1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thừa kế theo pháp luật theo quy định của pháp luật việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

75 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 650 BLDS 2015, theo đó thừa kế theo pháp luật áp dụng trong trường hợp người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp, những người

Trang 2

TRẦN THỊ LỆ QUYÊN

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT THEO

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 3

Các Bản án sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan các quy định của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật Nghiên cứu này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.

TÁC GIẢ

Trần Thị Lệ Quyên

Trang 4

1 Bộ luật dân sự BLDS

2 Bộ luật dân sự năm 2015 BLDS 2015

3 Bộ luật dân sự năm 2005 BLDS 2005

4 Luật Hôn nhân và gia đình Luật HN&GĐ

5 Tòa án nhân dân TAND

6 Ủy ban nhân dân UBND

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 7

1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật 7

1.2 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật 8

1.2.1 Thừa kế trong trường hợp không có di chúc 8

1.2.2 Thừa kế trong trường hợp di chúc không hợp pháp 9

1.2.3 Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng …… 10

1.2.4 Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc … 11

1.3 Di sản thừa kế được chia theo pháp luật 13

1.4 Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế 14

1.4.1 Thời điểm mở thừa kế 14

1.4.2 Địa điểm mở thừa kế 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2 20

NGƯỜI THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 20

2.1 Căn cứ xác định người thừa kế theo pháp luật 20

2.1.1 Xác định người thừa kế theo quan hệ huyết thống 20

2.1.2 Xác định hàng thừa kế theo quan hệ hôn nhân 24

2.1.3 Xác định hàng thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng 26

2.1.4 Thừa kế thế vị 29

2.2 Những bất cập trong xác định người thừa kế 30

2.2.1 Thừa kế theo quan hệ huyết thống 30

.2.2 Thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng 35

2.3 Kiến nghị và hoàn thiện 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45

CHƯƠNG 3PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 46

Trang 6

3.1.3 Thanh toán di sản 47

3.1.4 Phân chia di sản thừa kế: 48

3.2 Những bất cập trong quá trình phân chia di sản thừa kế 49

3.2.1 Bất cập trong việc xác định di sản thừa kế theo pháp luật 49

3.2.2 Bất cập khi phân chia di sản thừa kế đã bị thu hồi, bồi thường 54

3.2.3 Bất cập khi phân chia di sản thừa kế đã được mua bán… hợp lệ 59

3.3 Kiến nghị, hoàn thiện 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 63

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

Tại Việt Nam, thừa kế bao gồm hai hình thức là thừa kế theo pháp luật và thừa

kế theo di chúc Nếu thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản từ người chết cho người sống theo ý chí của người để lại di sản thì thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch tài sản từ người chết cho người sống dựa trên các quy định của pháp luật Thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 650 BLDS 2015, theo đó thừa

kế theo pháp luật áp dụng trong trường hợp người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc

Trang 8

không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc

Các chế định về vấn đề thừa kế do Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ Luật dân

sự năm 1995, Bộ Luật dân sự năm 2005 luôn là một trong những vấn đề gây tranh cãi do xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia quan hệ luôn là đề tài nóng của pháp luật khi xử lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh của các bên tham gia tố tụng Ví dụ như vấn đề thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết thì sử lý như thế nào đối với di sản đó vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để; vấn đề từ chối nhận được thực hiện trong một thời hạn cụ thể nhưng quy định này khó áp dụng trong thực tiễn

vì nếu đã hết thời hạn từ chối nhưng họ không muốn nhận thì cũng không thể bắt họ phải nhận di sản…

Sau thời gian góp ý, xây dựng luật, ngày 24 tháng 11 năm 2015 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua BLDS 2015 để thay thế Bộ Luật dân sự năm

2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 Nhìn chung, BLDS

2015 quy định tương đối cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ về chế định thừa kế So với các quy định về thừa kế trước đây thì chế định về thừa kế trong BLDS 2015 đã khắc phục được một số bất cập, hạn chế như quy định về thời gian từ chối nhận di sản, quy định rõ ràng về thời hiệu khởi kiện và hậu quả pháp lý của việc hết thời hiệu Tuy nhiên bên cạnh việc khắc phục những hạn chế của pháp luật trước, thì nhiều quy định còn chưa đưa vào xem xét nên những hạn chế chưa được khắc phục toàn diện, gây khó khăn trong quá trình áp dụng thực tiễn Nhiều vụ án về thừa kế phải xét xử rất nhiều lần ở nhiều cấp khác nhau và cá biệt có trường hợp mỗi lần xét xử đều cho ra kết quả giải quyết hoàn toàn khác nhau từ đó dẫn đến sự thiếu đồng bộ, gây hoang mang cho đương sự để họ hiểu đâu là quy định đúng của pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng tranh chấp kéo dài

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài "Thừa kế theo pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học Đây

Trang 9

là một đề tài có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu để áp dụng pháp luật và trong quá trình hoàn thiện luận văn, tác giả nhận thấy có rất nhiều sách, bài viết ngắn trên tạp chí, công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án về chế định thừa kế

Để đảm bảo tính hệ thống thì tình hình nghiên cứu về đề tài thừa kế có thể được chia thành ba nhóm cơ bản:

Nhóm công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án trong đó có “Thừa

kế theo pháp luật, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hương Giang - Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội trong đó tác giả Nguyễn Hương Giang trình bày những vấn đề

lý luận về thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 2005 như lịch sử phát triển của pháp luật

về thừa kế cũng như pháp luật của một số quốc gia về thừa kế, phân tích diện và hàng thừa kế, thực trạng áp dụng pháp luật để từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về thừa kế; "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay" đã được tác giả Phùng Trung Tập bảo vệ thành công năm 2002 tại Tường đại học luật Hà Nội trong đó tác giả tập trung xây dựng các khái niệm thừa kế, khái niệm quan hệ pháp luật về thừa kế, khái niệm quyền thừa kế và thừa kế theo pháp luật, làm rõ quá trình phát triển những quy định pháp luật thừa kế ở nước ta từ năm

1945 đến nay đồng thời đánh giá những quy định của pháp luật về thừa kế của công dân Việt Nam Hay Luận án tiến sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn bảo vệ năm 2007 tại Trường đaiị học luật Hà Nội đã phát triển khái niệm di sản là tất cả tài sản của người chết và các tài sản khác phát sinh khi người để lại thừa kế chết như hoa lợi, lợi tức, tiền bảo hiểm tính mạng sức khoẻ, quyền và các lợi ích khác phát sinh từ di sản… Luận văn thạc sĩ luật học với tựa đề "Diện và hàng thừa

kế theo pháp luật Việt Nam" của Nguyễn Thị Huế - Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 Những đề tài trên đều có phạm vi nghiên cứu rất rộng, mang tính khái quát cao

Trang 10

- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Ở nhóm này có các tài liệu như

“Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp” của đồng tác giả PGS.TS Phạm Văn Tuyết và TS Lê Kim Giang tái bản lần thứ nhất năm 2017; Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án của tác giả PGS.TS Đỗ Văn Đại – Giảng viên trường Đại học luật Tp Hồ Chí Minh; “Thời hiệu thừa kế và thực tiễn xét xử” của tác giải Tưởng Duy Lượng xuất bản năm 2017; Luật Dân sự Việt Nam - bình giải và áp dụng - luật thừa kế của tác giả: PGS,TS Phùng Trung Tập Những công trình này tập trung nghiên cứu phân tích những vụ án thực tế trên cơ sở những quy định cơ bản của pháp luật thừa kế và chỉ ra những bất cập của pháp luật về thừa kế

và đưa ra đề suất

- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu thuộc nhóm này như bài “Xác định đồng thừa kế trong vụ án chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế” của tác giả Vũ Thị Thái đăng trên Tạp chí Tòa án số

23 năm 2016, bài “Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế” của tác giả Lý Vương Thảo đăng trên Tạp chí Tòa án điện tử ngày 13 tháng 8 năm

2018 hay bài “Thực tiễn áp dụng các quy định của BLDS 2005” của tác giả Nguyễn Hải An đăng trên Tạp chí Tòa án số 04 năm 2011… các bài báo, tạo chí chuyên ngành này chủ yếu phân tích một vấn đề nhỏ về thừa kế và nêu quan điểm cá nhân đối với vấn đề đó Các bài viết dạng này thường mang tính chất tham khảo

Từ những công trình nghiên cứu trên có thể thấy thừa kế theo pháp luật đã được rất nhiều người nghiên cứu, bình luận Tuy nhiên để nghiên cứu luận văn theo định hướng ứng dụng thì chưa có nhiều nghiên cứu theo định hướng này Bên cạnh

đó, Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2017 còn rất mới nên chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về những điểm mới này nên việc nghiên cứu kịp thời để có hướng đề xuất các qui định pháp luật điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn là hết sức cần thiết

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật về

Trang 11

thừa kế để chỉ ra những bất cập về thừa kế theo pháp luật từ đó có những định hướng để tháo gỡ những vướng mắc, đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về thừa kế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tác giả phân tích, lập luận để làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam

về thừa kế theo pháp luật Trên cơ sở những phân tích, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân các cấp phát hiện những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật từ

đó đề ra những giải pháp và kiến nghị cần thiết để bảo đảm thực thi pháp luật trong giải quyết các vụ án

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của BLDS 2015 về thừa kế theo pháp luật Ngoài phân tích các quy định về thừa kế theo pháp luật, luận văn còn phân tích thêm các quy định của pháp luật đất đai qua các thời kỳ, pháp luật về nhân thân và thực tiễn xét xử tại TAND các cấp để chỉ rõ những bất cập của pháp luật về thừa kế theo pháp luật, từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về thừa kế theo pháp luật của pháp luật Việt Nam Các bản án của TAND tối cao, TAND hai cấp tỉnh Bình Định

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu các qui định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong BLDS 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, các bản án của TAND các cấp

Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Trong khuôn khổ của luận văn ứng dụng, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chính về người thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế theo pháp luật trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập của hai vấn đề này

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –

Trang 12

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm, định hướng của Đảng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết các tranh chấp thừa kế tại Tòa án; phương pháp so sánh

để đối chiếu các quy định pháp luật nhằm phát hiện những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành trong giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thừa kế theo pháp luật

Chương 2: Người thừa kế theo pháp luật

Chương 3: Phân chia di sản theo pháp luật

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Theo từ điển luật học 1, thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người sống Pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay quy định hai hình thức thừa kế là: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Nếu như thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản cho ai phụ thuộc vào

ý chí của người để lại di sản thì thừa kế theo pháp luật phụ thuộc vào các quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế

Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình dịch chuyển di sản của người chết cho người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế Mặc khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn cứ để dịch chuyển di sản của của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải được dịch chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế

do pháp luật quy định Điều 649 BLDS 2015 quy định “Thừa kế theo pháp luật là

thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”

Theo đó chúng ta thấy thừa kế theo pháp luật khác với thừa kế theo di chúc ở một

số điểm sau đây:

Thứ nhất, nếu việc dịch chuyển di sản trong thừa kế theo di chúc hoàn toàn được thực hiện theo ý chí của người để lại di sản thì trong thừa kế theo pháp luật, việc dịch chuyển di sản phải được thực hiện theo hàng thừa kế mà pháp luật quy định Nói cách khác, nếu trong thừa kế theo di chúc, người đươc hưởng di sản do người chết xác định bằng ý chí của họ thì trong thừa kế theo pháp luật, người được hưởng di sản do pháp luật quy định

Thứ hai, người thừa kế theo di chúc vẫn được hưởng di sản dù thuộc các trường hợp không được hưởng di sản theo khoản 01 điều 621 BLDS 2015 nếu vẫn được người lập di chúc cho hưởng Đối với người thừa kế theo pháp luật thì chỉ

1

Viện khoa học pháp lý – Bộ tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB từ điển bách khoa và

NXB tư pháp, Hà Nội, trang 754

Trang 14

được hưởng di sản khi có đủ hai điều kiện: Không bị tước quyền hưởng di sản theo khoản 01 điều 621 BLDS 2015 và không bị người để lại di sản truất quyền hưởng

di sản

Thứ ba, trong thừa kế theo di chúc, di sản được dịch chuyển đồng thời cho tất

cả những người thừa kế mà không cần tuân theo một trình tự nào nhưng trong thừa

kế theo pháp luật thì việc dịch chuyển di sản phải căn cứ vào các hàng thừa kế theo một trình tự nhất định Theo đó, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

1.2 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Các văn bản pháp luật về thừa kế ở nước ta từ trước đến nay đều liệt kê các trường hợp thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên sự liệt kê về các trường hợp phát sinh việc thừa kế theo pháp luật của các văn bản sau ngày càng hoàn thiện và đầy đủ hơn

so với các văn bản pháp luật trước đó

Kế thừa quy định của Pháp lệnh thừa kế, các BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS

2015 xác định các trường hợp thừa kế theo pháp luật tại Điều 650 như sau:

“ 1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”

Theo quy định trên, việc thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1.2.1 Thừa kế trong trường hợp không có di chúc

Trường hợp đầu tiên trong những trường hợp thừa kế theo pháp luật là trong trường hợp không có di chúc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 của BLDS

Trang 15

2015 Không có di chúc không chỉ hiểu đơn thuần là người để lại di sản không lập

di chúc mà thừa kế không có di chúc còn là có di chúc nhưng di chúc không rõ ràng

mà những người thừa kế đã không thống nhất được với nhau về cách hiểu những nội dung không rõ ràng hoặc di chúc bị thất lạc vào thời điểm mở thừa kế, di chúc

bị hư hỏng không thể hiện được ý chí của người để lại di sản Khi phát sinh những trường hợp này thì di sản của người chết sẽ chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật

1.2.2 Thừa kế trong trường hợp di chúc không hợp pháp

Việc lập di chúc phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 630 BLDS

2015 Khi không đáp ứng được các điều kiện luật định thì di chúc bị coi là vô hiệu nên không làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc Tuy nhiên, một di chúc bất hợp pháp có thể không có hiệu lực ở nhiều mức độ khác nhau Di chúc bất hợp pháp

có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có thể vô hiệu 01 phần nên trong trường hợp này phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các điều kiện mà di chúc đã vi phạm để xác định mức độ vô hiệu của di chúc

