy nhiên, việc giúp đỡ người khác xuất phát từ ý chí, từ sự tương trợ và từ lòng hảo tâm, chứ không xuất phát từ nghĩa vụ của bất kỳ ai Như vậy, nếu quy định trợ cấp cho người sống nương nhờ là một nghĩa vụ tài sản thì e rằng chưa hợp lý Việc trợ cấp hay không và trợ cấp bao nhiêu sẽ hợp lý hơn nếu được quyết định bởi những người thừa kế
Thứ hai, chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng: Theo phong tục tập
quán của người Việt Nam thì sau khi một người chết đi, việc mai táng là cần thiết phải chi và phải hợp lý, phù hợp với tập quán tại nơi người để lại tài sản sinh sống Nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế cũng như đảm bảo di sản được bảo toàn tối ưu, việc mai táng phải thỏa mãn đầy đủ hai điều kiện: hợp lý và phù hợp với tập quán tại nơi người để lại di sản sinh sống
Thứ ba, chi phí cho việc bảo quản di sản: Nhiều trường hợp sau khi một
người chết đi, việc phân chia tài sản không được thực hiện ngay lập tức mà phải ưu tiên mai táng để thể hiện sự tôn trọng với người chết Do đó, nhu cầu bảo quản, giữ gìn tài sản trong trường hợp này là cần thiết và cũng vì vậy mà phải chi ra một khoản tiền để thực hiện Mặc dù những chi phí nêu trên không phải là nghĩa vụ do trực tiếp người chết để lại, tuy nhiên đây là những chi phí liên quan trực tiếp đến
6 Xem thêm khoản 3 mục A phần III của Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981
Trang 18việc bảo đảm giá trị cho khối di sản cũng như việc mai táng được theo đúng phong tục tập quán Do đó chi phí này được trích từ khối tài sản do người chết để lại để thanh toán cho những người có quyền Tuy nhiên, cần lưu ý, chi phí bảo quản di sản
là những khoản buộc phải thanh toán cho người bỏ ra chi phí này còn thù lao phụ thuộc vào chất lượng của việc bảo quản và yếu tố khác như thỏa thuận với người thừa kế.7
Thứ tư, các chi phí khác: hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội
dung này Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, chi phí khác có thể là “chi phí cho việc vận chuyển di sản, tiền sửa chữa khi di sản hư hỏng, về một sự kiện bất ngờ”8
1.1.2 Khái niệm về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ được hiểu là sự xử sự mà một người phải thực hiện vì một hoặc nhiều người khác, nhưng sự thực hiện đó không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng pháp luật Pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn theo lương tâm của mình để làm tròn bổn phận làm người9
Nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp luật bao gồm quan hệ tài sản và nhân thân của các chủ thể Theo đó, chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên
7 Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb Hồng Đức
– Hội luật gia Việt Nam, tr 429
8 Hoàng Thế Liên (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Tập III, Nxb Chính trị
quốc gia, tr 126
9 Đinh Văn Thanh (1997), Giáo trình Luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr.3
Trang 19chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự
Trước khi chết, một cá nhân có thể còn có một số nghĩa vụ với người khác Vậy sau khi những người có nghĩa vụ chết đi thì việc thực hiện nghĩa vụ tiếp theo sẽ như thế nào? Liệu có chủ thể nào thay thế họ tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ đó không? Hay những nghĩa vụ đó sẽ tự động “chết” đi cùng với chủ thể mang nghĩa vụ? Câu trả lời còn tuỳ thuộc vào bản chất của nghĩa vụ mà người quá cố chưa kết thúc trước khi chết10
Trong một số trường hợp, khi cá nhân chết thì nghĩa vụ của họ cũng chấm dứt Cụ thể như trong những trường hợp nghĩa vụ đó gắn liền với cá nhân, phải do chính cá nhân đó thực hiện, nói ngắn gọn là những nghĩa vụ gắn liền với nhân thân như theo quy định tại khoản 8 Điều 372 BLDS năm 2015: Căn cứ chấm dứt nghĩa
vụ trong trường hợp: “Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện”
Ngược lại, chế độ trách nhiệm tài sản của cá nhân là vô hạn, tức không mặc nhiên chấm dứt khi cá nhân đó chết Vậy trong trường hợp đó, việc thực hiện nghĩa
