1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục rút gọn theo bộ luật tố tụng dân sự 2015 (luận văn thạc sỹ luật)

93 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ Tục Rút Gọn Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2015
Tác giả Phạm Hoàng Thu Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Bành Quốc Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 884,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015” làm Luận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, với mong muốn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

PHẠM HOÀNG THU THỦY

THỦ TỤC RÚT GỌN THEO

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

PHẠM HOÀNG THU THỦY

THỦ TỤC RÚT GỌN THEO

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

Chuyên ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 801031673

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN

TP HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, bản án, quyết định sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc

rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ

PHẠM HOÀNG THU THỦY

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao HĐTP TANDTC

5 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn TAND TP Quy Nhơn

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu đề tài 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ

THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 8

1.1.1 Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 8

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 10

1.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 14

1.3 Nội dung điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục rút gọn 17

1.3.1 Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn 17

Trang 6

1.3.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 18

1.3.3 Điều kiện chuyển vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 22

1.3.4 Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn 25

1.3.5 Thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 33

1.3.6 Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 33

1.3.7 Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn 35

1.3.8 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 39

2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 39

2.1.1 Tình hình áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự của Tòa án 39

2.1.2 Những vấn đề liên quan đến quy định pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 39

2.1.2.1 Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 39

2.1.2.2 Về thời điểm xác định áp dụng thủ tục rút gọn 45

2.1.2.3 Việc chuyển vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 49

Trang 7

2.1.2.4 Về thời hạn giải quyết vụ án khi chuyển vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 54 2.1.2.5 Trình tự thủ tục tại Tòa án sơ thẩm theo thủ tục rút gọn 55 2.1.2.6 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị theo thủ tục rút gọn 58 2.1.2.7 Phạm vi kháng cáo, kháng nghị 61

2.2 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 63

2.2.1 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 63 2.2.2 Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xu hướng cải cách thủ tục tố tụng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay là pháp luật tố tụng dân sự của các nước đang ngày càng xích lại gần nhau hơn, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lý và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, thương mại…phát sinh ngày càng nhiều, đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa với pháp luật của cộng đồng quốc tế Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam cho thấy có nhiều vụ án đơn giản, có chứng cứ rõ ràng nhưng các Tòa án vẫn phải áp dụng thủ tục thông thường để giải quyết gây kéo dài thời gian và chi phí cho cả Nhà nước và đương sự Thực tế này đã dẫn đến nhiều áp lực cho công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam, do đó việc cải cách trình tự, thủ tục xét xử vụ án dân sự nhanh

chóng và linh hoạt là một yêu cầu cấp thiết

Trên cơ sở nắm bắt và dự liệu được những đòi hỏi của thực tiễn khách quan trong lĩnh vực tố tụng dân sự, nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng thủ tục dân sự rút gọn Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII Đảng ta đã chỉ rõ cần phải “Nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng”

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra rằng: “Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội…tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh của nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế…” Nghị quyết cũng chỉ ra những nhiệm vụ trọng tâm trong việc hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp, đó là cần phải “ Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”

Trang 9

Thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”, “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”1 Với quy định này của Hiến pháp năm 2013 đã mở ra hướng cho phép việc xét xử có thể được tiến hành theo thủ tục rút gọn

Cụ thể hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết NQ/TW của Bộ chính trị và Hiến pháp năm 2013 Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 đã dành hai chương riêng là Chương XVIII và Chương XIX thuộc Phần thứ tư để quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn Thủ tục rút gọn là một thủ tục mới được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật Có thể nói đây là sự đổi mới, thể hiện sự tiến

49-bộ trong kỹ thuật lập pháp, là thủ tục cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu tính nhanh chóng, linh hoạt, đơn giản và đem lại hiệu quả kinh tế cao của thủ tục tố tụng dân

sự, bảo đảm hài hòa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước mà vẫn tuân thủ đúng pháp luật Thủ tục này có ý nghĩa pháp lý và xã hội sâu sắc trong tình hình hiện nay, là cơ sở bảo đảm để người dân có quyền tiếp cận công

lý một cách nhanh chóng, là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án dân sự đơn giản, rõ ràng, góp phần làm giảm tình trạng gia tăng, tồn đọng án, đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những người tham gia tố tụng mà vẫn bảo đảm tính pháp chế trong việc giải quyết các vụ án dân sự, đáp ứng đòi hỏi và yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

1

Khoản 1, khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

Trang 10

Tuy nhiên, đây là một trong những quy định mới trong pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam, quá trình áp dụng vào thực tiễn thời gian qua đã nảy sinh những vướng mắc, bất cập chính trong các quy định của pháp luật về thủ tục rút gọn cũng như cơ chế áp dụng, đã xảy ra tình trạng thiếu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quy định này Thực tế các quy định về thủ tục rút gọn chưa được áp dụng đúng với bản chất của nó

Để những quy định về thủ tục rút gọn thực sự đi vào cuộc sống, việc triển khai thực thi áp dụng những quy định này có hiệu quả, thống nhất, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cả người tham gia tố tụng phải hiểu, áp dụng đúng, thống nhất thì trước hết cần có nhận thức chung đúng và nhất quán đối với các quy định này, cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể về cách hiểu, cách áp dụng Mặc khác, các quy định này cần phù hợp với thực tế Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu các quy định này trên góc độ khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng

là điều cần thiết

Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015” làm Luận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, với mong muốn việc nghiên cứu này góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự đồng thời xây dựng một cách hiểu đúng đắn, thống nhất trên phương diện khoa học pháp lý về thủ tục này, đề ra những giải pháp xây dựng cơ chế để thực thi hiệu quả chế định thủ tục rút gọn, để thủ tục này thực sự phát huy được vai trò, hiệu quả trong việc giải quyết các

vụ án dân sự

2 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu các công trình khoa học về vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của chế định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, như:

Trang 11

- Luận văn thạc sĩ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Trần Anh Tuấn năm 2000

- Đề tài khoa học nghiên cứu cấp bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay - Thực trạng và giải pháp” do TS Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài thực hiện năm 2014;

- Luận án tiến sĩ luật học “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Đặng Thanh Hoa năm 2015

Các đề tài nghiên cứu này đều là những công trình khá công phu về lý luận

và thực tiễn, làm rõ yêu cầu và cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự và đề xuất các giải pháp xây dựng các thủ tục này ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, Luận văn nêu trên được viết trước thời điểm các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Năm 2016, Nguyễn Thanh Tùng có Luận văn thạc sĩ luật học “Thủ tục

tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam” Luận văn này viết sau thời điểm BLTTDS

2015 có hiệu lực nhưng cũng chỉ nêu lên một số hạn chế khó khăn khi áp dụng thủ tục rút gọn, chưa đề cập hết những bất cập, không hợp lý của các quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015