Một di chúc sẽ bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó do người không còn minh mẫn, sáng suốt lập ra hoặc di chúc đó không phải là ý chí tự nguyện đích thực

do bị người khác cưỡng ép, ngăn cản hoặc lừa dối Di chúc cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu do người dưới 15 tuổi lập ra hoặc do người đủ 15 tuổi lập ra nhưng không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Ngoài ra, một di chúc dù không vi phạm các điều kiện vẫn bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Khi xác định di chúc không có hiệu lực toàn bộ thì việc thừa kế sẽ hoàn toàn do pháp luật quy định, nghĩa là toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của họ

Một di chúc đã đáp ứng được các điều kiện về năng lực hành vi, tính tự nguyện, độ minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc nhưng nội dung của nó lại có một phần không hợp pháp hoặc trái đạo đức xã hội và phần không hợp pháp đó không ảnh hưởng đến hiệu lực đối với phần còn lại của di chúc thì di chúc đó bị coi

là vô hiệu 01 phần Trong các trường hợp này, phần di sản có liên quan đến phần di

Trang 16

chúc không có hiệu lực pháp luật sẽ áp dụng thừa kế theo pháp luật để phân chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản

1.2.3 Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Theo quy định tại Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, cơ quan tổ chức được thừa kế theo di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Vì vậy, khi phân chia di sản thừa kế phải xác định cá nhân, tổ chức được chỉ định làm người thừa kế có còn sống, còn tồn tại vào thời điểm người để lại di sản chết hay không Theo đó, nếu tất cả người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì phần di chúc liên quan đến người thừa kế, cơ quan, tổ chức này không

có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 643 BLDS 2015 Phần di sản liên quan đến họ được chia theo pháp luật Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, một hoặc một số

cơ quan, tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến người thừa kế theo di chúc đã chết, cơ quan, tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa kế Những người còn sống, các cơ quan vẫn còn tồn tại vẫn được hưởng phần di sản đã được người để lại di sản định đoạt trong di chúc Tuy nhiên cần lưu ý:

Nếu cá nhân là người được chỉ định trong di chúc không còn vào thời điểm

mở thừa kế mà đã có con thì con của họ không được thế vị phần di sản mà nếu còn sống họ sẽ được hưởng theo di chúc nhưng được thế vị phần di sản mà nếu còn sống họ sẽ được hưởng theo pháp luật

Nếu cá nhân là người thừa kế theo di chúc nhưng chưa sinh ra vào thời điểm người lập di chúc chết và cũng chưa được sinh ra vào thời điểm phân chia di sản thì phần di sản đó được dành ra giao cho người khác quản lý để khi người đó sinh ra nếu còn sống sẽ được hưởng

Trang 17

Nếu cơ quan, tổ chức không bị tuyên bố phá sản mà chỉ sát nhập, hợp nhất hoặc chia tách thì phần di sản mà cơ quan, tổ chức cũ được hưởng sẽ được chuyển dịch cho cơ quan, tổ chức mới được thành lập do sát nhập, hợp nhất hoặc chia tách

1.2.4 Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Người được chỉ định thừa kế theo di chúc được xác định bởi ý chí của người

để lại thừa kế và được xác định trong di chúc mà người thừa kế đã lập Người thừa được chỉ định thừa kế theo di chúc ngoài là cá nhân thì còn có thể là cơ quan, tổ chức

Người không có quyền hưởng di sản là những người lẽ ra được hưởng di sản

vì họ là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc người đã được lập

di chúc cho họ hưởng nhưng những người này có hành trái luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước quyền hưởng di sản theo pháp luật cũng như theo di chúc Tuy nhiên, tính trái pháp luật và đạo đức trong hành vi của người thừa kế phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định bằng một bản án hoặc một quyết định có hiệu lực pháp luật

Khi một người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 gồm“người bị kết

án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại

di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”

thì họ không được hưởng di sản, trừ trường hợp người để lại di sản biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ được hưởng di sản Phần di sản được đưa ra chia theo pháp luật tùy thuộc vào số người không được hưởng di sản Trong trường hợp

Trang 18

toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì toàn

bộ di sản thừa kế được chia theo pháp luật Trong trường hợp chỉ có một hoặc một

số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì phần di sản mà họ được hưởng theo di chúc sẽ được chia theo pháp luật trừ họ

Từ chối nhận di sản là sự thể hiện ý chí của người được thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đã không nhận thừa kế theo sự định đoạt của người để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật

3 Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”

Thừa kế là một quyền nên người được hưởng di sản có quyền nhận hoặc không nhận di sản từ người để lại di sản Tuy nhiên, để giảm thiểu sự phức tạp trong thực tế cũng như để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khác, từ chối nhận di sản sẽ bị hạn chế một số điểm và phải tuân thủ theo một hình thức, thủ tục nhất định như: Không được từ chối nhận di sản để trốn trán nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác, người thừa kế chỉ có quyền từ chối nhận di sản trước thời điểm phân chia di sản, việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và việc

từ chối nhận di sản phải được thông báo cho những người thừa kế khác, người quản

lý di sản, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản Trong trường hợp người thừa

kế theo di chúc đồng thời là người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản thì việc thể hiện ý chí của người đó có thể xảy ra các trường hợp sau: Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật; chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc; từ chối cả quyền hưởng thừa kế theo di chúc và quyền

Trang 19

hưởng thừa kế theo pháp luật Khi người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản thì phần di sản của họ được hưởng theo di chúc sẽ được chia theo pháp luật

1.3 Di sản thừa kế được chia theo pháp luật

Điều 612 BLDS 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người

chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”

Quy định này kế thừa toàn bộ quy định của BLDS 2005 về di sản thừa kế Như vậy di sản thừa kế bao gồm:

Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp như tiền lương, tiền thưởng, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất kinh doanh, tiền, vàng, bạc kim khí quý, đá quý được dùng làm trang sức hoặc được dùng làm của cải

để dành, vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của những người sản xuất cá thể hoặc của các tư nhân được sản xuất kinh doanh hợp pháp, tài liệu, dụng cụ, máy móc của người làm công tác nghiên cứu, cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó

Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác Trong thực tế có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh, nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người Nếu một trong số đồng chủ sở hữu chết thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung

Tài sản chung của vợ và chồng, nếu vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên

bố chết thì người còn sống quản lí khối tài sản chung đó trừ trường hợp di chúc có chỉ định khác

Di sản thừa kế còn bao gồm các quyền tài sản của người chết để lại như quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại, các quyền gắn với tài sản như quyền tác giả, các khoản nợ, các khoản bồi thường thiệt hại

Có một số ý kiến cho rằng di sản còn là nghĩa vụ tài sản nhưng theo quan điểm

cá nhân, nghĩa vụ tài sản không phải là di sản thừa kế mà đây là nghĩa vụ dân sự mà người thừa kế chỉ phải thực hiện bằng di sản của người chết Như vậy nghĩa vụ này

Trang 20

nó không làm phát sinh quyền tài sản đối với người thừa kế mà chỉ phát sinh về nghĩa vụ nên không phải là di sản Mặc khác tài sản được quy định tại Điều 105 của BLDS 2015 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền về tài sản

Di sản có thể được phân chia theo di chúc hoặc phân chia theo pháp luật Khi không có di chúc thì di sản của người chết đương nhiên là di sản thừa kế được chia theo pháp luật Tại khoản 2 Điều 650 BLDS 2015, thừa kế theo pháp luật cũng được