vụ của họ sẽ do cá nhân nào hay pháp nhân nào thực hiện? Cũng vì lý do này, pháp luật đã quy định về chế định thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại nhằm tháo gỡ vấn đề nêu trên, nhằm bảo vệ những chủ thể có quyền trong trường hợp người có nghĩa vụ chết đi Khái niệm này hiện vẫn chưa được quy định một cách đầy đủ trong các luật và bộ luật Tuy nhiên, dựa trên tinh thần của pháp luật dân sự cũng như mục đích của việc quy định chế định này, ta có thể hiểu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại về cơ bản mang bản chất như sau: Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn
10 Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc
gia, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.524;
Trang 20sống phát sinh từ những hành vi pháp lý của họ Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là của chính bản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán
Thực chất, người hưởng thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư cách là chủ thể mới “bước vào quan hệ nghĩa vụ”, họ không thay thế vị trí chủ thể Họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết để lại, hay nói cách khác, họ phải trả nợ chỉ vì họ tiếp nhận tài sản của người chết để lại (nợ là của người chết chứ không phải của người hưởng di sản)11 Nếu người thừa
kế đã từ chối quyền hưởng di sản thì họ không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
Như vậy, có thể thấy việc hưởng di sản do người chết để lại sẽ gắn liền với thực hiện nghĩa vụ của người chết Nghĩa vụ tài sản của người chết không phải là di sản mà chỉ gắn liền với quyền hưởng di sản, những người có quyền hưởng thừa kế
có thể nhận hoặc không nhận di sản Nếu nhận thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại gắn với phần di sản mình được nhận và ngược lại, kể cả người được hưởng di sản là cá nhân hay pháp nhân12 Quy định này thể hiện sự bình đẳng của các chủ thể trong việc hưởng thừa kế cũng như nghĩa vụ gắn liền với di sản
Nói tóm lại, nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là những nghĩa vụ phát sinh cho chính người để lại di sản khi còn sống mà người này chưa kịp thực hiện, thì nay người thừa kế thanh toán thay Đây là những nghĩa vụ gắn liền với tài sản của người chết, là nghĩa vụ chuyển giao vật, trả tiền hoặc giấy tờ có giá
1.1.3 Đặc điểm của việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Như đã phân tích tại tiểu mục 1.1.1, nghĩa vụ tài sản của người chết trong trường hợp này có thể hiểu là những nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi nhân thân, những
11 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 941;
12 Khoản 4 Điều 615 BLDS năm 2015
Trang 21nghĩa vụ không cần chính chủ thể đó thực hiện mà có thể được thực hiện bởi người khác Nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là nghĩa vụ thuộc phạm vi về mặt tài sản Vậy, nghĩa vụ đó cụ thể hơn bao gồm những gì, và thứ tự ưu tiên thực hiện ra sao? Điều 658 BLDS năm 2015 đã phần nào làm sáng tỏ được điều đó Theo đó về
cơ bản điều luật liệt kê những nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa kế cũng như thứ tự thực hiện thanh toán Mặc dù những quy định tại điều luật này vẫn chưa đầy đủ nhưng ta vẫn có thể hiểu được bản chất của những nghĩa vụ này, từ đó có thể xác định được những nghĩa vụ cần phải thực hiện trong trường hợp người để lại di sản chết đi
Một khó khăn phát sinh là người có nghĩa vụ đã chết đi, vậy làm thế nào để chứng minh được rằng khi còn sống, họ là người có nghĩa vụ? Điều đó phụ thuộc vào những tài liệu, chứng cứ và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của người có quyền; những quy định chung về chứng cứ sẽ được áp dụng để xác định quyền và nghĩa vụ của những chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, bao gồm các loại hợp đồng hoặc giấy tờ hoặc các tài liệu văn bản có giá trị pháp lý khác theo quy định của pháp luật