Từ khi thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được quy định trong BLTTDS 2015 đến nay có một số bài viết có liên quan:

- Đặng Thanh Hoa (2016), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại

BLTTDS 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân;

- Nguyễn Thành Nhân (2016), “Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết các

vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân;

- Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút

gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;

Trang 12

- Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút

gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;

- Nguyễn Thị Kim Loan (2017), “Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí kiểm sát;

- Nguyễn Vinh Hưng (2016), “ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí kiểm sát;

Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của thủ tục rút gọn, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh mà không phân tích toàn diện các khía cạnh của vấn đề này, một

số vấn đề có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu hoặc có đề cập đến nhưng chưa được lý giải một cách thỏa đáng Bản thân tác giả đang làm việc tại Viện kiểm sát, có thời gian làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, có cơ hội tiếp xúc với việc giải quyết các vụ án dân sự nên nhìn thấy một số vướng mắc trong quy định của pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn

Vì vậy, tác giả cho rằng với đề tài nghiên cứu: “Thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015” là hết sức cần thiết nhằm góp phần cho việc thực thi, áp dụng một chế định mới, tiến bộ có hiệu quả cao và thống nhất, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức cho các đương sự và Nhà nước mà vẫn đảm bảo tính pháp chế trong việc giải quyết các vụ án dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015, rút ra những điểm hợp lý và còn hạn chế để đề xuất hoàn thiện trong thời gian tới

Cuối cùng, dựa trên kết quả đã nghiên cứu được, cùng với việc phân tích thực tiễn giải quyết một số loại tranh chấp tại Tòa án Việt Nam để làm cơ sở định hướng hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong

Trang 13

giải quyết các vụ án dân sự, nâng cao tính khả thi của các quy định này trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận để làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý, ý nghĩa của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

- Phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015, phân tích thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn, tìm ra những nội dung quy định chưa rõ ràng dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng đồng thời tìm ra bất cập trong cơ chế áp dụng các quy định về thủ tục rút gọn theo BLTTDS năm 2015 Từ đó đề ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật

và thực tiễn áp dụng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thủ tục rút gọn trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật

tố tụng dân sự Việt Nam 2015; Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh, phương pháp hệ thống

Trang 14

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài các tác giả cũng còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và đương sự

Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân

sự và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC RÚT

GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

1.1.1. Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, các nước đều xây dựng và áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết một số loại vụ án dân sự đáp ứng một số điều kiện nhất định Xét một cách khái quát thì tuy pháp luật mỗi nước có những đặc thù riêng nhưng nhìn chung thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự được hiểu là một thủ tục đơn giản hơn thủ tục thông thường về thành phần Hội đồng xét xử, về thời gian tiến hành tố tụng gắn với các bước chứng minh thu thập chứng cứ được áp dụng đối với một số vụ án dân sự nhất định Xét về bản chất thì thủ tục rút gọn là một dạng của thủ tục đặc biệt Đó là sự giản lược, đơn giản hóa một số khâu không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án nhằm xử lý nhanh chóng, kịp thời vụ án nhưng vẫn bảo đảm đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

Trong mối quan hệ giữa xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường và thủ tục xét xử theo thủ tục rút gọn thì thủ tục tố tụng dân sự thông thường là cơ sở cho việc áp dụng giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn và bản chất của thủ tục rút gọn là sự lược hóa một số bước của thủ tục tố tụng thông thường Tuy nhiên thủ tục

tố tụng dân sự rút gọn không phải là thủ tục phụ thuộc vào thủ tục tố tụng dân sự thông thường mà thủ tục rút gọn là một thủ tục tố tụng độc lập tương đối so với thủ tục tố tụng thông thường Tính độc lập của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn thể hiện trong trường hợp nếu các điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn không còn đáp ứng thì vụ việc vẫn có thể được giải quyết theo thủ tục thông thường

Trang 16

Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, thủ tục rút gọn là “Thủ tục tố

tụng theo đó các thủ tục được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm quyền chung trong những trường hợp đặc biệt” 2

Ở Việt Nam, công trình về tố tụng dân sự đầu tiên do cố Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu thực hiện có bàn tới thủ tục giản lược hay thủ tục không đới tranh Theo

đó, “Thủ tục giản lược là một thủ tục ít nệ thức, đỡ tốn kém, và mau chóng hơn,

được nhà lập pháp dự liệu như biệt lệ đối với thủ tục tố tụng thông thường” Thủ

tục giản lược được áp dụng đối với: “…Các việc kiện về đối nhân động sản có

chứng khoán không bị tranh nại, các đơn kiện này không có chứng khoán nhưng dưới 90.000 quan, các tố quyền bất động sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, các đơn thỉnh cầu tạm thời hoặc kiện về tiền thuê nhà, lúa ruộng” 3 Khái niệm trên

đã xác định được điều kiện áp dụng và một vài đặc trưng của thủ tục rút gọn trong

tố tụng dân sự là loại thủ tục có thời gian giải quyết ngắn hơn thủ tục thông thường

do giản lược một số thủ tục tố tụng đồng thời đưa ra được ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục rút gọn là đỡ tốn kém và nhanh chóng hơn Tuy nhiên nó chưa phản ảnh được đầy đủ bản chất của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Đề cập ở mức độ cụ

thể và chi tiết hơn, TS Trần Anh Tuấn cho rằng: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là

loại hình thủ tục tố tụng giản lược, do một Thẩm phán tiến hành giải quyết đối với các vụ kiện dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị nhỏ theo một trình tự tố tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tòa án có hiệu lực ngay hoặc có thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thông thường hoặc theo thủ tục phúc thẩm được

Trang 17

giản lược” 4 Dựa trên các đặc trưng cơ bản của thủ tục rút gọn, TS Trần Thanh Hoa

cho rằng: “Thủ tục rút gọn là một thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn so với thủ tục tố

tụng dân sự thông thường về mặt thành phần, trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết tranh chấp, được áp dụng đối với một số tranh chấp đơn giản, đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc chứng cứ rõ ràng hoặc có giá trị thấp” 5

Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự lần đầu tiên được quy định tại

Điều 316 BLTTDS 2015: “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải

quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết so với các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết các vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật” Khái niệm này đã xác

định bản chất, phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể đưa ra khái niệm của

thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự như sau: Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là

thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường, do một Thẩm phán tiến hành để giải quyết các vụ án dân sự

có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhằm giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân

sự và quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật

1.1.2. Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thủ tục được hình thành trên cơ sở đơn giản hóa thủ tục tố tụng thông thường nhằm giải quyết một số loại vụ án cụ thể nhanh gọn, hiệu quả và có những đặc điểm sau đây:

4 Trần Anh Tuấn (2014), Vấn đề xây dựng thủ tục rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập

kinh tế quốc tế hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, tr 40

5

Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp KDTM trong pháp luật tố tụng Việt

Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học luật TP HCM, tr 41

Trang 18

- Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với một số vụ án nhất định

Bản chất của thủ tục rút gọn là giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian cũng như thành phần giải quyết và tham gia tố tụng nên không thể là một thủ tục áp dụng chung cho việc giải quyết tất cả các tranh chấp dân sự Đối với những tranh chấp phức tạp, chứng cứ không rõ ràng hoặc các đương sự tranh chấp gay gắt, đưa

ra những tài liệu trái chiều nhau để bác bỏ yêu cầu của bên kia thì quá trình giải quyết phải mất nhiều thời gian, đòi hỏi Tòa án phải tiến hành nhiều hoạt động tố tụng như thu thập chứng cứ, đối chất, giám định và việc xét xử cần thông qua tập thể để đảm bảo phán quyết đưa ra là đúng đắn Ngược lại, đối với các vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì Tòa án không cần thiết phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ và phải xét xử vụ án bằng một tập thể mà vẫn bảo đảm vụ án được giải quyết một cách chính xác, đúng đắn và tiết kiệm được thời gian, chi phí của đương sự và Nhà nước, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự Chính vì vậy, thủ tục rút gọn là một thủ tục chỉ áp dụng giải quyết cho những tranh chấp đặc thù, đáp ứng các điều kiện cơ bản như tranh chấp đơn giản, chứng cứ

rõ ràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc giá trị tranh chấp thấp

Thủ tục rút gọn của một số nước đều có chung tiêu chí xác định loại vụ án áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là những tranh chấp tài sản có giá trị thấp

Ví dụ ở Pháp, những tranh chấp có giá trị nhỏ không vượt quá 4.000 EUR được giải quyết theo thủ tục rút gọn bởi một Thẩm phán tại Tòa sơ thẩm có thẩm quyền hẹp hoặc Tòa án cơ sở Ở Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 900.000 JPY được giải quyết theo thủ tục rút gọn6…Như vậy, kinh nghiệm các nước cho thấy chỉ cần một tiêu chí giá ngạch thấp là đủ để giải quyết vụ án theo thủ tục giản lược hoặc thủ tục rút gọn Giá ngạch bao nhiêu được coi là thấp phụ thuộc vào quy định của từng nước và dựa vào tính khả thi của quy định về thủ tục rút gọn

6 Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.44

Trang 19

Ngoài tiêu chí giá ngạch thấp, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy các tranh chấp giản đơn, chứng cứ rõ ràng mà không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp cũng được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Theo Điều 1405 BLTTDS Pháp, thủ tục ra lệnh thanh toán nợ là một thủ tục giản đơn được thực hiện bởi Tòa án trong những trường hợp có yêu cầu về: khoản

nợ có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là một số tiền nhất định Nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng, kể cả điều khoản phạt (nếu có); Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu, ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu ấy hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ Theo Điều 1425 BLTTDS Pháp, thủ tục ra lệnh buộc thực hiện một công việc: Nếu giá trị của trái vụ không vượt quá thẩm quyền của Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp cho thanh toán bằng hiện vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa người không phải là thương nhân

Điều 189 BLTTDS Trung Quốc quy định thủ tục yêu cầu thanh toán nợ được áp dụng khi chủ nợ yêu cầu người mắc nợ thanh toán tiền hoặc một chứng khoán có thể chuyển nhượng, theo đó chủ nợ có thể nộp đơn lên Tòa án có thẩm quyền yêu cầu một lệnh trả nợ nếu đáp ứng được hai yêu cầu sau: Chủ nợ và người mắc nợ không liên quan đến nghĩa vụ tranh chấp khác và lệnh đòi nợ có thể tống đạt được đến người mắc nợ

Điều 382 BLTTDS Nhật Bản quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với thủ tục ra lệnh thanh toán là những yêu cầu thanh toán tiền, những vật thay thế hoặc một số lượng nhất định chứng khoán có thể chuyển nhượng

- Thủ tục rút gọn, rút gọn về trình tự và các bước tố tụng, về thành phần tiến hành tố tụng, về cấp xét xử

Việc áp dụng thủ tục rút gọn sẽ đơn giản hóa về trình tự, thủ tục hoặc giai đoạn tố tụng, giản lược một số thủ tục không cần thiết Điển hình như BLTTDS

Trang 20

Trung Quốc quy định đối với vụ án đơn giản đương sự có thể khởi kiện bằng miệng7 Về trình tự tiến hành thủ tục rút gọn tại phiên tòa, các nước theo hệ thống thông luật cũng có những hình thức giải quyết tranh chấp thông qua phiên tòa nhưng thủ tục được rút gọn nhằm giảm chi phí và thời gian giải quyết tranh chấp tương tự như thủ tục rút gọn trong hệ thống dân luật Vụ kiện sẽ được giải quyết bằng một Thẩm phán, Thẩm phán có thể bỏ qua các bước không cần thiết và chỉ tuyên phần quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ án, còn phần nội dung vụ

án, nhận định của Tòa án được ghi ngay trong biên bản phiên tòa

Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành giải quyết Về sự tham gia của Viện kiểm sát, phần lớn các nước đều quy định cơ quan công tố không có vai trò trong việc giải quyết vụ án dân sự Ở Việt Nam, chức năng của Viện kiểm sát không chỉ là thực hành quyền công tố mà còn kiểm sát hoạt động

tư pháp Vì vậy BLTTDS 2015 quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm trong một số trường hợp.8

Về cơ chế kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định ở các nước không giống nhau, nhưng nhìn chung pháp luật tố tụng dân sự ở nhiều nước không cho cho phép kháng cáo hoặc cho phép kháng cáo phúc thẩm nhưng nội dung kháng cáo bị hạn chế ở việc chỉ cho phép kháng cáo về áp dụng pháp luật của Tòa án sơ thẩm Ở Pháp, đương sự không

có quyền kháng cáo phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu giá ngạch của vụ án dưới 4.000 EUR hay ở Đức là dưới 6.000 EUR Ở Trung Quốc, đối với các vụ án đơn giản và giá trị tranh chấp thấp dưới 30% lương

Trang 21

bình quân theo năm thì các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo9 Ở Thái Lan đương sự không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về vấn đề sự kiện của vụ án

mà chỉ có quyền kháng cáo về vấn đề áp dụng pháp luật10 Trong trường hợp này, Tòa án ra quyết định kết thúc vụ án theo thủ tục rút gọn và yêu cầu buộc thanh toán

sẽ hết hiệu lực ngay, khi đó chủ nợ có thể khởi kiện lại theo thủ tục thông thường