áp dụng đối với các phần di sản sau đây: “ Phần di sản không được định đoạt trong

di chúc; phần di sản có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật; phần di sản có liên quan đến người thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Như vậy, di sản thừa kế được chia theo pháp luật bao gồm hai nhóm:

Nhóm di sản thừa kế hoàn toàn được chia theo pháp luật bao gồm các trường hợp: Không có di chúc; di chúc không hợp pháp toàn bộ; di chúc hợp pháp nhưng toàn bộ di chúc không có hiệu lực thi hành do tất cả người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản hay đều từ chối nhận di sản, cơ quan tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Nhóm di sản vừa được chia theo di chúc, vừa được chia theo pháp luật bao gồm các trường hợp: Có phần di sản không được định đoạt trong di chúc; có phần

di chúc không có hiệu lực pháp luật; có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; một hoặc một số cơ quan

tổ chức được thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế hoặc có một hoặc một số người trong số những người thừa kế theo di chúc không được quyền hưởng di sản hay từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc

1.4 Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế

1.4.1 Thời điểm mở thừa kế

Xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh

Trang 21

quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Thời điểm mở thừa kế còn là mốc thời gian để xác định khối di sản hiện còn của người chết Thực tế có nhiều trường hợp khối di sản theo di chúc đã lập khác với khối di sản tại thời điểm mở thừa kế do tài sản bị mất, tiêu hủy hoặc có trường hợp tăng thêm Do vậy, chỉ những tài sản nào thuộc sở hữu của người đã chết hiện còn vào thời điểm mở thừa kế mới được coi là di sản của người chết để lại cho những người thừa kế

Do vậy việc xác định được thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định người thừa kế, di sản thừa kế, vấn đề hiệu lực của di chúc, xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế cũng như xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TAND

Khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu

chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế…” Như vậy, quy định thời điểm tính thời hiệu thừa kế của BLDS

2015 cũng giống với quy định tại Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, BLDS năm 1995,

BLDS 2005 là tính “kể từ thời điểm mở thừa kế” Và nội hàm quy định về “Thời

điểm mở thừa kế” tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, khoản 1 Điều

636 BLDS năm 1995, khoản 1 Điều 633 BLDS 2005, cũng như tại khoản 1 Điều

611 BLDS 2015 là giống nhau, được hiểu theo nghĩa chung nhất là thời điểm người

có tài sản chết (chết thực tế về mặt sinh học), hoặc trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết (chết về mặt pháp lý)

Chết về mặt sinh học được căn cứ theo giấy báo tử hoặc giấy chứng tử Thời điểm này có thể xác định chính xác đến đơn vị phút

Nếu một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đơn vị thừa kế được tính theo ngày Theo đó ngày xảy ra tai nạn, ngày xảy ra thảm họa thiên tai … được xác định là ngày người đó chết hoặc nếu không xác định được ngày xảy ra sự kiện thì ngày chết là ngày Quyết định của Tòa

Trang 22

án tuyên bố cá nhân đã chết có hiệu lực pháp luật

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp thời điểm người để lại di sản chết đều được xem là thời điểm mở thừa kế Cụ thể là đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 10 tháng 9 năm 1990

Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế quy định: Đối với các việc thừa kế

đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh này thì thời hạn quy định tại khoản 1, khoản

2 Điều này được tính từ ngày công bố Pháp lệnh này (ngày 10/9/1990)

Trước khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, việc áp dụng thời điểm mở thừa

kế mở trước ngày 10/9/1990 được các Tòa án áp dụng thống nhất lấy thời điểm tính

từ ngày 10/9/1990 để xác định là thời điểm mở thừa kế để tính thời hiệu thừa kế

Theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự

được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết; Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”

Tiểu mục 1 Mục III Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của TANDTC giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự hướng

dẫn: “… Kể từ ngày BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại

Điều 623 BLDS 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp thời điểm mở thừa

kế trước ngày 01-01-2017 Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại khoản 2 Điều 688 BLDS 2015: “Không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật

về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực”

Mục I Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05 tháng 01 năm 2018 của TAND

tối cao giải thích một số vấn đề nghiệp vụ quy định “ Đối với trường hợp thừa kế

mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể

Trang 23

là: thời hiệu khởi 9 kiện được tính từ ngày 10-9-1990” Như vậy trong trường hợp

này thời điểm mở thừa kế là ngày 10 tháng 9 năm 1990 Văn bản giải đáp nghiệp vụ của TAND tối cao không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng văn bản được ban hành dựa trên các quy định của pháp luật Việc lấy mốc thời điểm ngày 10 tháng 9 năm 1990 để bắt đầu tính thời hiệu thừa kế là hoàn toàn phù hợp vì quyền

để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, trong khi các quy định pháp luật trước thời điểm năm 1990 chưa được hoàn thiện và rõ ràng nên khi có quy định cụ thể thì phải bình đẳng như nhau trong việc bảo hộ các quyền của công dân

1.4.2 Địa điểm mở thừa kế

Địa điểm mở thừa kế theo luật định là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi

có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn tài sản Địa điểm mở thừa kế là nơi mà tại đó các chủ thể có quyền thừa kế thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Xác định được địa điểm mở thửa kế sẽ xác định được nơi thực hiện việc quản lý di sản, xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý di sản của người chết trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý để ngăn chặn việc phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối di sản

Nơi cư trú của cá nhân được xác định theo các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45 và Luật cư trú năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2013

Có ý kiến cho rằng, Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây quy định về nơi cư trú của cá nhân cụ thể và phù hợp với thực tiễn hơn so với quy định của BLDS 2015 và Luật cư trú năm 2006 2

Sở dĩ có quan niệm như vậy là bởi tại khoản 1 Điều 48 của BLDS năm 2015

quy định: “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ

khẩu thường trú Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không

có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của người đó là nơi người đó tạm trú

2

Phạm Văn Tuyết – Lê Kim Giang (2017), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết

tranh chấp, NXB Tư pháp, tr37-39

Trang 24

và có đăng ký tạm trú”

Theo quy định này thì việc xác định địa điểm mở thừa kế còn căn cứ vào nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Tuy nhiên, thực tế rất nhiều cá nhân có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi sinh sống khác nhau Thậm chí, dù chuyển nơi sinh sống nhiều lần nhưng họ vẫn không thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Ngoài ra trong một số trường hợp còn cố tình thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở những vùng kinh tế khó khăn để hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước Do đó quy định về việc căn cứ vào nơi có hộ khẩu thường trú là không phù hợp

Tại khoản 1 Điều 40 của BLDS 2015 quy định: “Nơi cư trú của cá nhân là

nơi người đó thường xuyên sinh sống” Tuy nhiên, điều này vẫn chưa giải quyết dứt

điểm những bất cập hiện còn tồn tại vì chỉ quy định chung chung, chưa có văn bảo nào giải thích rõ như thế nào là thường xuyên và như thế nào là sinh sống nên khó

áp dụng

Từ những phân tích trên có thể thấy tuy xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý di sản khi chưa xác định được người thừa kế di sản nhưng các quy định còn chung chung, chưa rõ ràng nên nếu xảy ra tranh chấp thì khó giải quyết