Thông thường trên thực tế, các bên tham gia vào giao dịch dân sự trực tiếp thực hiện nội dung của giao dịch trong suốt quá trình kể từ khi xác lập cho đến khi chấm dứt hoàn toàn, điều đó được thể hiện qua việc thực hiện nghĩa vụ của các bên tham gia Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, nhằm thuận lợi trong việc thi hành nghĩa vụ, các bên có thể thoả thuận chuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba, miễn sao các bên đều đảm bảo lợi ích của mình
Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại xét dưới góc độ nào đó cũng
là một hình thức chuyển giao nghĩa vụ như phân tích ở trên, tuy nhiên lúc này việc thực hiện nghĩa vụ không phải do ý chí người tham gia vào giao dịch ngay từ lúc đầu, mà là do điều kiện, hoàn cảnh khách quan, sự kiện pháp lý quyết định Do đó, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không hoàn toàn giống với việc chuyển giao nghĩa vụ và cũng không hoàn toàn giống với việc thực hiện nghĩa vụ
Trang 22thông qua người thứ ba, mà nó là một sự chuyển giao nghĩa vụ đặc biệt Tham khảo thêm bảng phân tích dưới đây sẽ thấy được sự khác biệt của chúng13:
Tiêu chí
Chuyển giao nghĩa
vụ dân sự (Điều 370,
371 BLDS năm 2015)
Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 615 BLDS năm 2015)
Thực hiện nghĩa vụ dân
sự thông qua người thứ
ba (Điều 283 BLDS năm 2015)
1 Căn
cứ phát
sinh
Sự chuyển giao được thiết lập trên
cơ sở sự thoả thuận
Sự chuyển giao nghĩa
vụ xuất phát từ sự kiện chết của cá nhân (người mang nghĩa vụ ban đầu) Việc chuyển giao sẽ do pháp luật quy định Việc chuyển giao không xuất phát từ
sự thoả thuận của chủ thể mang quyền - chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu - người thứ ba
Phát sinh trên cơ sở của sự thoả thuận (hợp đồng uỷ quyền) giữa chủ thể mang quyền - chủ thể mang nghĩa vụ
- người thứ ba về việc người thứ ba thay chủ thể mang nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với người có quyền
Pháp luật không quy định, do đó có thể suy đoán hình thức của thoả thuận được thể hiện dưới những hình thức như quy định tại
13 Phạm Tuấn Anh (2007), “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của Bộ
luật dân sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.25, 26
Trang 23định thì việc chuyển
giao nghĩa vụ còn phải có công chứng,
thể mang nghĩa vụ
ban đầu không phải
chịu trách nhiệm về
việc thực hiện nghĩa
vụ của người thứ ba
Nghĩa vụ được chuyển giao cho người thứ ba
Chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu chết nên chấm dứt tư cách chủ thể
Nghĩa vụ do người thứ
ba thực hiện Nhưng chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm với chủ thể mang quyền nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào do các bên thoả
hiện toàn bộ nghĩa
vụ đã thoả thuận
Người tiếp nhận nghĩa
vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi
di sản được hưởng
Người tiếp nhận nghĩa
vụ phải thực hiện toàn
bộ nghĩa vụ đã thoả
thuận
Như vậy, dựa vào bảng so sánh cũng như những phân tích trên đây, ta có thể thấy rằng sự khác biệt cơ bản của thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại so với chuyển giao nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba ở chỗ nó không xuất phát từ ý chí của các bên tham gia vào giao dịch dân sự ngay từ đầu, mà phát sinh từ sự kiện khách quan (đó là sự kiện chết đi của người tham gia vào giao
Trang 24dịch) Khi đó sẽ phát sinh việc xử lý tài sản của người chết để lại, lúc này việc xử lý tài sản có thể bao hàm cả việc chuyển giao nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ Thế nên, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại phức tạp hơn nhiều so với chuyển giao nghĩa vụ thông thường
1.2 Chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Tức là người thừa kế không có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ để lại của người để lại
di sản thừa kế mà chỉ có trách nhiệm gánh vác phần nghĩa vụ trong phạm vi di sản người chết để lại, trừ trường hợp có những thỏa thuận khác về việc chia nghĩa vụ
Vậy thì, thời điểm nào là thời điểm chuyển giao nghĩa vụ? Hay nói cách khác, thời điểm nào xác định việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại?
Và chủ thể nào là người buộc phải thực hiện nghĩa vụ tài sản?