- Thủ tục rút gọn rút ngắn về thời gian tố tụng

Đặc trưng của thủ tục rút gọn so với thủ tục thông thường là có sự rút ngắn

về thời gian tố tụng Pháp luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạt động tố tụng ở các giai đoạn tố tụng nhất định nhằm bảo đảm vụ án giải quyết được chính xác kịp thời và đúng pháp luật Tuy nhiên, một số vụ án có các điều kiện nhất định cho phép việc giải quyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp dụng thời hạn chung để giải quyết sẽ gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức của các đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng Tại Trung Quốc, thời gian giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn không quá 3 tháng hay Hàn Quốc là 2,5 tháng so với thủ tục thông thường là 6 tháng Đối với một số nước như: Nga, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc thì việc ra lệnh thanh toán, thủ tục này được rút ngắn từ khi thụ lý đơn cho đến khi lệnh của Tòa án có hiệu lực thi hành chỉ có vài tuần11

1.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự

Ý nghĩa to lớn của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự nằm ngay trong chính tên gọi của thủ tục này với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận công lý một cách nhanh chóng Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có ý nghĩa không chỉ đối với các đương sự, Tòa án mà còn có ý nghĩa xã hội rộng lớn và sâu sắc

9 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Thủ tục rút gọn trong xét xử các vụ án dân sự theo pháp luật

Trung Quốc”, Tạp chí kiểm sát, số 17-2017, tr 63

10

Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.58

11

Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.60.

Trang 22

Thứ nhất, thủ tục rút gọn góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế và là sự hiện thực hóa chiến lược cải cách tư pháp của Đảng

và Nhà nước ta

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi các thủ tục tố tụng nói chung và thủ tục tố tụng tư pháp dân sự nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu về sự mềm dẻo, linh hoạt, nhanh chóng, thuận tiện để giải quyết kịp thời các tranh chấp phát sinh Việc cải cách thủ tục tố tụng tư pháp, trong đó có thủ tục tố tụng dân sự theo hướng trên sẽ góp phần thúc đẩy các giao lưu kinh tế, thương mại, dân sự… phát triển mạnh mẽ Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn với trình tự giải quyết đơn giản, đặc biệt là thời gian giải quyết ngắn…sẽ đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện thực hóa chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà Đảng và Nhà nước đã đề ra12

Thứ hai, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn làm giảm đáng kể chi phí tố tụng cho đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận công lý, lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp hiệu quả

Thông thường pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đều quy định án phí mà đương sự phải chịu thấp hơn so với án phí vụ án giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Vì vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, trình

tự thủ tục giải quyết được giản lược, thời gian tiến hành tố tụng được rút ngắn đi rất nhiều lần hơn so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường Tòa án không cần tiến hành nhiều thủ tục tố tụng mà gần như chỉ cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp nên không phát sinh các chi phí tố tụng như định giá, thẩm định tại chỗ, giám định…đồng thời các chi phí đi lại, thời gian đến Tòa của đương

sự sẽ giảm đáng kể Mặc khác, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ tạo điều kiện thuận

12

Hồ Nguyễn Quân (2017), một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật TTDS năm 2015, xem tại: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/mot-so-van-de-ve-thu-tuc-rt-gon-trong-bo-luat-to-tung-dn-su-nam- 2015/, truy cập ngày 09 tháng 01 năm 2019

Trang 23

lợi để đương sự khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong các vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì các đương sự đều không trải qua tất cả các thủ tục tố tụng như trong thủ tục thông thường mà chỉ tiến hành một số thủ tục luật định cần thiết cho việc giải quyết vụ án Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là phương tiện để Thẩm phán có thể chủ động

và linh hoạt trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự Việc xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn cũng khuyến khích cho người dân sử dụng Tòa án như một cách thức hiệu quả để giải quyết tranh chấp Từ đó hạn chế được các hiện tượng tiêu cực như khiếu kiện kéo dài hoặc người dân thiếu tin tưởng vào tính hiệu quả của hệ thống Tòa án nên đã tự mình hành xử bằng cách như bắt nợ, đòi nợ thuê…Những điều này góp phần ngăn chặn, hạn chế những tiêu cực của vụ việc dân sự, góp phần

ổn định các mối quan hệ xã hội

Thứ ba, thủ tục rút gọn góp phần làm giảm áp lực về công việc cho Tòa án, tiết kiệm cho Nhà nước về nguồn lực con người và chi phí

Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự với trình tự đơn giản, thời gian rút ngắn

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử, giảm tải áp lực công việc cho cán bộ ngành Tòa án, đặc biệt là đối với Thẩm phán khi mà số lượng các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động ngày một gia tăng Trong khi đó, số lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử của Thẩm phán chưa đồng bộ Giải pháp đặt ra là nếu chúng ta tăng số lượng Thẩm phán tại các Tòa

án đồng nghĩa với việc tăng kinh phí của Nhà nước gây tốn kém cho Ngân sách Nhà nước Cho nên song song với việc khắc phục tình trạng mất cân đối giữa số lượng công việc và Thẩm phán, thì việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết án dân sự

là giải pháp tiết kiệm cho Nhà nước cả về nguồn lực con người và chi phí đồng thời giải quyết tốt các vụ án phát sinh tại Tòa án

Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự với trình tự, thủ tục đơn giản, thời gian giải quyết ngắn sẽ giúp cho các Thẩm phán nâng cao hiệu quả trong công tác xét

xử, chủ động giải quyết được số các vụ án có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng,

Trang 24

tất cả các đương sự thừa nhận nghĩa vụ với nhau, tạo điều kiện cho Tòa án có thể tập trung thời gian và nguồn lực con người vào các vụ án khó khăn, có tính chất phức tạp hơn Đây là một trong những giải pháp để khắc phục tình trạng áp lực lớn

về công việc của ngành Tòa án

1.3 Nội dung điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục rút gọn

BLTTDS 2015 đã quy định giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại phần thứ tư, gồm 02 chương 09 điều từ Điều 316 đến Điều 324 của Bộ luật trên cơ

sở đơn giản hóa các thủ tục tố tụng thông thường với mục đích giải quyết vụ án nhanh chóng, hiệu quả nhưng bảo đảm đúng pháp luật đối với một số vụ án cụ thể

1.3.1. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án dân sự, Điều 316 BLTTDS 2015 đã quy định về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng để giải quyết những vụ án dân sự có đủ điều kiện được pháp luật tố tụng hoặc văn bản pháp luật khác có quy định Đồng thời điều luật cũng xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, đó là khi giải quyết những vụ

