1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ nguyên hồng qua các truyện ngắn và tiểu thuyết trước cách mạng

76 1,6K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ nguyên hồng qua các truyện ngắn và tiểu thuyết trước cách mạng
Tác giả Nguyên Hồng
Người hướng dẫn Thầy Giáo Đoàn Mạnh Tiến
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 508 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Lời nói đầu

Nguyên Hồng - Gorki Việt Nam, sự so sánh ấy âu cũng đã nói lên rấtnhiều sự gần gũi về cuộc đời, về tấm lòng vàng của hai nhà văn và là sự đánhgiá cao về tài năng nghệ thuật của Nguyên Hồng

Bây giờ và mai sau, mỗi khi chúng ta đọc lại từng tác phẩm của NguyênHồng, nếu chúng ta không thắt nghẹn con tim thì cũng nghe đợc hơi ấm củatình ngời Nguyên Hồng lan tỏa trong trang giấy, sởi ấm cuộc đời các số phậnbất hạnh

"Giọng văn" của ông là dòng máu nóng vắt ra từ con tim đau đớn vì

th-ơng ngời thth-ơng đời, do đó tạo ra tâm ngôn hấp dẫn mang nặng hơi thở của nỗilòng Nguyên Hồng Đặc biệt là những truyện ngắn tiểu thuyết của ông trớc cáchmạng thì điều đó càng thể hiện rõ - đó là những sáng tác giá trị của NguyênHồng nói riêng và văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945 nóichung Nhằm sơ bộ tìm ra vẻ đẹp của tâm ngôn đó là mục đích của khoá luậnnày

Luận văn hoàn thành đó là nhờ sự tận tình hớng dẫn của thầy giáo ĐoànMạnh Tiến và những ý kiến đóng góp, góp ý của các quý thầy cô khoa Ngữ văn

- Đại học Vinh và các bạn bè đồng nghiệp Khoá luận chắc chắn còn nhiềuthiếu sót, mong đợc sự góp ý của mọi ngời

Tác giả khoá luận xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2004.

Tác giả

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng vănhọc hiện thực phê phán nớc ta giai đoạn 1930 - 1945 Ông sớm đến với nghềvăn và thành công ngay từ tác phẩm ban đầu Và một trong những thành côngban đầu đó có "Bỉ Vỏ" (1938) đợc d luận hoan nghênh và từ đó chúng ta có mộtNguyên Hồng - nhà văn triển vọng nhiều tiềm năng Kể từ đây, với sức viếtkhông ngừng nghỉ, ông đã cho ra đời nhiều công trình văn học đồ sộ tạo "một Nguyên Hồng lực lỡng với những trang viết về ngời lao động thành phố cảng

và nỗi thống khổ của họ trong cuộc đời cũ" (6, tr9).

Cùng với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Nguyên Hồng cũng đã tạo cho mình một phong cách riêng, một chỗ đứng riêngtrong làng văn và đã có những sáng tác xuất sắc, to lớn, đóng góp cho văn họchiện đại nớc nhà Trớc cách mạng, những tác phẩm của ông luôn là "những sựkiện" trên văn đàn Việt Nam "Và Nguyên Hồng nhà văn của những xóm thơ

"những ngời cùng khổ", "Gorki Việt Nam", ngời đã đem vào trang sách muối mặn, mồ hôi và đất bụi của cuộc đời" (Hà Minh Đức, 6, tr13).

Nếu Thạch Lam tinh tế sâu lắng,nếu Nam Cao sắc lạnh, nếu Vũ TrọngPhụng, Nguyễn Công Hoan chua chát,nếu Ngô Tất Tố thâm trầmnh một "cụ

đồ", thì Nguyên Hồng bằng một sự hồn hậu, hiền hoà, bằng mộ nụ cời nhân ái

đã thực sự khóc trớc cuộc đời nhân vật khổ đau bất hạnh và ông đã lại cời trớcniềm vui lạc quan của bao số phận, tất cả sự chân thành đó tạo nên sức hấp dẫn,

sự đồng cảm lớn ở ngời đọc đối với trang văn Nguyên Hồng

Nguyên Hồng và tác phẩm của ông là đối tợng nghiên cứu hấp dẫn trongvăn học Các nhà văn Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan, Nh Phong, Nguyễn Tuân các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh đều có những trang viếthay về ông Các tác giả đã quan tâm nhiều đến nội dung t tởng, cấu trúc, hình t-ợng, nhân vật trong các tác phẩm Nguyên Hồng, tuy nhiên về mặt ngôn ngữthì ít đợc quan tâm, tìm hiểu

Trang 3

Đặc biệt, truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng có rấtnhiều tác phẩm xuất sắc về nội dung t tởng cũng nh nghệ thuật Ông luôn viếtvăn với tất cả tâm huyết của mình, "Có thể nói, mỗi dòng văn ông viết ra là một dòng nớc mắt nóng bỏng tình xót thơng ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình" (Nguyễn Đăng Mạnh, 8, tr75) tạo ra một thứ "tâm ngôn"

rất hấp dẫn, tính đa thanh trong lời nói, vừa gần gũi mộc mạc, vừa trong sáng

Do nét độc đáo trong ngôn ngữ Nguyên Hồng nh vậy, nên chúng tôi

quyết định chọn đề tài là "Đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồng qua truyện ngắn và tiểu thuyết trớc cách mạng" Qua đề tài này, chúng tôi muốn góp

phần tìm hiểu những đặc sắc ngôn ngữ Nguyên Hồng, để qua đó góp lời nhỏ békhẳng định hơn nữa tên tuổi Nguyên Hồng về mặt sáng tạo ngôn ngữ cũng nh

về sự nghiệp văn chơng của ông

2 Mục đích yêu cầu của đề tài.

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hớng tới các mục đích yêu cầu sau:Qua việc tìm hiểu các truyện ngắn và tiểu thuyết trớc cách mạng, chúngtôi nhằm rút ra những đặc điểm về ngôn ngữ của Nguyên Hồng Qua đó pháthiện ra những nét đặc sắc trong văn phong cũng nh khẳng định sự đóng góp vềmặt ngôn ngữ của Nguyên Hồng

Sau cùng nhằm rút ra những kết luận sơ bộ ban đầu về đặc điểm ngônngữ của Nguyên Hồng

3 Phạm vi và đối tợng khảo sát của đề tài.

Sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng khá đồ sộ Do đó trong phạm vicủa một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ khảo sát qua truyện ngắn và tiểuthuyết trớc cách mạng - và cũng là những sáng tác thành công của NguyênHồng

Trang 4

Các t liệu về tác phẩm chúng tôi dựa vào hai tập đầu của "Tuyển tậpNguyên Hồng" - NXB Văn học, Hà Nội, 2000, do Giáo s Phan Cự Đệ tuyểnchọn, với 631 trang sách của 31 tác phẩm.

Với đề tài này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ và rút ranhững đặc sắc cũng nh đóng góp của Nguyên Hồng trớc cách mạng

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Về con ngời và tác phẩm Nguyên Hồng đã có rất nhiều nhà văn, nhànghiên cứu, phê bình quan tâm Các nhà văn thế hệ trớc: Thạch Lam, Vũ NgọcPhan, Nh Phong, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển, Kim Lân, Tô Hoài đều có nhữngtrang viết rất hay về ông Các nhà văn, nhà nghiên cứu ở thời kỳ sau nh: NguyễnNgọc, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Vơng Trí Nhàn, Hà Minh Đức, NgôVăn Phú đều có những nhận định sắc sảo, chính xác

Khái quát lên ta thấy có hai hớng nghiên cứu chính về Nguyên Hồng, đó

là "con ngời" và tác phẩm

Về con ngời Nguyên Hồng có rất nhiều bài viết của các bạn văn cùngthời cũng nh hậu thế Tuy nhiên, những ý kiến chân thành, thẳng thắn, chínhxác vẫn tiêu biểu hơn cả ở các bạn văn đồng thời Thạch Lam với "Rất nhiềuhứa hẹn ", Vũ Ngọc Phan với "Nguyên Hồng" Đặc biệt với Nguyễn Tuân, mộtngời bạn thân của Nguyên Hồng có "Con ngời Nguyên Hồng" Tô Hoài có

"Tính cách Nguyên Hồng", Kim Lân có "Nguyên Hồng - một nhà văn", HuyCận có "Một kỷ niệm về Nguyên Hồng" Tất cả đều thống nhất với nhau vềmột con ngời Nguyên Hồng với phong cách sống giản dị có phần xuề xòa, chânthành, hiền hậu, luôn dễ hoà đồng và tận tình đối với các đồng nghiệp trẻ Mộtcuộc đời đau khổ vơn lên, yêu hết thảy đồng loại khổ đau, một tấm lòng nhân

đạo bao la

"Nguyên Hồng là một con ngời rất cở mở, hơn thế nữa, có thể nói là một con ngời luôn luôn mở toang hết lòng mình ra cho ngời bên cạnh" (Nh

Phong, 6, tr271)

Trang 5

Đối với các tác phẩm của Nguyên Hồng, các nhà nghiên cứu và bạn bènhà văn đều khâm phục trớc bút lực dồi dào, mãnh liệt của Nguyên Hồng, mộttấm gơng lao động không biết mệt mỏi.

