1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ phạm thị hoài (qua tiểu thuyết thiên sứ)

93 2,3K 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Phạm Thị Hoài (Qua Tiểu Thuyết Thiên Sứ)
Tác giả Nguyễn Văn Đồng
Người hướng dẫn Th.S. Đoàn Mạnh Tiến
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 580 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Trờng đại học vinh

(QUA TIểU THUYếT THIÊN Sứ)

Giáo viên hớng dẫn : Th.S Đoàn Mạnh Tiến

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Đồng

Lớp : 45E2 Ngữ văn– Ngữ văn

Vinh - 2009

Trang 2

Lời cảm ơn

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Đoàn Mạnh Tiến – Ngời đã

tận tình hớng dẫn em hoàn thành luận văn.

Em cũng chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, tạo

điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và thực hiên đề tài này.

Vinh, tháng 5 năm 2009 Ngời viết

Nguyễn Văn Đồng

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cái mới của đề tài 9

6 Cấu trúc khóa luận 9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI 10

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 10

1.2 Tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết 13

1.2.1 Tiểu thuyết 13

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết 14

1.3 Phạm Thị Hoài – tác giả, tác phẩm Thiªn Sø 22

1.3.1 Tác giả Phạm Thị Hoài 22

1.3.2 Vài nét về tác phẩm Thiên Sứ 22

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT THIÊN SỨ 25

2.1 Khái niệm về từ 25

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Thiên Sứ 26

2.2.1 Từ gốc Âu 26

2.2.2 Từ Hán Việt 29

2.2.3 Từ láy 33

2.2.4 Từ địa phương 41

2.2.5 Thành ngữ 46

2.2.6 Những điển cố văn học mang hiện đại được tạo ra dày đặc .50

Trang 4

2.3 Thiên Sứ- ngôn ngữ đa phong cách 53

2.3.1 Phong cách ngôn ngữ tiểu luận 54

2.3.2 Phong cách ngôn ngữ kịch 55

2.3.3 Ng«n ng÷ mang ®Ëm chÊt th¬ 58

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CÂU VĂN TRONG TIỂU THUYẾT THIÊN SỨ .62

3.1 Giới thiệu chung về câu trong tiếng Việt 62

3.1.1.Kkhái niệm câu tiếng Việt 62

3.1.2 Đặc điểm của câu tiếng Việt 63

3.2 §Æc ®iÓm câu v¨n trong tiểu thuyết Thiên Sứ 64

3.2.1 Câu ngắn 65

3.2.2 Câu dài 73

Ch¬ng 4: MéT Sè BIÖN PH¸P tu Tõ §éC §¸O TRong thiªn sø 79

4.1 Sử dụng đan xen những tổ hợp ngôn từ độc đáo 79

4.2 Sử dụng mệnh đề phụ làm xô lệch ngữ pháp đọc 82

KẾT LUẬN 85

TµI LIÔU THAM KH¶O 87

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ lâu, chúng ta vẫn nói tới mối quan hệ biện chứng giữa hình thức

vµ nội dung, lên án chủ nghĩa hình thức thuần tuý Trong thực, tế chúng tathường suy nghĩ về tác phẩm và nhà văn ở góc độ nội dung nhiều hơn hìnhthức Chúng ta thường có truyền thống nghĩ về nhà văn như một nhà ngônngữ, không có truyền thống nghĩ về hình thức tác phẩm là một đối tượngsáng tạo chứ không phải một công thức

Có thể nói, trong văn học Việt Nam sau Vũ Trọng Phụng, Phạm ThịHoài là nhà văn ghi được dấu ấn cá tính rõ nhất về phương diện ngôn ngữ.Đối với Phạm Thị Hoài, bạn đọc do nhà văn tạo ra, mà một nhà văn thực sự

phải là người tạo được “ lỗ tai mới” (chữ của Trần Dần) cho người đọc Do vậy “nhà văn là kẻ đã kí hợp đồng nào đó đối với các con chữ, đôi khi là

một hợp đồng rất khắt khe” [ 30].

Bên cạnh quan niệm phi truyền thống về bản chất đời sống, về conngười và văn chương, về các giá trị thì có thể nói cái mới, cái gây ấn tượng,

gây sốc trực tiếp của Thiên Sứ - Phạm Thị Hoài với độc giả là ngôn ngữ

Một trong những lý do quan trọng khiến văn chương Pham Thị Hoàigây dư luận ồn ào, đa chiều, cực đoan, phức tạp là thứ ngôn ngữ đặc tuyển,kén chọn bạn đọc, là sự tổ chức cách đọc thụ động Điều này đến naykhông ai dám nói là sai trái, bởi nghệ thuật đích thực chưa bao giờ đơn

giản, dễ hiểu Nhà lý luận Lê Ngọc Trà cảnh báo : “Coi văn chương là điều

dễ hiểu đó là một ngộ nhận, và từ ngộ nhân này lại xem tính dễ hiểu lúc nào cũng như một yêu cầu, một giá trị, còn tính khó hiểu như một thiếu sót của tác phẩm thì lại càng sai hơn” [16; tr83] Nghĩa là người đọc văn học

cần có một vốn văn hoá nhất định để giải mã, mà một khả năng cảm thụ cáiđẹp không phải ai cũng may mắn được sở hữu

Trang 6

Phạm Thị Hoài sử dụng ngụn ngữ vừa như một chất liệu, vừa nhưmột đối tượng của văn chương, nú khụng giống thúi quen tiờu thụ cỏc kớhiệu xưa nay trong văn học vẫn làm Trong việc sử dụng ngụn từ, nhà văn

để lại cho người đọc ấn tượng sõu đậm về một trũ chơi, trũ chơi giải mó

của bản thõn ngụn ngữ, trũ chơi giữa cỏc sự vật, như Novalis: “Ngụn ngữ

cũng tựa như cụng thức toỏn học Chỳng thiết lập một thế giới đặc trưng, chỳng biệt lập để tỏc động nhau, khụng diễn tả điều gỡ khỏc ngoài bản tính phi phàm của chỳng, và điều đó khiến chỳng tụi gõy ấn tượng mạnh là chỳng tự phản ỏnh trũ chơi lạ kỡ giữa cỏc mối liờn hệ giữa sự vật” Thụng

qua trũ chơi ngụn từ đầy tớnh lao động nghệ thuật này, người đọc phần nàohiểu thờm quan niệm của nhà văn về tiểu thuyết: Văn chương là một trũchơi tự do, nhưng đồng thời cũng là phộp ứng xử của bản thõn, của mụitrường, cho nờn nú khụng được phộp cẩu thả, vụ trỏch nhiệm Với ngụnngữ, ý thức của Phạm Thị Hoài cũng thật mãnh liệt

Qua tiểu thuyết Thiờn Sứ, cú thể gúi gọn phong cỏch ngụn ngữ

Phạm Thị Hoài trong một mệnh đề: đó là sự khiờu khớch thẩm mĩ củangười đọc truyền thống Đú là những gỡ chỳng ta cần biết đến Phạm ThịHoài trước khi tỡm hiểu sỏng tỏc của chị, và đú cũng là những lý do màchỳng tụi quyết định chon đặc điểm ngụn ngữ của chị qua tiểu thuyết

Thiờn Sứ làm đề tài khoỏ luận.

2 Mục đớch nghiờn cứu

Khoỏ luận này cú ba mục đớch sau:

2.1 Tỡm hiểu những đặc điểm ngụn ngữ, đặc biệt là những cỏch tõn

về ngụn ngữ của Phạm Thị Hoài qua tiểu thuyết Thiờn Sứ - một trong

những tỏc phẩm đề xuất được mụ hỡnh mới về tiểu thuyết tiờu biểu cho xuhướng hoà nhập của văn học Việt Nam vào văn học thế giới

2.2 Gúp phần xỏc định một tiờu chớ, một hướng tiếp cận mới phựhợp với tư duy văn học thời đại đổi mới, xúa bỏ định kiến cũ trờn tinh thần

Trang 7

“Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng

khoa học kỹ thuật đang diển ra với quy mô, tốc độ chưa từng thấy trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng Văn hoá nghệ thuật nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ cách làm” “Đảng khuyến khích văn nghê sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có nhiều thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuât, các hình thức biểu hiện”(Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban chấp

hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá nghệ thuật)

2.3 Khoá luận làm rõ sự bắt nhịp của Pham Thị Hoài vào công cuộc

đổi mới văn học, giúp người đọc thấy được tác phẩm Thiên Sứ của Phạm

Thị Hoài không chỉ đổi mới về nội dung, mà đặc biệt hơn là đổi mới vềngôn ngữ, sáng tạo chất liệu văn chương của tác giả Ở đề tài này, chúng

tôi đến với Thiên Sứ, đến với Phạm Thị Hoài như một nhà cách tân ngôn

đủ loại sự kiện, biến cố của cuộc sống thường nhật trong một thời điểmgiao thoa của cơ chế bao cấp và cơ chế thị trường, của trạng thái văn hoágiao tranh dữ dội giữa các hệ hình tư duy các hệ giá trị văn hoá và đạo đức.Tất cả được thể hiện trong một lối viết đầy cách tân với một kho tàng ngôn

từ đặc biệt

Trang 8

Với sự xuất hiện của tiểu thuyết Thiên Sứ trong giai đoạn đổi mới

Văn học sau 1975, Phạm Thị Hoài nổi lên như một cây bút có cá tính cảtrong tác phẩm và cả ở những lập ngôn táo bạo, tạo ra không ít những tranh

cãi gay gắt và phức tạp: “ Phạm Thị Hoài là một cây bút gây nhiều tranh

cãi nhất… người khen, kẻ chê đủ cả Nhưng tựa chung không ai có thể phủ nhận sự đóng góp cá nhân của chị vào diện mạo chung của Việt Nam đương đại” [3] Sự khen, chê thường xuất phát từ những tiêu chí đánh giá

khác nhau, người chú trọng nội dung, người quan tâm hơn đến cách biểuđạt Nhưng trong thời đại dân chủ chuyện đó cũng được xem là bình

thường bởi vì “ Văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách

quan” Có ý kiến phủ định: “Phạm Thị Hoài chưa xử lý được vốn sách vở với hiện thực cuộc sống…chính vì vậy mà sự khám phá của Phạm Thị Hoài thiếu cơ sở nhận thức và độ sâu triết học…chỉ là những đại ngôn vô căn

cứ, giỏi lắm chúng cũng chỉ đạt được thành công là làm cho những người

dễ xúc động phải khó chịu” [21] Nhưng cũng có những lời khẳng định

mạnh mẽ: “ Phạm Thị Hoài là sự thức tỉnh của lương tâm trước những rạn

vỡ của xã hội, của tâm linh con người mà chủ yếu là triệt tiêu sự thông cảm”, “ Phạm Thị Hoài là một tri thức công khai, nhìn nhận trách nhiệm của tri thức Trách nhiệm trước tiên đối với bản thân, sau đó với chủ nghĩa

và sau cùng với người đồng loại” [35].