án dân sự theo thủ tục rút gọn thì ưu tiên áp dụng những quy định riêng cho thủ tục này Đối với những vấn đề không được quy định tại phần này thì sẽ áp dụng các quy định khác của Bộ luật này để giải quyết tranh chấp Trường hợp văn bản pháp luật khác có quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một số tranh chấp thì các quy định tại phần thứ tư BLTTDS 2015 sẽ được áp dụng để giải quyết những tranh chấp này Chẳng hạn: Điều 41 Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 có quy

định “Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ

tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự” Hay Điều 8 Nghị quyết

42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong

giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án: “Tòa án áp dụng thủ

tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh

Trang 25

chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây…Việc giải quyết các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo thủ tục rút gọn quy định tại BLTTDS” Như vậy, các tranh

chấp này sẽ được áp dụng các quy định tại Phần thứ tư BLTTDS 2015 để giải quyết

vụ án theo thủ tục rút gọn

1.3.2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

BLTTDS 2015 đã xác định phạm vi loại vụ án có thể áp dụng thủ tục rút gọn theo hướng kết hợp đủ các điều kiện về tính chất loại việc, nơi cư trú của đương sự

và không có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS 2015 thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

Điều kiện này được hiểu là vụ án có tình tiết rõ ràng để Tòa án dễ dàng xác định sự thật khách quan của vụ án và đơn giản trong việc xác định pháp luật áp dụng Việc xác định một tranh chấp có đơn giản hay không phụ thuộc vào mức độ phức tạp và hệ quả pháp lý của việc áp dụng pháp luật, tác động của việc giải quyết tranh chấp đó đối với đương sự của vụ án và mức độ phức tạp trong việc xác định

sự thật khách quan của vụ án13 Để xác định vụ án đơn giản hay không, thông thường Thẩm phán dựa trên các dấu hiệu như bản chất rõ ràng của mối quan hệ dân

sự, đương sự thừa nhận nghĩa vụ dân sự, chứng cứ rõ ràng, đầy đủ, các bên đều có địa chỉ liên lạc dễ dàng…Tuy nhiên nếu đánh giá tính chất của vụ án dân sự theo cách trên, vô hình chung chúng ta đã đề cập đến các dấu hiệu khác cũng là điều kiện

13 Đặng Thanh Hoa (2016), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại BLTTDS 2015”, Tạp chí

Tòa án, số 9-2016, tr 22

Trang 26

để áp dụng thủ tục rút gọn Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng điều kiện

“vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng” không phải là một dấu

hiệu tốt để nhận dạng tính giải đơn của vụ án mà chỉ có thể đánh giá tính giản đơn của vụ án thông qua các điều kiện tiếp theo sau trong Điều 317 BLTTDS 201514

Khái niệm “vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng” được đề cập lần

đầu tiên trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 nhưng từ đó cho đến nay chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào hướng dẫn đưa ra tiêu chí để xác định

vụ án đơn giản là vụ án như thế nào hay chứng cứ như thế nào được xem là chứng

cứ rõ ràng

Với điều kiện “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ” Trước hết cần xác định

khái niệm đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có) trong vụ án đó Điều kiện“đương sự đã thừa

nhận nghĩa vụ” có thể được hiểu là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan trong vụ án đều không phủ nhận nghĩa vụ của mình đối với nhau15 Hay nói cách khác, sẽ không có bất kỳ đương sự nào phản đối đối với bất kỳ yêu cầu nào của các đương sự liên quan (bao gồm tất cả các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập)16, để từ đó có thể giúp Thẩm phán thấy được sự đơn giản trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án

- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng

Quy định này giúp cho việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa

án trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được thuận lợi, góp phần bảo đảm vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng thời hạn tố tụng và đúng pháp

14

Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6-2017, tr.43

15

Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6-2017, tr 43

16 Đặng Thanh Hoa (2016), tlđd, tr 23

Trang 27

luật, vụ án không bị kéo dài chỉ vì lý do khó khăn trong việc cấp, tống đạt văn bản

tố tụng cho đương sự Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 317 BLTTDS 2015 đã

mở rộng hơn phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn khi giảm bớt điều kiện về “các đương

sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng” và cho phép Tòa án vẫn có thể áp dụng

thủ tục rút gọn trong trường hợp đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn được quy định tại Bộ luật này

- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử

lý tài sản…

Đương sự không cư trú ở nước ngoài được hiểu là vào thời điểm Tòa án thụ

lý vụ án, đương sự là cá nhân, không phân biệt là người Việt Nam hay người nước ngoài phải đang sinh sống hoặc thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Đối với đương sự là cơ quan, tổ chức, không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam phải có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam Không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài được hiểu là tài sản tranh chấp đó không ở ngoài biên giới lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ

Trang 28

tố tụng mà còn phải nắm vững và vận dụng đúng đắn các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về các quan hệ chủ thể, có kiến thức về tư pháp quốc tế, nên các nhà làm luật đã loại trừ những tranh chấp có yếu tố nước ngoài để áp dụng thủ tục rút gọn là hợp lý Tuy nhiên xuất phát từ nguyên tắc “Quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự”, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền thỏa thuận với nhau, nếu thỏa thuận đó là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Vì vậy nhà làm luật đã dự liệu trường hợp một trong các đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng các đương sự thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương

sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu tài sản và có thỏa thuận thống nhất

về việc xử lý tài sản, đây thực chất là trường hợp chứng cứ đã rõ ràng, các đương sự không có tranh chấp về quyền sở hữu tài sản nên việc áp dụng thủ tục rút gọn là đương nhiên Mặt khác, việc Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn đối với những trường hợp này sẽ tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp, người dân Việt Nam bảo vệ được tài sản của mình khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài

Như vậy, thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự không phải là một thủ tục được quy định song song với thủ tục thông thường trong giải quyết vụ án dân sự Việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ được thực hiện khi thỏa mãn tất cả các điều kiện theo quy định nêu trên Những vụ án chỉ cần không hội tụ một trong những điều kiện quy định thì không thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết

Có thể thấy rằng, việc tích hợp các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là cơ sở bảo đảm an toàn pháp lý cho đương sự Tuy nhiên quy định này đã làm thu hẹp hơn phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đối với những tranh chấp có chứng cứ rõ ràng, đương sự thừa nhận hay không phản đối nghĩa vụ18 Xét về phương diện lý luận thì những loại việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có thể bao gồm

18 Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học BLTTDS, NXB Tư pháp, tr 694

