Nhưng quan trọng và ưu biệt hơn cả trong các biện pháp bảo vệ đó là biện pháp khởi kiện vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, là biện pháp bảo vệ với sự can thiệp, giải quyết của T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN LÊ XUÂN UYÊN
THỦ TỤC KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN LÊ XUÂN UYÊN
THỦ TỤC KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
Ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Ngoài ra, trong Luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường đại học Kinh tế - Luật không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
TÁC GIẢ
NGUYỄN LÊ XUÂN UYÊN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài 5
7 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 1 THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 7
1.1 Khái quát chung về thủ tục khởi kiện vụ án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự 7
1.1.2 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự 10
1.1.3 So sánh thủ tục khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự với các lĩnh vực khác 12
1.1.3.1 So sánh thủ tục khởi kiện trong tố tụng dân sự với thủ tục khởi kiện trong tố tụng hành chính 12
1.1.3.2 So sánh thủ tục khởi kiện trong tố tụng dân sự với thủ tục khởi kiện tại trọng tài thương mại 14
1.2 Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự 16
Trang 51.2.1 Quy định pháp luật hiện hành 17
1.2.1.1 Quyền khởi kiện vụ án dân sự 17
1.2.1.2 Năng lực hành vi tố tụng dân sự của chủ thể 20
1.2.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật 23
1.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 27
1.3 Hình thức và phương thức nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự 28
1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành 28
1.3.1.1 Hình thức đơn khởi kiện 28
1.3.1.2 Phương thức nộp đơn khởi kiện 30
1.3.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật 33
1.3.2.1 Hình thức đơn khởi kiện 33
1.3.2.2 Phương thức nộp đơn khởi kiện 37
1.3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 40
1.4 Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền khởi kiện 41
1.4.1 Quy định pháp luật hiện hành 41
1.4.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật 44
1.4.3 Kiến nghị hoàn thiện 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49
CHƯƠNG 2 THỦ TỤC THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 50
Trang 62.1 Khái quát chung về thủ tục thụ lý vụ án dân sự 50
2.1.1 Khái niệm về thụ lý vụ án dân sự 50
2.1.2 Ý nghĩa thụ lý vụ án dân sự 51
2.1.3 Mối quan hệ giữa thủ tục khởi kiện và thủ tục thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành 53
2.2 Thụ lý đơn khởi kiện 54
2.2.1 Quy định pháp luật hiện hành 54
2.2.1.1 Thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với vụ án dân sự 54
2.2.1.2 Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện 59
2.2.1.3 Thụ lý vụ án 61
2.2.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật 63
2.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 72
2.3 Chuyển đơn khởi kiện 73
2.3.1 Quy định pháp luật hiện hành 73
2.3.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng pháp luật 74
2.3.3 Kiến nghị hoàn thiện 75
2.4 Trả đơn khởi kiện 76
2.4.1 Quy định pháp luật hiện hành 76
2.4.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật 80
2.4.3 Kiến nghị hoàn thiện 84
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ dân sự giữ vai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày, là mối quan
hệ phát sinh chủ yếu giữa các chủ thể, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Do đó, quyền dân sự là một quyền cơ bản của công dân, được pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ Trong quá trình tham gia vào quan hệ dân sự thì quyền dân sự thường bị xâm phạm, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể, pháp luật có quy định những biện pháp bảo đảm quyền dân sự như hòa giải, trọng tài, hành chính Nhưng quan trọng và
ưu biệt hơn cả trong các biện pháp bảo vệ đó là biện pháp khởi kiện vụ án theo trình
tự thủ tục tố tụng dân sự, là biện pháp bảo vệ với sự can thiệp, giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp phát sinh nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi bị xâm phạm Đây là biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi cao để giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ dân sự
Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án là giai đoạn ban đầu trong tố tụng, mở đầu thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm Đây chính là điều kiện để Tòa án xác định các nội dung về quyền khởi kiện của các chủ thể; thẩm quyền giải quyết của Tòa án; hình thức, nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ nộp kèm theo đơn với mục đích nhằm để quyết định trả đơn, chuyển đơn hay thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh theo quy định của pháp luật
Xuất phát từ vai trò quan trọng của giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án trong thủ tục tố tụng tại Tòa án cùng với những bất cập, thiếu sót của quy định pháp luật hiện hành khi áp dụng vào thực tiễn nên đòi hỏi phải nghiên cứu các quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật Việt Nam một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt
Trang 9Nam Với những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án
dân sự” mang ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, nội dung pháp luật về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự không phải là một vấn đề mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chế định về nội dung này nhưng phạm vi nghiên cứu thường tập trung chủ yếu vào quyền khởi kiện của công dân và thẩm quyền giải
quyết của Tòa án đối với các tranh chấp về dân sự như “Thủ tục khởi kiện và giải
quyết tranh chấp tại Tòa án, trọng tài cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự” của
tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương, năm 2011, có nội dung nghiên cứu về nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự tại Tòa án, trọng tài, quyền khởi kiện tại Tòa án, thời hiệu khởi kiện tại Tòa án, thủ tục tranh chấp tại Tòa án, thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại Bên cạnh đó, một số bài viết khoa học pháp lý thể hiện quan điểm của tác giả về một nội dung hay bất cập trong thực hiện các quy định thuộc chế định thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu được thực hiện trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
ra đời
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội Khóa XII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 Như vậy, đến thời điểm hiện tại thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã gần ba năm được áp dụng vào thực tiễn giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Có một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện như:
“Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam” của trường Đại học Kinh tế - Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Hồng Nhung chủ biên có nội dung nghiên cứu lý luận và các quy định pháp luật tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có các chương cụ thể về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thủ tục nhận đơn và thụ lý vụ việc dân sự
Trang 10“Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của
Nguyễn Thị Hoài Phương và tập thể tác giả, năm 2015 có nội dung so sánh và đánh giá những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trên cơ sở quy định pháp luật;
“Bình luận khoa học bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 : Dành cho thẩm phán, hội thẩm, thẩm tra viên, kiểm sát viên, luật sư và các học viên tư pháp” của
tác giả Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp, năm 2016, công trình nghiên cứu dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm xét xử của cá nhân, các tác giả đã kiến giải nhiều vấn
đề phức tạp, giải thích chi tiết và sát với thực tế từng điều luật nhưng nội dung nghiên cứu liên quan đến thủ tục nhận đơn khởi kiện và thụ lý vụ án cũng chiếm một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu
Tuy vậy, các công trình đã đề cập như trên chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về những điểm mới của thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự và tiếp cận một cách riêng lẻ mà chưa có sự liên kết giữa hai chế định khởi kiện và thụ lý trong một đề tài nghiên cứu khoa học thống nhất Đồng thời, các tác giả chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận để phân tích và so sánh các quy định pháp luật, chưa đề cập đến việc vận dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn tại Tòa án Với thực tiễn tình hình nghiên cứu như trên, đề tài "Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự", lần đầu tiên được nghiên cứu những quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lý
vụ án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trên phương diện chuyên sâu, bao quát và đảm bảo tính hệ thống, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu các quy định chung về thủ tục
khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi công trình nghiên cứu, tác giả chủ yếu
tập trung các quy định chung và đặc thù về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành Đồng thời, luận
Trang 11văn cũng có nội dung đề cập đến pháp luật giải quyết tranh chấp tại trọng tài và pháp luật tố tụng hành chính hiện hành Tuy nhiên, mục đích tiếp cận về các vấn đề này chỉ làm cơ sở để so sánh, nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ những điểm mới phù hợp và những bất cập chưa được khắc phục về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân
sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Do điều kiện tiếp cận thực tiễn và thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài còn hạn chế nên tác giả chỉ đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua quy trình nhận và xử lý đơn khởi kiện vụ án dân sự
Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của các Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, để nêu ra những quy định tiến bộ và những thiếu sót hay chưa phù hợp thực tế về thủ tục khởi kiện và thụ
lý vụ án dân sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp phân tích được xem là phương pháp chủ yếu trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài; bên cạnh đó luận văn còn kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác gồm: liệt kê các quy định pháp luật, so sánh thủ tục
tố tụng dân sự với các thủ tục tố tụng khác, đối chiếu trong đó phương pháp so sánh được sử dụng nhằm mục đích tìm ra những ưu khuyết điểm những quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành; đối chiếu được sử dụng trong phần phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về
cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Luận văn có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sau đây:
Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam được nghiên cứu một cách có hệ thống, bao quát cả trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn Những vấn đề đặc thù của việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
so với thủ tục khởi kiện, thụ lý các vụ án khác cũng được nghiên cứu và đề cập một cách khái quát nhất
Đề tài tìm ra những tồn tại trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Từ những đánh giá toàn diện, kết quả nghiên cứu của đề tài đề xuất các kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Đồng thời giúp cho những người tìm hiểu về pháp luật có thể hiểu biết một cách sâu sắc, đầy đủ và thực hiện quyền khởi kiện trong vụ án dân sự theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khi phát sinh tranh chấp dân sự
và yêu cầu Tòa án giải quyết
7 Bố cục luận văn
Luận văn có bố cục gồm hai phần như sau:
Chương 1 Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành Gồm khái quát chung về khởi kiện vụ án dân sự và quy định pháp luật liên quan đến chủ thể khởi kiện; hình thức và phương thức nộp đơn khởi kiện; tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền khởi kiện Thực trạng áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 2 Thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành Gồm khái quát chung về thụ lý vụ án dân sự, mối liên hệ giữa thủ tục khởi kiện và thủ tục thụ lý vụ án dân sự Các quy định pháp luật về thủ tục thụ lý đơn
Trang 13khởi kiện; chuyển đơn khởi kiện; trả đơn khởi kiện và thực trạng áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 14CHƯƠNG 1
THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 1.1 Khái quát chung về thủ tục khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự
Trong điều kiện phát triển của xã hội loài người, sự ra đời của Nhà nước và pháp luật đã giải quyết phần lớn các mâu thuẫn giữa các chủ thể trong tất cả các mối quan hệ, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nước và đảm bảo thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Một trong các quyền cơ bản của con người được pháp luật thừa nhận và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình
đó là quyền khởi kiện Nội dung pháp luật quy định khái quát về việc chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đó của mình
Để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể, chúng ta
có các phương pháp chính được áp dụng thường xuyên gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án Trong đó, Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống nhất và cũng hiệu quả nhất Phương thức có sự tham gia giải quyết của đại diện quyền lực nhà nước đó là Tòa án nhân dân Do đó, quy trình giải quyết tranh chấp phải tuân thủ theo quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng Đồng thời, bản án, quyết định của Tòa án luôn được đảm bảo thi hành bằng hệ thống cơ quan thi hành
án của nhà nước
Bên cạnh đó, Nhà nước đã có nhiều biện pháp, cách thức khác nhau để bảo
hộ quyền dân sự giữa các chủ thể khi phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn như bảo vệ bằng biện pháp hình sự, bảo vệ bằng biện pháp hành chính, bảo vệ bằng biện pháp trọng tài … Đặc biệt và hiệu quả hơn hết trong các biện pháp bảo hộ quyền dân sự
là biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự Đây là phương pháp
Trang 15cá nhân, tổ chức và cơ quan có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng để buộc người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của mình phải chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong phạm vi pháp luật quy định; bồi thường thiệt hại đã làm phát sinh dựa trên các chứng cứ chứng minh hợp pháp
Trong Tiếng Việt, thuật ngữ “khởi” có nghĩa là bắt đầu, mở đầu một việc gì
đó1 và thuật ngữ “kiện” có nghĩa là yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại
đến mình2 Theo đó, thuật ngữ “khởi kiện” được hiểu là bắt đầu, mở đầu việc yêu
cầu xét xử đối với người có hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Theo thuật ngữ pháp lý, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đã khái niệm khởi kiện, thuật ngữ dùng trong tố tụng dân sự, là việc đương sự nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo
vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Việc nộp đơn khởi kiện tại Tòa
án và việc Tòa án nhận đơn là việc mở đầu hoạt động tố tụng dân sự đối với một vụ
án, đồng thời là sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm xem xét, giải quyết việc tranh chấp dân sự của Tòa án.3
Như vậy, trong lĩnh vực ngôn ngữ học “khởi kiện” được khái niệm là việc một cá nhân hay tổ chức nào đó gửi yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị chủ thể khác xâm phạm theo một thủ tục chung được pháp luật quy định
Trong lĩnh vực pháp lý, khởi kiện là việc cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.4
1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 512
2
Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 525
3 Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
4 Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Hồng Nhung (chủ biên), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017, trang 188