Nh Phong, Kim Lân, Vơng Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp, Tô Hoài,Nguyễn Ngọc và rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu khác tìm hiểu các sáng táccủa Nguyên Hồng, nhng tiêu biểu và công phu hơn cả là các công trình nghiêncứu của hai giáo s Phan Cự Đệ và Nguyễn Đăng Mạnh

Nguyễn Đăng Mạnh có "Nguyên Hồng - con ngời và sự nghiệp", "Đọc

"Cửa biển" nghĩ về Nguyên Hồng và tiểu thuyết"

Phan Cự Đệ có "Nguyên Hồng", "Những bớc tiến mới về tiểu thuyết củaNguyên Hồng sau cách mạng tháng Tám" và là tác giả tập hợp su tầm để biênsoạn cuốn "Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm"

Những công trình nghiên cứu của hai giáo s thực sự là toàn diện, sâu sắc,chính xác về mọi phơng diện nh: Đề tài, chủ đề, nhân vật, cấu trúc, nội dung, ttởng Đó là những nhận xét, kết luận khoa học khách quan rất biện chứng,thẳng thắn có khen chê rõ ràng

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của hai tác giả ít đề cập chuyên sâu

về đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồng - một thứ "tâm ngôn" rất đặc biệt vắt ra từtrái tim nóng hổi tình ngời của Nguyên Hồng

Nói tóm lại, các nhà văn, nhà nghiên cứu đều rất quan tâm đến con ngời,nhân cách và các phơng diện khác về tác phẩm Nguyên Hồng nh: Đề tài, chủ

đề, nội dung, t tởng còn cha thực sự quan tâm về mặt ngôn ngữ Các nhận xét,nhận định về mặt ngôn ngữ rải rác trong các bài viết của Thạch Lam, Nguyễn

Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ chỉ mang tính đơn lẻ, cha khái quát lên đợc thànhmột hệ thống các kết luận về ngôn ngữ Nguyên Hồng

Vì vậy, với đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồng qua truyện ngắn vàtiểu thuyết trớc cách mạng", chúng tôi nhằm đi vào tìm hiểu và bớc đầu rút ranhững đóng góp về mặt ngôn ngữ của ông để từ đó nhìn nhận Nguyên Hồngtoàn diện hơn

Trang 6

5 Phơng pháp nghiên cứu đề tài.

Trong giới hạn của đề tài này, để hoàn thành khoá luận chúng tôi sử dụngcác phơng pháp nghiên cứu nh:

- Phơng pháp thống kê t liệu:

Phơng pháp này là khảo sát trên những nguồn t liệu cụ thể liên quan đến

đề tài và ghi vào phiếu t liệu

- Phơng pháp phân tích và xử lý t liệu:

Sau khi thống kê các t liệu có đợc, chúng tôi tiến hành xử lý số liệu mộtcách chọn lọc để rút ra kết luận phù hợp

- Phơng pháp so sánh đối chiếu:

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đặt đối tợng nghiên cứu trong sự

so sánh với các đối tợng cùng loại cũng nh khác loại để rút ra nét đặc biệt của

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng đồng thời xen kẽ nhiềuphơng pháp trên để đạt hiệu quả tối u

6 Nét mới của đề tài.

Chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồngqua truyện ngắn và tiểu thuyết của ông trớc cách mạng, để từ đó rút ra những

Trang 7

kết luận bớc đầu về đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồng, đồng thời góp phần đánhgiá một cách toàn diện hơn đóng góp của Nguyên Hồng cho nền văn học hiện

đại Việt Nam

Do tính mới mẻ này của đề tài nên khoá luận không tránh khỏi những saisót, tác giả khoá luận xin chân thành mong sự đóng góp ý kiến giúp đỡ

7 Bố cục khoá luận.

Khoá luận gồm nhiều trang ngoài phần mục lục và tài liệu ham khảocòn có 70 trang với bố cục nh sau:

- Lời nói đầu

Trang 8

nội dung

Ch ơng 1:

Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.1 Phong cách - phong cách tác giả.

Về khái niệm phong cách ta có thể hiểu:

Phong cách là một khái niệm rộng rãi đợc dùng nhiều trong mọi lĩnh vựccủa cuộc sống, nhng chung quy lại nó có ba nét nghĩa sau:

Đó là những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một ngời, một loại ngời nào đó (phong cách lao động, phong cách lãnh đạo, phong cách quân nhân ).

Đó là những đặc điểm có tính chất hệ thống về t tởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại (phong cách nhà văn, phong cách văn học nghệ thuật ).

Đó là dạng ngôn ngữ sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó khác với những dạng khác về đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính - công cụ, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ).

(Viện Ngôn ngữ học, 20, tr782)

Từ đó chúng ta hiểu, phong cách là cách thức riêng, những đặc điểmriêng, độc đáo của con ngời này, nghệ sĩ này, ngôn ngữ chức năng này so vớicác khái niệm cùng loại khác

Tác giả là một khái niệm đợc hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau: Nghĩa rộng, tác giả là ngời sáng tạo ra một công trình, một tác phẩm, một chất liệu có ý thức xã hội Còn nghĩa hẹp, tác giả là ngời sáng tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó.

(Viện Ngôn ngữ học, 20, tr882)

Trang 9

Nh vậy, ta có thể hiểu phong cách tác giả là hệ thống những đặc điểmriêng biệt, độc đáo, không lặp lại về t tởng và nghệ thuật, thể hiện trong cáctác phẩm của một tác giả và nó không giống các tác giả khác khi sáng tạo vănhọc.

Nếu nh toàn bộ đời sống tinh thần của nhà văn nh trình độ học vấn, tàinăng nghệ thuật, tâm lý, hứng thú, cá tính sáng tạo là những nhân tố quyết định

sự hình thành phong cách của một nhà văn thì t tởng, chủ đề, đề tài, cảm hứng,nhân vật, ngôn ngữ, thể loại là những nhân tố mang phong cách, biểu hiện củaphong cách

Phong cách là sự tổng hòa các yếu tố nội dung và hình thức Nhng biểuhiện trực tiếp nhất là qua các yếu tố tạo ra hình thức nghệ thuật của tác phẩm,phong cách cá nhân của một nhà văn không ở đâu thể hiện rõ bằng ngôn ngữcủa nhà văn đó

Do đó, có thể nói ngôn ngữ là phần quan trọng tạo nên "bộ mặt" NguyênHồng, giúp ta nhận ra ông giữa các nhà văn lớn khác: Vũ Trọng Phụng, NguyễnCông Hoan, Nam Cao

1.2 Phong cách ngôn ngữ.

Ngôn ngữ hình thành và phát triển nhờ lao động, nó ra đời nhằm đáp ứng

nh cầu giao tiếp và phản ánh của con ngời và quay về phục vụ con ngời, làmcho xã hội loài ngời luôn phát triển

Phong cách ngôn ngữ là một thành tố trong phong cách nghệ thuật Đó làviệc nhà văn sử dụng ngôn ngữ một cách có nghệ thuật và độc đáo, trên cơ sở

kế thừa và phát triển ngôn ngữ dân tộc

Trong nền văn học nớc nhà đã có những tên tuổi đóng góp vào sự pháttriển ngôn ngữ dân tộc bằng phong cách ngôn ngữ riêng của mình: NguyễnTrãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Nguyễn ái Quốc - Hồ ChíMinh, Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Tuân

Nguyên Hồng với bút lực dồi dào của mình đã tạo ra một sự nghiệp vănhọc đồ sộ, với ngôn ngữ mộc mạc giản dị, mỗi câu chữ nh trào ra đầu ngọn bút

Trang 10

của ông bao tâm huyết và nớc mắt, tạo ra một giọng điệu nồng nàn tha thiết vàcũng đầy lạc quan phơi phới, vừa trong sáng lại chân chất nh lời ăn tiếng nóicủa nhân dân.

Tóm lại, phong cách ngôn ngữ là dấu hiệu ngôn ngữ mà khi ta đọc mộttrang văn thì ta nhận ra đó là "giọng" của nhà văn nào

1.3 Ngôn từ nghệ thuật.

Ngôn ngữ xuất phát từ lao động, nó ra đời trong lao động để đáp ứng nhucầu phản ánh và giao tiếp của con ngời và ngôn ngữ trở thành phơng tiện giaotiếp quan trọng nhất của con ngời

Ngôn ngữ nghệ thuật nó nhằm chỉ hệ thống những phơng thức, nhữngphơng tiện, những quy tắc của một ngành nghệ thuật nào đó mà bản thân nó

có tiếng nói có ý nghĩa nghệ thuật riêng để giao tiếp giữa ngời sáng tạo vàngời thởng thức (ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ điêukhắc )

Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một chất liệu riêng (âm nhạc: âmthanh; hội họa: màu sắc; điêu khắc: gỗ ) Riêng văn học sử dụng ngôn từ làmchất liệu cho minh Tuy nhiên, ngôn ngữ trong văn học khác với ngôn ngữ đờisống hàng ngày (mặc dù đều sử dụng ngôn ngữ toàn dân) Ngôn từ trong vănhọc là ngôn từ đợc sử dụng một cách nghệ thuật, đó chính là ngôn ngữ văn ch-

ơng, là kết quả sáng tạo của nhà văn, giàu hình tợng, giàu sức biểu cảm, đợc tổchức một cách chặt chẽ, nhăm mục đích phản ánh đời sống và t tởng, tình cảmcủa tác giả tác động tới độc giả

Vậy, ngôn từ nghệ thuật là ngôn ngữ đợc nhà văn chọn lọc từ ngôn ngữtoàn dân và sử dụng rất hiệu quả, sinh động, giàu hình ảnh

1.4 Thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết.

Truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể của loại hình văn học tự sự cùng vớithần thoại, truyền thuyết, sử thi "Tự sự là loại hình văn học tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó" (7, tr328).