Với Thiên Sứ, nhà văn Phạm Thị Hoài cũng gặp không ít những

phiền toái, mặc dù như Nguyễn Thanh Sơn nói: “ Một trận đòn hội chợ đã

không kịp xảy ra” Giá như có “ Trận đòn” tập thể, công khai, Thiên Sứ có

thể tự hào là một trong những tác phẩm hiếm hoi khuấy động được cái ao

văn hoá nước nhà vốn “Rất đỗi bình yên, nhưng đẹp”(Nguyễn Văn Thọ).

“Sự lạnh lùng” của giới phê bình, “dấu hoa huệ” của một tác phẩm “có vấn

đề” đã khiến Thiên Sứ “chìm vào trong một sự im lặng đầy ác ý” (Nguyễn

Thanh Sơn) Nhưng không phải vì thế mà những ý kiến xung quanh về

Trang 9

Thiên Sứ kém đa dạng được Theo khảo sát của chúng tôi có hơn 30 nhà

nghiên cứu trong và ngoài nước đã chọn Thiên Sứ làm đối tượng cho đề

tài nghiên cứu của mình, họ đã đi vào nghiên cứu trên nhiều phương diệnkhác nhau, chúng tôi đã chia làm 3 hướng sau:

- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu Thiên Sứ trên phương diện nội

dung Theo híng này có các tác giả: Hoàng Ngọc Hiến, Văn Giá, Văn Thọ,Nguyễn Thị Bình…

Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến phát hiện: Phạm Thị Hoài và

Nguyễn Huy Thiệp là những tác giả có xu hướng “viết nội dung” mà đặc điểm của lối viết này là “kết hợp”, “ viết cái gì”, tạo ra sức căng cho câu văn, mạch văn, làm cho câu văn có giọng, có hồn, không bị “bẹt”, bị “iñ

sìu”, phân biệt rõ ràng với loại văn “kể nội dung” đang chiếm lĩnh văn đàn

lúc đó “ Thiên Sứ là một sự khẳng định: khát vọng yêu thương thơm thảo

- khát vọng vĩnh cửu của con người Đồng thời là một sự phủ định: tác giả phơi bày sự trống rỗng, sự vô nghĩa của những lối sống hoặc quấy nhiễu

hoặc biếm hoạ chủ nghĩa xã hội Đọc Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài không

ai nghĩ đến nguyên t¾c phản ánh như đọc truyện của Nguyễn Huy Thiệp…

Có lẽ vì vậy, mặc dù cảm hứng phủ định rất mạnh liệt và triệt để, đọc Phạm Thị Hoài không ai cảm thấy bị xúc phạm, hoàn toàn yên chí đây là nghệ thuật, chẳng có ám chỉ, máy móc nào cả” [11;tr65].

Cũng từ góc độ nội dung, nhà nghiên cứu Văn Giá phát hiện ra từ

bình diện văn minh của con người trong Thiên Sứ, “Qua đó để nhận thức

và thẩm định thế giới và cũng từ đó để tổ chức chất liệu hiện thực trong

tác phẩm” Điểm nhìn ấy của Thiên Sứ được thể hiện qua nhân vật người

kể chuyện suy tư Hoài Bằng cảm hứng phủ định và phê phán bao trùm,

xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, Thiên Sứ bộc lộ “sự phân rã không chỉ ở bề

mặt các quan hệ xã hội, mà còn ở bề sâu trong đời sống tinh thần của mỗi con người” [37].

Trang 10

Ngoài ra còn có rất nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu Thiên Sứ

trên phương diện nội dung Nhưng phải nói rằng chỉ dựa trên nội dung làchưa đủ, còn mang tính phiÕn diÖn vì họ đã bỏ qua mặt h×nh thøc – cái chủyếu không thể thiếu khi đi vào nghiên cứu, đánh giá một tác phẩm văn học

- Hướng thứ hai: Nghiên cứu Thiên Sứ dựa trên hình thức tác

phẩm

Dựa vào hình thức có một số tác giả tiêu biểu như: Lại Nguyên Ân,Thuỵ Khê…

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân tìm hiểu những đặc điểm của tiểu

thuyết Thiên Sứ từ góc nhìn: độc thoại đảm nhiÖm tất cả, giai điệu hài

hước mỉa mai, nhân vật như là một biểu trưng, mượn điển tích, tạo giaithoại, thẩm mĩ nghịch dị, cảnh bµi trí câu văn “hội hè hoá”…Ra đời ngaysau khi tiểu thuyết Thiên Sứ xuất bản( tháng 11/1989) Bài viết đã thể hiệntinh thần đổi mới trong phê bình văn học, có ý thức nâng đỡ, khích lệnhững bước đi thể nghiệm của những sáng tác mới Có thể nói bài viết này

đã cung cấp cho chóng t«i nhiều gîi ý cụ thể để triển khai một cách mạchlạc hơn Nhưng cũng phải nói rằng bài viết đang chú trọng đến hình thức

mà chưa đi sâu vào nội dung, hay nói cách khác bỏ qua mặt nội dung

Còn Thuỵ Khuê trong bài viết năm 1991 in ở tập “Sóng từ trường”, bằng

một nét chấm phá ngắn gọn từ góc độ hình thức đã chỉ ra chính xác tự sự mà

Phạm Thị Hoài đã dïng để tạo dựng tiểu thuyết: “ Thiên Sứ viết theo lối tiểu

thuyết mới, từng đoạn cắt rời, đổi phông như những khúc đứt của những bức tranh lập thể, khó hiểu…Bối cảnh rời rạc không nhất quán ” [34].

- Hướng thứ ba: Nghiên cứu Thiên Sứ trên cả hai phương diện nội

dung và hình thức

Đi theo hướng này có những tác giả như: Anatoli Asokolov ( ngườiĐức), Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Thị Thu Nguyên vv…

Trang 11

Anatoli Aosokov trong bài viết về văn hoá và văn học Việt Namnhững năm đổi mới đã dẫn Phạm Thị Hoài như một cây bút tiên phong tự

đổi mới mình : “Thứ văn xuôi khác thường mang tính xấc xược xét về hình

tượng và phong cách của Phạm Thị Hoài gây ra bạn đọc người Việt những

dư luận trái ngược nhau từ sự ca tụng, tâng bốc quá đáng đến không chấp nhận và bác bỏ quyền tồn tại” Nhà nghiên cứu khẳng định tính mới mẻ

của tác phẩm : “Trên thực tế tiểu thuyết Thiên Sứ (mà ở mức độ nào đó là

những truyện ngắn) là rất khác thường và không đặt vừa được vào truyền thống tự sự của văn xuôi Việt Nam nửa sau thế kỷ XX…Khó mà nói một cách xác định rằng thứ văn xuôi của Phạm Thị Hoài là thực nghiệm của Văn học,

là văn học đặc tuyển (Elite) hoặc cái gọi là văn học đi trước…” [1].

Cũng theo hướng này, từ những kiến giải trong bài viết Thiên Sứ

của Phạm Thị Hoài (Tháng 8/1994) Nhà phê bình văn học Nguyễn ThanhSơn đã đề nghị một hướng giải mã cho tác phẩm theo đúng đặc trưng bút

pháp Phạm Thị Hoài: “Hãy hiểu tính ước lệ của nó, hãy loại bỏ, thanh lọc

mình khỏi những Thiên kiÕn chủ quan và phải trái, về cái có thật và cái trìu tượng, nhập thân vào thế giới của các nhân vật, các huyền thoại, các biểu tượng, mở lòng ra “Văn sẽ tràn vào trong ta, trong một giây”

(Tsekhov) Nhà nghiên cứu phát hiện: “Cái lạ của Thiên Sứ lại vốn dĩ… không hề lạ Đúng là lạc vào thế giới của Thiên Sứ chúng ta như lạc vào

mê cung của nhà Vua medat…bởi bản thân tác phẩm là cả một “rừng biểu

tượng”…Bởi lẽ cái quyến rũ nhất của Thiên Sứ là chất ảo của hiện thực… ngay cả sự ra đời của Thiên Sứ cũng diễn ra như một phản cổ tích, khi

các yếu tố của huyền thoại và hiện thực trần trụi chen vai thích c¸ch cạnh nhau Cái cách gắn các “groste sco” (thô kệch) vào bên cạnh cái thơ đã

trở thành phản xạ của ngòi bút Phạm Thị Hoài…Thiên Sứ bản thân nó đã

là một khối văn bản, một văn bản nhiều chiều, nhiều tầng lớp” [20].

Trang 12

Ngoài ra một số nhà nghiờn cứu khỏc cũng đi vào nghiờn cứu Thiờn

Sứ trờn tổng thể của nú, nhưng nhỡn chung hầu hết họ chỳ trọng đến mặt

nội dung mà coi nhẹ hỡnh thức – ngụn từ của tỏc phẩm

Qua ba xu hướng trờn, chỳng tụi đó thấy được những lớ do để khen,chờ Phạm Thị Hoài một cỏch cực đoan Cỏc ý kiến chỉ ra những đúng gúpcủa chị đều cụ thể, xỏc thực và những ý kiến phản đối cũng khụng kộmphần sắc sảo, làm nờn một dư luận đa chiều, gõy hoang mang cho nhữngngười đọc đó cú thúi quen chờ người khỏc cung cấp cho mỡnh những tưtưởng, nhận xột, đỏnh giỏ mà hưởng thụ Dư luận này cũng cú mặt tớch cựccủa nú, cú khi thụi thỳc những người muốn tự khỏm phỏ bằng những kinhnghiệm văn học, văn hoỏ để tỡm hiểu những tỏc phẩm mang tớnh cỏch tõn

này Chớnh vỡ thế ở khoỏ luận này, chỳng tụi sẽ đi tỡm hiểu Thiờn Sứ từ

gúc độ ngụn ngữ để làm rừ những cỏch tõn của Phạm Thị Hoài trong việclựa chọn, sang tạo chất liệu cho văn chương

4 Phương phỏp nghiờn cứu

Thực hiện đề tài này, chỳng tụi sử dụng đồng thời cỏc phương phỏpsau:

- Phương phỏp phõn tớch tổng hợp: Phõn tớch những đặc điểm về

ngụn ngữ để từ đú tỡm ra đặc trưng và bỳt phỏp Phạm Thị Hoài Trong quỏtrỡnh triển khai khoỏ luận phải đi từ những chi tiết cụ thể đến tổng hợp vàkhỏi quỏt, nờu lờn những kết luận nhất định

- Phương phỏp thống kờ, phõn loại: Sau khi đó tỡm hiểu qua văn

bản, chỳng tụi tiến hành thống kờ cỏc lớp từ, cỏc kiểu cõu và từ đú phõnthành cỏc loại, cỏc tiểu loại ngụn từ, cỏc kiểu cõu mà tỏc giả đó sử dụngtrong văn bản