Theo khoản 1 Điều 611 BLDS năm 2015 quy định: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết, đây cũng là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này Khi đó, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Những quyền lợi, nghĩa vụ đó phát sinh từ quan hệ nhân thân giữa người chết với người được nhận thừa kế, đồng thời xuất phát từ tài sản cũng như những nghĩa vụ mà người chết để lại
Khi đó, những người còn sống hoặc sinh ra và còn sống nhưng đã thành thai trước khi người để lại tài sản chết sẽ là những người được hưởng di sản thừa kế Kể
từ thời điểm đó, ta có thể xác định được chính xác tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm những gì, những người được hưởng thừa kế là ai
và đến khi chia di sản còn bao nhiêu
Theo quy định của pháp luật thì “những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp
Trang 25có thỏa thuận khác” (khoản 1 Điều 615 BLDS năm 2015) Theo đó, những người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại bao gồm:
- Người hưởng thừa kế;
- Người quản lý di sản;
- Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng;
- Người nhận di tặng;
- Nhà nước với tư cách là chủ thể tiếp quản tài sản không có người thừa kế
1.2.1 Người hưởng di sản thừa kế theo di chúc, theo pháp luật
Tại khoản 1 Điều 615 BLDS năm 2015 quy định: “Những người hưởng thừa
kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Để hiểu rõ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
tài sản của người thừa kế, trước tiên cần thiết phải làm rõ cụm từ “người hưởng thừa kế” theo quy định trên bao gồm những chủ thể nào, thoả mãn những điều kiện nào
Pháp luật thừa kế ở Việt Nam thừa nhận hai hình thức thừa kế đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Do đó, tương ứng với hai hình thức thừa kế này, người thừa kế cũng bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 609 BLDS năm 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” Như vậy, BLDS năm 2015 đã bổ sung
quyền của người thừa kế “không là cá nhân”, tức tổ chức có quyền hưởng di sản theo di chúc Theo đó, những người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc sẽ bao gồm cả cá nhân và tổ chức Cũng từ đó, có thể nhận định rằng tất cả các chủ thể thừa kế theo di chúc, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần di sản mà mình được nhận
Trang 26Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di chúc không có hiệu lực thi hành, phần của di chúc không
có hiệu lực pháp luật và các trường hợp khác có liên quan14, thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng Việc xác định người thừa kế theo pháp luật cần phải dựa trên những cơ sở nhất định trong mối quan hệ nhân thân với người để lại di sản Trước hết, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và đáp ứng đủ những điều kiện sau:
Thứ nhất: cá nhân đó phải nằm trong diện thừa kế Như chúng ta đã biết, thừa kế theo pháp luật là trình tự dịch chuyển di sản của người chết để lại cho người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế theo quy định của pháp luật Hay nói một cách đơn giản thì pháp luật sẽ quy định tất cả về trình tự, về người được hưởng di sản của người chết để lại, hưởng như thế nào, hưởng bao nhiêu Tuy nhiên, khi xác định phạm vi những người được hưởng di sản của người chết để lại, pháp luật về thừa kế của bất kỳ quốc gia nào cũng phải dựa trên ý chí mang tính truyền thống của người để lại di sản là nếu họ chết thì tài sản còn lại của họ (di sản thừa kế) phải được dịch chuyển cho những người thân thích của họ Vì vậy ở đây ta
có thể hiểu: Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có thể được hưởng
di sản của người chết theo pháp luật nếu giữa họ với người chết đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng cho đến thời điểm mở thừa kế hoặc giữa họ có huyết thống trong phạm vi hai đời bàng hệ và bốn đời trực hệ15
Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể có mối quan hệ như nêu trên đều nằm trong diện thừa kế Việc xác định diện thừa kế còn dựa trên việc xác định hàng thừa
kế Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng
14 Xem thêm Điều 650 BLDS năm 2015
15 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), “Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, Mục
nghiên cứu trao đổi – Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp,
https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/che-dinh-quyen-thua-ke-trong-phap-luat-dan-su-viet-nam, truy cập ngày 02/8/2020
Trang 27di sản hoặc từ chối nhận di sản16 Những người thuộc hàng thừa kế ngang nhau sẽ được hưởng số di sản bằng nhau Theo đó, Điều 651 BLDS năm 2015 sắp xếp hàng thừa kế theo thứ tự sau:
+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
Những chủ thể được liệt kê ở điều trên chính là những chủ thể nằm trong phạm vi diện thừa kế và có khả năng pháp lý được hưởng thừa kế, đồng thời cũng là những chủ thể buộc phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể thuộc diện thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, chỉ những người được hưởng thừa kế thực tế mới phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Việc xác định di sản thực tế được nhận căn cứ chủ yếu vào hàng thừa kế
Thứ hai: ngoài điều kiện về diện và hàng thừa kế như trên, những người được hưởng thừa kế đồng thời phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế (Điều 613 BLDS năm 2015) Quan hệ pháp luật về thừa kế phát sinh từ thời điểm
mở thừa kế, do đó, để trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật thừa kế thì người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì mới có đủ điều kiện năng lực chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật thừa kế Thế nên, ở đây cần phải lý giải thế nào được coi
là thời điểm mở thừa kế?