Hiện nay có quan điểm cho rằng xác định được địa điểm mở di sản sẽ xác định được Tòa án có thẩm quyền giải quyết nếu có tranh chấp về di sản thừa kế 3

Tuy nhiên quan điểm này là không phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự vì tại điểm a khoản 1 Điều 3 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế là Tòa án nơi bị đơn cư trú, không phụ thuộc vào địa điểm mở thừa kế

3

Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của

nước CHXHCN Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr 930

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quyền thừa kế là một trong các quyền cơ bản của công dân Ngay từ bản hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946 đã đề cập đến quyền này Qua các giai đoạn xây dựng pháp luật, quyền thừa kế ngày càng được hoàn thiện hơn Kế thừa những nội dung của các quy định về thừa kế trước đây và trên tinh thần xây dựng cho phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng những chuyển biến của xã hội trên nhiều lĩnh vực, chế định thừa kế theo pháp luật tại BLDS 2015 cũng được xây dựng cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Tại chương 1 đã đưa ra một số quy định chung về thừa kế như khái niệm, các trường hợp thừa kế theo pháp luật, di sản thừa kế theo pháp luật, thời điểm mở thừa

kế, địa điểm mở thừa kế Một trong số những quy định này cũng là căn cứ để giải quyết thừa kế theo di chúc nên có thể nói những quy định chung về thừa kế theo pháp luật là cơ sở tiền để đề giải quyết thừa kế Nó càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án vì điều kiện đầu tiên để xem xét có chia di sản hay không là tài sản đang tranh chấp có phải là di sản thừa kế hay không

và còn thời hiệu thừa kế hay không rồi mới xem xét đến vấn đề chia cho ai, chia như thế nào

Trang 26

CHƯƠNG 2 NGƯỜI THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 2.1 Căn cứ xác định người thừa kế theo pháp luật

Người thừa kế theo pháp luật là người được hưởng di sản từ người chết để lại Pháp luật dân sự năm 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật được chia ra thành 03 hàng thừa kế gồm:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con

đẻ, con nuôi của người chết

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết

là cụ nội, cụ ngoại

Việc hưởng di sản thừa kế được thực hiện theo nguyên tắc những người thừa

kế trong một hàng thừa kế thì được hưởng phần di sản ngang nhau Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản thừa kế khi không còn người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất Như vậy, khác với thừa kế theo di chúc thì người thừa kế có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nhưng người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân được xác định theo các mối quan hệ cụ thể:

2.1.1 Xác định người thừa kế theo quan hệ huyết thống

Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực

hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ trong đó có 05 nhóm quan

hệ cụ thể:

2.1.1.1 Quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con ruột

Một người sinh ra bao nhiêu người con thì các con đều là con đẻ của người đó

và giữa cha mẹ với con có quan hệ thừa kế di sản của nhau Cơ sở để xác định quan

hệ con đẻ là dựa trên sự kiện sinh đẻ trong đó tồn tại 04 căn cứ làm phát sinh quan

Trang 27

hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con là:

Thứ nhất, cha mẹ tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp thì theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh

ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân Thời điểm chấm dứt hôn nhân ở đây có thể

là do ly hôn hoặc do người chồng chết Ngoài ra, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng Trong trường hợp này thì giữa cha, mẹ và con có quyền thừa kế di sản của nhau

Ví dụ như anh A và chị B ly hôn vào ngày 15 tháng 3 năm 2018 01 tháng sau, chị B kết hôn với anh C và sinh được 01 người con vào ngày 10 tháng 11 năm 2018

và anh C khai sinh cho con thì theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật HN&GĐ anh C là cha của đứa bé do con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân Anh A cho rằng đứa bé là con của anh và chị B vì theo anh nếu áp dụng khoản 2 Điều 88 thì anh là cha của đứa bé do con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chấm dứt tình trạng hôn nhân Như vậy là có sự tranh chấp trong việc xác định con cho cha

Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 BLDS 2015 thì cha đẻ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ của người mẹ Như vậy giả sử trong trường hợp này kết quả giám định ADN chứng minh được anh A có quan hệ huyết thống cha con với đứa

bé thì mặc dù trong giấy khai sinh thì anh C là cha nhưng về huyết thống thì anh A mới là cha đẻ của đứa bé nên khi có tranh chấp thì A được công nhận là cha và quan

hệ cha con giữa C và đứa bé bị hủy bỏ Quan hệ thừa kế trong trường hợp này đương nhiên phát sinh giữa anh A và đứa bé Còn quan hệ thừa kế giữa anh C và đứa bé được xác định theo quan hệ giữa con riêng và bố dượng

Thứ hai, khi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định tại Điều 3 của LHN&GĐ 2014, người vợ sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản thì quan hệ cha, mẹ, con được xác định theo Điều 88 Luật HN&GĐ tức là xác định như trường hợp cha mẹ tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp như đã nêu trên Khi

Trang 28

thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể xảy ra trường hợp cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi nhưng trong trường hợp này thì không làm phát sinh quan

hệ cha, mẹ và con giữa người cho và con được sinh ra mặc dù giữa cha, mẹ và con

có quan hệ huyết thống với nhau Nếu người phụ nữ độc thân sinh con thì người phụ nữ đó là mẹ của đứa trẻ được sinh ra Do đó, chỉ phát sinh quan hệ thừa kế giữa cha, mẹ và con dựa theo quan hệ hôn nhân của cha mẹ mà không phát sinh quan hệ thừa kế giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi và con được sinh ra từ tinh trùng, noãn, phôi được cho

Thứ 3, Luật HN&GĐ 2014 công nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo

đó con chung sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể tự thời điểm được sinh ra theo quy định tại Điều 4 LHN&GĐ 2014 Như vậy, mặc dù có sự kiện sinh đẻ nhưng giữa người mang thai hộ và con được sinh ra không có quan hệ thừa kế mà chỉ có quan hệ thừa

kế giữa cha, mẹ nhờ mang thai và con

Thứ 4, khi cha mẹ không tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp thì về mặc pháp

lý khi sinh ra không biết ai là cha của đứa trẻ Trong trường hợp này, xác định cha cho con dựa trên quy định tại khoản 2 Điều 26 BLDS 2015 Cha đẻ được xác định dựa trên việc đăng ký khai sinh hoặc bằng bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Khi cha, mẹ không có tranh chấp mà tự nguyện thỏa thuận thì xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ thuộc thẩm quyền của UBND theo pháp luật về hộ tịch Nhưng khi có tranh chấp thì được giải quyết theo thủ tục

tố tụng dân sự quy định tại khoản 4 Điều 28 hoặc khoản 10 Điều 2 BLTTDS

Như vậy, pháp luật công nhận quyền thừa kế giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ khi quan hệ cha, mẹ và con đó được pháp luật công nhận Những trường hợp còn lại như sinh con bằng tinh trùng, noãn, phôi được cho mặc dù là có quan hệ huyết thống với nhau nhưng quan hệ huyết thống đó không được pháp luật thừa nhận có quan hệ cha con, mẹ con nên không phát sinh quyền thừa kế giữa cha, mẹ và con

2.1.1.2 Quan hệ giữa ông bà với cháu

Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là hàng thừa kế thứ hai của cháu mình và