- Phương phỏp so sỏnh đối chiếu: Thiờn Sứ ra đời trong bối cảnh

đổi mới chung của nền Văn học nước nhà, trong quỏ trỡnh hội nhập của vănhọc Thế giới Vỡ thế người viết khoỏ luận cú ý thức so sỏnh đối chiếu chất

Trang 13

liệu ngụn từ với những trào lưu văn học trước đú, cũng như với những tỏcphẩm cựng thời để thấy được nột chung cũng như nột riờng, nột độc đỏo

của Phạm Thị Hoài qua tiểu thuyết Thiờn Sứ, từ đú đi đến khẳng định

những đúng gúp của Phạm Thị Hoài cho nền văn học nước nhà

5 Cỏi mới của đề tài

Khúa luận này cú thể xem là cụng trỡnh độc lập đầu tiờn đi vào

nghiờn cứu tiểu thuyết Thiờn Sứ từ gúc độ ngụn ngữ, xem nhà văn như

một nhà ngụn ngữ Cú lẽ đõy là khoỏ luận đầu tiờn của sinh viờn trường

Đại học Vinh nghiờn cứu về tiểu thuyết Thiờn Sứ núi riờng và sỏng tỏc của

Phạm Thị Hoài núi chung

6 Cấu trỳc khúa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chớnh của khúa luận gồm:Chương 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài

Chương 2: Đặc điểm từ ngữ trong tiểu thuyết Thiờn Sứ

Chương 3: Đặc điểm cõu văn trong tiểu thuyết Thiờn Sứ

Chơng4: Một số biện pháp tu từ độc đáo trong Thiên Sứ

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ một loại hình ngôn ngữ chung

để biểu đạt nội dung, hình tượng của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng táclời truyền miệng và văn học viết) Tuy nhiên khi bàn về khái niệm ngônngữ nghệ thuật lại có rất nhiều ý kiến, ở đây chúng tôi xin dẫn mét sè quanniệm của c¸c tác giả:

I.U.M.Lot man – nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng người Nga này

cho rằng: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt,

thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách

là hệ thống thứ hai” [14; tr 49] Theo ông thì ngôn ngữ nghệ thuật được

hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên nhưng lại có sự khác biệt về đặc trưng:

“Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các ký hiệu là khác nhau, mà bản chất khái niệm ký hiệu cũng khác nhau”

[14; tr 49]

Từ quan niệm của I.U.M.Lot man, ta có thể hiểu ngôn ngữ tự nhiênchính là sự xuất phát cho sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật,nhưng nó có tính độc lập với tư cách là hệ thống tín hiệu Thứ hai

Theo Đinh Trọng Lạc: “Ngôn ngữ phi nghệ thuật” được hiểu trùng với “Ngôn ngữ tự nhiên”, nó bao gồm lời nói sinh hoạt hàng ngày, các loại ngôn ngữ thuộc phong cách hành chính, chính luận, khoa học… “Ngôn

ngữ phi nghệ thuật có thể được xác định như là một mã chung, phổ biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng tín hiếu đó mà con người dùng để Việt hoá các ý nghĩa, tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩ, tình cảm này trong một hình thức được tri giác một cách cảm tính: Từ ngữ, phát ngôn…” [4; tr 123].

Trang 15

Về chất liệu: “Các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng ở nghệ thuật

ngôn từ có thể không khác gì từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ thông tục và biệt ngữ, văn xuôi sự vụ và văn xuôi khoa học, các thành phần này xét về khả năng cũng có ở ngôn ngữ nghệ thuật” [ 22;

tr1090] Như chúng ta biết, tính cách sáng tạo là nét nổi bật của mọi lời nói( ngôn ngữ) sống động, nhưng nét tương phản của ngôn ngữ nghệ thuật đượcbộc lộ ở bình diện hoạt động chức năng, chiều sâu của ngôn ngữ trong tácphẩm nghệ thuật Tiêu biểu cho ngôn ngữ nghệ thuật là sự sử dụng liên tụcchức năng thẩm mỹ của ngôn từ, do chỗ nó có nhiệm vụ thể hiện ý đồ tác giả,trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói chức năng này lại biểu lộ thấtthường

Ở ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ được sử dụng không chỉ với tưcách là phương tiện để miêu tả cái thực tại ngoài ngôn ngữ, mà còn với tưcách là đối tượng của sự miêu tả Ví dụ như ở kịch, lời nói của các nhân vật

có chức năng khắc hoạ tính cách Ở các thể loại khác thì nét tiêu biểu là sựcải biến tích cực, chủ động các phương tiện ngôn ngữ Điều này bộc lộ ởnhững cách tổ chức các yếu tố ngôn từ vốn có hoặc mới tạo ra, lựa chọn,kết hợp và vận dụng chúng Nó thể hiện được khả năng gia tăng hàm nghĩavốn có ở cấu trúc năng động, ở văn bản nghệ thuật tuỳ thuộc vào tính biểucảm tiềm tàng trong hệ thống ngôn ngữ

Về đặc trưng: “Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật là chiếm lĩnh

Thế giới về mặt tinh thần” [22; tr1091] Ngay từ những bước đầu tiên,

ngôn ngữ nghệ thuật đã hướng vào những hiện tượng phức tạp nhất của đờisống và xã hội, vì thế nó sẽ không thể thực hiện được nếu không vượt khỏigiới hạn của ngôn ngữ văn học chuẩn mực hoá, nếu không thoả mãn nhữngyêu cầu của nghệ thuật ngôn từ Nó cần một hệ thống phương tiện rộng rãihơn, tự do hơn, năng động hơn Hệ thống đó chính là ngôn ngữ nghệ thuật

Từ sáng tác thần thoại tập thể nguyên thuỷ đến các dạng tác phẩm văn học

Trang 16

mang tính đa dạng của sáng tạo cá nhân Ở thời hiện đại, ngôn ngữ nghệthuật được phát triển trong sự tương tác giữa truyền thống và cách tân Trảiqua trường kỳ lịch sử, ngôn ngữ nghệ thuật vẫn bảo lưu nhiều dạng cáchđiệu hoá (lời nói hình ảnh, các dạng chuyển nghĩa ) và chỉ giải thoát dầndần khỏi những khuôn s¸o từ chương nhất định Nếu đặc trưg của sáng tác

lời dân gian là ở “Thi pháp đồng nhất”, ở việc sùng bái những ngôn từ

mang tính rập khuôn, thì sự tiến triển của văn học viết lại gắn với vai tròsáng tạo của những cá nhân có khả năng đem cái mới vào chức năng và cấutrúc của những phương tiện đã thành truyền thống của ngôn từ nghệ thuật

Về bản chất: Ngôn ngữ nghệ thuật và những phương pháp phân tích

nó, hiện vẫn còn những bất đồng nhất định trong giới nghiên cứu văn học

và ngôn ngữ Đó là những đánh giá khác nhau trong cách phân lập “Ngôn

ngữ / ngôn từ” Mặt khác những bất đồng còn liên quan đến những quan

điểm trái ngược về tương quan giữa hai mặt “Kỹ thuật” và “Tư tưởng”

trong tác phẩm nghệ thuật, liên quan đến việc xem trọng hay coi nhẹ

“những quy luật nội tại ” của sự phát triển ngôn ngữ trong văn học, đến khuynh hướng phân tích “Nội quan” ngôn từ nghệ thuật, khó khăn của lối

phân tích hệ thống chỉnh thể nhằm khắc phục những tiếp cận minh ho¹ đốivới đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật

Để hiểu rõ hơn về ngôn ngữ nghệ thuật, chúng ta cũng có thể đốisánh với ngôn ngữ tự nhiên Mặc dù ngôn ngữ nghệ thuật lấy ngôn ngữ tựnhiên làm ®iÓm tựa cho sự xuất phát, là cơ sở ra đời và phát triển của ngônngữ nghệ thuật Nhưng ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ tự nhiên lại có sựkhác nhau: Khác nhau về hệ thống tín hiệu (ngôn ngữ nghệ thuật được xem

là hệ thống tín hiệu thứ hai); khác nhau về chức năng xã hội; khác nhau vềbình diện ngữ nghĩa, về tính hệ thống và vai trß trong dân tộc Khi đặttrong sự đối sánh đó ta càng thấy rõ được đặc trưng của ngôn ngữ nghệ

Trang 17

thuật, là cơ sở để đi vào tìm hiểu ngôn ngữ của một tác phẩm văn học nóiriêng và những sáng tạo nghệ thuật ngôn từ nói chung.

1.2 Tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết

Khác nhau về tên gọi: Ở Châu Âu thuật ngữ tiểu thuyết được gọi là

“Rô Man” , là tên gọi chung cho những tác phẩm chứa hai yêú tố chính: phiêu lưu và ái tình Ở Anh tiểu thuyết được gọi là: “Nơrel”.

Khi bàn về khái niệm tiểu thuyết thì mỗi khu vực địa lý, mỗi quốcgia, mỗi cá nhân lại đưa ra những quan niệm khác nhau:

Ở châu Âu: Hêgen cho rằng “Tiểu thuyết là sử thi tư sản hiện

đại”.Với quan niệm này cho thấy Hêgen nhìn tiểu thuyết từ góc độ kinh tế

hàng hoá, ông nhấn mạnh quy mô và điều kiện của tiểu thuyết

BêlinXki gọi tiểu thuyết là “Sử thi của đời tư”, do chỗ nó “miêu tả

những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người” Ông cho rằng “Tiểu thuyết là sự tái hiện thực tại với sự thật trần trụi của nó”.

M.Bakhin là người quan tâm đặc biệt đến thể loại tiểu thuyết, ông

cho rằng: “Tiểu thuyết là một thể loại gắn với thời kì hiện đại trong lịch sử,

là sự thể hiện cuộc sống dưới gãc độ đời tư, về ngôn ngữ nó mang bản chất là tÝnh đa thanh…”.

Trang 18

Người Trung Quốc thì chia tiểu thuyết thành 3 loại: Đoản thiên tiểuthuyết (truyện ngắn); Trung thiên tiểu thuyết (truyện vừa); Trường thiêntiểu thuyết (truyện dài).

Ở Việt Nam, bàn về khái niệm tiểu thuyết cũng là một vấn đề bấtcập Người đầu tiên ỏ Việt Nam đưa ra khái niệm tiểu thuyết là Phạm

Quỳnh vào năm 1921: “Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi

đặt ra để tả tình tự người khác ta, phong tục xã hội hay là những sự tích

lạ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”.

Trong cuốn “Theo dòng” (1941), Thạch Lam cho rằng: “Nhà văn

không nên viết tiểu thuyết luận đề, mà tiểu thuyết phải là những bức tranh sinh động Tiểu thuyết không nên xây dựng những nhân vật tốt hoặc xấu, bởi người ta là người với tất cả sự cao quý và hèn hạ của nó”.