16 Xem khoản 3 Điều 651 BLDS năm 2015
Trang 28Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản, có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài chính do người chết để lại
Theo quy định của BLDS17, thời điểm mở thừa kế được xác định theo hai mốc thời gian khác nhau
- Nếu cái chết của người có tài sản là cái chết thực tế (cái chết sinh học) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ chính là thời điểm họ chết
- Nếu cái chết của người để lại di sản là cái chết pháp lý (bị Tòa án tuyên bố
là đã chết) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ sẽ được xác định theo ngày như sau18:
+ Một là, ngày người đó chết là ngày được Toà án xác định trong quyết định tuyên bố chết khi có cơ sở để xác định ngày chết của họ theo sự kiện thực tế xảy ra
+ Hai là, ngày người đó chết là ngày quyết định của Toà án tuyên bố cá nhân
đã chết có hiệu lực pháp luật, khi không có cơ sở để xác định một cách cụ thể và chính xác về cái chết của cá nhân vì sự vắng mặt lâu ngày của họ tại nơi cư trú mà không rõ lý do19
Theo quy định của pháp luật, những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm thì họ không có quyền thừa kế di sản của nhau, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 BLDS năm 201520 Nếu không xác định được rõ ràng ai chết trước thì được quyền suy đoán là họ chết cùng thời điểm Người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, người sinh ra sau thời điểm mở thừa kế phải thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết
17 Xem khoản 1 Điều 611 BLDS năm 2015
18 Xem khoản 1 Điều 71 BLDS năm 2015
19 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2015), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 928
20 Xem Điều 619 BLDS năm 2015
Trang 29Những người chết trong cùng một thời điểm không được hưởng thừa kế của nhau;
cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Vì vậy, thời điểm mở thừa kế cần được xác định chính xác theo giờ, phút mà người để lại di sản chết, nếu không xác định được chính xác giờ, phút người để lại di sản chết thì thời điểm mở thừa kế được tính theo ngày mà người để lại di sản chết
Bên cạnh những chủ thể thừa kế trong di chúc, hoặc được hưởng thừa kế theo pháp luật còn xuất hiện một số chủ thể thừa kế đặc biệt khác như người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644 BLDS năm 2015) hay người thừa kế thế vị (Điều 652 BLDS năm 2015) Sở dĩ gọi những chủ thể này là những chủ thể đặc biệt là do:
- Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là người được hưởng di sản không phải với tư cách là người thừa kế được chỉ định trong di chúc,
mà họ được nhận di sản thừa kế là do có mối quan hệ về nhân thân đặc biệt với người để lại di sản Phần di sản mà họ được hưởng là nhằm đảm bảo cuộc sống ở mức cần thiết Những người này bao gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động
- Người thừa kế thế vị là người cũng được hưởng di sản không phải theo những tư cách thông thường trên Họ được hưởng thừa kế nhờ mối quan hệ nhân thân đối với người được hưởng di sản trong trường hợp người được hưởng di sản chết cùng hoặc trước thời điểm người để lại di sản thừa kế chết
Cả hai dạng chủ thể này đều được hưởng di sản xuất phát từ những lý do và
sự kiện pháp lý đặc biệt Tuy là những người được thừa kế đặc biệt, nhưng với nguyên tắc toàn bộ di sản của người chết để lại cần phải được đem ra để thực hiện nghĩa vụ của người đó thì các chủ thể này cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản
Ngoài hai dạng chủ thể đặc biệt nêu trên, người được di tặng (Điều 646), người được giao quản lý di sản thờ cúng (Điều 645) cũng là những chủ thể thừa kế đặc biệt được xác lập theo ý chí của người để lại di sản hoặc của những đồng thừa
Trang 30kế khác chỉ định Tiểu mục 1.2.2 và 1.2.3 dưới đây sẽ phân tích rõ hơn về những chủ thể đặc biệt này
1.2.2 Người hưởng di sản do được di tặng