Trang 29

ngược lại Trong quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi tồn tại quan hệ thừa

kế vì quan hệ này được pháp luật công nhận Nhưng con nuôi của một người không đương nhiên trở thành cháu của cha mẹ người nhận con nuôi nên giữa ông, bà và cháu trở thành hàng thừa kế của nhau thì phải là ông bà sinh ra cha mẹ ruột của cháu Tuy nhiên, các cháu chỉ được hưởng thừa kế ở hàng thứ 2 của ông bà trong trường hợp cha, mẹ của cháu không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, bản thân cha, mẹ từ chối nhận di sản mà không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa

kế thứ nhất thì cháu được hưởng di sản của ông bà ở hàng thừa kế thứ 2 Trong trường hợp cha mẹ của cháu chết trước ông bà và cha mẹ của cháu có quyền hưởng

di sản, không từ chối nhận di sản thì cháu được hưởng di sản của ông bà thông qua thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 BLDS 2015

2.1.1.3 Quan hệ giữa anh chị em ruột với nhau:

Quan hệ anh chị em ruột được hình thành theo một căn cứ duy nhất là quan hệ huyết thống, bao gồm những người có cùng quan hệ huyết thống cùng một đời Mục

A phần III Thông tư số 81/TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981 của TAND tối cao

có quy định diện thừa kế theo luật có anh, chị, em ruột; anh, chị, em cùng cha khác

mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; anh, chị, em nuôi Như vậy thì anh, chị em ruột theo Thông tư 81/TANDTC là anh em cùng cha, cùng mẹ Các BLDS sau này không còn giữ quy định này mà chỉ quy định chung là anh ruột, chị ruột với em ruột được hưởng di sản của nhau Tuy hiện nay chưa có quy định cụ thể như thế nào là anh ruột, chị ruột với em ruột nhưng đa số đều hiểu theo cách anh, chị, em ruột là những người cùng cha cùng mẹ, cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ

Quan hệ thừa kế giữa anh, chị, em ruột là quan hệ thừa kế hai chiều, trong đó nếu anh, chị chết thì em ruột của người chết sẽ được hưởng di sản thừa kế của anh, chị ở hàng thừa kế thứ hai Ngược lại nếu em ruột chết thì anh, chị cũng được hưởng di sản thừa kế của em ở hàng thừa kế thứ hai

2.1.1.4 Quan hệ các cụ với chắt

Mỗi địa phương có cách gọi khác nhau nhưng theo pháp luật, cụ nội được xác định là người đã sinh ra ông nội, bà nội của chắt Cụ ngoại được xác định là người

Trang 30

đã sinh ra ông ngoại, bà ngoại của chắt Quy định chắt được hưởng thừa kế của các

cụ được công nhận từ khi Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành mà các quy phạm pháp luật về thừa kế trước đó chưa đưa vào xem xét đối tượng thừa kế này Đây là quy định tiên tiến bởi lẽ chắt được thừa kế thế vị khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của chắt chết trước cụ thì đương nhiên quyền này cũng sẽ được bảo lưu khi giải quyết chia thừa kế theo hàng thừa kế thứ 3

Căn cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa cụ với chắt cũng giống như căn cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa ông bà với cháu Về mặt pháp lý, chắt được thừa kế

di sản của cụ phải là chắt ruột của người chết còn khi cụ được hưởng di sản của chắt thì chưa quy định là cụ ruột hay không Tuy nhiên theo nguyên tắc bình đẳng, nếu là chắt ruột mới được hưởng thừa kế của cụ thì phải là cụ ruột mới được hưởng di sản của chắt

Tuy nhiên, chắt không chỉ được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ 3 mà theo quy định tại Điều 652 BLDS 2015, nếu cha mẹ của chắt được hưởng thừa kế thế vị nhưng cha mẹ của chắt cũng chết trước cụ thì chắt lại trở thành người thừa kế thế vị của cụ và được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

2.1.1.5 Quan hệ thừa kế giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột với cháu ruột

Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là anh chị em ruột của cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người đó Đây là những người có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau, nghĩa là khi bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột chết trước thì cháu còn sống sẽ được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ 3 của bác, chú, cậu, cô,

dì ruột Ngược lại khi cháu chết trước mà bác, chú, cậu, cô, dì ruột của cháu còn sống họ sẽ được hưởng thừa kế của cháu ở hàng thừa kế thứ 3

2.1.2 Xác định hàng thừa kế theo quan hệ hôn nhân

Quan hệ hôn nhân trong pháp luật thừa kế là quan hệ giữa nam và nữ sau khi kết hôn mà cụ thể là quan hệ giữa vợ và chồng Quan hệ này phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và phải đăng ký kết hôn tại UBND

Trang 31

có thẩm quyền Khi phân chia di sản dựa theo quan hệ hôn nhân có một số trường hợp đặc biệt

Khi vợ chồng đã chia tài sản chung nhưng không ly hôn, một bên chết thì về mặt pháp lý, quan hệ hôn nhân của họ vẫn còn tồn tại và quyền thừa kế vẫn được bảo hộ nên người còn sống vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật

Khi vợ chồng mặc dù không còn sống chung nhưng chưa ly hôn hoặc đang thực hiện thủ tục ly hôn mà chưa được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn hoặc cho

ly hôn bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại nên vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật

Khi còn quan hệ hôn nhân nhưng một người chết Sau đó người còn sống đã kết hôn với người khác thì vẫn được thừa kế di sản bởi lẽ tại thời điểm mở thừa kế thì họ đã có quyền hưởng di sản là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ nên đương nhiên được hưởng di sản khi phân chia di sản Kết hôn hay không kết hôn không thể làm mất quyền này của họ

Quan hệ hôn nhân được xác định dựa trên việc đăng ký kết hôn đúng luật Tuy

nhiên, tại khoản 1 Điều 131 LHN&GĐ 2014 quy định “Quan hệ hôn nhân và gia

đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết” Như vậy, các quy định về kết

hôn trước đây vẫn được xem xét để xác định quan hệ vợ chồng khi giải quyết chia thừa kế Có 03 trường hợp được pháp luật điều chỉnh:

Trường hợp một là quan hệ hôn nhân trước ngày 03 tháng 1 năm 1987 – Ngày LHN&GĐ 1987có hiệu lực thi hành Pháp luật thừa nhận trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 là hôn nhân thực tế nên dù không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì họ vẫn được công nhận là vợ chồng và khi chia thừa kế thì vợ hoặc chồng vẫn là hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản Quy định này được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội “Về việc thi hành Luật HN&GĐ” và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ

Trang 32

Trường hợp thứ hai: Hôn nhân đối với cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra bắc Rất nhiều trường hợp cán bộ chiến sĩ miền Nam đã có vợ hoặc chồng nhưng khi tập kết ra bắc lại kết hôn với người khác Tuy rằng pháp luật tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng nhưng hôn nhân đối với trường hợp này lại công nhận một chồng hai vợ hoặc một vợ hai chồng Nếu như việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực pháp luật thì cả hai mối quan hệ hôn nhân này đều được công nhận nhưng tài sản phát sinh từ hai quan hệ hôn nhân này là độc lập Do

đó khi người chồng chung hoặc vợ chung chết thì cả hai vợ hoặc cả hai chồng đều được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất của người chết Chế độ hôn nhân này được quy định tại Thông tư số 60/TATC ngày 22 tháng 2 năm 1978 của TAND Tối cao và việc phân chia di sản thừa kế thì được áp dụng theo BLDS 2015