Nhóm tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong

cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự

sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có khả năng phản ánh số phận nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”.

vv…

Như vậy khi bàn về khái niệm tiểu thuyết, mỗi tác giả ở mỗi khu vựckhác nhau, thời gian khác nhau…thì đưa ra những quan niệm không giốngnhau Không những vậy thời điểm ra đời của tiểu thuyết ở mỗiquốc gia làkhác nhau Nhưng điểm chung của hầu hết các tác giả khi bàn về tiểuthuyết đều xem tiểu thuyết là những truyện tương đối dài, và nội dung

thường là do trí tưởng tượng của con người “Tiểu thuyết là truyện bịa như

thật, nhà tiểu thuyết là người biết bịa chuyện” (Nguyễn Công Hoan).

Về nguồn gốc và quá trình hình thành

- Nguồn gốc

Trang 19

Theo quan niệm của Bakhtin thỡ một thể loại văn học nào đú ra đời

nú phải hội tụ được nhiều điều kiện Hiện nay giới nghiờn cứu cho rằng:Tiểu thuyết chỉ cú thể ra đời dưới bốn điều kiện sau:

Thứ nhất là nguồn gốc xó hội: Quan niệm phổ biến cho rằng tiểu

thuyết là một thể loại “sinh sau đẻ muộn” và phải ra đời gắn liền một thời

kỡ lịch sử khỏ cao của xó hội loài người Người ta cho rằng đõy là thời kỡhoàn thành và phỏt triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Hờgen

gọi tiểu thuyết là “Sử thi lịch sử hiện đại”; Banzăc gọi tiểu thuyết là “Tõn

kịch tư sản” Sở dĩ như vậy là vỡ xó hội tư sỏn là xó hội của nền kinh tế thị

trường và tự do cỏ nhõn í thức tự do cỏ nhõn chớnh là điều kiện để tiểuthuyết ra đời và phỏt triển

Thứ hai là điều kiện văn hoỏ: Bản chất của tiểu thuyết là dõn chủ,

vỡ thế tiểu thuyết chỉ cú thể ra đời trong hoàn cảnh mà ở đú cú sự phỏt huydõn chủ Cũng do những đặc điểm đú mà ở thời phong kiến, tiểu thuyết đóhỡnh thành nhưng khụng phỏt triển Bakhtin cho rằng: Tiểu thuyết ra đời ở

thời kỡ này bởi vỡ “Tiểu thuyết gắn liền với tớnh chất dõn chủ của cỏc lễ hội

dõn gian, đặc biệt là lễ hội Navan”.

Thứ ba là điều kiện nghệ thuật: “Tiểu thuyết là thể loại sinh sau đẻ

muộn, do đú nú gắn liền với những thể loại cú từ trước đú” (Bakhtin) Hay

núi cỏch khỏc bao giờ một thể loại cũng cú nguồn gốc của nú Vậy thỡ cỏi

gỡ đó đẻ ra tiểu thuyết? Theo Bakhtin: “ Tiểu thuyết ra đời trờn cơ sở dịch

thuật tự do cỏc điều kiện trước đú”.

Lỗ Tấn thỡ cho rằng: “Tiểu thuyết Trung Quốc ra đời trờn sự tan ró

của thần thoại và sự lưu truyền của cỏc thoại bản”.

Ở Việt Nam, nhà nghiờn cứu văn học Văn Ngọc thỡ cho rằng “Tiểu

thuyết Việt Nam ra đời trờn sự phỏt triển của phúng sự” Một nhà nghiờn

cứu khỏc lại cho rằng: “Tiểu thuyết Việt Nam ra đời trờn nền học tập của

tiểu thuyết Phương Tõy và cải biến truyện nụm”.

Trang 20

Thứ tư là điều kiện phân tâm (quan niệm về văn hoc và tiểu thuyết

của trường phái phân tâm học hay Fơrơt): Những người theo Fơrớt cho

rằng: “Văn học nghệ thuật nói chung là kết quả của sự thăng hoa của

những ám ảnh vô thức của con người” Như vậy bản chất của sáng tác

nghệ thuật là cơ chế của quá trình sáng tác là chạy trốn thực tại, chuyểndịch những ham muốn vô thức thành các hình tượng nghệ thuật Fơrơt đặcbiệt đề cao bản năng tình dục, xem nó là nguyên nhân của mọi nguyênnhân và khoái cảm của thẩm mĩ, chẳng qua là sự giải thoát con người khỏicác căng thẳng tâm hồn, nghệ sĩ là con bệnh thần kinh đang chống lại điênloạn của mình bằng cách xây dựng các tác phẩm nghệ thuật

- Quá trình hình thành của tiểu thuyết

Ở Châu Âu: theo các nhà nghiên cứu thì tiểu thuyết ớ châu Âu bắt

đầu xuất hiện vào thời kì xã hội cổ đại tan rã Theo Bêlinxky: “Khi xã hội

cổ đại tan rã thì ý thức cá nhân bắt đầu xuÊt hiện, lợi ích cá nhân của họ không gắn chặt với lợi ích cộng đồng, đây là nền tảng cho sự vận động của tiểu thuyết ở chặng này Tuy nhiên ở chặng này, tiểu thuyết thường ngắn,

có cốt truyện đơn giản, nhiều yếu tố li kì”.

Ở Trung Quốc: Trung Quốc được xem là một trong những cái nôi

ra đời của tiểu thuyết nhân loại Khái niệm tiểu thuyết xuất hiện ở TrungQuốc vào khoảng thế kỷ III trước Công nguyên Sau này Lỗ Tấn có côngtrình nghiên cứu về tiểu thuyết Trung Hoa: Theo Lỗ Tấn, tiểu thuyết TrungHoa có nguồn gốc từ sự tan rã của thần thoại, và ông chia quá trình ra đời

và vận động của tiểu thuyết thành bốn thời kì sau:

Thời kì thứ nhất từ khoảng thế kỷ III đến thế kỷ VII, là tiểu thuyếtngắn và chứa đầy đủ yếu tố hoang đường (Quái, kì, dị) Tuy nhiên về mức

độ của yếu tố hoang đường lại khác nhau

Thời kì thứ hai là thời kì xuất hiện các truyền kì đời Đường Ở giaiđoạn này, các yếu tố hoang đường đã kết hợp được cái hiện thực, nó tạo ra

Trang 21

những tác phẩm có giá trị, đề cao nhu cầu cá nhân, phê phán thói tục vàkhẳng định đạo đức phẩm hạnh, đề cao tình yêu.

Thời kì thứ ba là thời kì xuất hiện các thoại bản Tống, khoảng từ thế

kỉ XII đến XIII ở Trung Quốc (Thoại tức là kể, thoại bản tức là những câuchuyện kể bằng miệng)

Thời kì thứ tư là thời kì từ thế kỉ XIV với sự xuất hiện tiểu thuyếtchương hồi Minh Thanh, đây được xem là thời kì phát triển rực rỡ nhất củatiểu thuyết Trung Hoa trong thời phong kiến ( khoảng 300 tác phẩm lớn,một vạn tác phẩm vừa và nhỏ)

Tiểu thuyết Trung Hoa hiện đại thì xuất hiện muộn và đến năm 1920mới có thành tựu Từ đó đến nay tiểu thuyết hiện đại Trung Hoa trải quanhiều thời kỳ thăng trầm nhưng hiện nay đang phát triển rực rỡ

Ở Việt Nam: Trong khi tiểu thuyết Trung Hoa ra đời th× ở Việt Nam

chúng ta vẫn chưa có chữ viết (chữ nôm xuất hiện muộn) Vì vậy các tácphẩm văn xuôi xuất hiện rất muộn Khoảng thế kỷ thứ X mới xuất hiện tácphẩm đầu tiên, sang thế kỷ XI mới xuất hiện các tác phẩm ghi chép lạinhững câu chuyện thần linh hoặc ghi lại những truyền thuyết dân gian

(Linh Nam chí quái) Đến khoảng thế kỷ XV thì văn xuôi chữ Hán có

bước phát triển mới, xuất hiện các tác phẩm như: “Thánh Tông di khảo” (Lê Thánh Tông); “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ).

Vào khoảng thế kỷ XVIII – XIX thì xuất hiện một số tác phẩm códáng giấc của tiểu thuyết: Có cốt truyện; Có nhân vật; Có ngôn ngữ trầnthuật; Có ngôn ngữ đối thoại của nhân vật (Ngôn ngữ quan trọng trong tiểu

thuyết) Riêng trong “Truyện Kiều” còn xuất hiện ngôn ngữ nội tâm Đến

cuối thế kỷ XIX xuất hiện một số tác phẩm có dáng giấc của tiểu thuyết

chương hồi, tác phẩm thành công nhất là “Hoàng Lê Nhất thống chí ” có

cấu trúc chương hồi, nhân vật khá rõ nét, tạo được bèi cảnh xã hội

Trang 22

Như vậy, phải đến những năm đầu thế kỷ XX tiểu thuyết Việt Namhiện đại mới xuất hiện Từ khi xuất hiện đến nay nó trải qua nhiều chặng,nhiều thăng trầm và hiện nay đang phát triển mạnh mẽ.

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết

Tiểu thuyết tuy là thể loại ra đời muôn trong lịch sử, nhưng “Tiểu

thuyết là loại văn chương rất biến chuyển” (M.Bakhtin) Vì vậy đi vào

nghiên cứu thể loại này, các nhà nghiên cứu không chỉ gặp bất cập khi bàn

về khái niệm tiểu thuyết, mà việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ tiểuthuyết nói riêng, đặc trưng thể loại tiểu thuyết nói chung còn có những khókhăn nhất định Dựa vào đặc điểm của thể loại tiểu thuyết, (cũng như nghệthuật ngôn từ), cùng với những thành tựu của các nhà nghiên cứu về vấn đềngôn ngữ của tiểu thuyết Xét trên tổng thể ngôn ngữ tiểu thuyết cũng làngôn ngữ nghệ thuật, vì vậy ngôn ngữ tiểu thuyết cũng mang những đặcđiểm của ngôn ngữ nghệ thuật, hay nói cách khác ngôn ngữ tiểu thuyếtcũng có những đặc điểm khác với ngôn ngữ phi nghệ thuật ( Ngôn ngữ tựnhiên)

Xét về hệ thống tín hiệu: Ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc hệ thống tín

hiệu thứ hai, còn ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ nhất, là

cơ sở để cấu thành ngôn ngữ tiểu thuyết (hệ thống tín hiệu thứ hai)

Về mặt chức năng xã hội: Nếu như ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm

nhận chức năng giao tiếp, nó đẩy chức năng thẩm mĩ ra phía sau, thì ngượclại ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật nói chung lại coitrọng chức năng thẩm mĩ Mặt khác so với ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữtiểu thuyết cũng có tính hệ thống nhưng có sự khác nhau về chất

Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ nghệ thuật nên nó phải có tínhtruyền cảm Tính truyền cảm của nó làm cho người đọc, người nghe cócảm giác tâm trạng buồn, vui, yêu, thích,…như chính người viết (kể) Đâychính là điều làm nên điểm mạnh của ngôn ngữ tiểu thuyết, bởi nó tạo sự

Trang 23

hoà đồng giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc ở người tiếp nhận Tuy nhiênmức độ tạo ra sự đồng cảm, giao cảm, gợi cảm xúc ở người đọc còn tuỳthuộc vào tài năng của người sáng tạo, và không thể nổi trội bằng thể loạitrữ tình (thơ).