Di tặng là một phần trong khối di sản của một người để lại khi qua đời, sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản đó với người khác mà phần di sản còn lại đó vẫn bảo đảm được quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Mặc dù người được di tặng và người thừa kế có sự khác nhau về tư cách thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại nhưng họ đều hưởng một phần di sản của người chết để lại theo di chúc Người được di tặng là người được người để lại tài sản lập di chúc dành tặng một phần di sản (theo khoản 1 Điều 646 BLDS năm 2015) Như vậy, người được di tặng là người được hưởng di sản chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc
Để trở thành người nhận phần di tặng, nếu người được phần di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Như vậy người được nhận di tặng có thể là cá nhân, tổ chức, miễn là đáp ứng đủ điều kiện trên đây và được ghi trong di chúc của người để lại di sản thừa kế
Theo đó, câu hỏi đặt ra là liệu người được di tặng có phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại hay không? Theo khoản 3 Điều 616 BLDS năm 2015 quy định: “Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.”
Như vậy, đối với mọi tài sản được di tặng, người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại cho đến khi toàn bộ di sản không đủ
để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc Do đó, ta cũng cần nắm rõ quy định tại khoản 3 Điều 646 BLDS năm 2015 về trường hợp “toàn bộ di sản không đủ
Trang 31để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc” Hay nói cách khác, khối di sản đem ra để so sánh với nghĩa vụ tài sản là khối di sản nào, từ đó xác định chính xác trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người nhận di tặng
1.2.3 Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng
Trong thờ cúng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị lớn về tinh thần Do đó, di sản thờ cúng cũng đã được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật mà gần đây nhất
là tại BLDS năm 2015 Cụ thể, tại khoản 1 Điều 645 BLDS năm 2015 quy định:
“Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng…”
Có thể thấy, di sản dùng vào việc thờ cúng là một phần trong di sản thừa kế được ấn định theo ý chí của người để lại di chúc nhưng nó lại có tính độc lập của mình Nếu như người để lại thừa kế đã phân định tài sản của mình bằng di chúc, định sẵn một phần tài sản dùng vào việc thờ cúng thì khi mở thừa kế, sẽ có hai khối tài sản độc lập: đó là khối tài sản là di sản thừa kế dùng để chia cho những người thừa kế và khối di sản dùng vào việc thờ cúng
Mặc dù pháp luật thừa nhận và bảo vệ phong tục tốt đẹp này, tuy nhiên vẫn còn hạn chế áp dụng sau đây: không được để lại di sản thờ cúng trong hai trường hợp là khi tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết hoặc di chúc định đoạt toàn bộ di sản chỉ để dùng vào việc thờ cúng21 Cụ thể, tại khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp toàn bộ di sản của người chết
21 Lê Minh Hùng (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sử hữu và thừa kế, Nxb Hồng Đức
– Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 526
Trang 32không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”
Như vậy, nếu người để lại thừa kế có lập di chúc và định sẵn một phần di sản dùng vào việc thờ cúng, đồng thời người đó cũng có một khoản nợ hoặc một nghĩa
vụ về tài sản mà phần di sản thừa kế không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản của họ thì phải ưu tiên thực hiện nghĩa vụ tài sản
Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng là một vấn đề quan trọng vì đó là căn cứ để xác định chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản trong trường hợp này Theo đó, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 645 BLDS năm 2015: Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng là người thực hiện quyền chiếm hữu và sử dụng đối với di sản dùng vào thờ cúng đúng với mục đích trong di chúc hoặc đúng với thỏa thuận của những người thừa kế Nhìn chung, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng cũng tương tự như trường hợp người quản lý di sản do người chết để lại trong trường hợp chưa được chia (sẽ được phân tích cụ thể tại tiểu mục 1.2.4 chương 1 của luận văn này) Tức là, người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng là người đang nắm giữ tài sản, do đó việc thực hiện nghĩa vụ cũng do người này thực hiện Không chỉ vậy, việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng cũng được tiến hành trên cơ sở giám sát và đồng ý của những người thừa kế
1.2.4 Người quản lý di sản trong trường hợp di sản chưa được chia
Từ thời điểm mở thừa kế, cho đến khi di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế có quyền hưởng hoặc theo di chúc hoặc theo pháp luật là một khoảng thời gian nhất định Vì vậy, việc quản lý di sản thừa kế chưa chia là thật sự cần thiết, tránh mất mát, hao hụt, hư hỏng22
Theo khoản 2 Điều 615 BLDS năm 2015:
22 Phùng Trung Tập (2016), “Những quy định mới về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, số 09 (313), tr 41
Trang 33“Điều 615 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại”
Theo lẽ thông thường, những người hưởng thừa kế là những người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Tuy nhiên, đối với trường hợp khi mà tài sản chưa được chia, di sản chưa đến tay những người thừa kế, thì nghĩa vụ đó sẽ thuộc về người quản lý di sản23 Thế nhưng, không bởi vì vậy mà tất
cả hoạt động liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại đều do người quản lý di sản quyết định, mà việc thanh toán nợ sẽ dựa trên sự thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại
Vậy nên, việc quy định quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại cũng hết sức quan trọng:
Tại điểm a khoản 1 Điều 618 BLDS năm 2015 quy định:
“1 Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế”
Như vậy, người quản lý di sản thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng gần giống như việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba được quy định tại Điều 283 BLDS năm 2015 Cụ thể: chủ thể quản lý di sản không phải là người được hưởng thừa kế mà chỉ là người đại diện cho những người được hưởng thừa kế quản lý khối di sản, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là nghĩa vụ của những người được hưởng di sản Về bản chất, người quản lý di sản chỉ
23 Xem Điều 615 BLDS năm 2015
Trang 34thực hiện thay cho những người thừa kế nhằm đảm bảo sự thuận tiện trong việc thực hiện nghĩa vụ của người chết
Ta có thể hình dung mối quan hệ giữa chủ nợ - chủ thể quản lý di sản - chủ thể hưởng thừa kế khi thực hiện nghĩa vụ tài sản như sau: Chủ nợ xuất trình các bằng chứng về nghĩa vụ của người đã chết cho người quản lý di sản và đòi trả nợ Người quản lý di sản giao bằng chứng cho những người thừa kế thẩm định Nếu thừa nhận khoản nợ, những người thừa kế đồng ý cho người quản lý di sản trả nợ và
có thể chỉ định luôn các tài sản cụ thể dùng để trả nợ24 Như vậy, các chủ thể được hưởng di sản thừa kế là những người có nghĩa vụ trực tiếp đối với việc thực hiện nghĩa vụ tài sản Người quản lý di sản chỉ là người thay mặt những người được hưởng di sản thừa kế thực hiện nghĩa vụ của họ
Theo đó, người quản lý di sản có thể được xác lập thông qua một trong bốn cách sau:
- Do người để lại di sản chỉ định trong di chúc Đây là trường hợp người để lại di sản có di chúc và trong di chúc đó đã xác định cá nhân hay tổ chức bất kỳ là người quản lý di sản;
- Do những người thừa kế thoả thuận cử ra Trong thời gian di sản thừa kế chưa được chia, những người thừa kế có thể thỏa thuận và cử ra cá nhân hay tổ chức bất kỳ là người quản lý di sản Tuy nhiên, những người thừa kế chỉ được thỏa thuận người quản lý di sản trong trường hợp người để lại di sản không có di chúc hoặc có
di chúc nhưng trong di chúc không xác định ai là người quản lý di sản;