Trang 16Khởi kiện là hành vi tố tụng đầu tiên của người khởi kiện làm phát sinh các quan hệ pháp luật tố tụng Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thông qua việc nộp đơn khởi kiện cũng đồng nghĩa với việc đã khởi động quá trình tố tụng dân sự Tòa án chỉ xem xét, giải quyết vụ án dân sự trong phạm vi yêu cầu của người khởi kiện nên một trong những nội dung quan trọng của việc khởi kiện là người khởi kiện phải xác định cụ thể, rõ ràng các yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết, yêu cầu đó chính là quyền, lợi ích trong quan hệ pháp luật nội dung mà họ muốn được Tòa án bảo vệ, công nhận
Quyền khởi kiện và khởi kiện là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Nếu như quyền khởi kiện không có sự phân biệt về chủ thể thì khởi kiện được xác định điều kiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức rất rõ ràng, khi họ không đáp ứng được những điều kiện luật định thì họ không thể khởi kiện Sự khác nhau này xuất phát từ bản chất pháp lý của hai khái niệm Khởi kiện là hành vi tố tụng thể hiện ý chí hưởng quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức Đó là sự chủ động hưởng quyền khởi kiện của họ thông qua việc quyết định thực hiện hành vi nộp đơn khởi kiện nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng khi cho rằng các quyền và lợi ích đó
bị vi phạm hoặc có tranh chấp Do đó, không phải mọi chủ thể có quyền khởi kiện đều có thể thực hiện hành vi khởi kiện vụ án dân sự.5 Nói một cách khác, khởi kiện
vụ án dân sự là cách các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện của mình đã được pháp luật thừa nhận
Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp nhận và giải quyết các
vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật Theo đó, vụ việc dân sự gồm có: Vụ án dân sự, là những tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể
mà họ không thể tự giải quyết được nên phải khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và
5 Nguyễn Thị Hoài Phương, Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, trọng tài cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, NXB Lao Động, 2011, trang 66 – 67
Trang 17từ đó dẫn đến hình thành hai bên đối lập quyền, lợi ích với nhau là người khởi kiện
và người bị kiện Việc dân sự, là một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dút quan hệ pháp luật giữa các bên, không có yếu tố tranh chấp nên không hình thành hai bên đối lập lợi ích như vụ án dân sự Vì vậy, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ chỉ có trong vụ án dân sự mà không có trong việc dân sự nên thuật ngữ
pháp lý quy định chỉ có “khởi kiện vụ án dân sự” và không tồn tại thuật ngữ “khởi
kiện việc dân sự”
Như vậy, khởi kiện vụ án dân sự là giai đoạn bắt đầu tố tụng khi cá nhân, cơ
quan, tổ chức trong phạm vi pháp luật quy định chủ động thực hiện quyền khởi kiện thông qua việc nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác
1.1.2 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự
Khởi kiện là cơ sở phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự: khởi kiện là
hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở tạo tiền đề cho quan hệ tố tụng dân sự được hình thành và phát triển Khi người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phát của mình bằng việc gửi đơn khởi kiện đồng nghĩa với việc đã bắt đầu khởi động mối quan hệ tố tụng dân sự Nếu không có hoạt động khởi kiện thì không có quan hệ tố tụng dân sự phát sinh, vì Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự và giải quyết theo thủ tục tố tụng khi có cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn khởi kiện theo quy định pháp luật
Khởi kiện là phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân:
Quyền khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng Nó là một quyền pháp lý cơ bản được ghi nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý cao và trong những ngành luật khác nhau Quyền khởi kiện là quyền tố tụng do pháp luật quy định nhưng quyền quyết định có thực hiện hay không việc khởi kiện là do các cá nhân, cơ quan, tổ chức lựa chọn và không ai có quyền ép buộc họ việc có khởi kiện hay không và khởi kiện như thế nào Như vậy, quyền khởi kiện là quyền tố tụng quan trọng, có vai trò quyết
Trang 18định quá trình tố tụng tiếp theo có diễn ra hay không Khởi kiện là một biện pháp bảo vệ quyền dân sự hữu hiệu mà các chủ thể thực hiện thông qua hành vi khởi kiện Mục đích nhằm yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, tránh được sự xâm phạm, nhanh chóng khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra và sớm khôi phục lại các mối quan hệ thiện chí giữa các bên trong đời sống dân sự
Khởi kiện góp phần đảm bảo tính đúng đắn của pháp luật: Thông qua việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể, các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng nhằm đem lại sự công bằng, bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được kịp thời, hiệu quả, đúng đắn Từ đó, đảm bảo cho các quy định của pháp luật được tôn trọng, góp phần giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; tạo sự tin tưởng của nhân dân vào Nhà nước, vào pháp luật, vào các
cơ quan Nhà nước nói dung và cơ quan tư pháp nói riêng Đặc biệt, quyền khởi kiện
vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân được giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng luật định, hoạt động xét xử kết thúc bằng một bản án của Tòa án nhân danh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nên bản án được mọi người tôn trọng và được tổ chức thi hành bởi cơ quan thi hành án dân sự, buộc những người liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành, như vậy kỷ cương phép nước mới được tôn trọng và đề cao Đồng thời, theo quy định của pháp luật hiện hành, không chỉ Tòa án xét xử công khai mà bản án cũng phải được mã hóa và công khai trên các cổng thông tin điện tử theo quy định nên những bản án có căn cứ thuyết phục không những có tác dụng tốt đối với bản thân đương sự mà còn tăng giá trị giáo dục rộng rãi trong xã hội
Trang 191.1.3 So sánh thủ tục khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự với các lĩnh vực khác
1.1.3.1 So sánh thủ tục khởi kiện trong tố tụng dân sự với thủ tục khởi kiện trong tố tụng hành chính
Khởi kiện vụ án hành chính và khởi kiện vụ án dân sự là những vấn đề thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày Do đó, khi khởi kiện đến Tòa án, người khởi kiện phải xác định rõ đối tượng khởi kiện vụ án, tính chất của quan hệ tranh chấp Từ đó, người khởi kiện áp dụng những quy định pháp luật cho phù hợp So sánh khởi kiện trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính giúp cho công dân thực hiện tốt quyền khởi kiện của mình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình kịp thời và Tòa án cũng có nhiều thuận lợi hơn trong việc xác định pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung để áp dụng giải quyết vụ án
Về nội dung giống nhau, tố tụng hành chính và tố tụng dân sự đều là những
quy định thuộc về pháp luật hình thức, quy định trình tự, thủ tục để giải quyết vụ án tại Tòa án, nhằm mục đích để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Vụ án dân sự và vụ án hành chính bắt buộc phải phát sinh từ hành vi khởi kiện của chủ thể theo pháp luật quy định, đây là bước quan trọng để làm căn cứ cho việc thụ lý và giải quyết vụ án
Về các nội dung khác nhau, các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ
chức trong pháp luật tố tụng dân sự phát sinh từ các quan hệ mang tính tài sản, nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể với nhau, ngược lại các tranh chấp giữa các chủ thể trong pháp luật
tố tụng hành chính phát sinh từ quan hệ quản lý hành chính, mệnh lệnh phục tùng nên vụ án hành chính và vụ án dân sự đều có những đặc thù về chủ thể, đối tượng nên dẫn đến quy trình tố tụng hành chính và tố tụng dân sự có những điểm khác nhau cơ bản, cụ thể:
Về đối tượng khởi kiện, trong vụ án hành chính thì đối tượng khởi kiện là các
quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữa chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống; quyết định giải
Trang 20quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri mà cơ quan,