Trang 29

những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận hoặc không phản đối nghĩa vụ của mình; những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, việc áp dụng pháp luật để giải quyết

là đơn giản; những tranh chấp có giá trị nhỏ Việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới cũng chỉ ra đối với những loại việc trên có thể thiết kế hai loại hình thủ tục đơn giản tương ứng là thủ tục ra lệnh thanh toán và thủ tục đối với án kiện nhỏ Quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 chưa có sự phân hóa giữa loại việc có giá trị tranh chấp nhỏ và loại việc đơn giản, có chứng cứ rõ ràng, đương

sự thừa nhận nghĩa vụ Đây là sự khác nhau giữa quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS 2015 với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21.6.2017 của Quốc Hội Theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, một trong những điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là giá trị tranh chấp nhỏ, cụ thể là dưới 100 triệu đồng19

hay theo quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21.6.2017 của Quốc Hội, việc xử lý nợ xấu được áp dụng thủ tục rút gọn mà không cần sự thừa nhận của bên vay hoặc bên bảo đảm20 Quy định này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ Tuy nhiên trong trường hợp vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá trị tranh chấp nhỏ nhưng đương

sự không thừa nhận nghĩa vụ thì theo quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 vụ án không đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, trong khi loại vụ án này về lý luận có thể giải quyết theo thủ tục rút gọn

1.3.3. Điều kiện chuyển vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường

Theo quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nếu phát sinh tình tiết quy định tại khoản 3 điều 317 BLTTDS 2015 làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án

Trang 30

ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường, cụ thể là:

“phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định; cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất

về giá; cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập; Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp”

Đặc điểm của quá trình giải quyết vụ án dân sự là không tránh khỏi việc phát sinh các tình tiết, sự kiện mới xoay xung quanh nó, việc phát sinh các tình tiết mới này có thể làm thay đổi bản chất của tranh chấp theo hướng hóa giải các mâu thuẫn đang tồn tại giữa các đương sự hoặc theo hướng biến tranh chấp từ đơn giản thành phức tạp, từ ít gay gắt thành gay gắt Vì vậy, việc pháp luật xây dựng một cơ chế chuyển hóa linh hoạt từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường là điều cần thiết, tránh sự lúng túng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đồng thời bảo đảm quyền lợi của đương sự Với quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 cho thấy các căn cứ của việc chuyển đổi từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường thực chất là những quy định ban đầu về căn cứ để Tòa án quyết định không

áp dụng thủ tục rút gọn Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu xuất hiện tình tiết mới nêu trên có căn cứ xác định làm cho vụ án không còn đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thì Thẩm phán phải ra quyết định chuyển vụ án sang thủ tục tố tụng thông thường

Theo quy định tại khoản 4 Điều 317, khoản 4 Điều 320, khoản 4 Điều 323 BLTTDS 2015 thì việc chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường được thực hiện không chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

mà còn tại phiên tòa và cả ở cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm và thời hạn chuẩn bị xét xử

vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường

Trang 31

Yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải thiết lập quy định về cơ chế chuyển đổi từ giải quyết vụ tranh chấp theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước có quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán hoặc buộc làm một công việc như Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản nếu người phải thực thi nghĩa vụ theo lệnh của Tòa

án phản đối lệnh buộc phải thanh toán hoặc không thực hiện công việc theo lệnh của Tòa án thì vụ việc được chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường hoặc đương sự phải khởi kiện lại theo thủ tục thông thường Về thực chất đây là cơ chế kháng án nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cần thiết cho bên bị kiện sau khi có lệnh của Tòa án buộc thực hiện nghĩa vụ Qua nghiên cứu cho thấy thực chất tất cả các căn cứ của việc chuyển đổi từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường theo quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 là những quy định về căn cứ để Tòa án quyết định không áp dụng thủ tục rút gọn chứ không phải là cơ chế kháng án theo đúng nghĩa của nó

Việc quy định cụ thể về chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường đã tạo ra một hành lang pháp lý giúp cho Tòa

án linh hoạt hơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhưng vẫn bảo đảm tính hiệu quả, đúng pháp luật trong hoạt động tố tụng, tạo điều kiện tối đa cho đương sự khi tham gia tố tụng tại Tòa án từ đó góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, mục đích và ý nghĩa của thủ tục rút gọn chỉ thực sự đạt được nếu vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn không chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường Nếu vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn sau đó cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển sang áp dụng thủ tục chung để giải quyết thì sẽ không rút ngắn được về thời gian, không đơn giản được về thủ tục, thậm chí còn làm cho trình tự tố tụng kéo dài và phức tạp hơn nếu áp dụng thủ tục chung để giải quyết ngay từ khi thụ lý vụ án Vì vậy, cần hạn chế việc xác định không đúng các điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn rồi sau đó lại chuyển sang thủ tục thông thường để giải quyết vụ án

Trang 32

1.3.4. Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

+ Quy định về trình tự, thủ tục rút gọn tại tòa án sơ thẩm

Vì vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn là vụ án đơn giản, quan hệ pháp luật

và tài liệu, chứng cứ vụ án rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ nên không cần

có hoạt động xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án Đồng thời với yêu cầu rút ngắn trình tự tố tụng nên BLTTDS 2015 quy định hoạt động của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được lược bỏ hơn so với thủ tục thông thường bảo đảm vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, bảo

vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự trong vụ án

- Khởi kiện và thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn

BLTTDS 2015 không có quy định riêng về khởi kiện vụ án dân sự và thụ lý

vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn được thực hiện như đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Theo đó việc khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn sẽ thực hiện theo quy định từ Điều

186 đến Điều 194 BLTTDS 2015 Việc thụ lý vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn sẽ thực hiện theo quy định từ Điều 191 đến Điều 196 BLTTDS 2015

Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản

lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mức tạm ứng án phí và án phí trong vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí, án phí theo thủ tục thông thường quy định tại Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326

Theo quy định tại các điểm đ, g khoản 2 Điều 196 BLTTDS 2015 thì thông báo thụ lý phải ghi rõ “vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn” và “thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến

Trang 33

bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng

cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)”

Quy định này tạo điều kiện cho đương sự thể hiện ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án, nếu đương sự cho rằng Thẩm phán thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn hay thủ tục thông thường là không đúng thì họ có quyền khiếu nại không? Bởi

lẽ BLTTDS 2015 chỉ có quy định việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn tại Điều 319 mà chưa có quy định đương sự có quyền khiếu nại đối với Thông báo thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn hay không? Cũng như chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại này Để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, thiết nghĩ cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này

Đối với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì quy định bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định họ có thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn trong đơn khởi kiện hay không Đây là một trong những căn cứ để Thẩm phán xác định vụ án có còn thỏa mãn đầy đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn hay không? BLTTDS 2015 không có quy định cụ thể chế tài đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ không thực hiện nghĩa vụ nêu trên21 Tuy nhiên, theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 196 BLTTDS 2015 thì trong Thông báo thụ lý vụ án phải có nội dung nêu rõ

“hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện” Do đó, khi

bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại khoản 1 Điều 199 BLTTDS 2015 cụ thể là họ

21 Điều 199 BLTTDS 2015

Trang 34

không nộp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của họ đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện thì Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Theo khoản 2 Điều 199 BLTTDS

2015, trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị gia hạn thời hạn trả lời thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá

15 ngày Tuy nhiên, nếu gia hạn thì thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn không được bảo đảm

- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn

Để đảm bảo việc phán quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn là 1 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án cần phải xác định xem vụ án có còn đáp ứng đầy đủ các điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn không? Cụ thể: Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự có

rõ ràng không, có đương sự nào phản đối đối với yêu cầu của các đương sự liên quan không? Nếu họ đều thừa nhận nghĩa vụ thì sự thừa nhận đó có xuất phát từ ý chí tự nguyện không? Có vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội không? Xác định chứng cứ đã đầy đủ để giải quyết vụ án chưa, các đương sự có thống nhất về các tài liệu, chứng cứ trong vụ án không? Kiểm tra lại địa chỉ, nơi cư trú, trụ sở của đương sự có rõ ràng không? Vụ án có đương sự hay tài sản ở nước ngoài không? Nếu có thì các đương sự có thỏa thuận về việc áp dụng thủ tục rút gọn, xử lý tài sản không?22 Qua kiểm tra tài liệu, chứng cứ trong vụ án nếu xác định

vụ án vẫn đáp ứng đầy đủ các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 1 Điều

317 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn Nếu xác định vụ án có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 làm cho vụ án không còn đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút

22 Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong BLTTDS năm 2015”, Nghiên cứu lập pháp, số 7- 2017, tr 53

Trang 35

gọn thì Thẩm phán ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường BLTTDS 2015 không quy định về trường hợp đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn nên căn cứ khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, Thẩm phán có thể ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 214 và Điều 217 BLTTDS 2015

- Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn

Sự có mặt của đương sự và Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 320 BLTTDS 2015 thì các đương sự, Kiểm sát viên phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn, trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp

lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành xét xử Quy định này là phù hợp với đặc điểm của thủ tục rút gọn là rút ngắn về thời gian, giản lược về thủ tục đồng thời nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hiện nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nâng cao trách nhiệm của đương sự trong việc chấp hành nghĩa vụ tố tụng Tuy nhiên, BLTTDS 2015, không quy định cách giải quyết trong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, nguyên đơn được Tòa

án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì xử lý như thế nào Cho nên căn cứ vào khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, trường hợp này thì Thẩm phán ra quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập lần thứ hai nếu nguyên đơn vẫn vắng mặt thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định chung

Theo quy định tại khoản 1 Điều 233 BLTTDS 2015 thì thời hạn hoãn phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa

- Phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn

Điểm khác nhau lớn nhất giữa phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục thông thường

và phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn đó là thủ tục hòa giải tại phiên tòa Nhằm đáp ứng yêu cầu nhanh chóng và linh hoạt của việc giải quyết các vụ án dân sự đơn

Trang 36

giản, rõ ràng, khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015 đã bỏ thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục rút gọn

Khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015 quy định Thẩm phán tiến hành hòa giải trong phiên tòa sơ thẩm chứ không bắt buộc phải hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ

thẩm giống như thủ tục tố tụng thông thường Theo đó “Sau khi khai mạc phiên tòa,

Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử” 23 Có thể thấy, trình tự của phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là sự kết hợp của việc hòa giải với việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm bằng cách Thẩm phán thực hiện thủ tục hòa giải tại phiên tòa, nếu các đương sự không hòa giải được thì chuyển ngay sang thủ tục xét xử mà không phải mất thêm thời gian ra Quyết định xét xử và tống đạt quyết định này cho đương sự nếu việc hòa giải không thành như thủ tục thông thường Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án tại phiên tòa rút gọn, Thẩm phán không được ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà chờ sau 7 ngày kể từ ngày kết thúc phiên tòa nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán mới được ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự có thêm thời gian suy nghĩ, cân nhắc lại tất cả những nội dung mà họ đã thỏa thuận Đây là điểm thể hiện sự khác biệt lớn bản chất của phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn với phiên tòa xét xử theo thủ tục thông thường

23 Khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015

Trang 37

Về trình tự thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn: Khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015 quy định trình tự xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục

rút gọn bao gồm: “việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc

giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của Bộ luật này” Về cơ bản thủ tục phiên tòa rút gọn không có sự khác biệt so với phiên tòa

thông thường, trình tự thủ tục xét xử không có sự giản lược so với thủ tục thông thường, ngoại trừ thủ tục nghị án được giản lược Tuy nhiên có thể nhận thấy đối

với “Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận

nghĩa vụ” thì việc xét xử tại phiên tòa “thực chất là một phiên đối chất để kiểm tra

lại các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, trước khi Thẩm phán ra quyết định về vụ việc”24 nên không cần thiết cho đương sự tranh luận, đối đáp Với quy định trên cho thấy sự giản lược chưa triệt để của nhà làm luật Việc tranh luận, đối đáp có thể

được thực hiện đối với vụ án có “tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để

giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ” Vấn đề này rất

cần có hướng dẫn cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật

+ Quy định về trình tự, thủ tục rút gọn tại tòa án cấp phúc thẩm

- Kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn

BLTTDS 2015 không có quy định riêng về quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục rút gọn Theo quy định tại khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, việc kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn được thực hiện như đối với thủ tục tố tụng thông thường từ thời hạn kháng cáo, kháng nghị

đến phạm vi kháng cáo, kháng nghị bảo đảm nguyên tắc “chế độ hai cấp xét xử sơ

thẩm và phúc thẩm” quy định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013

- Phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn

24

Trần Anh Tuấn (2014), tlđd, tr 113

Trang 38

Tương tự như phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn cũng tiến hành theo một trình tự đơn giản, nhanh chóng hơn so

với thủ tục tố tụng thông thường Theo khoản 2 điều 324 BLTTDS 2015: “các

đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm” Với quy định trường hợp

Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm mà Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì phải hoãn phiên tòa là hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ trường hợp này, Kiểm sát viên phải có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

và bảo vệ kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm Qua nghiên cứu quy định tại khoản 2 Điều 324 BLTTDS 2015, nhận thấy việc đòi hỏi về bảo đảm quyền tham gia phiên tòa của đương sự được giảm nhẹ so với thủ tục tố tụng thông thường Đương sự có nghĩa vụ tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng trường hợp đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành xét xử

Nếu vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường, thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được quy định dẫn chiếu về thời hạn hoãn phiên tòa theo khoản 1 Điều