Mang đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết cũng

mang tính “Cá thể hoá” Đó là dấu ấn sáng tạo của mỗi tác giả là cái thuộc

về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc đối với ngôn ngữ tiểuthuyết nói riêng và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung Trên cơ sở là phươngtiện diễn đạt chung của cộng đồng, ở mỗi nhà văn lại thể hiện một giọngđiệu riêng, một phong cách riêng, đặc biệt là ở những nhà văn lớn, vănphong của họ càng độc đáo, đa dạng

Cũng vì ngôn ngữ tiểu thuyết là một thể loại của ngôn ngữ nghệ thuật

nên ngôn ngữ tiÓu thuyÕt còn mang tính “Cụ thể hoá” có thể nói đây là

thuộc tính duy nhất của ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng và của ngôn ngữnghệ thuật nói chung Sự cụ thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng, là

di sản, tính bình diện của khái niệm ngôn ngữ Song bình diện hình tượng,đặc điểm này giải thích sự tác động của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung,ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng đối với người đọc Tất nhiên để có sự cụ thểhoá ngôn từ nghệ thuật, nhà viết tiểu thuyết nói riêng, chủ thể sáng tạo ngôn

từ nói chung phải có sự lựa chọn tinh luyện, tổ chức các phương tiện ấy.Cũng như các thuộc tính khác ở mỗi nhà văn cũng đem lại những hiệu quảkhác nhau về tính cụ thể hoá với những phong trào khác nhau

Tính hệ thống của một yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật được xác định bởi

vị trí, vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của tác phẩm và phongcách cá nhân của tác giả Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệthống gắn với sự khu biệt xã hội đối với ngôn ngữ

Xét về bình diện nghĩa: Nếu như ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có

một bình diện nghĩa, thì ngôn ngữ tiểu thuyết cũng như ngôn ngữ nghệ

Trang 24

thuật có hai bình diện nghĩa (một bình diện hướng vào ngôn ngữ văn họcvới ý nghĩa của các từ, của các bình diện ngữ pháp; và mặt khác hướng vào

hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật) Phạm vi sử dụngphương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ tiểu thuyết ngôn ngữ tự nhiên (ngônngữ phi nghệ thuật) Đặc biệt ngôn ngữ tiểu thuyết - nghệ thuật là chuẩnmực hoàn thiện, là quá trình sáng tạo lao động của nhà văn ưu tú

Tiểu thuyết là một loại hình nghệ thuật vì thế ngôn ngữ tiểu thuyếtcũng mang đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật Tính hình tượng biểuhiện ở khả năng truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thông tinđược tri giác một cách cảm tÝnh Tính hình tượng không chỉ trong từ mà

còn ở trong các cấp độ lớn hơn “Hình tượng là một tín hiệu phức tạp,

trong đó xuất hiện với tư cách là bình diện nội dung, có sự biểu đạt mới không bị rút gọn lại ở cái biểu đạt trước đó” [5; tr 147].

Tính cấu trúc là một thuộc tính tất yếu của ngôn ngữ nghệ thuật vàngôn ngữ tiểu thuyết, bởi tự bản thân văn bản đã là một cấu trúc.Tính cấutrúc của ngôn ngữ là tính chất mà các yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩmphải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, hỗ trợ, bổsung cho nhau để đạt hiệu quả nhất định cho sự biểu đạt chung Điều nàygiải thích nguyên nhân không thể thay thế, hay lược bỏ cũng như thêm vàomột từ hay một chữ trong văn bản, cũng là cơ sở để đánh giá của một chủthể sáng tạo ngôn từ

Ngôn ngữ tiểu thuyết là một bộ phận của nghệ thuật ngôn từ cho nênbên cạnh những đặc điểm khác biệt so với ngôn ngữ nghệ thuật ở các đặcđiểm: Hệ thống tín hiệu; chức năng; tính hệ thống; bình diện nghĩa; vai tròtrong ngôn ngữ dân tộc…Thì ngôn ngữ tiểu thuyết luôn có đầy đủ mọi đặcđiểm của ngôn ngữ nghệ thuật, đó là tính hình tượng, tính cấu trúc, tínhtruyền cảm, tính cá thể hoá…Tuy nhiên ngôn ngữ tiểu thuyết có tính đặc thù

Trang 25

Ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc ngôn ngữ tự sự, xét trong khu biệt vớingôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch… Do vậy ngôn ngữ tiểu thuyết mộtmặt mang những đặc điểm của ngôn ngữ thuộc thể loại tự sự nhưng nó có

sự khác biệt so với thể loại trữ tình và kịch

Ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình là ngôn ngữ thấm đẫm cảm xúc, làsản phẩm của sự thăng hoa cảm xúc của chủ thể sáng tạo, đó là ngôn ngữđánh dấu sự tồn tại của chủ thể trữ tình Nhưng tác phẩm trữ tình, đặc biệt

là ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, biểu hiện ở vần, nhịp và sự cân đối, ngôn

ngữ thường đưa người đọc vào những tâm lí “bí ẩn”, thâm thuý, kỳ ảo,

giàu chất thơ, chất tâm linh của đời sống dân giã

Nếu như ngôn ngữ của tác phẩm kịch phải có tính hành động, tínhkhẩu ngữ, phù hợp với tính cách nhân vật thì ngôn ngữ trong tác phẩm tự

sự lại là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh Do vậy ngôn ngữ người trần thuậtthường trầm tĩnh, nhịp điệu; ngôn ngữ tự sự thường khoan thai hơn chứkhông như nhịp điệu ngôn ngữ hành động kịch là luôn luôn vận động vớinhững mục đích đã định Ngôn ngữ nhân vật có thể trực tiếp hoặc gián tiếpqua lời người trần thuật, hoặc có thể chªm, tách, đan xen trong ngôn ngữngười trần thuật Sự khác biệt ngôn ngữ này là do đặc trưng phản ánh cuộcsống của mỗi thể loại quy định

Như vậy, khi xét ngôn ngữ tiểu thuyết thuộc tác phẩm tự sự ta thấyđược những đặc trưng khu biệt so với tác phẩm trữ tình, kịch Tuy nhiênkhi so sánh, tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết so với những thể loạitrong cùng hệ thống các tác phẩm tự sự ta thấy:Ở truyện ngắn, người trầnthuật thường là sự chấm phá Còn ở tiểu thuyết cũng là giọng điệu tự sự,trầm tĩnh, khoan thai nhưng phức tạp hơn, ngôn ngữ mang tính đa thanhđậm hơn, sâu sắc và linh hoạt hơn, ngôn ngữ thường hướng vào suy tư củatác giả, của nhân vật, về đời người, về sự phân tích cặn kẽ các diễn biếntình cảm Ngôn ngữ tiểu thuyết sử dụng mọi loại lời nói của ngôn ngữ đời

Trang 26

sống, phá vỡ khoảng cách lời trong văn học và ngoài văn học, tạo nên ngônngữ đối thoại giữa các giọng khác nhau, là loại ngôn ngữ chủ đạo của tuểuthuyết (ngôn ngữ đối thoại).

Tuy nhiên, khi chỉ ra những đặc trưng khu biệt này cũng chỉ có tínhchất tương đối mà thôi, bởi lÏ mỗi thể loại xét về ®ặc điểm ngôn ngữ khôngthể có sự phân biệt rạch ròi, nó vừa có nhược điểm, vừa có ưu điểm của thểloại ra đời trước và tồn tại cùng nó Mặt khác giữa các thể loại luôn có sự

kế thừa giao thoa với nhau, nó tạo nên nét cơ bản của nghệ thuật ngôn từ.Tuy vậy ở khoá luận này, chúng tôi bám vào tính đặc thù của ngôn ngữ tiểuthuyết để triển khai đề tài

1.3 Phạm Thị Hoài – tác giả, tác phẩm Thiªn Sø

1.3.2 Vài nét về tác phẩm Thiên Sứ

Năm 1988, cuốn tiểu thuyết đầu tay của phạm Thị Hoài được xuất

bản tại Hà Nội với tựa đề “Thiên Sứ” Không lâu sau Thiên Sứ được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và Phần Lan Năm 1993

bản dịch Thiên Sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “tiểu thuyết nước ngoài

hay nhất” của tổ chức Frankfurter Liberaturpreis trao tặng hàng năm cho

tiểu thuyết nước ngoài xuất bản tại Đức Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt

Trang 27

giải Diny O’hearn cho thể loại văn dịch vào năm 2000 Trong lời bản dịch

Thiên Sứ của Tôn Thất Quỳnh Du, ông nhận xét về Pham Thị Hoài và Thiên Sứ như sau:

“Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến độc giả và những

nhà phê bình ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai Những viên chức văn hoá của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam hiên tại, bà

đã vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều cấm

kị của Việt Nam (…) Mặc dù bị công kích trên diễn đàn công khai, Phạm Thị Hoài chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểm về chính trị Thay vào

đó, những kẻ phỉ báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan, quá đáng về Việt

Nam, bà đã sỉ nhục “Sứ mệnh thiêng liêng của một nhà văn”, thậm chí bà còn viết “dung tục” nữa Nhưng ngay cả những nhà phê bình mạnh cũng

thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u ám trong việc mô xẻ chi tiết, chua cay và hài hước song lại có thính giác tốt về nhịp điệu tiếng Việt”

Đến nay thì tiểu thuyết Thiên Sứ đã thể hiện được sự mới mẻ, đầy

tính sáng tạo cuốn hút được đông đảo bạn đọc Tác phẩm đã được tái bản,

có sửa chữa của nhà văn, do NXB hội nhà văn xuất bản năm 1995 với sốlượng 1500 cuốn

Ngoài tiểu thuyết Thiên Sứ, Phạm Thị Hoài còn cho xuất bản những tiểu luận, hai tập truyện ngắn: Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995) Còn một số tác phẩm khác như: Marie Sến (1996), Chuyện lão tượng phật

DiLặc và nàng Nâm Mây (Truyện nhi đồng 1999) Bà là một dịch giả nổi

tiếng về văn chương Đức Bà đã dịch những tác phẩm của Franz Kafka,

Bertolt Berecht, Thomas Bernhard và Friedrich Durrenmatt sang tiếng

Việt Bà còn là người biên soạn quyển Trần Dần – Ghi: 1954 – 1960 (Paris, TD mémeire, 2001), một tuyển tập các bài báo của Trần Dần.

Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trên những tạp chí văn

chương ở Hoa Kì, Úc, Thuỵ Sĩ và Đức Ngoài ra còn xuất hiện trong một

Trang 28

số tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại gồm có: Night, Again và Việt

Nam, Atrave lers Literary companion Riêng quyển Sunday menu thì do

Pandarus Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được Unirersity of HawaiPress xuất bản tai Hoa Kì năm 2007

Như vậy với tiểu thuyết Thiên Sứ , Phạm thị Hoài đã bước vào văn

đàn Việt Nam như một “sự lạ”, đó cũng là mầm mống cho sự nghiệp đổi

mới Văn học Việt Nam sau 1975 Với Thiên Sứ, bạn đọc Việt Nam bắt

đầu hình thành một hướng tiếp cận văn chương mới

TiÓu kÕt ch¬ng 1:`

Như vậy, khi bàn về khái niệm tiểu thuyết đã có rất nhiều quan điểm

khác nhau, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng dù quan niệm “Tiểu

thuyết” thế nào đi chăng nữa thì ngôn ngữ tiểu thuyết cũng là một loại hình

quan trọng trong ngôn ngữ nghệ thuật Đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ

ta dễ dàng nhận thấy được cái hình thức cũng như nội dung tác phẩm, từ đónhận thấy được phong cách của một nhà văn Có thể khẳng định Phạm ThịHoài là cây bút đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học nước nhà sau 1975

Với tiểu thuyết Thiên Sứ, tác giả đã đưa đến cho bạn đọc Việt Nam một

cái nhìn mới, một cách tiếp cận văn học mới.Tiểu thuyết Thiên Sứ như mộttrò chơi về ngôn ngữ, nó dẫn người đọc vào những trò chơi ú tim bởi cái đa

dạng, phong phú về ngôn từ trong Thiên Sứ, chính ngôn ngữ đó đã thúc đẩy các nhà văn, ngôn ngữ trong Thiên Sứ đã dẫn dắt người đọc Việt Nam

hoà nhập vào nền văn chương nhân loại

Trang 29

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT THIấN SỨ

2.1 Khỏi niệm về từ

Chỳng ta đó biết “Từ” là một đơn vị hết sức quan trọng, giống như

viờn gạch để xõy dựng nờn toà lõu đài ngụn ngữ Vỡ vậy, từ là đối tượngnghiờn cứu, khảo sỏt của cả bốn ngành: Ngữ õm (mặt õm thanh của từ), Từvựng (mặt ý nghĩa của từ), Ngữ phỏp (mặt kết hợp của từ) và phong cỏch(nghệ thuật sử dụng từ) Tuy nhiờn khi bàn về khỏi niệm từ lại cú nhữngquan niệm khỏc nhau:

Nguyễn Thiện Giỏp định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể

nhỏ nhất, cú ý nghĩa dùng để cấu tạo cõu núi, nú cú hỡnh thức của một õm tiết, một “chữ” viết rời” [24; tr72].

Theo Đỗ Hữu Chõu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số õm tiết

cố định, bất biến, cú một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc một kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuõn theo những kiểu đặc điểm ngữ phỏp nhất định, lớn nhất trong tiếng và nhỏ nhất để cấu tạo cõu”

[6;tr139]

vv…

Tuy cỏc nhà nghiờn cứu cú những khỏi niệm khỏc nhau về từ Nhưnghầu hết cỏc nhà Việt ngữ khi định nghĩa về từ đều thống nhất ở một sốđiểm chớnh: Âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và cú khả năng hoạt động tự do Ở

khoỏ luận này, chỳng tụi theo hướng định nghĩa về “từ” của giỏo sư Đỗ Thị

Kim Liờn

Theo giỏo sư Đỗ Thị Kim Kiờn: “Từ là một đơn vị của ngụn ngữ,

gồm một hoặc một số õm tiết cú nghĩa nhỏ nhất, cú cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nờn cõu ” [ 6; tr 18].

Như vậy, khi núi đến từ là nói đến cỏc đặc điểm sau:

Trang 30

1 Từ là đơn vị ngụn ngữ gồm một hoặc một số õm tiết.

2 Từ là đơn vị cú nghĩa nhỏ nhất

3 Từ cú cấu tạo hoàn chỉnh

4 Cú khả năng vận dụng tự do để tạo cõu

2.2 Cỏc lớp từ tiờu biểu trong tiểu thuyết Thiờn Sứ

2.2.1 Từ gốc Âu

Từ gốc âu là những từ ngời việt vay mơn của tiếng châu âu để sửdụng làm công cụ giao tiếp của mình Trước Phạm Thị Hoài, trong văn họcViệt Nam chưa nhà văn nào đưa nhiều ngoại ngữ ( Anh, Đức, Phỏp,…),thuộc nhiều lĩnh vực khỏc nhau ( từ lĩnh vực văn học đến điện ảnh, từ õmnhạc đến kịch, từ triết học đến ngụn ngữ đường phố…) vào trang viết củamỡnh mà khụng them cú một lời chỳ thớch nh Phạm Thị Hoài

Khảo sỏt 174 trang của tiểu thuyết Thiờn Sứ, chỳng tụi thu được 178

lượt từ nước ngoài xuất hiện Đõy cú thể núi là một số lượng lớn so với

những tỏc phẩm khỏc từ trước tới nay, nhưng tất cả khụng “thốm” một lời

chỳ thớch

Tiếng nước ngoài trong tiểu thuyết Thiờn Sứ được dựng trờn nhiều

lĩnh vực khỏc nhau, những lối biểu đạt khỏc nhau

2.2.1.1 Cỏc biểu hiện của từ gốc Âu trong Thiên Sứ

a Ngoại ngữ đan xen Việt ngữ một cỏch ngẫu hứng, tuỳ tiện, dày

đặc ở “ những đoạn thơ siờu thực”: Ultraviolet ( tia cực tớm), Sourdine

(giảm thanh cho nhạc cụ), Mohican ( người thiểu số Nam Mỹ), Continuum( miền liờn tục), Apocalyptie ( khải huyền), Inperlude ( quóng ngừng giữahai chương nhạc), Echnicolour ( kĩ thuật màu hiện đại của Mĩ)

b Cỏc thuật ngữ õm nhạc: Bass, Tenor, Interlude ( quóng ngừng

giữa hai chương nhạc), Overture ( khỳc dạo đầu), nhiều bài hỏt (open yourheart, Iam roming home – Hóy mở cửa long, anh trở về đõy, bài Hey, Youcủa bản nhạc trẻ Pink Floyd; The and of some thing của nhúm Beatles)

Trang 31

c Những lời bình luận: The and of some thing (kết cục của một cái

gì đó), he Show must go on (cuộc trình diễn phải tiếp tục thôi), gire peace achance (giành cho hoà bình một cơ hội), màn kịch broadway (gây cấn, giật

gân), cuộc ®ời không cần biết đến Pardon (sự tha thứ), “Jane Eyre,

melodrama lâm ly hậu hĩnh” (khúc độc thoại sướt mướt hoặc “cải lương”),

“Nam tước Phôn Gôn Rinh, nélodrame không hậu hĩnh cho lắm”,

“Pautorsky – b«ng hồng vàng, melodrama ngọt ngào Cố tỏ vẻ anti – melodrama (phản cải lương) thông tục”, comme il faut chững chạc, đúng đắn, đàng hoàng”.

d Những tấn trò mang phong cách Carnaval: Từ những biệt hiệu

đi kèm tên riêng như Hoàng V.H junior ( Victor Huygo Con), HoàiAutodidakt, người không mặt incognito ( hành vi bất ngờ), Quang lùn –thiên thể mini (bé xíu) v.v…

Đến việc kết hợp ngoại ngữ trong các tổ hợp từ để nhấn mạnh cảmgiác, nhấn mạnh tính chất homour (hí hước) của con người, sự việc: Nhữngtrận cười franco phone ( nói tiếng Pháp), candidat (ứng viên) của tử thần;Những gương mặt dùng phép – mannequins (giá áo hình người ở nhà hàngthợ may sau thành tên gọi người mẫu), sắp nặn, bầy harem ( cung tần mỹnữ) giống đực; Chàng bác sĩ với sính lễ là một anatomic parfaite ( cuộc mổ

xẻ hoàn chỉnh của lương tâm con người); Cuộc đời phải được tô điểm bằngbao nhiêu ertiquette ( nhãn mác, danh hiệu) v.v…

2.2.1.2 Tác dụng của từ gốc Âu trong Thiên Sứ

Trong tiểu thuyết Thiên Sứ, Phạm Thị Hoài đã sử dụng tõ gốc Âu

(Anh, Pháp, Đức) một cách dày đặc, nhưng không “thèm” một lời chú

thích Đó không phải là một ngẫu nhiên mà là một dụng ý của tác giả

Vấn đề tăng cường thông tin không chỉ dừng ở việc nhà văn cungcấp thêm vốn ngoại ngữ cho độc giả, mà quan trọng hơn thông tin đượctruyền tải với những sắc thái đa dạng, đa nghĩa hoá cái được biểu đạt Với

Trang 32

việc đưa ngôn ngữ gốc Âu vào trong các câu văn, nhà văn đã tiết kiệm

được không ít những lí lẽ dài dòng, đã ẩn đi sắc thái “ Phạm Thượng”

mang đến bất ngờ riêng cho bạn đọc biết tìm tòi Chẳng hạn ngữ điệu của

một Hán từ “Voilà” có giá trị thì những ai viết tiếng Pháp mới rõ.