- Trong trường hợp mà di chúc chưa chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản Người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản
24 Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.439
Trang 35có thể là người đã giao kết một giao dịch dân sự với người để lại di sản như ủy quyền quản lý tài sản, cho thuê, cho mượn tài sản, có thể là người cùng quản lý, sử dụng khối di sản đó với người để lại di sản lúc họ còn sống;
- Nếu chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì
di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế, chưa có người quản lý di sản và thực tế di sản trong tình trạng không có người quản lý thì Ủy ban nhân dân cơ sở nơi có tài sản đó là người quản lý di sản cho đến khi xác định được người thừa kế
Trong thực tiễn, tư cách người quản lý di sản chủ yếu được xác lập bằng một trong hai cách đầu tiên Việc quy định hai trường hợp sau chẳng qua chỉ là sự bổ sung cho hai trường hợp trước nhằm đảm bảo chắc chắn di sản của người chết để lại phải có người quản lý
Như vậy, trong trường hợp di sản của người chết để lại chưa được chia, nghĩa là đang trong trạng thái là một khối di sản mà chưa xác định phần quyền của từng người thừa kế thì việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người thừa kế sẽ do người quản lý di sản thực hiện, dựa trên sự đồng thuận của tất cả những người thừa kế thoả thuận trong phạm vi di sản mà người chết để lại25 Mặc dù BLDS chưa có điều luật quy định cụ thể khi tiến hành thực hiện nghĩa vụ tài sản, người quản lý di sản cần được những người hưởng thừa kế đồng ý những vấn đề gì nhưng căn cứ vào tinh thần của pháp luật Việt Nam, thì khi thực hiện nghĩa vụ tài sản, người quản lý
di sản cần phải được những người hưởng thừa kế đồng ý những vấn đề sau:
- Phương thức thanh toán;
- Tài sản (trong khối di sản) được đưa ra để thực hiện nghĩa vụ Ví dụ, tài sản
mà người chết để lại bao gồm: đất đai, nhà cửa, tiền mặt, sổ tiết kiệm và những loại tài sản khác thì khi đó, những người hưởng thừa kế sẽ quyết định sử dụng tài sản nào trong số những tài sản được để lại nhằm thực hiện nghĩa vụ;
25 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), tlđd (11), tr 942
Trang 36- Phạm vi thực hiện nghĩa vụ: đây là điểm mới của BLDS năm 2015 so với
BLDS 2005 Theo đó, BLDS 2005 chỉ quy định: “Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế”26, trong khi đó, BLDS năm 2015 đã
có sự thay đổi rõ ràng, cần thiết hơn khi khẳng định rằng: “Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết
để lại”27 Mặc dù theo quy định của BLDS 2005 ta cũng có thể hiểu nội dung tương
tự như BLDS năm 2015, tuy nhiên nếu có một căn cứ rõ ràng thì sẽ tạo được sự thống nhất trong pháp luật Như vậy, quy định của BLDS năm 2015 đã khẳng định nghĩa vụ chỉ phải thực hiện trong phạm vi tài sản do người chết để lại Về phạm vi thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp di sản chưa được chia sẻ phân tích cụ thể hơn tại tiểu mục 1.3 dưới đây
1.3 Phạm vi, thứ tự, thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa tài sản do người chết để lại
1.3.1 Phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Trong phần này của luận văn sẽ làm rõ hơn cho câu hỏi, khi tiếp nhận nghĩa
vụ của người chết để lại, các chủ thể sẽ thực hiện nghĩa vụ đó đến giới hạn nào Thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ khi khối di sản để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ Trong thời kỳ trước khi giành độc lập, những người thừa kế phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ mà người chết để lại Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành, việc thực hiện nghĩa vụ chỉ giới hạn trong phạm vi di sản mà người chết
để lại (nếu di sản chưa chia) hoặc tương ứng với phần di sản mà người thừa kế nhận được (nếu di sản đã chia)28
26 Xem khoản 2 Điều 637 BLDS năm 2005
27 Xem khoản 2 Điều 615 BLDS năm 2015
28 Điều 615 BLDS năm 2015