Trang 11

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, "khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện tợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con ngời" (7, tr314).

Tiểu thuyết là "tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực

đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian" (7, tr277).

Tuy có sự khác nhau tơng đối, nhng truyện ngắn và tiểu thuyết đều có sựthống nhất trong loại hình tự sự, nó khác với các tác phẩm trữ tình bộc lộ cảmxúc chủ quan một cách trực tiếp, còn tác phẩm tự sự thì cảm xúc chủ quan thểhiện gián tiếp qua các hình tợng nghệ thuật Đặc biệt xét về mặt ngôn ngữ thìgiữa truyện ngắn và tiểu thuyết lại có nhiều sự thống nhất gần gũi hơn

Nh vậy, truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể tài của thể loại văn học tự

sự, phản ánh đời sống trong tính khách quan vốn có và giữa chúng có sự thốngnhất tơng đối về phơng thức phản ánh đời sống và ngôn ngữ

1.5 Truyện ngắn và tiểu thuyết trong sự nghiệp Nguyên Hồng.

Bớc vào nghệ thuật ban đầu bằng thơ và cũng đã có nhiều tác phẩm kýxuất sắc, nhng Nguyên Hồng thành công hơn cả vẫn là những trang truyện ngắn

và tiểu thuyết Với bút lực dồi dào, nên trớc và sau cách mạng, ông đều cónhững thành tựu rực rỡ Không giống các nhà văn khác sau nhiều tác phẩm mớithành công, Nguyên Hồng đặt bút vào viết truyện ngắn là thành công ngay.Những "Bỉ Vỏ" (1937), "Đây, bóng tối" (1937), "Cái tết của tù đàn bà" (1939),

"Những mầm sống" (1939), "Ngời đàn bà Tàu" (1939), "Mợ Du" (1943),

"Miếng bánh" (1943), "Giọt máu" (1944)

Và sau cách mạng có bộ tiểu thuyết "Cửa biển" đồ sộ, chứng tỏ sức bútdồi dào của nhà văn

Truyện ngắn và tiểu thuyết không chỉ chiếm phần lớn sáng tác củaNguyên Hồng mà nó còn là những đỉnh cao trong sự nghiệp văn học của ông.Những "Bỉ Vỏ", "Giọt máu", "Vực thẳm", "Mợ Du", "Hơi thở tàn", đặc biệt bộtiểu thuyết "Cửa biển" sau cách mạng có thể xem nh những mốc phát triển rực

Trang 12

rỡ của văn xuôi Việt Nam Nói nh giáo s Phan Cự Đệ: "Chúng ta có thể nói đếnNguyên Hồng nh một phong cách truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện

đại"

1.6 Truyện ngắn và tiểu thuyết trớc cách mạng của Nguyên Hồng.

Đó là tập hợp những tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết từ 1936 vớitruyện ngắn đầu tay "Linh hồn" cho đến truyện ngắn "Ngọn lửa" (1945) Đâycũng là giai đoạn nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ, ngột ngạt dới ách bóclột của thực dân đế quốc Nhng cũng trong giai đoạn này, ánh sáng cách mạng

đã bùng nổ khắp nơi Cả hai quãng tối sáng đó của hiện thực cũng đợc phần nàothể hiện trong các tác phẩm của Nguyên Hồng

Là một nhà văn lớn lên từ trong đau khổ, nên ông viết văn với tất cả nhiệthuyết và tấm chân tình của mình về cuộc đời cùng khổ quen thuộc của nhữngdân nghèo thành thị, những con ngời lớp dới xã hội

Ông cảm thông thơng mến đến những con ngời làm nghề phu phen tạpdịch nặng nề, nh những nhân vật trong (Đây - bóng tối, Ngời mẹ không con,Những mầm sống, Một tra nắng, Ngời đàn bà Tàu, Hai dòng sữa, Hơi thởtàn ), họ làm việc suốt ngày mà vẫn đói nghèo, lam lũ

Ông quan tâm đến những ngời đàn bà nghèo, thờng kiếm ăn bằng nhữngviệc buôn thúng bán mẹt (Nhà bà Nấu, Mợ Du, Đây - bóng tối, Ngời con gái ),

họ là những ngời phụ nữ đáng thơng, phải chịu nhiều tầng áp bức đè nén

Tấm lòng nhân đạo của nhà văn thực sự thổn thức trớc những số phạn

đáng thơng của trẻ em nghèo sống bơ vơ, vất vởng, bị chà đạp, xua đuổi (Giọtmáu, Con chó vàng, Những giọt sữa )

Nguyên Hồng cũng rất quan tâm đến những tên "chay vỏ", "bỉ vỏ" trongthế giới xã hội đen Tuy ông không đồng tình với những hành động tội ác của

họ, nhng ông lại cảm thông cho hành động của họ và luôn luôn thấu hiểu nhữngtâm t tình cảm rất ngời của những con ngời này

Mỗi loại nhân vật trong Nguyên Hồng có số phận, con đờng đi khácnhau, nhng tất cả họ đều đợc Nguyên Hồng soi thấu, hiểu hết bản chất tốt đẹp,

Trang 13

hớng thiện của họ Đó chính là cái tạo nên "nhân đạo thống thiết" trong NguyênHồng.

Nhờ sớm giác ngộ cách mạng và con mắt nhìn đời lạc quan tin tởng,trong các tác phẩm Nguyên Hồng, các nhân vật luôn khỏe khoắn, đầy sức sống

Ông phát hiện ra một chất thơ, lãng mạn trong lao động, ca ngợi lao động Càng

về sau, các tác phẩm của Nguyên Hồng càng gần với các tác phẩm văn học cáchmạng, tính chiến đấu đợc nâng dần lên làm cho tác phẩm Nguyên Hồng khôngchỉ có giá trị nhận thức mà còn có ý nghĩa thức tỉnh, không chỉ là nhân đạo "rềnrĩ" mà còn mở ra ánh sáng cho nhân vật

Và tất cả những t tởng, tình cảm đó đợc Nguyên Hồng thể hiện quanhững tác phẩm thành công, với những hình tợng nhân vật sắc nét, cấu trúc chặtchẽ, ngôn ngữ bình dị, cái nhìn hiện thực xen lẫn lãng mạn, tạo ra một thứ vănnóng hổi tình ngời

Nh vậy, các truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng đãthể hiện đợc những mảng hiện thực chân thực của đời sống nhân dân Việt Namrớc cách mạng, đặc biệt là những con ngời lớp dới xã hội Những số phận đó đ-

ợc cảm nhận từ con tim nóng hổi, đầy yêu thơng trân trọng, tạo nên một chủnghĩa nhân đạo rất Nguyên Hồng Đó chính là đóng góp to lớn của NguyênHồng vào sự nghiệp văn học hiện đại Việt Nam

Trang 14

Ch ơng 2:

đặc điểm ngôn ngữ Nguyên Hồng qua truyện ngắn

và tiểu thuyết trớc cách mạng

2.1 Sự phong phú trong sử dụng vốn từ.

Từ ngữ là sản phẩm chung của xã hội, mang tính xã hội sâu sắc Nó đợchình thành trong quá trình lịch sử và sự giao thoa văn hoá với các dân tộc trênthế giới

Mỗi nhà văn, nhà thơ muốn tạo đợc sự sinh động, hấp dẫn cho tác phẩmcủa mình thì luôn luôn phải có ý thức bồi đắp thêm vốn từ ngữ cho mình.Nguyên Hồng trong quá trình sáng tác đã tìm kiếm cho mình một thứ ngôn ngữ,một cách riêng để nói hết, diễn đạt hết mọi biến thái phức tạp, đa dạng của cuộcsống, qua đó tạo nên cho Nguyên Hồng một chất giọng riêng, đó là công laosáng tạo và là vốn hiểu biết của Nguyên Hồng

2.1.1 Sử dụng các từ gốc Âu.

Vào thời điểm nhà văn sáng tác, tiếng Pháp chiếm một vị trí quan trọngtrong đời sống văn hoá ngời Việt Nằm trong bối cảnh chung đó, do đó trongcác tác phẩm của Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng Tám có sử dụng khánhiều các từ ngữ gốc Âu, đặc biệt là tiếng Pháp Tuy tần số xuất hiện và sửdụng không nhiều, nhng cũng đủ để nhà văn diễn tả, gọi tên đúng sự vật

Nhà văn sử dụng các từ ngữ tiếng Pháp hầu hết ở dạng nguyên dạng của

nó về hình thức ngữ âm và từ vựng

Virginité: trinh tiết (Bỉ vỏ); Daim (peau - de daim: một thứ da thuộc rấtmềm ruột) (Vực thẳm); Guenles de loup chlorire calcium, aspirine (danh từ -Hơi thở tàn); Arithmétique - grammaire: toán - ngữ pháp (Lúc chiều xuống);La-ghim (Rau)

Cũng có khi Nguyên Hồng mợn tiếng Pháp ở dạng phiên âm: Líp phăng

xe (dispensaire: nơi giữ và chữa bệnh cho các gái mại dâm); xanh căng: đồng

Trang 15

năm xu (Bỉ vỏ); Alê côsông xa-lô: đi giống lợn đồ chó (Ngời đàn bàTàu); phích (tiche: tờ giấy kê tên tuổi, quê quán, án tích (Bỉ vỏ); anh-phia-mi-e-xếp: khán hộ, y tá trởng (Ngọn lửa)