Cách làm mới ngôn ngữ theo kiểu pha trộn này của nhà văn khiếncho không ít bạn đọc phải bực mình Mỗi lần gặp từ nước ngoài sẽ có nhiềungười bỏ qua không cần biết nghĩa, nhưng cũng có người bứt rứt không thểtìm câu trả lời, do đó sẽ mày mò tìm hiểu và nhiều khi ngẩn ra trước những

ý nghĩa thú vị mới tìm thấy trong ngôn ngữ nước ngoài Êy Ngôn ngữ pha

trộn trong Thiên Sứ hỗ lốn, “Hầm bà lằng”, giống như món Tả pí lù của

người Hoa, nhưng nấu được một nồi Tả pí lù là một nghệ thuật không phải

ai cũng học được §ọc hiểu được ngôn ngữ thuần Việt trong ngôn từ nghệthuật đã khó, nay ®ọc được, hiểu được ngôn ngữ đặc biệt là từ gốc Âu

trong tiểu thuyết Thiên Sứ lại là vấn đề không đơn giản, không chỉ là sự

cảm thụ nghệ thuật đơn thuần

Cách dùng từ kiểu này đòi hỏi sự lao động của độc giả, bắt họ phải từ

bỏ thói quen ăn sẵn lâu nay Nhà văn từ chối giải thích, nh từ chối vào bếpdọn thức ăn cho người đọc, mà bắt họ tự mình sắp xếp bàn ăn, tự mình tìmcách ăn một món lạ

Có người khi bàn về từ gốc Âu trong Thiên Sứ họ cho rằng: Sở dĩ

tác giả dùng ngôn ngữ nước ngoài nhiều như vậy là do tác giả bí từ, thiếu

từ Ở đây có hay không lý do thiếu từ, bí từ hay bất lực trước ngôn ngữViệt? Hay đây là tâm lý sùng ngoại của thời buổi chuyển giao những giá trị

cũ - mới, Tây – Tàu lẫn lộn đã được hình thức hoá vào trong văn học? Dù

có là nguyên nhân nào, nếu đọc kỹ các tác phẩm khác, người đọc cũng nhưcác nhà văn trẻ khác, sẽ không thể không công nhận cách lao động với chữ

nghĩa như một “pho chữ ” đÝch thực của Phạm Thị Hoài Rất nhiều người vốn có thành kiến với sáng tác Phạm Thị Hoài cũng phải thừa nhận: “Về

Trang 33

chất thỡ văn bà cũng chẳng kộm cỏi hay của văn Tõy là mấy, lại khộo thờm tiếng khỳc khỏch, ngúc ngỏch trong ngụn từ văn chương Á Chõu; Thành ra quả thực là so với đám văn bỳt cựng và trước lứa một chỳt, bà đó tạo nờn một tiếng hỏt lạ, tiếng khanh khỏch lơ lửng, tiếng đập cành xao xỏc dội xuống văn đàn xứ Việt vốn rất đỗi bỡnh yờn…” (Nguyễn Văn Thọ) Bỏ qua

sắc thỏi trịnh thượng, kể cả thiếu thiện cảm, cỏi đọng lại trong lời bỡnh luậntrờn là sự ghi nhận những cỏi lạ cần cú, nờn cú mà văn chương Phạm ThịHoài mang đến cho văn học Việt Nam thời đổi mới

Từ xưa đến nay, đặc biệt cỏc nhà văn Trung đại chỉ cú thúi quendùng cỏc từ Hỏn Việt, đụi chỳt từ Phỏp đó Việt húa trong văn núi và viếtchưa cú tiền lệ đưa cỏc ngoại ngữ khỏc vào văn học một cỏch dày đặc như

Thiờn Sứ Cú thể Thiờn Sứ chỉ dành cho một lớp độc giả chọn lọc, và như

vậy cũng khụng cú gỡ mõu thuẫn với quan niệm riờng đầy cỏ tớnh của nhà

văn: “Văn chương hiện đại khụng cũn được hồn nhiờn… nú tự hành hạ

bằng những nguyện vọng cú lẽ cũn chưa xuất hiện của người đọc Nú phỏt triển bằng cỏch tha húa Luụn luụn lạ, luụn luụn khụng giống một cỏi gỡ đó biết” Người đọc cũng luụn luụn phải làm mới mỡnh nếu khụng muốn tụt

hậu Do đú ngụn ngữ văn chương trong Thiờn Sứ giống như một thứ ngụn

ngữ thực nghiệm, đặc tuyển, cú tớnh cỏch tiờn phong trong văn học nước tađang trong giai đoạn khỏt khao đổi mới và dõn chủ húa Đó là nét độc đáo

đầu tiên chúng tôi bắt gặp, và phải dừng chân thăm hỏi điều mới lạ này khi

đi vào tìm hiểu các lớp từ trong tiểu thuyết Thiên Sứ.

2.2.2 Từ Hỏn Việt

2.2.2.1.Khái niện từ Hỏn Việt

“Từ Hỏn Việt là những từ cú nguồn gốc Hỏn nhưng được đọc theo

õm Việt được gọi là từ Hỏn Việt” [10; tr 49].

Lớp từ Hỏn Việt là lớp từ người Việt du nhập từ tiếng Hỏn, chủ yếuqua con đường sỏch vở đời Đường - là một thời đại thịnh trị của Trung

Trang 34

Quốc Vì vậy tiếng Hán lúc bấy giờ được xem là “Hán chuẩn” Nhìn vào

tiếng Việt ta thấy có một số lượng từ gốc Hán rất lớn, chiếm 60% Tuynhiên điều đó chỉ làm phong phú cho tiếng Việt chứ không làm mất đượcbản sắc ngôn ngữ của mình

Nhìn vào sự xuất hiện của từ Hán trên lãnh thổ Việt Nam, người ta

có thể chia quá trình thâm nhập của từ Hán thành hai thời kỳ: Thời kỳtrước và thời kỳ sau nhà Đường

Về cách phát âm giữa hai thời kỳ này cũng không giống nhau Các từHán thâm nhập vào tiếng Việt vào thời kỳ trước được phát âm theo hệthống ngữ âm Hán cổ, khác với hệ thống ngữ âm Hán Việt thâm nhập thời

kỳ sau Nhưng chúng không có sự tách biệt rạch ròi mà chúng hoà cùngvào từ thuần Việt, tạo nên một hệ thống Hán Việt đồ sộ, người Việt nhìnvào đó khó mà phân biệt được đâu là Hán cổ đâu là Hán hiện đại

Nhũng từ gốc Hán khi đi vào tiếng Việt đã được người Việt Việt hóa,mang những đặc điểm ngữ pháp của từ gốc Việt và biến đổi ngữ nghĩa theo

hệ thống ngữ nghĩa của tiếng Việt Tất cả đã hoà với tiếng Việt thành một

hệ thống không còn mang dáng dấp ngoại lai nữa Không những vậy, các

từ gốc Hán được Việt hóa đã trở thành những từ đồng nghĩa, khác nhau vềsắc thái với chính mình Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số từ Hán dunhập vào giai đoạn thứ hai (sau đời Đường) chưa được Việt hóa cho nên nóđang còn là một vấn đề trừu tượng của người Việt Nhưng đó chỉ là số íttrong số các từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam

Phần lớn từ Hán Việt giờ đây đã đi vào dòng chảy của tiếng Việt, nótrở nªn quen thuộc với người Việt, nó như là hệ thống từ thuần Việt trongcuộc sống giao tiếp hằng ngày hay trong các tác phẩm nghệ thuật củangười Việt Hơn thế nữa, người Việt còn có xu hướng dïng từ Hán Việt làchủ yếu bởi nó mang lại sự trang trọng, thuần tuý trong lời nói, tạo nên sự

cao sang, uyên bác Cã lÏ thế, nªn ở Thiên Sứ, Phạm Thị Hoài đã đưa vào

Trang 35

một lượng từ Hán Việt rÊt lín với sự kết hợp, đa dạng, phong phú như làngôn ngữ dân tộc vậy.

2.2.2.2 Từ Hán Việt trong tiểu thuyết Thiên Sứ

Đi vào tìm hiểu từ Hán Việt trong Thiên Sứ, khảo sát qua 174 trang

chúng tôi thu được 2023 lượt từ Hán Việt được Phạm Thị Hoài sử dụng ởcác dạng sau:

a.Từ Hán Việt có cấu tạo là Từ

Tìm hiểu qua 2023 lượt từ Hán Việt trong Thiên Sứ chúng tôi thấy

từ Hán Việt có cấu tạo là từ chiếm số lượng chñ yếu với hai dạng: Từ Hán

Việt đơn âm tiết và từ Hán Việt đa âm tiết

a 1 Từ Hán Việt đơn âm tiết

Ví dụ:

“Nhà độc một phòng, mười sáu mét vuông gạch men nâu” [29; tr 9]

“Có gì khác nữa đâu, nói lên rằng tôi từng có mặt giữa sinh và tử ?”

[29; tr 81]

“Có những người sinh ra để thuộc về nhau” [ 29; tr 87].

“Hít thở cái mùi khác giới lạ lùng” [ 29; tr 12].

“Tôi đã không đưa tay ra mà cố thu mình vào một thể tích tối thiểu”

[29; tr 12]

“Tôi buộc lòng thành đứa con út” [ 29; tr 25].

v.v…

Những từ Hán Việt đơn âm tiết trong Thiên Sứ là không nhiều so

với từ Hán Việt đa âm tiết, và phần lớn là những từ thông dụng, dễ hiểu, nómang những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ thuần Việt Những từHán Việt thuộc loại này nếu người đọc không tinh tế thì khó mà nhận ra đó

là từ Hán Việt Bên cạnh từ Hán Việt đơn âm tiết, từ Hán Việt đa âm tiếtlại xuất hiện nhiều, có thể nói là xuất hiện dày đặc

Trang 36

a 2 Từ Hỏn Việt đa õm tiết

Từ Hỏn Việt núi chung và từ Hỏn Việt trong Thiờn Sứ núi riờng, lớp

từ Hỏn Việt đa õm tiết vẫn là lớp từ chiếm ưu thế, khụng chỉ chiếm sốnhiều về lượng từ mà nú cũn chiếm ưu thế về sự hoạt động, sự kết hợptrong tiếng Việt Từ Hỏn Việt đa õm tiết là những từ được người Việt sử

dụng thụng dụng, trong tiểu thuyết Thiờn Sứ loại này chỳng ta bắt gặp rất nhiều với những từ như: Kớnh viếng, hạ chớ, tõm điểm, phi lý, tỡnh nhõn,

ụ hợp, khớch lệ, sinh thời, thần quyền, thượng lưu, địa cầu, vĩnh viễn, kiến trỳc sư, ngạo mạn, đụ thị, nhõn viờn v.v…

Vớ dụ:

“Giờ đõy khú mà tỡm thấy ụng giữa một biển hoa, hoa hội văn

nghệ… kớnh viếng, hoa tạp chớ… kớnh viếng, hoa nhà mỏy, hoa ban tổ chức…, giữa những bộ đồ tang trịnh trọng di chuyển giật cục như những

quõn cờ trong khụng gian hạ chớ … Với nhiệt độ ngoài trời bốn mươi mốt

độ C …” [ 29; tr 81].

Trờn đõy là cõu văn Phạm Thị Hoài miờu tả đỏm tang một nhà văn,

để thể hiện sự kớnh trọng người đó khuất, nhưng đồng thời thể hiện thỏi độchõm biếm với cảnh tang gia lố bịch, tỏc giả đó sử dụng tới mười từ HỏnViệt đa õm tiết Nú đó làm bật lờn được sự nghiờm trang của một đỏm tang

mà những từ thuần Việt khú làm bật lờn được, nhng bên cạnh đó từ HánViệt cũng góp phần làm bật thái độ nhạo báng, mỉa mai của tác giả

“Ái chà, tụi đang hõn hạnh hầu chuyện tiờn sinh nào đõy nhỉ?