tổ chức, cá nhân không đồng ý với quyết định đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật
mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.6 Tuy nhiên, không phải tất
cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính đều có thể khiếu kiện để giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính Quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính khi quyết định hành chính, hành vi hành chính đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nôi dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khởi kiện Đây là những vấn đề liên quan đến quan hệ pháp luật tố tụng hành chính Còn đối tượng khởi kiện trong vụ án dân sự
có phạm vi rộng hơn, đó là các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được quy định cụ thể tại Bộ luật Tố tụng dân sự
Về chủ thể tham gia tố tụng, trong vụ án hành chính do xuất phát từ đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính mang tính đặc thù liên quan đến hoạt động quản
lý hành chính của các cơ quan tổ chức nên người bị kiện trong vụ án ánh chính luôn
là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước hoặc cá nhân là người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức
đó có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện Ngược lại, đối với vụ án dân sự, chủ thể tham gia tố tụng với tư cách người bị kiện có thể là bất kỳ tổ chức, cơ quan, cá nhân nào có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện
Về thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự có nhiều quy định hơn so với vụ án
hành chính Đối với vụ án hành chính thời hiệu khiếu kiện được quy định thống nhất, cụ thể, rõ ràng, thời hạn ngắn hơn và mang tính bắt buộc so với thời hiệu trong
6
Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
Trang 21vụ án dân sự, cụ thể 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; trước ngày bầu cử 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách
cử tri.7 Đối với vụ án dân sự, thời hiệu khởi kiện được quy định cụ thể đối với từng loại tranh chấp và việc áp dụng thời hiệu không mang tính bắt buộc như vụ án hành chính mà Tòa án chỉ áp dụng theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu.8 Như vậy, quy định về thời hiệu trong vụ án dân sự có phần mở rộng và phụ thuộc vào đương
sự nhiều hơn so với vụ án hành chính, điều này xuất phát từ đối tượng khởi kiện và mục đích của từng loại vụ án, đối với vụ án hành chính đối tượng khởi kiện là các quyết định, hành vi trong hoạt động quản lý hành chính nhằm mục đích giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa công dân và cơ quan quản lý hành chính nhà nước nên cần giải quyết, điều chỉnh nhanh chóng; riêng đối với tranh chấp dân sự cần có thời gian để các bên thương lượng, hòa giải khi phát sinh mâu thuẫn nên thời hiệu phụ thuộc chủ yếu vào các bên đương sự, thay đổi quy định về thời hiệu khởi kiện, trao quyền áp dụng thời hiệu cho các bên đương sự là một tiến bộ đáng được ghi nhận của các nhà làm luật, góp phần giải quyết triệt để các tranh chấp, mâu thuẫn giữa các chủ thể, góp phần ổn định đời sống, phát triển kinh tế
1.1.3.2 So sánh thủ tục khởi kiện trong tố tụng dân sự với thủ tục khởi kiện tại trọng tài thương mại
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 là một trong những văn bản pháp luật được ban hành nhằm quy định về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đảm bảo quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền, lợi ích
Trang 22hợp pháp của các bên tranh chấp Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng
có những quy định về thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh
vực kinh doanh thương mại Hai thủ tục tố tụng này đều là phương thức giải quyết
tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại nên đối tượng giải quyết của loại tranh chấp này theo hai phương thức trên là giống nhau
Tuy nhiên, do đặc thù của cơ quan tiến hành tố tụng và quá trình giải quyết nên quy định tố tụng của hai phương pháp trên vẫn còn tồn tại nhiều điểm khác biệt, bao gồm:
Về thời hiệu khởi kiện, quy định về thời hiệu khởi kiện trong Luật Trọng tài
thương mại năm 2010 mang tính bắt buộc, thời hạn cụ thể là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích người khởi kiện bị xâm phạm, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác.9 Như đã phân tích về thời hiệu được đề cập trong Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại mặc dù được quy định tại các luật chuyên ngành nhưng việc áp dụng thời hiệu khởi kiện mang tính linh hoạt của chủ thể tham gia tố tụng, phụ thuộc vào yêu cầu của các bên
Về thẩm quyền giải quyết, đối với khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương
mại theo thủ tục tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được phân chia cụ thể, rõ ràng theo cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, việc nộp đơn khởi kiện không đúng thẩm quyền thì Tòa án sẽ không giải quyết mà chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để giải quyết do đó các bên không được tự do lựa chọn Tòa án giải quyết Nhưng đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thì không đặt ra vấn đề về thẩm quyền theo lãnh thổ Một tranh chấp thương mại có thể giải quyết tại bất kỳ Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài nào nếu có sự lựa chọn của các bên mà không phục thuộc vào đối tượng tranh chấp, địa điểm xảy ra tranh chấp hoặc quốc tịch của các bên Chỉ cần có sự thỏa thuận, lựa chọn của các bên thông qua một thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì việc giải quyết tranh chấp hoạt động kinh doanh thương mại bằng Trọng tài sẽ được
9
Điều 33 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Trang 23diễn ra Do đó, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chỉ được diễn ra khi có sự thỏa thuận lựa chọn giữa các bên trước hoặc sau khi tranh chấp pháp sinh và sự thỏa thuận đó phải hợp pháp.10 Đặc biệt, nếu các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thì không được khởi kiện ra Tòa án trừ khi pháp luật về trọng tài
có quy định một số trường hợp, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và từ chối thụ lý khi
có căn cứ về việc các bên đã có thỏa thuận Trọng tài
Về phạm vi giải quyết tranh chấp, thủ tụng tố tụng dân sự có phạm vi giải
quyết tranh chấp các loại tranh chấp rộng hơn, đa dạng hơn so với Trọng tài thương mại như tranh chấp trong hôn nhân và gia đình, tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp về lao động nhưng thủ tục tố tụng trọng tài chỉ quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên
Về quyền tự định đoạt của các chủ thể tham gia tố tụng, quyền tự định đoạt
của người khởi kiện trong tố tụng trọng tài được thể hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên, Luật Trọng tài thương mại quy định trong nội dung đơn khởi kiện, người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên11 Như vậy, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự do định đoạt của các đương sự cao hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án: các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên; địa điểm giải quyết tranh chấp; quy tắc tố tụng, luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp… các đương sự sẽ không có các quyền này khi giải quyết bằng Tòa án Vì Thẩm phán xét
xử vụ án phải do Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp phân công, việc giải quyết phải diễn ra tại trụ sở Tòa án, áp dụng các luật có liên quan
1.2 Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự
Chủ thể khởi kiện là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có phát sinh tranh chấp, việc xác định chủ thể của quan hệ theo pháp luật nội dung tùy thuộc vào
Trang 24từng ngành luật cụ thể Theo đó, những chủ thể của ngành luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động là những chủ thể khởi kiện trong tố
tụng dân sự Như vậy, chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định
của pháp luật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng, dân sự
Khi nghiên cứu đến chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là ta nghiên cứu đến các