Trường hợp thứ ba: Hôn nhân xác lập trước ngày Luật HN&GĐ 1959 có hiệu lực thi hành Luật HN&GĐ1959 có hiệu lực ngày 13 tháng 7 năm 1960 Tuy nhiên thời gian này miền Nam vẫn còn kháng chiến chống đế quốc Mỹ nên đến ngày 25 tháng 3 năm 1977 thì Luật HN&GĐ mới được áp dụng thống nhất trong cả nước nên Hôn nhân phát sinh trước thời điểm này vẫn được công nhận và đó là chế độ hôn nhân đa thê Khi xác định hàng thừa kế trong trường hợp này cũng phải tuân thủ các quy định về hôn nhân gia đình để xem xét Theo đó, trong trường hợp một người có nhiều vợ mà tất cả các mối quan hệ hôn nhân đó được thực hiện trước ngày 13 tháng 7 năm 1960 đối với người miền Bắc và trước ngày 25 tháng 3 năm

1977 đối với người miền Nam thì những người vợ này đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chồng và người chồng cũng là hàng thừa kế thứa nhất của tất cả những người vợ này Xác định hàng thừa kế trong trường hợp này quy định tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế

2.1.3 Xác định hàng thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng

Bên cạnh quan hệ huyết thống và hôn nhân để xác định hàng thừa kế thì pháp luật còn căn cứ vào quan hệ nuôi dưỡng Đây là một quan hệ làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý trong đó có việc xác định hàng thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo

Trang 33

pháp luật

Nuôi dưỡng là “Việc một người chăm sóc và cung cấp những thứ cần thiết cho người khác (người được nuôi dưỡng) nhằm tạo điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống của người đó” 4 Quan hệ nuôi dưỡng trong việc xác định hàng thừa kế có thể là giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi hoặc giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

2.1.3.1 Quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi

Theo quy định tại Điều 653 của BLDS con nuôi sẽ là hàng thừa kế kế thứ nhất của cha mẹ nuôi và ngược lại cha mẹ nuôi cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất của con nuôi Khi được hưởng di sản của cha nuôi, mẹ nuôi thì người con nuôi vẫn có quyền được hưởng di sản từ cha đẻ mẹ đẻ của mình Khác với con đẻ, con nuôi chỉ

có quan hệ thừa kế với cha nuôi, mẹ nuôi nhưng không có quan hệ thừa kế với cha

mẹ và con đẻ của người nhận nuôi con nuôi Cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi cũng không được thừa kế của người đó

Pháp luật hiện nay thừa nhận hai quan hệ nuôi con nuôi là nuôi con nuôi thực

tế và nuôi con nuôi có đăng ký Trước đây, có nhiều quy định công nhận nuôi con nuôi thực tế mà không phải đăng ký như Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ 1986 hay Điều 17 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27-3-2002 công nhận nuôi con nuôi thực tế đối với các công dân thuộc các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng

01 năm 2001

Tuy nhiên, tại Điều 50 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định :

“1 Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này

có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại

4

Viện khoa học pháp lý – Bộ tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB từ điển bách khoa và

NXB tư pháp, trang 754

Trang 34

thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con

2 Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 điều này

có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi ”

Điều 23 Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi quy định quan hệ nuôi con nuôi thực tế phải được đăng ký trong thời hạn 05 năm từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 Nếu sau ngày 31 tháng 12 năm 2015

mà chưa đăng ký nuôi con nuôi thì quan hệ đó không được pháp luật công nhận Như vậy nếu theo quy định tại Điều 50 của Luật nuôi con nuôi Điều 23 Nghị định 19/2011/NĐ-CP thì quan hệ nuôi con nuôi thực tế có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi nhưng việc nuôi con nuôi đó phải được đăng

ký thì pháp luật mới công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế đó Nếu sau ngày 31 tháng 12 năm 2015, mà không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế thì việc nuôi con nuôi đó sẽ không được công nhận, người nuôi không được coi là cha, mẹ nuôi; người được nuôi không được coi là con nên việc nuôi con nuôi sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nuôi và người được nuôi trong đó có quyền thừa kế.Nếu sau ngày 01 tháng 01 năm 2011 mới phát sinh quan hệ nuôi con nuôi thì giá trị pháp lý phát sinh từ thời điểm đăng ký

Khi quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật công nhận thì đương nhiên con nuôi được thừa kế di sản của cha nuôi, mẹ nuôi với tư cách là thừa kế theo pháp luật, ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau và ngược lại

2.1.3.2 Quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế

Mẹ kế với con riêng của chồng, bố dượng với con riêng của vợ về bản chất không phải là mối quan hệ huyết thống Tuy nhiên, giữa họ trên thực tế vẫn phát sinh quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng không khác gì quan hệ ruột thịt Trên cơ sở duy

Trang 35

trì và phát huy những mối quan hệ thiêng liêng đó, pháp luật dân sự đã đặt ra những quy định nhằm cho phép mẹ kế, bố dượng với con riêng cũng có thể có quyền thừa

kế của nhau như quan hệ ruột thịt

Cụ thể, Điều 654 BLDS 2015 có quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế

nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như bố con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.”

Theo quy định này, không phải đương nhiên con riêng sẽ được hưởng di sản của bố dượng, mẹ kế mà chỉ phát sinh quyền thừa kế khi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con Còn chăm sóc, nuôi dưỡng như thế nào là như cha con, mẹ con còn phụ thuộc vào quy định của Luật HN&GĐ về quyền của cha

mẹ đối với con hoặc của con đối với cha mẹ Tuy nhiên những quy định của Luật HN&GĐ cũng chỉ mang tính chung chung

Một số căn cứ có thể liệt kê ra, như:

Bố dượng, mẹ kế thương yêu, chăm lo việc học tập, giáo dục của con riêng, tôn trọng ý kiến của con riêng; bố dượng, mẹ kế trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con riêng chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Con riêng yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng bố dượng, mẹ kế; con riêng có sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật

Chứng minh được sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng, con riêng có thể được nhận thừa kế di sản của bố dượng, mẹ kế và ngược lại Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, họ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau, cũng giống như cha đẻ, mẹ

đẻ với con đẻ hoặc cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi

2.1.4 Thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị là việc con thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa kế của ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại đối với phần di sản mà cha mẹ được hưởng nếu còn sống nhưng cha đã chết trước ông nội, bà nội hoặc mẹ đã chết trước

Trang 36

ông ngoại, bà ngoại; đồng thời cũng là việc con đẻ thay thế vị trí của cha hoặc mẹ

để hưởng thừa kế của cụ đối với phần di sản mà cha, mẹ được hưởng nhưng cha, mẹ

đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với cụ

Cụ thể tại Điều 652 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp con của người để lại

di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Như vậy có thể hiểu thừa kế thế vị là việc cháu thay cha mẹ của cháu hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất hoặc chắc thay thế cha mẹ của chắt (cháu của người chết) hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ 2