“Thày Hoàng ngọt xớt”…” [29; tr 104].

“ Hai chiến lợi phẩm, một băng giỏ…” [29; tr 117].

Ngoài ra trong Thiờn Sứ chỳng ta cũn bắt gặp rất nhiều cõu văn như trờn Những từ Hỏn Việt vốn trang trọng nhưng khi đưa vào Thiờn Sứ,

Phạm Thị Hoài chủ yếu dựng vào mục đớch nhạo bỏng nhõn vật, hay tớnh

Trang 37

chất sự việc, nó góp phần làm cho nhân vật, sự vật hiện tượng hiện lêntrong tác phẩm thật độc đáo.

“Kẻ không dám cầm tay nhau trên đường phố, không hôn nhau

giữa thanh thiên bạch nhật…” [29; tr 68].

“…Độc nhất vô nhị, dãy đồng hoá kéo từ ba đến chÝn” [29; tr 114].

v.v…

Như vậy ta thấy khi sử dụng từ Hán Việt, Phạm Thị Hoài đã có sựkết hợp khéo léo, rất đa dạng phong phú về từ, tạo được những câu vănsinh động Cái đặc biệt ở đây là: Tuy đưa vào rất nhiều từ Hán Việt nhưngcâu văn vẫn nôm na bình dị, tạo nên được phong cách riêng, phá vỡ cái rËpkhuôn, ước lệ khi sử dụng từ Hán Việt Nó góp phần làm nên cái độc đáocho ngôn ngữ tiểu thuyết Phạm Thị Hoài

2.2.3 Từ láy

2.2.3.1 Khái niệm từ láy

Xác định từ láy qua bề mặt hình thức, âm thanh không phải là vấn đềkhó Nhưng khi đi tìm lời đáp cho câu hỏi: Từ láy là gì? lại là vấn đề khôngđơn giản, hiện còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau

Về tên gọi: Ở vấn đề tên gọi của từ láy hiện nay còn tồn tại một số tên gọi

khác nhau như: Từ láy âm, từ ngữ kép phân thức, từ lấp láy, từ trùng điệp…

Về cơ chế cấu tạo từ láy hiện nay cũng có ba hướng ý kiến khác

nhau: Coi láy là phụ tố; Coi láy là sự hóa phối ngữ âm có giá trị biểu

trưng hóa; Coi láy là ghép.

Trang 38

Như vậy chúng ta thấy vấn đề từ láy là rất phong phú, đa dạng vàkhông kém phần phức tạp Từ láy góp phần tạo cho tác phẩm văn học một

vẻ đẹp muôn màu, sức sống bền bỉ của mỗi tác phẩm một phần nhờ sựphong phú đa dạng và phức tạp đó

2.2.3.2 Từ láy trong tiểu thuyết Thiên Sứ

Khảo sát 174 trang chính văn, chúng tôi thu được 1135 lượt từ láy

xuất hiện Đồng thời với việc tìm hiểu từ láy trong Thiên Sứ, chúng tôi

cũng khảo sát từ láy một số tác phẩm khác của bà như: “Mê lộ”, “Man

nương”… Ngoài ra chúng tôi khảo sát một số tác phẩm của các tác giả

khác như: Tiểu thuyết “Tố Tâm” (Hoàng Ngọc Phách); “Những đứa con

trong gia đình” (Nguyễn Ngọc Tấn)… Thì chúng tôi thấy từ láy trong tiểu

thuyết Thiên Sứ chiếm tỷ lệ lớn hơn cả Điều đó cho thấy Phạm Thị Hoài

là người rất chú ý đến việc sử dụng từ láy Ở khóa luận này chúng tôi sẽ

tìm hiểu đặc điểm từ láy trong Thiên Sứ trên các phương diện sau:

a Về cấu tạo

Tìm hiểu tổng số 1135 lượt từ láy đã khảo sát được xét về mặt cấu

tạo, chúng tôi chia từ láy mà Phạm Thị Hoài đã sử dụng trong Thiên Sứ ra

làm hai loại: Láy hoàn toàn và láy bộ phận

a 1 Từ láy hoàn toàn

Với tổng số 1135 lượt từ láy xuất hiện trong Thiên Sứ, từ láy hoàn

toàn chỉ xuất hiện 126 lượt từ, đây là một tỷ lệ không nhiều Khảo sát trong

126 lượt từ láy đó chúng tôi thấy chỉ xuất hiện láy đôi mà không có láy ba,láy tư v.v… Và chúng tôi chia làm hai dạng sau:

- Láy hoàn toàn điệp vần: Tức điệp phụ âm đầu, vần và thanh điệu.

Ví dụ: Mau mau, sáng sáng, ve ve, vừa vừa, ào ào, mãi mãi, đêm

đêm, đăm đăm, rơi rơi, trùng trùng, xăm xăm, chốc chốc, từ từ, rào rào, đều đều, tung tung, sắc sắc, khư khư, ngời ngời, ra ra, vào vào,

v.v…

Trang 39

Ở dạng này ta có thể bắt gặp trong các kiểu kết hợp như:

“Tôi thầm khuyên tất cả đàn ông trên đời mau mau đến nhận vần

âu yếm mà cô có thể ban phát chẳng bao giờ cạn” [29; tr 10].

“Sáng sáng anh giậy trước chờ nhận nụ cười đầu tiên bé hôn tặng

cho ngày mới” [29; tr 22].

“Nó không thể phanh nụ cười pha lê ấy, như ve sầu không thể

phanh chuỗi ve ve” [29; tr 22].

“Tôi đã hoãn mắt trước…, một cuốn sách vừa vừa, không quá dày

“Rồi hắn ngang qua những giấc mộng của tôi, … phối cảnh trùng

trùng,điệp điệp, thành lớp lớp anh em đồng loại hắn…” [29; tr 61].

v.v…

- Láy hoàn toàn đối vần: tức là điệp phụ âm đầu, điệp vần và đối

nhau về thanh điệu

Ví dụ: Tưởng tượng, từa tựa, công cộng, mơn mởn, đăm đắm,

nhờ nhợ, nhan nhản, đau đáu, mảy may, phinh phính, ngồ ngộ, đăng đẳng, đom đóm, sừng sững, thăm thẳm, the thé, ôi ối, tuồn tuột, dửng dưng, ngoan ngoãn, v.v…

Ở loại láy hoàn toàn đối vần này chúng ta bắt gặp các kiểu kết hợpnhư:

“Tôi chỉ khao khát… hình dung bằng trí tưởng tượng nghèo nàn…”

[29; tr17]

Trang 40

“Đêm đêm tôi vẫn cởi cúc áo chị,… bộ ngực thiếu nữ mơn mởn tròn

Khảo sát tiểu thuyết Thiên Sứ chúng tôi thu được 1009 lượt từ láy

bộ phận trong tổng số 1135 lượt từ láy Với 1009 lượt từ láy bộ phận cóđầy đủ cả hai dạng là láy âm đầu và láy vần

- Láy phụ âm đầu:

Khi đi vào tìm hiểu cụ thể 1009 lượt từ láy bộ phận, chúng tôi thấy

có đến 931 lượt từ láy phụ âm đầu với các từ như: xám xịt, háo hức, xộc

xệch, lần lượt, dịu dàng, thân thiện, mảnh mai, lạnh lùng, sẵn sàng, bận bịu, thơm tho, độc đoán, lực lưỡng, ngập ngừng, vội vàng, hồi hộp, khoan khoái, ngây ngô, xấu xí, ngơ ngác, gửi gắm, run rủi, hời hợt

v.v… Được thể hiện đa dạng trong các kiểu câu như:

“Thỉnh thoảng hắn ngó qua mắt tôi…” [29; tr 61].

“Bao giờ anh ta cũng… h¾ng giọng đĩnh đạc, lịch sự bước vào chào

hỏi trên dưới rồi trịnh trọng bước…” [29; tr 64]

“Bố thường lấy Quang lùn ra làm gương…, ông đon đả pha chè

mời mọc anh ta…” [29; tr 64 - 65].

“Các trường đại học… ngày càng lớn lao…” [29; tr 69].

“Đó là một ngày hạ chí trong xanh khủng khiếp Người đến khuôn

nốt mơ ước cả đời của bố mẹ tôi: Kỳ quan nghề mộc với vô vàn ngăn kéo

và long ly quy phượng” [29; tr 144].

- Từ láy vần

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anatoli A.Sokolov “Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm đổi mới” (1936-1996, Nguồn www. Talawas. Org) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm đổimới
2. Chaude simo – “Diễn từ Nobel” (Ngày 9/12/1985) Nguồn: www.Talawas. Org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn từ Nobel
3. Đỗ Ngọc Yến, “Về cái mới trong văn chương Việt Nam hôm nay”, Nguồn: ChimViet. Freefr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cái mới trong văn chương Việt Nam hôm nay
4. Đinh trọng Lạc, “Phong cách học tiếng Việt”, NxbGiáo dục Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: NxbGiáo dục Hà Nội
5. Đinh trọng Lạc, (chủ biên), “Phong cách học tiếng Việt”, Nxb Giáo dục , 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Đinh Trọng Lạc, “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Nhà XB: NxbGiáo dục
7. Đỗ Hữu Châu, “Các bình diện của tiếng Việt”, Nxb KHXH Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của tiếng Việt
Nhà XB: Nxb KHXH Hà Nội
8. Đỗ Hữu Châu, “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Đỗ Thị Kim Liên, “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Đỗ Thị Kim Liên, “Bài tập ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
11. Đặng Anh Đào, “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại”, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
12. Hoàng Ngọc Hiến, “Hai tác giả mới trong một nền văn xuôi đang đổi mới”; Thông báo khoa học trường ĐH Sư phạm Hà Nội I, số 13, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai tác giả mới trong một nền văn xuôi đang đổimới
13. Hoàng Thị Châu, “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, Nxb KHXH, H,1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Nhà XB: Nxb KHXH
14. Hồ Lê, “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt”, Nxb KHXH, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khác Phi, “Từ điển thuật ngữ văn học”, Nxb GD, H, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Nhà XB: Nxb GD
16. Lê Ngọc Trà, “Thách thức của sáng tạo- Thách thức của văn hoá”, Nxb Thanh niên, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức của sáng tạo- Thách thức của văn hoá
Nhà XB: NxbThanh niên
17. Lại Nguyên Ân, “Sống với văn học cùng thời”, Nxb Thanh Niên, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
18. Lại Nguyên Ân, “150 Thuật ngữ văn học”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HàNội
19. Milan Kun dera, “Tiểu luận, Nxb Văn hoá thông tin”, Trung tâm Văn ngữ ngôn ngữ Đông Tây, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận, Nxb Văn hoá thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin"”
20. Nguyễn Thanh Sơn, “Thiên Sứ Phạm Thị Hoài”. Nguồn: TanViet. Net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên Sứ Phạm Thị Hoài

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w