quy định pháp luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện và năng lực hành vi tố tụng
dân sự của chủ thể khởi kiện vụ án dân sự
1.2.1 Quy định pháp luật hiện hành
1.2.1.1 Quyền khởi kiện vụ án dân sự
Quyền khởi kiện đã được ghi nhận và có những quy định đầu tiên xuất hiện trong cổ luật La Mã Theo đó, khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh áp dụng quyền tự vệ là quyền tự xử lý hành vi vi phạm pháp luật “Vim vi repelere licet” cho phép dùng sức mạnh để trấn
áp bạo luật , họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Người bị vi phạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó
Trong xã hội hiện tại, quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền của con người cụ thể tại Điều 8 trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi
nhận nội dung “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có
thẩm quyền với phương tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận” Theo đó, quyền
khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người và được pháp luật ghi nhận nhằm mục đích đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội Như vậy, quyền khởi kiện đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế tạo nên cơ sở vững chắc cho việc ghi nhận và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
Nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự các nước về quyền khởi kiện trong vụ
án dân sự tại Tòa án, ta bắt gặp khái niệm “quyền kiện dân sự” Nội hàm của khái
Trang 25niệm quyền kiện dân sự rộng hơn rất nhiều so với “quyền khởi kiện vụ án dân sự”
Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1975 đã định nghĩa quyền kiện dân sự là “quyền
pháp lý theo đó một người có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố xác nhận các lợi ích của mình bằng việc mở phiên tòa xem xét” Theo đó, quyền kiện dân sự không phải chỉ
là quyền khởi kiện vụ án dân sự của nguyên đơn mà còn là quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Tương tự vậy, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quan niệm của các nhà làm luật thì quyền khởi kiện không phải chỉ mang nghĩa hẹp là quyền tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, việc thực hiện quyền khởi kiện của họ sẽ làm phát sinh quá trình tố tụng tại Tòa án, quyền khởi kiện còn được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xuyên suốt quá trình tố tụng của vụ án, tức là quyền khởi kiện còn thuộc về bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu nên luận văn chỉ đề cập đến quyền khởi kiện vụ án dân sự tại thời điểm thụ lý vụ án, tức là giai đoạn bắt đầu tố tụng
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam như sau “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Trên cơ sở quy định của
Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hoá và ghi nhận quyền khởi kiện của đương
sự Cụ thể là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nội dung
và pháp luật tố tụng, như Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trường
hợp giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện gửi đến Trung tâm trọng tài Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn” Tuy
nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu trên thế giới hay ở Việt Nam khi đề cập đến quyền khởi kiện chủ yếu nhắc đến khái niệm quyền khởi kiện tại Tòa án
Trang 26Trong quan điểm lập pháp của Việt Nam thì khái niệm quyền khởi kiện tại Tòa án được hiểu như sau: Quyền khởi kiện tại Tòa án là quyền tố tụng của các chủ thể được nhà nước thừa nhận và pháp luật quy định nhằm mục đích đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân có thẩm quyền Cụ thể: Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết
Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, quyền khởi kiện được hiểu rất rộng và đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân
sự Thời kỳ này, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam không có sự phân biệt giữa hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự Do đó, tất cả các việc có tranh chấp hay không có tranh chấp đều được gọi chung là vụ án dân sự và việc yêu cầu Tòa án giải quyết Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành và có hiệu lực đã tách thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là một loại quyền tố tụng dân sự của các chủ thể yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị xâm phạm Xét ở góc độ này thì quyền khởi kiện cần hiểu theo hai góc độ, theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
lợi của nguyên đơn, quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự
Theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong việc yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị vi phạm Thực chất, đây là quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu thủ tục khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình Thông qua qua việc nộp đơn yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vụ án dân sự Đó là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu
Trang 27cầu Tòa án bảo việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Chính việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ sở pháp
lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì không có các quá trình tố tụng tiếp theo
Phạm vi nghiên cứu của bài viết về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án nên chỉ tập trung nghiên cứu quyền khởi kiện theo nghĩa hẹp, quyền khởi kiện của nguyên đơn bắt đầu thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự
1.2.1.2 Năng lực hành vi tố tụng dân sự của chủ thể
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, cụ thể tại Điều 186
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”, như vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình thì người
có quyền khởi kiện là đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự
Đối với người khởi kiện là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi tố
tụng dân sự Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án
Cá nhân là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc thực hiện quyền khởi kiện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
Cá nhân là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền khởi kiện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Đối với người bị hạn chế năng
Trang 28lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc thực hiện quyền khởi kiện cho họ được xác định theo quyết định của Tòa án
Đối với người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì việc khởi kiện của họ do
người đại diện hợp pháp thực hiện Theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân
sự thì người đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên, điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì pháp nhân có thể có có nhiều người đại diện theo pháp luật Quy định mới này tạo điều kiện thuận lợi thành viên của pháp nhân trong việc thỏa thuận, lựa chọn người đại diện theo pháp luật và đồng thời tạo điều kiện cho pháp nhân thuận lợi, nhanh chóng trong việc xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý, các giao dịch dân sự trên nhiều lĩnh vực hoặc ở nhiều địa phương khác nhau Tuy nhiên, để tránh việc thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi thẩm quyền hay với người không có thẩm quyền, pháp luật đã quy định mỗi người đại diện cho pháp nhân trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều
lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật12 Có nghĩa là quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật là căn cứ, cơ sở để Tòa án xác định người đại diện theo pháp luật nào được thay mặt pháp nhân thực hiện thủ tục khởi kiện.13
Đối với người khởi kiện là người lao động, tập thể người lao động: về
nguyên tắc, tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động khi tập thể người lao động bị xâm phạm Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức tập thể lao động thay mặt
họ khởi kiện tranh chấp lao động Đối với những tranh chấp mà đương sự là người lao động không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại
12 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014
13 Nguyễn Thị Thu Hà (2016), Người đại diện của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (09), Trang 28.
Trang 29diện thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động động đại diện cho người lao động đó.14
Bên cạnh quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định về việc khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước tại Điều
187 Bộ luật Tố tụng dân sự Quy định này xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước
và xã hội đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong xã hội, thể hiện sự quan tâm của xã hội với cá nhân con người Để thực hiện trách nhiệm của xã hội nhưng không xâm phạm đến những vấn đề mang tính cá nhân, quyền riêng tư của con người thì chủ thể có quyền khởi kiện trong trường hợp này là cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật quy định Cụ thể như sau:
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình15 Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.16
Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.17
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi
16 Khoản 2 Điều 51; Điểm a Khoản 5 Điều 84; Điểm a Khoản 2 Điều 86; Điều 92; Điểm a Khoản 3 Điều 102; Điểm a Khoản 2 Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
17
Khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2012.
Trang 30kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.18
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật
1.2.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật
Khởi kiện vụ án dân sự rất có ý nghĩa đối với người khởi kiện Điều này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ trong đời sống hằng ngày Bên cạnh
đó, kiến thức pháp luật của công dân ngày càng nâng cao nên khi các tranh chấp phát sinh, người dân đã không còn tâm lý lo sợ khi đến Tòa án để thực hiện quyền khởi kiện của mình
Mặc dù, kiến thức pháp luật của người dân ngày càng được cải thiện nhưng
hệ thống pháp luật tại Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, bộ máy cơ quan hành pháp cồng kềnh, văn bản pháp luật còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn Vì vậy, người dân vẫn cần được sự trợ giúp của những cá nhân, tổ chức hành nghề luật pháp Từ năm
1945 đến nay, để đảm bảo quyền khởi kiện của người dân được thực hiện triệt để, dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước đã hình thành và trải qua các bước phát triển khác nhau phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Những hoạt động mang tính trợ giúp pháp lý đã hình thành và phát triển từ những ngày đầu lập nước, đó là chế định “tư pháp bảo trợ” Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách từ Trung ương cho đến địa phương Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 4899/QĐ-UB-NC ngày 21/9/1998 thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích
18
Điểm b Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 31cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thực tôn trọng và chấp hành pháp luật Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân, tổ chức khi đến Tòa án khởi kiện đều có trình độ hiểu biết pháp luật để xem xét và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí Vì vậy, Tòa án nhân dân và Sở tư pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự phối hợp, hợp tác với nhau nhằm hỗ trợ người dân khi đến Tòa án
Cụ thể, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh đặt văn phòng tiếp nhận và tư vấn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Mỗi người dân khi liên hệ Tòa án để nộp đơn khởi kiện sẽ được Thẩm phán giải thích về việc trợ giúp pháp lý miễn phí
Tổng số việc tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước sau 5 năm thành lập, năm 2002 là 323 vụ Tuy nhiên, số việc tham gia ngày càng tăng như sau: năm 2007 (sau 10 năm) là 2.483 vụ, năm 2012 (sau 15 năm) là 5.523 vụ, năm 2017 (sau 20 năm) là 11.339 vụ Qua số liệu thống
kê về số việc mà trung tâm trợ giúp pháp lý đã cử người tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng đã cho thấy chất lượng hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý tại Tòa án, quyền khởi kiện của người dân cũng được đảm bảo thực hiện tốt hơn
Bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến trợ giúp pháp lý, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự thông báo chuẩn hóa các mẫu văn bản tài liệu cho việc khởi kiện Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện các quy định về khởi kiện của Bộ luật Tố tụng dân sự đồng thời góp phần thể hiện sự công khai, dân chủ, tại phòng nhận đơn khởi kiện của Tòa án có các văn bản hướng dẫn sau: mẫu khởi kiện vụ án lao động, dân sự, hôn nhân và gia đình… Đơn khởi kiện gồm những nội dung chính như thế nào và tạm ứng án phí cho từng loại việc như thế nào Bên cạnh đó, các danh mục tài liệu kèm theo đơn khởi kiện nhằm chứng minh quyền khởi kiện của mình cũng được chuẩn hóa thành văn bản để người dân dễ dàng tiếp cận và thực hiện, hạn chế việc trả lại đơn khởi kiện Tuy nhiên, kể từ khi
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì các mẫu văn bản vẫn chưa
Trang 32được sửa đổi để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành nhưng bảng danh mục các tài liệu kèm theo vẫn còn áp dụng do quyền khởi kiện và tài liệu chứng cứ chứng minh vẫn không thay đổi nhiều
Chủ thể có quyền khởi kiện bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không có nhiều đổi mới so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Vì vậy, trong quá trình thực hiện từ trước đến nay, quy định về quyền khởi kiện của các tổ chức, cơ quan nhà nước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả Bằng chứng là hàng loạt các vụ xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước như vụ Công ty TNHH Vedan xả thải gây ô nhiễm môi trường hay gần đây nhất là việc Công ty Formosa Hà Tĩnh xả thải ra môi trường làm cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung…, nhưng không thấy bất cứ cơ quan Nhà nước có trách nhiệm nào tiến hành khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Nguyên nhân chủ yếu của việc chưa thực hiện hiệu quả xuất phát việc quản lý và thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện quyền khởi kiện của các tổ chức, cơ quan Nhà nước và quy định pháp luật về trách nhiệm khởi kiện không nêu rõ cơ quan chuyên trách cấp nào có quyền thực hiện thủ tục khởi kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra.19
Bên cạnh đó, về khởi kiện bảo vệ người tiêu dùng, khoản 3 Điều 187 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” Đồng thời, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng quy
định các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có các chức năng
và nội dung hoạt động như hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu; đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công
19 Bùi Kiêm Hiếu (2014), Pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm
ô nhiễm môi trường gây ra – thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Luật học (10), trang 40