233 BLTTDS 2015, thì BLTTDS 2015 không có quy định thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm rút gọn hay quy định dẫn chiếu như thủ tục phúc thẩm thông thường

Ngoài việc giản lược về thành phần tiến hành tố tụng thì thủ tục phúc thẩm rút gọn còn giản lược về thủ tục bắt đầu phiên tòa so với thủ tục tố tụng thông thường25

Các quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm rút gọn tương tự như quy định về thủ tục phúc thẩm thông thường nhưng được giản lược hơn như

không có quy định “việc hỏi” và không có quy định riêng về việc nghị án Theo đó,

25 Điều 324 BLTTDS 2015

Trang 39

Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày, đương sự bổ sung

ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm

Theo quy định tại khoản 6 Điều 234 BLTTDS 2015 thì quyền hạn của Thẩm phán tại phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn tương tự như quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm thông thường BLTTDS 2015 không quy định căn cứ để Thẩm phán ra một trong các quyết định theo khoản 6 Điều 234 BLTTDS 2015 nên căn cứ vào các quy định từ Điều 308 đến Điều 312 BLTTDS 2015 để xác định: Thẩm phán có quyền giữ nguyên bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn của Tòa án cấp sơ thẩm nếu kháng cáo, kháng nghị không có cơ sở Việc sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ được thực hiện nếu có đủ chứng cứ, tài liệu để quyết định về vụ án Việc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ

vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường sẽ được thực hiện nếu: không có đủ tài liệu, chứng cứ để quyết định về vụ án; Thẩm phán đã tiến hành xét xử sơ thẩm thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi; có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Việc hủy bản án sơ thẩm

và đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện trong các trường hợp: yêu cầu tố tụng ở cấp sơ thẩm không còn tồn tại hoặc Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ

án không đúng Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm được thực hiện nếu: yêu cầu tố tụng ở cấp phúc thẩm không còn tồn tại hoặc có sự suy đoán

về việc đương sự từ bỏ yêu cầu tố tụng của mình

Trang 40

1.3.5. Thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn

Theo quy định tại Điều 65 BLTTDS 2015: “Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành” Vì đặc thù vụ án

giải quyết theo thủ tục rút gọn là vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, đương sự đều thừa nhận nghĩa vụ nên việc giao cho một Thẩm phán độc lập xét xử là hợp lý vừa tạo điều kiện cho Thẩm phán chủ động trong việc giải quyết án, vừa nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán đồng thời tiết kiệm cho Nhà nước cả về nguồn lực và chi phí, nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác và đúng pháp luật Cơ chế xét xử bằng một Thẩm phán không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong thành phần của Hội đồng xét xử là phù hợp với khoản 1 và khoản 4 Điều 103 Hiến Pháp 2013:

“Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” và “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo

đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Tuy nhiên về mặt thuật ngữ pháp

lý, khoản 1 Điều 320 và khoản 2 Điều 324 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp

Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử” là chưa chính xác

về ngữ nghĩa sẽ dẫn đến cách hiểu là việc xét xử theo thủ tục rút gọn vẫn do một hội đồng xét xử tiến hành Trường hợp này cần được hiểu là Thẩm phán chứ không phải

là Hội đồng xét xử

1.3.6. Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn

+ Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm

Khoản 1 Điều 318 BLTTDS 2015 quy định: “Trong thời hạn không quá 01

tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của

Bộ luật này Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ

án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể

từ ngày ra quyết định” Để đáp ứng yêu cầu về tính nhanh chóng trong việc giải

quyết các vụ án đơn giản, rõ ràng, thì thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường và thời hạn này được áp dụng

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
2. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về “chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020
3. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
29. Ngô Cường (2014), “Mô hình Tòa án đơn giản ở Nhật Bản”, Tạp chí Tòa án, số 16-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Tòa án đơn giản ở Nhật Bản
Tác giả: Ngô Cường
Năm: 2014
31. Lê Thu Hà (2015), “Bổ sung thủ tục rút gọn trong BLTTDS (sửa đổi)”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2-2015, tr 36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung thủ tục rút gọn trong BLTTDS (sửa đổi)
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2015
32. Nguyễn Thị Thu Hà (2015), “Một vài ý kiến về hòa giải khi xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5-2015, tr 21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về hòa giải khi xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2015
33. Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7- 2017, tr 48-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2017
34. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015), “Thủ tục rút gọn trong dự thảo BLTTDS 2015”, Tạp chí Nghệ thuật, số tháng 11-2015, tr 14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục rút gọn trong dự thảo BLTTDS 2015”, "Tạp chí Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Năm: 2015
35. Đặng Thanh Hoa (2015), “Góp ý dự thảo BLTTDS sửa đổi về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 3-2015, tr 34- 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý dự thảo BLTTDS sửa đổi về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Tác giả: Đặng Thanh Hoa
Năm: 2015
37. Lê Thị Huệ (2015), “Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự trước xu thế hội nhập”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 10-2015, tr 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự trước xu thế hội nhập”, "Tạp chí dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lê Thị Huệ
Năm: 2015
38. Nguyễn Nam Hưng (2016), “Một số điểm mới về chế định Viện kiểm sát nhân dân trong BLTTDS 2015, Tạp chí kiểm sát, số 3-2016, tr 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm mới về chế định Viện kiểm sát nhân dân trong BLTTDS 2015, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Nam Hưng
Năm: 2016
39. Nguyễn Vinh Hưng (2016), “Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí kiểm sát, số 19-2016, tr 40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng
Năm: 2016
45. Vũ Gia Trưởng (2018), “Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự và những vướng mắc trong thực tiễn thi hành”, Tạp chí Nghệ thuật, số 2- 2018, tr 25- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự và những vướng mắc trong thực tiễn thi hành”, "Tạp chí Nghệ thuật
Tác giả: Vũ Gia Trưởng
Năm: 2018
47. Hồ Nguyễn Quân (2017), một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật TTDS năm 2015, xem tại: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/mot-so-van-de-ve-thu-tuc-rt-gon-trong-bo-luat-to-tung-dn-su-nam-2015/, truy cập ngày 09 tháng 01 năm 2019 Link
10. Bộ Luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998 (bản dịch tiếng Việt của Nhà pháp luật Việt – Pháp) Khác
12. Bộ Luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2005 (bản dịch tiếng Việt của TS. Nguyễn Ngọc Khánh. Hiệu đính: TS. Trần Văn Trung) Khác
13. Luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tài liệu tham khảo trong Kỷ yếu của dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội, tháng 5 năm 2000 Khác
14. Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc Hội ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Khác
15. Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC của VKSNDTC- TANDTC quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS Khác
16. Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 16/6/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w