Việc sử dụng các từ ngữ tiếng Pháp có tác dụng tạo cho ngôn ngữ tínhhiện đại, chính xác, khoa học và sinh động

Ví dụ:

- "Nào một bà dì có một ngời con gái làm anh-phia-mi-e-xếp, nghe đâu

đợc các quan đốc mến lắm; cùng quá sẽ nhờ thế lực y xin cho tôi vào nằm nhàthơng" (Ngọn lửa, 12, tr332)

- "Sinh giơ một chai trớc mặt, lờ đờ nhìn dòng chữ viết ngã đề trên miếnggiấy con: "Chlorure calcium uống thêm Aspirine với Potion calmante cho cất

cơn nhức đầu đi mới đợc" (Hơi thở tàn, 12, tr326)

ở hai ví dụ trên ta thấy, nhờ các từ ngữ tiếng Pháp, tác giả đã gọi tênchính xác khoa học các tên thuốc, đồng thời lối dùng tiếng Pháp phiên âm nó

đem lại tính hiện đại của lời văn, vừa diễn tả đợc ý vị cả lời nói tỏ ý mỉa maitrịch thợng của nhân vật

Nh vậy, việc mợn tiếng Pháp ở cả hai hình thức tuy không thật sự nhiều,chỉ chiếm 3,05% trong tổng số phiếu chúng tôi điều tra về sự phong phú vốn từ,nhng nó đã đem lại cho ngôn ngữ Nguyên Hồng tính khoa học, hiện đại, chínhxác và sinh động

2.1.2 Sử dụng từ ngữ Hán Việt và từ ngữ phiên âm tiếng Trung Quốc hiện đại.

Việc tiếng Việt vay mợn từ ngữ Hán đã xảy ra từ lâu đời và thực sự từngữ Hán Việt đã ăn sâu vào vốn từ ngữ của ngời Việt Do đó nh một tất yếu, các

từ ngữ Hán Việt xuất hiện xuất hiện tơng đối trong các tác phẩm Nguyên Hồngnói chung và các tác phẩm truyện ngắn - tiểu thuyết trớc cách mạng nói riêng.Theo t liệu điều tra, từ Hán Việt xuất hiện tơng đối với 18,3% tổng số phiếu

điều tra về sự phong phú vốn từ Các từ Hán Việt mà Nguyên Hồng sử dụng lànhững từ Hán Việt thông dụng, quen thuộc trong đời sống ngôn ngữ hàng ngày:

Trang 16

Phu phen, thất nghiệp, chuyên môn, hiến, thục mạng, can trờng, du đãng,

án tích, cai trại, điềm tĩnh, đại biểu, hải cảng (Bỉ vỏ); Đờng trờng, huyên náo,chiến tranh, súng lục, thành thị, phong trào công nhân, sinh hoạt, thống trị ( ngời đàn bà Tàu); Lĩnh, phu điếm, hà bá, phục dịch, bao thầu, hằng hà sa số,

đồng thời, sở trờng (Ngời mẹ không con)

Việc Nguyên Hồng ít sử dụng các từ Hán cổ mà sử dụng các từ Hán Việtthông dụng quyên thuộc một phần do vốn từ của tác giả song chủ yếu là do đốitợng phản ánh của tác phẩm Đó là những con ngời ở dới đáy xã hội, ít đợc họchành, với cuộc sống xô bồ, nên việc miêu tả họ, miêu tả ngôn ngữ họ không thểdùng ngôn ngữ khó hiểu, và ngôn ngữ nhân vật cũng rất thông tục:

"Đây những thợ, nhất là những phu, những cu ly ở các sở khác lơng lại

còn ít hơn Họ đã bao lần xin nào thanh tra lao đông, nào đốc lý, nào báo chí can thiệp mà cũng không đợc một chút kết quả nào (Ngời đàn bàTàu, 11,

tr204)

Ta cũng có thể thấy, việc sử dụng các từ Hán Việt cũng có tác dụng làmcho ngôn ngữ chân thật , mang hơi hớng trang trọng cổ kính, nhằm đối lập vớicuộc sống xô bồ, đói rét lầm lụi, của ngời dân nghèo, qua đó chứng tỏ mỉa maiphê phán cuộc sống của bọn địa chủ, ông chủ nhà giàu bất lơngđè nén dânnghèo

"Đã sáu năm nay mới thấy làng vào đám Vẫn mang tên cũ, nhng hầuhết đã biến thành phố, ngõ và xóm cả rồi! Mấy ông già chức sắc trớc kia và

mấy ông già là cố cựu trong làng trong làng quyên tiền tu bổ cho ngôi chùa

còn sót lại nọ chẳng có s mô chủ trì, gần nh bỏ hoang Nhân ngày xuân họ

xin mở hội để khánh thành công trình này " (Ngời mẹ không con 11,

tr240)

"Đây là nơi sinh trởng mấy đời trớc cha tôi Những bậc tiền nhân này

nh phần đông những bậc đồng thời, cũng đã từng thi cử Nhng chẳng ai hiển

đạt " (Vực thẳm, 12, tr283)

Trang 17

Nh vậy với việc sử dụng nhiều từ Hán Việt, Nguyên Hồng đã diễn đạtmọi ý tứ của cuộc sống một cách trọn vẹn, chính xác mà trang trọng dễ hiểu,tạo cho ngôn ngữ Nguyên Hồng hấp dẫn, dễ hiểu.

Ngoài ra một số tác phẩm Nguyên Hồng còn sử dụng ngôn ngữ TrungHoa hiện đại bằng cách ghi âm tiếng Trung bằng chữ quốc ngữ

"A má chẩu phai phai à Tào tào khủng phu cung dần xi ung ti mânthoen chi ê thieo sin chiu tchu sân sang tô thủng tr ba" (đả đảo khủng bố, đả đảokhủng bố toàn thể anh chị em công nhân cứ phải đoàn kết cứu lấy đồng chí bịthơng, cứu lấy đồng chí bị thơng) (Ngời đàn bà Tàu, 11, tr 210)

Với việc sử dụng từ phiên âm tiếng Trung Hoa hiện đại đem lại cho ngônngữ tính hiện đại chân thực, qua đó thể hiện tình cảm quý mến con ngời TrungHoa, tinh thần đoàn kết quốc tế

2.1.3 Từ chỉ địa danh.

Trong các tác phẩm của Nguyên Hồng trớc cách mạng thì các danh từ chỉ

địa danh xuất hiện nhiều trong các trang văn, theo t liệu điều tra nó chiếm 6,1%trong tổng số phiếu về sự đa dạng vốn từ

Có nhiều tiêu chí phân loại địa danh, theo tiêu chí tính chất của địa danh:

địa danh hành chính và địa danh dân gian

Trang 18

"Lần đầu tiên tôi thấy một đoàn ngời chạy giặc thật, tuy tôi đã nhiều lầngặp nhiều đoàn từ Thợng Hải, Hồng Kông, sang Đông Dơng qua Hải Phòng

nơi tôi ở tránh nạn chiến tranh của Nhật gây nên" (Ngời đàn bà Tàu, 11, tr 201).

Có khi việc sử dụng liên tiếp các từ địa danh hành chính trong nớc, nókhông chỉ mở rộng hiện thực phản ánh mà còn dẫn dắt trí tởng tợng ngời đọc đi

đến mọi miền đất nớc, tạo cho lối văn tính thời sự thực tế

"Luôn bốn hôm nay, hàng giờ anh chị em đến gặp nhau trớc Sở thanh tralao động và Sở đốc lý, chia sẻ với nhau từng tin tức, từng đồng bạc của các nhàmáy bạn ở Hà Nội, Vinh, Nam Định, Hòn Gai, Uông Bí gửi đến" (Ngời đàn bà

Tàu, 11, tr266)

"Năm năm đi đày Côn Lôn, bảy năm ở khám lớn Sài Gòn, ở Hoả Lò Hà Nội hai năm Năm từng làm cai trại ở trong đề lao Hải Phòng, Nam Định, Hải Dơng, Thái Bình hơn bốn năm" (Bỉ vỏ, 12, tr 53).

Nh vậy, với việc dùng các từ địa danh hành chính, Nguyên Hồng khôngchỉ gọi tên đợc địa danh, mà còn thể hiện đợc cái nhìn hiện thực của mình cũng

nh phạm vi hiện thực của mình phản ánh

2.1.3.2 Địa danh dân gian:

Địa danh dân gian là những tên gọi dân dã của ngời dân đặt cho một tên

đất, tên làng, ngõ, xóm, cầu bến nào đó mà nó không nằm trong các hệ thốngcác đơn vị hành chính quốc gia hay của huyện: chợ huyện Phơng Thợng, bãi

Đồng Xá, quán Đồng (Láng); Bùi, dốc Đê, chợ Vân Cầm (Cô gái quê); làng Sòi,vờn hoa đa ngời, xóm chợ, ngõ Mộ Phu, vờn hoa năm xu (Bỉ vỏ)

Đa số các địa danh dân gian mà Nguyên Hồng sử dụng đều chỉ các tên

đất, nơi ở, ở các ngõ hẻm ở thành thị mà cụ thể là ở thành phố Hải Phòng, Nam

Định - nơi các nhân vật của Nguyên Hồng sống

"Nhng từ khi tới vờn hoa đa ngời, chúng ta gặp ngay Nam Sài Gòn và

Tám Bính từ nhà hát đi lại", "chợ vờn hoa sông Lấp chỉ còn vài hàng quà bánh,

rau đậu " (Bỉ vỏ)

Trang 19

Có thể nói đó là những mốc địa danh đã quá quen thuộc đối với tuổi thơNguyên Hồng, với cả phần lớn cuộc đời ông sống với các địa danh ấy, nó nhghi sâu khắc nhớ biết bao kỷ niệm tủi hờn của tuổi thơ ông Bây giờ viết vềnhững con ngời sống dới đáy ở xã hội ở Hải Phòng và Nam Định thì những địadanh ấy tất yếu phải sống dậy vì nó là một phần cuộc sống, là môi trờng sốngcủa những con ngời này

"Mà anh Nam ạ, chúng lại rục rịch bắt hết những "yêu" quen mặt ở phố khách, phố Đầu Cầu, phố Ba-ty, những cánh chơi ở ngõ Trần Đông, Lạc Viên

An Dơng, những sòng bạc ở Cấm và ở Vẻn và cấm hẳn những cơm thầy,

cơm cô ở vờn hoa đa ngời" (Bỉ vỏ, 12, tr66).