Trang 33cộng20 Hiện nay, có hai cách tiếp cận vấn đề này là tổ chức này có quyền khởi kiện đương nhiên nhân dân họ để bảo vệ lợi ích chung của người tiêu dùng và cách thứ hai là trường hợp tổ chức bảo vệ người tiêu dùng được ủy quyền bởi người tiêu dùng để tiến hành khởi kiện ra Tòa án Nếu tiếp cận pháp luật theo cách hiểu thứ nhất thì trao cho tổ chức bảo vệ người tiêu dùng một quyền rất lớn trong việc khởi kiện các doanh nghiệp ra tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại.21
Bên cạnh đó, một vấn đề được đặt ra là nếu một hoặc một số người tiêu dùng
đã thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ người tiêu dùng nữa hay không? Hoặc ngược lại, nếu các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã khởi kiện
vụ án dân sự thì người tiêu dùng có được tiếp tục khởi kiện theo Điều 186 để bảo vệ quyền lợi của mình? Thực tế để giải quyết vấn đề nêu trên không hề đơn giản, đặc biệt trong trường hợp vụ án liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể diễn ra ở nhiều địa phương khác nhau, người tiêu dùng cũng có thể là cá nhân, tổ chức trong nước hay ngoài nước do đó có thể thuộc thẩm quyền của nhiều Tòa án khác nhau
Bảo đảm quyền khởi kiện chính là việc làm cho quyền khởi kiện được thực hiện chắc chắn Việc bảo đảm quyền khởi kiện hay việc làm cho quyền khởi kiện được thực hiện chắc chắn hay không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và khách quan
Yếu tố chủ quan chính là sự nhận thức và mong muốn của đương sự, theo đó, việc khởi kiện hay không khởi kiện hoàn toàn phục thuộc vào ý chí chủ quan của đương sự, đòi hỏi đương sự phải chủ động thực hiện Tuy nhiên, ý chí của đương sự thường phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật, niềm tin của công dân vào cơ
20 Điều 28 Luật Bảo vệ người tiêu dùng
21 Bùi Ai Giôn (2016), Quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Luật sư Việt Nam (11), trang 21
Trang 34quan xét xử và thủ tục tố tụng khởi kiện vụ án phải đơn giản, thuận lợi đảm bảo việc thực hiện của quyền khởi kiện
Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài có tác động, chi phối đến việc thực hiện quyền khởi kiện của cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức Những yếu tố
đó có thể là các quy định của pháp luật về quyền khởi kiện, các thiết chế, cơ chế hỗ trợ người khởi kiện Như vậy, dưới góc độ khách quan thì bảo đảm quyền khởi kiện được hiểu là tổng thể các biện pháp, các cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cần thiết cho đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện như trợ giúp pháp lý cho đương sự, đơn giản và minh bạch hóa về thủ tục khởi kiện…, đồng thời việc bảo đảm này còn được thực hiện thông qua chính các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát Chính các biện pháp và cơ chế này là cơ sở đảm bảo tính khả thi của quyền khởi kiện được thực hiện nhằm bảo vệ các quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ
1.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Pháp luật chuyên ngành phải bổ sung những quy định cụ thể về quyền khởi kiện của các của các cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước Đối với các tranh chấp có yếu tố bạo hành gia đình, bạo hành trẻ em; tranh chấp lao động ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động; tranh chấp liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc các tranh chấp bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước do cơ quan, tổ chức thuộc cấp huyện có quyền khởi kiện theo Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự
Về thẩm quyền của Tòa án khi thiệt hại lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước xảy ra ở nhiều quận, huyện khác nhau của một tỉnh thì tòa án nơi nhận đơn khởi kiện đầu tiên sẽ có thẩm quyền giải quyết
Trang 351.3 Hình thức và phương thức nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự
1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành
1.3.1.1 Hình thức đơn khởi kiện
Theo pháp luật Pháp, việc bắt đầu vụ kiện tại tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như thông qua việc gửi giấy tống đạt ra tòa hoặc bắt đầu bằng việc các đương sự gửi đơn kiện chung cho phòng thư ký lục sự hoặc các bên tự nguyện trình diện trước tòa để yêu cầu xét xử tranh chấp hoặc trên
cơ sở tờ khai của đương sự gửi phòng lục sự22 Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chỉ quy định duy nhất một hình thức bắt đầu việc kiện là nộp đơn khởi kiện tại Tòa
án Khi các chủ thể khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì phải làm
đơn khởi kiện Vụ án dân sự phát sinh chủ yếu do cá nhân, pháp nhân thực hiện
quyền khởi kiện của mình bằng việc nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Việc làm đơn
khởi kiện của cá nhân, tổ chức được quy định cụ thể tại khoản 2, khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:
Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên, hoặc điểm chỉ
Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn khởi kiện phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ
Cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là
22 Trần Anh Tuấn (2015), Thủ tục tố tụng dân sự của một số nước Châu Âu và so sánh với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Luật học (11), trang 55
Trang 36người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm
hộ đơn khởi kiện và phải có người đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện
Như vậy, đối với người khởi kiện là cá nhân thì có thể nhờ người khác làm
hộ nội dung đơn khởi kiện nhưng bắt buộc phải là người đứng tên trên đơn khởi kiện và trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ ở phần cuối đơn Quy định này nhằm đảm bảo tính xác thực, khách quan, độc lập của nội dung đơn khởi kiện Nếu pháp luật
đã trao cho chủ thể quyền khởi kiện thì cũng gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc thực hiện khởi kiện tại Tòa án
Đối với cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ
án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức của họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó, ở phần cuối đơn,
người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan,
tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật
Cũng giống như cá nhân, các cơ quan, tổ chức khi thực hiện quyền khởi kiện của mình có thể nhờ người khác làm hộ phần nội dung đơn khởi kiện nhưng phải do mình đứng đơn khởi kiện và phải ký tên, đóng dấu ở phần cuối đơn Tuy nhiên, về việc người ký đơn khởi kiện pháp luật quy định là người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức khởi kiện Theo quy định của Bộ luật Dân sự, đại diện hợp pháp là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền Đồng thời, phải đóng dấu của cơ quan, tổ chức lên chữ ký của người đại diện hợp pháp
Về nội dung đơn khởi kiện, phải có các nội dung chính theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự, gồm: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở, số điện
Trang 37thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người có quyền và lợi ích được bảo vệ, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa
án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Đối với trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở cuối cùng của họ
Quy định cụ thể về nội dung đơn khởi kiện đã góp phần tạo nên sự thống nhất, rõ ràng khi chủ thể thực hiện quyền khởi kiện của mình, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin về vụ việc tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết, để cán bộ Tòa án tiếp cận nhanh chóng, thuận lợi hơn trong việc nhận và xử lý đơn khởi kiện