Theo quy định này thì khi xem xét thừa kế thế vị cần phải chú ý: Thừa kế thế

vị chỉ áp dụng cho trường hợp con cháu trực hệ chết trước Việc áp dụng chế định này sẽ bị loại trừ nếu con còn sống nhưng từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản Những người thế vị chỉ được hưởng phần mà người được thế vị hưởng nếu còn sống Người con chết trước người để lại di sản phải là người có quyền hưởng di sản Nếu họ là người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1, Điều 646 BLDS 2015 thì dù chết trước người để lại di sản, con hoặc cháu của người

đó không được thế vị họ để hưởng phần di sản Người thừa kế thế vị chỉ có thể hưởng di sản nếu không ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản của người được thế vị và không từ chối nhận di sản của người này Ngoài ra, việc hưởng thừa

kế thế vị chỉ áp dụng đối với người đời sau thừa kế di sản của đời trước mà không

có trường hợp ngược lại

2.2 Những bất cập trong xác định người thừa kế

2.2.1 Thừa kế theo quan hệ huyết thống

2.2.1.1 Người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế nhưng sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế

Về mặt pháp lý, một người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế nhưng sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì được quyền hưởng di sản của

Trang 37

người chết nếu thuộc hàng thừa kế theo luật định Như thế nào là còn sống: Theo Điều 23 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và

quản lý hộ tịch quy định:“Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết

cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng

ký khai tử phải ghi rõ "Trẻ chết sơ sinh"” Quy định này lại được lặp lại một lần

nữa tại khoản 3 Điều 30 BLDS 2015 là một đứa trẻ sinh ra và còn sống từ 24 giờ được khai sinh, khai tử Một số quan điểm cho rằng đây là căn cứ để xác định một người sinh ra và còn sống được hưởng thừa kế 5

Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 BLDS 2015 quy định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Còn sống có nghĩa là chưa chết Y học hay dựa vào các triệu chứng như mất ý thức, ngưng thở, mất mạch, đồng tử giãn và không phản xạ với ánh sáng, điện tâm

đồ (ECG) phẳng … để xác định một người là đã chết Như vậy khi một đứa trẻ sinh

ra nhưng thở được, tim đập, các chỉ số y tế đều bình thường thì đứa bé được xác định là còn sống Như vậy năng lực pháp luật của cá nhân đã hình thành mà năng lực pháp luật dân sự bao gồm cả quyền thừa kế Như vậy thì từ khi sinh ra thì cá nhân đã có quyền hưởng di sản thừa kế

Rõ ràng nếu căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 16 BLDS 2015 thì quan điểm trẻ phải còn sống từ 24 giờ sau sinh mới được hưởng di sản thừa kế là không phù hợp với quy định của pháp luật dân sự Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 30 BLDS 2015, nếu trẻ sinh ra mà sống dưới 24 giờ thì khi cha mẹ có yêu cầu thì trẻ sẽ được khai sinh, khai tử Như vậy quan điểm trên đã không còn phù hợp

Một đứa trẻ sinh ra và còn sống, phát triển bình thường thì xác định quyền thừa kế của đứa trẻ cũng như những thừa kế khác Nhưng quy định như thế nào là còn sống theo quy định tại Điều 613 BLDS 2015 thì chưa có một văn bản nào

5

Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của

nước CHXHCN Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr 938

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đoàn Đức Lương (2013), Giáo trình luật dân sự Việt Nam phần 1, xuất bản lần thứ 3 có sửa chữa bổ sung, NXB đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam phần 1
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Nhà XB: NXB đại học Huế
Năm: 2013
15. Đỗ Văn Đại (2013), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án tập 1, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án tập 2, xuất bản lần thứ 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án tập 1, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án tập 2
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2013
16. Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2017
17. Phan Trung Hiền (biên soạn, 2017), Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia sự thật
18. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2013), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, xuất bản lần thứ 2, có chỉnh lý bổ sung quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp
Tác giả: Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2013
19. Tưởng Duy Lượng (2017), Thời hiệu, thừa kế và thực tiễn xét xử, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hiệu, thừa kế và thực tiễn xét xử
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2017
20. Tưởng Duy Lượng (2017), Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 2015 – Một số vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn xét xử, trong tài liệu tập huấn nghiệp vụ giải quyết các vụ án dân sự, Học viện Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 2015 – Một số vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn xét xử, trong tài liệu tập huấn nghiệp vụ giải quyết các vụ án dân sự
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2017
21. Viện khoa học pháp lý – Bộ tƣ pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Tƣ pháp và NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.Danh mục luận án, luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý – Bộ tƣ pháp
Nhà XB: NXB Tƣ pháp và NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2006
22. Nguyễn Hương Giang (2014), Thừa kế theo pháp luật, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2014
23. Nguyễn Minh Tuấn (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Năm: 2007
25. Phùng Trung Lập (2002), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án tiến sĩ, Đại học luật Hà Nội.Danh mục bài báo đăng trên tạp chí khoa học, bài viết điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Phùng Trung Lập
Năm: 2002
26. Nguyễn Hải An (2011), Thực tiễn áp dụng các quy định của BLDS 2005 về chế định thừa kế, Tạp chí Tòa án, số 04-2011, tr 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án
Tác giả: Nguyễn Hải An
Năm: 2011
28. Lê Quý Nhân (2005), Bà Trần Thị Sáng có đƣợc quyền khởi kiện chia di sản thừa kế không, Tạp chí Tòa án, số 12-2005, tr 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án
Tác giả: Lê Quý Nhân
Năm: 2005
29. Lê Thị Hiền (2005), Yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Sáng là không có căn cứ, Tạp chí Tòa án, số 18-2005, tr 30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án
Tác giả: Lê Thị Hiền
Năm: 2005
30. Đỗ Thanh Huy (2005), áp dụng thế nào cũng đúng là sai (bàn về bài Trần Thị Sáng có đƣợc quyền khởi kiện chia di sản thừa kế không), Tạp chí Tạp chí Tòa án, số 18-2005, tr 30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tạp chí Tòa án
Tác giả: Đỗ Thanh Huy
Năm: 2005
31. Thủy Nguyên (2015) Vấn đề xác định tài sản chung khi đã hết thời hiệu thừa kế, Tạp chí Tòa án, số 20-2015, tr 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án
32. Trần Thị Yến (2011), Hành trình khởi kiện chia lại đất thừa kế, Tạp chí nghề luật, số 01-2011, tr 49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghề luật
Tác giả: Trần Thị Yến
Năm: 2011
33. Vũ Thị Thái (2016), Xác định đồng thừa kế trong vụ án chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tạp chí Tòa án, số 23, 4-5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đồng thừa kế trong vụ án chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tạp chí Tòa án
Tác giả: Vũ Thị Thái
Năm: 2016
34. Luật sƣ Đào Trug Kiên (2017), Con nuôi có được di sản thừa kế thế vị?, https://baomoi.com/con-nuoi-co-duoc-di-san-thua-ke-the-vi/c/2145738.epi, truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con nuôi có được di sản thừa kế thế vị
Tác giả: Luật sƣ Đào Trug Kiên
Năm: 2017
35. Phong Anh (2018), Cảm động chuyện người vợ trẻ quyết sinh con với chồng đã mất, http://cstc.cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Cam-dong-chuyen-nguoi-vo-tre-quyet-sinh-con-voi-chong-da-mat-4765/, truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm động chuyện người vợ trẻ quyết sinh con với chồng đã mất
Tác giả: Phong Anh
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w