Với việc xuất hiện nhiều địa danh dân gian, một mặt nó miêu tả đợc cuộcsống, môi trờng, số phận của các nhân vật, sống chui rúc, đói khổ, một mặt thểhiện sự cảm thông thấu hiểu sâu sắc của Nguyên Hồng đối với những kiếp ngờikhổ đau

Nh vậy, với việc sử dụng nhiều các từ chỉ địa danh nó có tác dụng gọi tên

đúng địa danh, thể hiện đợc môi trờng sống của nhân vật, phạm vi phản ánh đờisống cũng nh tạo cho tác phẩm Nguyên Hồng tính hiện thực, mang đậm chất

ký, đồng thời thể hiện sức đi đôi với hiểu biết phong phú của Nguyên Hồng và

đó cũng là tấm lòng yêu mến mọi miền đất mà Nguyên Hồng từng sống và điqua

2.1.4 Danh từ chỉ tên ngời.

Đối tợng hớng tới của truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cáchmạng tháng Tám là cả một tầng lớp ngời đông đảo ở thành thị mà trung tâm lànhững con ngời nghèo khổ, thất nghiệp, tầng lớp dới của xã hội Do sự đông đảo

đó mà các tên ngời cũng đợc nhắc đến rất đa dạng, có nhiều nét đặc biệt

Có những tên ngời đứng độc lập (không có những từ chỉ đặc điểm phụ

đi kèm rất hay: Quyến, Tuyên (Cảnh khốn cùng); Hng (Nhà bố Nấu); Vinh(Hàng cơm đêm); Thởng (Hai mẹ con); Tâm, Đô, Tuyết (Lớp học lẩn hút);Duyên (Những giọt sữa); Dũng, An, ông Hào (Mợ Du); Lệ Hà (Ngời congái)

Trang 20

Tuy vậy, những tên riêng ấy xuất hiện không phải là nhiều Ngợc lại xuấthiện dày đặc là những tên ngời mà gợi cho ngời đọc cảm xúc đặc biệt: Thuột(Cái xích cũ); bố Nấu (Nhà bố Nấu); thằng Vòi, thằng Keng, con Pha, con Tý(Lớp học lẩn lút); cái Sẹo, bác Phở, bác Sế Cấu, bác Củi (Ngời con gái); thằngBồng, anh Cò, chịu Khải, cái Tèo, Khán Vị (Cô gái quê)

Những tên gọi này thật chân chất, mộc mạc, đơn giản, thô mộc, nó nh têngọi các đồ vật, con vật quen thuộc trong nhà, không cầu kỳ văn hoa Đó đều lànhững từ thuần Việt khác với thông thờng tên ngời ta thờng dùng từ Hán Việttrang trọng đặt tên

"Gần gũi con bé chỉ còn những đứa tên nghe thế nào ấy: cái Sẹo, cáiBống, thằng Nhớn Bố mẹ chúng thì nào bác Sế Cấu, bác Phở, bác Bô, bác Củi"(Ngời con gái, 11, tr278)

Những tên ngời thể hiện kiếp sống lúc nhúc, chui rúc, khổ sở, bé nhỏ,cặm cụi, ít học hành, không chút ánh sáng tơng lai Cái tên cũng chỉ là cái để

mà gọi, mà phân biệt "nó" với "cái khác" Tên gọi cũng nh tên cái rổ, quê củi,cái bút, cái cuốc, con cò, con mèo, con cún trong nhà, họ nh vật lộn với nhữngthứ ấy mà sống

"Cùng lúc này, bu thằng Bồng vợ anh Cò, chị Xã Khải, cái Tèo con, bácKhán Vị, mắt đã mờ, lng gần gãy gập, đít đã ê ẩm, cánh tay mỏi rũ, ngồi yênlặng bên những sàng thóc " (Cô gái quê, 11, tr180)

Những tên này không đứng độc lập mà nó kết hợp với một từ đi kèm chỉ

Trang 21

Gắn với thứ tự trớc sau, lớn bé: Hai Liên, Ba Nhớn, Ba Con, T Thìn, NamThìn, Sáu Huyền, Bảy Thanh, Tám Bính Hai Con, Ba Con, T Con, Thạo Nhớn,Thạo Bé, Tý Con

Gắn với biệt danh của những ngời xã hội đen: Nam Sài Gòn, T lập lờ,Chín hiếc, Ba trâu lăn, Mời khai, Sáu gáo đồng, Ba bay, T nhấp nháy

Các tên gọi nhân vật của Nguyên Hồng nó gợi lên môi trờng sống của họ

"Những nhân vật của Nguyên Hồng thờng sống trong những xóm nhà lá hoặclợp tôn chen chúc, úp súp, với những ngọn đèn leo lét nh ngái ngủ, đêm đếnvang lên tiếng muỗi nh ri và những tiếng ú ớ trong giấc ngủ mê sau một ngàybán sức quần quật Chúng ta gặp họ ở những ngõ hẻm lầy lội mà sau một trận

ma, nớc ngập vào tận giờng ngủ" (Phan Cự Đệ, 10, tr455)

Nh vậy, qua việc sử dụng các tên gọi nhân vật khác nhau thể hiện sự

đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc đời sống "đám dân quê xiêu dạt ra thành phố" vàlòng cảm thông yêu thơng chân thành đối với những kiếp sống ấy của NguyênHồng

2.1.5 Sử dụng tiếng lóng.

"Tiếng lóng là ngôn ngữ riêng của một số nhóm xã hội hoặc nghề nghiệp

có tổ chức gồm các yếu tố của một hoặc một số các ngôn ngữ tự nhiên đã đợcchọn lọc và biến đổi đi nhằm tạo ra sự cách biệt ngôn ngữ với những ngờikhông liên đới" (Từ điển, 9, tr280)

Việc sử dụng tiếng lóng trong các tác phẩm văn học cùng thời cũngkhông nhiều, chỉ rải rác trong một vài tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và VũTrọng Phụng

Với Nguyên Hồng, trong các tác phẩm trớc cách mạng ông sử dụng khánhiều, theo t liệu điều tra chiếm 15,5% trong tổng số phiếu điều tra về sự phongphú vốn từ

Sở dĩ trong các tác phẩm của Nguyên Hồng xuất hiện nhiều tiếng lóng làvì đối tợng phản ánh của nó Đó là những con ngời của xã hội đen, lu manh, cớpgiật, nên có những từ ngữ chuyên biệt

Trang 22

Tiếng lóng tập trung dày đặc ở tiểu thuyết "Bỉ vỏ" Theo thống kê sơ bộcủa chúng tôi, có tới trên dới 115 tiếng lóng đợc dùng trong "Bỉ vỏ", thuộc các

"lĩnh vực" khác nhau

Những tiếng lóng chỉ nghề ăn cắp: so quéo (so: thằng; quéo: không thuộc

về cánh ăn cắp); ngũ đị (chạy trốn); te (đẹp); khai (cắt, xẻo); mõi (móc, rút); đét(không ăn cắp đợc, túng bấn); nhỡ (bị tù); yêu (kẻ cắp lâu năm)

Những tiếng lóng chỉ nghề công an, cảnh vệ, bảo vệ: cớm (công an);doóc (phu mật thám); cớm chùng (mật thám), phụ cớm (phụ mật thám); trõm(rình mò truy nã); cớm cộc (đội xếp)

Tiếng lóng chỉ nghề mãi dâm: phiên (tiền đi khám bệnh cho gái mãi dâmmột tuần lễ hai kỳ); bỉ đợc (con đĩ)

Tiếng lóng dùng chỉ đơn vị tiền tệ: niễng mũn (một trinh nhỏ); khơmchộm thạnh (90 đồng), kẹo hựu (năm hào)

Những tiếng lóng khác: kên rạch bớu (hết cả tiền); thâm bo (ba bát); bépdịp (tám tháng); thừa (gọi khách đánh); tôm (bắt); thắt đớm (thắt lng)

Những tiếng lóng ấy dựng lên cả một xã hội hỗn loạn, đen tối, tàn ác, đầylọc lừa của những con ngời gian trá, một không khí ngột ngạt của thế giới lumanh, cớp giật, bắt bớ

"Vả lại anh ấy đối đãi với anh em nh bát nớc đầy, thằng nào đét thì lại

nhà anh ấy mổ chạc hàng tháng, thàng nào tù anh ấy mua quà bánh và cả xen nếp cậy cục gửi vào" (Bỉ vỏ, 12, tr75).