1.3.1.2 Phương thức nộp đơn khởi kiện
Nếu như người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện khi phát sinh tranh chấp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của mình thì Tòa án có nghĩa vụ phải nhận đơn khởi kiện để giải quyết tranh chấp đó nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị ảnh hưởng Hành vi nhận đơn khởi kiện của Tòa án là một khởi động, một mở đầu thủ tục tố tụng Tòa án không được từ chối nhận đơn khởi kiện của người dân vì bất kỳ lý do nào và kể từ ngày nhận đơn khởi kiện đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng và Đồng thời, ngày nhận đơn khởi kiện cũng là căn cứ để xác định thời hiệu giải quyết tranh chấp
và thời hạn giải quyết đơn khởi kiện Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: nộp trực tiếp đơn khởi
kiện tại Tòa án; gửi đơn khởi kiện theo đường dịch vụ bưu chính; gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án 23 Pháp luật tố tụng dân sự quy định rõ ràng về hình thức thực hiện, điều kiện nộp đơn, cách
23
Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 38tính ngày khởi kiện, phương thức ban hành văn bản xác nhận đã nhận đơn khởi kiện của Tòa án và thời gian thực hiện đối với mỗi cách thức nhận đơn khởi kiện Cụ thể,
Đối với trường hợp nộp trực tiếp tại Tòa án: là người khởi kiện hoặc đại diện
theo ủy quyền của người khởi kiện phải trực tiếp đến Tòa án để thực hiện thủ tục nộp đơn khởi kiện, ký xác nhận vào biên bản nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Tòa án phải cung cấp giấy xác nhận đã nhận đơn
và các danh mục kèm theo cho người nộp đơn Đặc biệt trong trường hợp này, nếu
có nhiều người khởi kiện cùng ký đơn thì tất cả những người cùng khởi kiện phải trực tiếp đến Tòa để nộp đơn hoặc phải ủy quyền cho người khác nộp thay mình Đối với trường hợp này, người khởi kiện chỉ có thể nộp đơn khởi kiện trong thời gian Tòa án làm việc, tức là vào khung giờ hành chính và ngày khởi kiện được tính
là ngày nộp đơn tại Tòa án
Đối với trường hợp nộp đơn theo đường dịch vụ bưu chính: đây là phương
thức nộp đơn khởi kiện ưu thế cho những đương sự có điều kiện địa lý cách xa Tòa
án có thẩm quyền Ngày khởi kiện là ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi, trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính Đương sự có nghĩa vụ chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính, nếu không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do dịch vụ bưu chính chuyển đến24 Trong thời hạn 02 (hai) ngày kể từ ngày nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì Tòa án phải gửi thông báo đã nhận đơn cho người khởi kiện biết
Đối với trường hợp nộp đơn khởi kiện trực tuyến: đây là phương thức nộp
đơn khởi kiện mới so với hai phương thức nêu trên Để thực hiện thủ tục nộp đơn khởi kiện trực tuyến thì trước tiên Tòa án phải có cổng thông tin điện tử, là điểm truy cập tập trung, lưu trữ, tích hợp các thông tin để người khởi kiện, người tham gia tố tụng giao dịch điện tử với Tòa án trên nền tảng Web và Tòa án phải sử dụng
24
Khoản 2 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 39chữ ký điện tử được chứng thực bằng chứng thư điện tử do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, công nhận để ký thông điệp dữ liệu điện tử Tòa án nhân dân tối cao sẽ thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao danh sách các Tòa án thực hiện giao dịch điện tử Bên cạnh đó, người khởi kiện phải có các điều kiện gồm: địa chỉ thư điện tử để gửi và nhận thông điệp dữ liệu điện tử đến và
đi từ Cổng thông tin điện tử của Tòa án; có chữ ký điện tử được chứng thực bằng chứng thư điện tử đang còn hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, công nhận; đã thực hiện đăng ký giao dịch thành công về việc gửi và nhận thông điệp dữ liệu điện tử với Tòa án25 Người khởi kiện, được thực hiện các giao dịch điện tử 24 giờ trong ngày và 07 (bảy) ngày trong tuần, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ và ngày Tết nên ngày khởi kiện nộp đơn trực tuyến chính là ngày gửi đơn Về quy trình gửi
và nhận đơn khởi kiện trực tuyến, người khởi kiện khi đã hoàn thành thủ tục đăng
ký và được Tòa án cấp tài khoản để truy cập Cổng thông tin điện tử, phải truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tòa án điền đầy đủ nội dung đơn khởi kiện, ký điện
tử và gửi đến Tòa án Kết quả xử lý đơn khởi kiện được Tòa án gửi đến địa chỉ thư điện tử đã đăng ký của người khởi kiện
Sau khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện phải ghi vào sổ nhận đơn để thuận tiện cho việc theo dõi Đồng thời, kể từ ngày nhận đơn, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, Chánh án phải phân công Thẩm phán phụ trách xem xét và giải quyết đơn khởi kiện Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải ra quyết định xử lý đơn khởi kiện Vậy trong thời hạn tối đa là 08 (tám) ngày làm việc, người khởi kiện sẽ nhận được kết quả xử lý đơn khởi kiện gồm: Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí
để thụ lý vụ án, thông báo chuyển đơn khởi kiện nếu không thuộc thẩm quyền, thông báo trả lại đơn khởi kiện theo những điều khoản do pháp luật quy định
25
Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử
Trang 401.3.2 Thực trạng giải quyết của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật
1.3.2.1 Hình thức đơn khởi kiện
Hiện nay, nội dung đơn khởi kiện tranh chấp dân sự đã được quy định cụ thể tại mẫu số 23 của Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự Do đó, người dân có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự khi có tranh chấp phát sinh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, tranh chấp dân sự được khởi kiện tại Tòa án nhân dân ngày càng tăng và đa dạng, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, về hình thức đơn khởi kiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất trong việc quy định hình thức đơn khởi kiện do cá nhân cư trú nước ngoài lập Trong đó cần phải đề cập đến tính hợp pháp tại Việt Nam và ngôn ngữ trong đơn khởi kiện
Về tính hợp pháp tại Việt Nam của đơn khởi kiện do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập: Tại khoản 2 Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có
quy định về việc giấy tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập và gửi cho Tòa
án Việt Nam công nhận nhưng không nêu cụ thể về việc các giấy tờ, tài liệu gồm
những loại nào Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp lãnh sự thì “Hợp pháp
hóa lãnh sự” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ
ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam Để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam, các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp thuộc loại các giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự Thực tiễn giải quyết đối với trường hợp này tồn tại hai quan điểm chính:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, đơn khởi kiện không phải là giấy tờ, tài liệu
được quy định trong Điều 478 và nó được áp dụng theo Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đơn khởi kiện do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập không cần thực
hiện các thủ tục nêu trên