Qua đoạn văn ta thấy đợc cảnh sống chen chúc, trốn tránh của những tên

lu manh Ngôn ngữ của họ cũng là một thứ "mật mã" để lẩn trốn sự rình mò củacác "cớm", nhiều lúc theo dõi ngời đọc thấy khó hiểu:

"- Anh Năm, so quéo đơng mổ ở hậu đớm, tễ bơu lắm đấy.

Năm cời mỉm:

- Chúc hiếc đợc rồi à ?

- Cha, cá nó để ở dằm thợng áo ba-dờ-xuy khó mõi lắm"

(Bỉ vỏ, 12, tr93)

Trang 23

Qua đoạn văn ta thấy lối nói lấp lửng, bí mật của hai tên ăn cớp đang bànnhau cớp giật, nó vẽ lên sinh động trớc mắt ngời đọc cảnh tợng rình mò của mộtxã hội đầy cớp bóc, đồng thời nó đem lại cho ngôn ngữ Nguyên Hồng tính chânthật, khẩu ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày Nó cũng thể hiện sự am hiểusâu sắc đời sống của mọi tầng lớp xã hội "tôi mọi" của xã hội thành thị củaNguyên Hồng.

2.1.6 Sử dụng từ ngữ tôn giáo.

Từ tôn giáo là những từ ngữ chuyên dụng, riêng biệt, đặc trng, đợc dùng

để chỉ các khái niệm trong tôn giáo hay trong kinh, sách tôn giáo hay dùng(phật, thánh, chúa, từ bi, bác ái, nguyện ngắn, cầu kinh )

Trong các tác phẩm Nguyên Hồng trớc cách mạng có xuất hiện tơng đốicác từ ngữ tôn giáo, cụ thể là Thiên chúa giáo Tuy xuất hiện không nhiều, chỉchiếm 3% trong t liệu điều tra về sự phong phú vốn từ và là"loại từ" xuất hiện ítnhất, nhng nó đã đem lại cho ngôn ngữ Nguyên Hồng một nét riêng hấp dẫn

Nguyên Hồng là một tín đồ Thiên chúa giáo và thế giới nhân vật ông lànhững con chiên ngoan đạo, sùng đạo, nên việc xuất hiện các từ ngữ tôn giáo làkhông có gì lạ khi phản ánh cuộc sống của họ

"Tất cả hớng mặt về mẫu ảnh đức chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây

thánh giá treo trên tờng Họ thì thầm đọc kinh Lòng tin của những ngời sống

cực nhục, tối tăm không còn biết bấu víu vào đâu đầm đìa và chan chứa trongnhững bản kinh: Lạy nữ vơng, tôi ở dới vực sâu, Đức mẹ hằng cứu giúp" (Tết

Trang 24

mẹ chúa giời cầu cho chúng tôi Sáng danh Đức chúa Cha, Đức chúa Con và

Đức chúa Thánh thần " (Ngọn lửa, 12, tr347).

Qua đoạn văn, cả một thế giới tâm linh sống dậy, ngời đọc thấu hiểuhoàn cảnh sống, nội tâm và số phận nhân vật qua lời khấn cầu, lời văn vì thếcũng chân thật, sinh động "Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm dấu đoạn thì

thầm cần kinh: Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau đợc lên nớc thiên

đàng vui vẻ đời đời" (Bỉ vỏ, 12, tr22).

Qua đoạn văn ta thấy đợc ngôn ngữ khẩn thiết của nhân vật đang cầu đứcChúa, đấng siêu nhiêu trên trời cứu khổ cứu nạn cho họ Qua đó gián tiếp tố cáoxã hội thực tại khổ đau, nói lên tâm trạng hoang mang mất phơng hớng củanhân vật

Nh vậy, với việc sử dụng đúng lúc các từ tôn giáo, Nguyên Hồng đã miêutả chân thật cuộc sống, tâm lý, ngôn ngữ của nhân vật, đồng thời tạo cho ngônngữ một sức cuốn hút hấp dẫn kỳ lạ

2.1.7 Những từ ngữ chính trị chỉ phong trào đấu tranh của công nhân.

Trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trớc cách mạng

có sử dụng đáng kể các từ ngữ chỉ phong trào đấu tranh của công nhân: phongtrào công nhân, thợ lơng, cúp phạt, giờ làm, giảm thợ, đàn áp, đấu tranh, đếquốc, khủng bố, đình công, yêu sách, cai thầu

Đặc biệt, ở những tác phẩm về sau, khi viết về cuộc sống của ngời côngnhân, phu thợ, cu ly, những từ ngữ chính trị mà Nguyên Hồng sử dụng cũngkhông nhiều chỉ chiếm 4,5% tổng số phiếu điều tra về sự phong phú vốn từ Tuyxuất hiện ít nhng sự xuất hiện đúng lúc của các từ ngữ chính trị đem lại chongôn ngữ và tác phẩm Nguyên Hồng nhiều giá trị mới

Nh ta đã biết, Nguyên Hồng là một nhà văn sớm giác ngộ cách mạng vàsớm tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng Từ 1938, ông đã tham giaMặt trận dân chủ ở Hải Phòng, từng tham gia mít tinh ngày 1/5 tại khu Đấu Xảo(Hà Nội) Đặc biệt là sau này ông đợc tiếp xúc với các chiến sĩ cộng sản: NhPhong, Tô Hiệu Năm 1943, ông tham gia văn hoá cứu quốc và từ đó ngòi bút

Trang 25

Nguyên Hồng luôn hớng theo cách mạng, theo đời sống cùng khổ của tầng lớpthị dân nghèo khổ.

Lúc bấy giờ ở các thành phố lớn nh Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân đã nổ ra rầm rộ và với t tởngtiến bộ của Nguyên Hồng thì không khí đấu tranh ấy, tất yếu phả vào tác phẩm

"Thấy chắc sự sống còn đói khổ nữa mà bọn thống trị không những

không cải thiện cho công nhân lại còn nhân lúc này chúng sẽ tăng giờ làm, bớt tiền lơng, giảm thợ, trở lại những cúp phạt và đặc biệt sẽ đàn áp các tổ chức ái hữu, các quyền tự do, dân chủ bao năm đấu tranh mới đợc cởi mở chút ít "

(Ngời đàn bà Tàu, 11, tr253)

Với những từ ngữ chính trị xuất hiện ở đoạn văn trên, Nguyên Hồng đã táihiện rõ ràng lại trớc mắt ngời đọc không ít ngột ngạt về chính trị sự đàn áp, bóclột dã man cũng nh sự cùng khổ của công nhân Việt Nam thời bấy giờ

"Anh, chị ! Rồi cuộc chiến tranh sẽ nổ, vô sản ở các nớc thuộc địa và cả

các nớc đi xâm lợc còn trải nhiều cuộc đấu tranh gay go Chúng ta sẽ còn phải

tiến lên tổng bãi công, chống vũ trang khủng bố, tuần hành, thị oai, chiếm

x-ởng và điều kiện già dặn chúng ta nổi cách mạng, cớp lấy chính quyền " (Ngời

đàn bà Tàu, 11, tr207)

Việc dùng các từ ngữ có tính chất chính trị ở đoạn văn trên làm cho ngônngữ Nguyên Hồng có tính chân thật, sinh động và tính thời sự rõ Ngời đọc nhthấy đợc hơi nóng của cách mạng

Nh vậy, với việc sử dụng các từ ngữ có tính chất chính trị nó có tác dụngphản ánh thật không khí đấu tranh cách mạng của nhân dân ta thời ấy, nó đemlại tính hiện thực cho tác phẩm, ngôn ngữ mang tính thời sự cao, mang đậmchất ký Đồng thời qua đó thể hiện rõ t tởng cách mạng của Nguyên Hồng, từ

đây tác phẩm của Nguyên Hồng ít nhiều nh một thứ "vũ khí" phục vụ cáchmạng

2.1.8 Dùng khẩu ngữ.

Trang 26

Khẩu ngữ là những từ ngữ giao tiếp hàng ngày hàng trau chuốt chứa đựngtất cả những yếu tố thông tục những đặc điểm của lời nói hàng ngày nh: láy,lặp.tiếng địa phơng, ngọng

Truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng Tám sửdụng khá nhiều khẩu ngữ hàng ngày chiếm 6,1% trong tổng số phiếu điều tra về

sự phong phú vốn từ

Nguyên Hồng là nhà văn lăn lộn trong cuộc sống, cả tuổi thơ ông bị vùidập, lang thang chui rúc trong lòng cuộc sống, lầm than đói khổ, hơn thế nhữngcon ngời mà ông nói tới là cả một lớp ngời đông đúc đang tranh giành, giằng xénhau để sống, do đó Nguyên Hồng hiểu và diễn tả cuộc sống và ngôn ngữ họmột cách chính xác, sinh động vào trang văn mình

Hình thức biểu hiện của khẩu ngữ rất đa dạng: lối nói bóng bẩy đa đẩy,lặp lại, chơi chữ, lối nói thô tục, tiếng đệm, nói ngọng, nói đớt

"á a Cha mẹ nó này bỏ bà ra nào chúng mày lại cứ việc cùm bà Bà

đéo sợ Bà thì bà phá cùm, bà cứ đi Bà cứ đi ra đây bà đứng Bà hát nữa Bà

xem chúng mày lấy thóc của nhà bà đi đâu nào ?" (Ngọn lửa, 11, tr418)

Với việc dùng các từ ngữ mang tính khẩu ngữ, lặp, từ thô tục, tiếng kêu Nguyên Hồng đã dựng lại nh thật tâm trạng bức xúc tột đỉnh của nhân vật, niềmcăm giận cũng nh hoàn cảnh số phận của nhân vật Ngời đọc nghe đợc ngônngữ của họ, hiểu tâm trạng họ Tất cả đó là sự hiệu quả của việc dùng khẩungữ trong trang văn Nguyên Hồng

"- Tha ông Năm Năm Sài Gòn sắp ra cha ?

Một giọng ồ ồ quát:

- Của nỡm nào đấy ? Ai biết Năm Sài Gòn, Sáu Hà Nội nào mà hỏi Có

xéo ngay không xếp lại xạc ngời ta bấy giờ.

Bính năn nỉ:

- Cháu van ông, ông làm ơn xem giúp cháu những ngời vừa đi tòa về đợc

trắng án đã sắp ra cha ?

Trang 27

- Cái mả mẹ chị, có cút ngay đi không Ngời ta đã bảo không biết mà

còn léo nhéo mãi".

(Bỉ vỏ, 12, tr88)Qua những hình thức thể hiện tính khẩu ngữ ở đoạn văn trên: lặp, từ thôtục, tiếng đệm, cách xng hô, nói cộc lốc, chửi, chơi chữ; ngời đọc không chỉhiểu đợc tâm lý nhân vật mà qua đó hiểu đợc quan hệ giữa các nhân vật ở trên làquan hệ xa lạ, hà hiếp nhau giữa ngời lính gác và ngời đàn bà thăm chồng là tùphạm Lối giao tiếp nhát gừng nhát tỏi thể hiện sự khinh bỉ, thái độ trịch thợng,hoạnh họe của ngời lính và sự khúm núm van lơn của ngời đàn bà Từ đây liêntởng cả một xã hội "cá lớn nuốt cá bé" đầy sự đàn áp tù tội, mà những ngời phụnữ là chịu nhiều nỗi khổ nhất

"- Mày là thằng tồi !

Điều cáu hơn:

- Có mày ấy ! Tởng gì, đi trõm ăn lão ăn mày.

Tý Sáu sùi bọt mép lại chửi điều mấy câu nữa

- Ê, ê, có thế mà đã cáu rồi"

(Con chó vàng, 11, tr101)

Nh vậy, qua việc sử dụng các hình thức khẩu ngữ trong trang văn củaNguyên Hồng không chỉ đạt hiệu quả cao trong phản ánh, thể hiện cuộc sốngnhân vật mà còn đem lại cho ngôn ngữ Nguyên Hồng chất ký, mang tính thời

sự, ngôn ngữ thật bình dị nh lời ăn tiếng nói hàng ngày, đôi lúc đem lại ý vị mỉamai hóm hỉnh Đó cũng là sự thể hiện sự am hiểu đời sống ngôn ngữ nhân dâncủa Nguyên Hồng

2.1.9 Từ láy.

Từ láy là từ tạo ra theo phơng thức láy, trong đó đơn vị láy lặp lại toàn bộhay bộ phận âm thanh hình vị cơ sở, thanh điệu giữ nguyên hoặc biến đổi theoquy tắc hài thanh

Trang 28

Trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng sử dụngrất nhiều các loại từ láy để thể hiện một cách hay nhất, sinh động chân thật cuộcsống con ngời và cảnh vật mà ông miêu tả Thực sự từ láy đã góp phần sống dậycả một Hải Phòng - Nam Định nhộn nhịp đông đúc, chen chúc của những conngời đang trờn ra để kiếm sống, không những thế giới ngoại cảnh mà cả một thếgiới nội tâm vô cùng phức tạp của những con ngời này cũng đợc Nguyên Hồng

vẽ lên mồn một

Trong các loại từ láy mà Nguyên Hồng sử dụng thì từ láy hoàn toànchiếm tỷ lệ không nhiều 5% (theo t liệu điều tra) nh: Lờm lợm, lù lù, rào rào,vang vang, cuồn cuộn, rầm rầm, loang loáng Còn từ láy bộ phận âm đầu chiếm

tỷ lệ rất lớn trong các loại từ láy với 94%: Nhớp nháp, nhớn nhác, ròn rõ, rách

r-ới, lấm lét, dồn dập, xanh xao

Việc sử dụng từ láy trong trang văn Nguyên Hồng cũng đáng kể chiếm17,2% tỷ lệ trong tổng số phiếu về sự đa dạng vốn từ Nguyên Hồng sử dụngphù hợp các từ láy tạo cho lời văn một sự diễn tả tinh tế, tài tình những trạngthái tâm lý phức tạp, tế nhị trong con ngời

"Vài tia nắng xuyên qua cánh buồm, nó giỡn trên mặt Quyến làm nổi bậtsắc má hồng dới hai quầng mắt thâm mơ màng Gió xuân êm mát reo vù vù, đa

tạt ngọn lửa về một bên Gần ngọn lửa phấp phới khuôn mặt bác Phấn vẫn buồn

thảm vô cùng Hơi nóng dịu dàng không thể nào đổi đợc da xanh xám nên hồng hào" (Trong cảnh khốn cùng, 11, tr94).

ở đoạn văn trên, Nguyên Hồng đã lựa chọn thích hợp các từ láy góp phầnrất lớn diễn tả đợc một cách rõ ràng, hấp dẫn những biến đổi trong tâm hồn ngờiphụ nữ đang hồi xuân tràn đầy sức sống Cảnh vật do vậy qua ánh mắt nhìn củangời phụ nữ này cũng rạo rực, phơi phới hẳn lên Đó là những biến thái tinh vi

ẩn khuất trong tình cảm con ngời mà Nguyên Hồng đã khám phá và diễn tả tàitình

Tác giả còn sử dụng từ láy góp phần dựng lên trớc mắt ngời đọc một buổisáng tinh mơ, trong sáng, tơi nguyên, ấm áp đầy hấp dẫn: "Những mảng rêumạng khắp chân tờng, dới chòm canh, vẫn giữ những màng nớc mong manh.

Trang 29

Nắng non mới rải vàng trên vài chòm xoan phấp phới, những mảnh chai thủy

tinh lấp lánh trên bức tờng ngoài cùng" (Tết của ngời đàn bà tù, 11, tr143).

Và đây là cảnh tợng một đám đông với mọi hình dáng, màu sắc, thái độphức tạp đa dạng đợc dựng lên rõ ràng, chi tiết, đầy ấn tợng nhờ các từ láy:

"Đây là những đám ngời xô đẩy nhau cuống quýt, ngơ ngác trớc những

bọn cảnh sát Tây, mắt xanh gờm gờm, nhìn súng lục lấp ló trong những bao da

đeo lệch bên sờn và những xe đạp của chúng cứ lừ khừ Những đám ngời ấy còm cõi, xanh xám, quần áo ngắn nhuộm chàm rách rới, lấm láp" (Ngời đàn bà

Tàu, 11, tr201)

Sử dụng một cách tài tình hiệu quả "đặc sản" ngôn ngữ dân tộc mà cácdân tộc khác không có, với từ láy Nguyên Hồng đã không chỉ tạo nên hiệu lựctrong việc khắc họa gây ấn tợng mạnh mẽ, cụ thể về các hình ảnh, trạng tháitâm lý mà qua đó còn thể hiện cái nhìn lạc quan, tin tởng, đầy chất thơ đối vớicuộc sống cần lao và qua đó biểu lộ tình cảm chân thành yêu thơng những conngời khổ sở bị hà hiếp, bị đói nghèo, bất hạnh

2.1.10 Từ tợng thanh.

"Từ tợng thanh là các từ dùng chất liệu ngôn ngữ để mô phỏng, bắt chớccác âm thanh trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, đợc dùng để biểu thị sựvật về âm thanh" (Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, 9, tr400)

Theo Đinh Trọng Lạc: Từ tợng thanh là biện pháp tu từ ngữ âm trong đóngời ta cố ý bắt chớc mô phỏng biểu hiện một âm hởng trong thực tế kháchquan ngoài ngôn ngữ bằng cách dùng phối hợp những yếu tố ngữ âm có dạng vẻtơng tự

Từ tợng thanh có rất nhiều trong thơ Hồ Xuân Hơng, và ở trong truyệnngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng Tám sử dụng tơng

đối các từ tợng thanh trong các tác phẩm với 4% trong tổng số phiếu điều tra về

sự phong phú vốn từ: Hự hự ríu rít, rào rào (Bố con lão đen); ken két, kẹtkẹt, rắc rắc, soạt soạt, lạch cạch, xèo xèo (Giọt máu); ầm ầm, ình ình, sụt sịt, hí

hí, bình bịch (Ngọn lửa)

Trang 30

Việc sử dụng các từ tợng thanh giúp nhà văn thể hiện một cách trực tiếp,chân thực những âm vang của cuộc sống Ngời đọc nh đợc trực tiếp tiếp xúc,chứng kiến mọi sự vật, sự việc.

"Đồng thời mời tên lính khác sầm sập cắp súng chạy tỏa ra chungquanh bịch bịch Tên quan Nhật ngoắc tay ra lệnh cho tên huyện Roạt lỡi kiếm sáng toát tuốt ra" (Ngọn lửa, 11, tr422)

Qua đoạn văn với những từ tợng thanh tạo cho ngời đọc cảm giác chứngkiến rõ ràng tận mắt, nghe hết những âm thanh rùng rợn, diễn tả tội ác tàn bạocủa bọn xâm lợc cai trị đàn áp giết chóc nhân dân ta

"Điếu thuốc cháy xèo xèo trên chiếc chụp đèn thủy tinh ám khói, vang

lên những tiếng vo vo đều đều nh tiếng sáo diều" (Bỉ vỏ, 12, tr102).

Nhờ những từ tợng thanh, cả một "thế giới" hành lạc hiện lên trớc mắtngời đọc, đem lại cho ngời đọc cảm giác chân thật

"Không một tiếng động ngoài tiếng gió vu vu có tiếng lục sục dới cái

mái kẽm ở cuối dãy và tiếng cào lạo sạo trên chiếc chiếu che làm cửa" (Con

chó vàng, 11, tr104)

Con gió lạnh đã hiện lên thành hình thành tiếng đe dọa đến những kiếpngời đói rách, nhờ những từ tợng thanh, nỗi ám ảnh và sự hù dọa của thiênnhiên đối với họ lại càng ghê gớm hơn

Nh vậy, Nguyên Hồng đã tạo hiệu quả to lớn không chỉ trong diễn đạt,phản ánh hiện thực mà nhờ sử dụng từ tợng thanh, ngòi bút hiện thực của NguyênHồng càng sắc nét hơn, mang nhiều chất ký, sinh động và hấp dẫn hơn

2.1.11 Từ tợng hình.

"Từ tợng hình là từ có tác dụng gợi tả hình ảnh, sáng điệu của sự vật" (Từ

điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, 9, tr395)

ở Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến từ tợng hình đợc

sử dụng rất tài tình và hiệu quả trong việc miêu tả cảnh vật, tâm trạng

Trang 31

Trong các tác phẩm của Nguyên Hồng trớc cách mạng có sử dụng tơng

đối nhiều các từ tợng hình chỉ ngời, chỉ vật với 10,63% tỷ lệ số phiếu điều tra

về sự phong phú vốn từ So với từ tợng thanh, từ tợng hình đợc xuất hiện dàyhơn, nó giúp diễn tả t thế, hình dáng, hoạt động, màu sắc của con ngời và sựvật

Ta nh thấy rõ mồn một sự nghèo đói sơ sài, cũ rích, h hại của cả một đồnghề làm ăn của những con ngời lao khổ: "Những bàn ghế giờng phản chõnghàng đã ọp ẹp, những bức vách nứt nẻ, loang lổ, những kèo cột xộc xệch, chằng chịt mạng nhện, dới ánh đèn treo vàng cặn, tất cả những vật ấy úp súp tồi

tàn thêm" (Hàng cơm đêm, 11, tr120)

Và đây là cả một đoàn ngời chết đói đang lếch thếch, oặt ẹo dìu dắtnhau đi kiếm ăn Ta nh thấy mỗi ngời một t thế, một kiểu dáng rất thật, đặcbiệt cho những cái xác không hồn: "Trớc hai con mắt bừng bừng của y, càng

rộn rập những sống lng khặc khừ, những bụng mọng lặc lừ, những cái đùi

tóp lẩy bẩy, những đầu tóc bù xù, những đứa bé lèo nhèo lờ ngờ" (Đi, 11,

tr402)

Và đây nữa, hình ảnh một ngời đàn bà xinh đẹp đã bị tàn phai nhan sắctrở nên xấu xí trớc sự tấn công của cuộc đời: "Tôi lặng đi tê tái nhìn bộ xơng

hốc hác, gồ ghề, xám xịt Thay cho gối tóc y cuốn thành một mớ dày, vẫn còn

đen nhánh, giá cắt đi làm một cái đuôi gà thì phải dài và óng ả lắm" (Mợ Du,

11, tr198)

Việc sử dụng từ tợng hình có giá trị tạo hình to lớn, giúp nhà văn nh mộthọa sĩ vẽ nổi những đờng nét màu sắc cụ thể những cảnh vật và con ngời rấtphức tạp và đa dạng "kiểu", "loại" hình dáng đặc biệt này Nó đem lại cho ngônngữ Nguyên Hồng giàu hình ảnh, tính gợi hình rõ rệt Đó thực sự nh là bứctranh sống trớc mắt ta về cuộc sống cùng khổ, chật hẹp, chui rúc, đói nghèo củatầng lớp dới thị dân Qua đó gián tiếp nói lên sự đau xót của tác giả trớc nhữngkiếp ngời lam lũ, gầy gò, sống trong một không gian xam xám, nhợt nhạt, lụpxụp

Trang 32

2.1.12 Từ hình thái.

"Từ tình thái là từ đã mất ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp cụ thể cóchức năng nh một công cụ biểu thị hình thái, còn gọi là tình thái từ" (Từ điểnThuật ngữ ngôn ngữ học, 9, tr395)

Trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng có sửdụng một số lợng đáng kể các từ tình thái

Là một nhà văn hiện thực, Nguyên Hồng thờng để cho nhân vật tự hoạt

động, tự thể hiện mình, do đó xuất hiện nhiều đoạn đối thoại, nên thán từ cũngxuất hiện theo những đoạn đối thoại đó (ối, ôi, a, á, ạ, à, hở, hù, ôi dào ) Những

từ tình thái có hiệu lực đặc biệt trong việc thể hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc của nhân vật, giúp cho nhân vật tự thể hiện mình, tự bộc bạch mọi trạng tháicảm xúc trong ngời mình ra và ngời đọc đợc trực tiếp chứng kiến, nghe thấymọi tâm sự của nhân vật

Trong các nhóm tình thái từ thì nhóm đứng đầu câu biểu thị sự gọi đápxuất hiện nhiều nhất (ơi, hỡi, ời, ạ, vâng, dạ )

"Hờ Dần ơi ! Dần ơi ! Bố mày không biết dạy mày để mày làm khổ bà

kia, Dần ơi !" (Bố con lão đen, 11, tr222).

Nhóm đứng cuối câu thể hiện sắc thái tình cảm nghi vấn, ngạc nhiên (à, ,nhỉ, nhé, hở, hả ); sắc thái mệnh lệnh (nhá, nhé, nghen )

Nhóm đứng đầu câu biểu thị sự ngạc nhiên, vui mừng, sợ hãi, bực tức,tiếc thơng, xúc động

"Ôi dào ! Gà với qué ! Lôi thôi về để cho bới vờn rau của bà chủ mà nghe

chửi à ? (Giọt máu, 11, tr382).

Tuy vậy, nhóm từ tình thái biểu thị sự gọi - đáp vẫn chiếm tỷ lệ nhiềunhất với 75% trong tổng số phiếu điều tra về từ tình thái Điều đó chứng tỏtrong xã hội ấy thật lộn xộn, nhốn nháo Trong lớp ngời đông đúc, ồn ào náonhiệt, tấp nập ấy, mọi thứ đều rùng beng cả lên, mọi ngời nh không còn nhận ranhau, kêu gọi nhau chí choé: Tiếng gọi con, gọi bạn, gọi khách, gọi xe, gọi thức

ăn Nhng đặc biệt hơn cả, não ruột hơn cả là tiếng gọi trời (giời) xuất hiện đậm

Trang 33

đặc, nó thể hiện cuộc sống cơ cực lầm than, đau khổ đầy bế tắc của những conngời này Thế giới nhân vật của Nguyên Hồng chỉ biết cầu cứu chúa và trời.

Có rất nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạngxuất hiện tiếng kêu trời của nhân vật: Truyện "Bố con lão đen" có 9 lần kêugiời; truyện "Cái xích cũ" có 4 lần kêu giời; truyện "Hai dòng sữa: có 5 lần kêugiời; truyện "Bỉ vỏ" có 12 lần kêu giời; truyện "Quán Nãi" có 4 lần kêu giời

Đặc biệt hơn, những tiếng kêu trời ấy đều phát ra từ những ngời đàn bà, ngờiphụ nữ: Tiếng kêu của ngời vợ bị chồng đánh, tiếng ngời mẹ kêu trời vì đói khổ,tiếng ngời con gái kêu trời vì bị ức hiếp phải sống khổ nhục, tiếng kêu trời củangời mẹ thơng con, cả tiếng kêu trời của những mụ đàn bà giàu có tiếc của

Điều đó chứng tỏ Nguyên Hồng có một sự u ái lớn cho phụ nữ, lòng nhà văn ớng về họ yêu thơng, cảm thông trớc nỗi khổ của họ Những ngời phụ nữ chânyếu tay mềm luôn bị mọi ức hiếp từ xã hội, gia đình, mọi phong tục lễ giáo từnỗi khổ giai cấp đến nỗi khổ giới tính Do đó các tình thái từ (dù là h từ) nhng

h-đã góp phần quan trọng trong việc khắc họa nhân vật, phản ánh chân thật, sinh

động cuộc sống

Các tình thái từ trong văn Nguyên Hồng không xúât hiện bừa bãi tràn lan

mà nó tập trung, nó bật ra khi thực sự mâu thuẫn đến đỉnh điểm, nhân vật rơivào trạng thái cảm xúc đến tột đỉnh, không chịu đợc họ mới kêu trời Chính

điều đó góp phần thể hiện ngôn ngữ nhân vật, cuộc sống, trạng thái tâm lý củanhân vật

"ối giời ơi ! Nói thế mà nghe đợc đấy ! Anh tởng tiền tôi nh vỏ ron đấy hả ?" (Quán Nãi, 12, tr276).

Cũng có khi "giời ơi" xuất hiện nh những lời nói trong khẩu ngữ hàngngày của nhân vật trong những màn đối thoại bình thờng, nó khiến ngời đọcluôn có cảm tởng "cuộc đời này", cuộc sống của các nhân vật luôn luôn cùngcực, đau đớn, luôn có áp bức, hà hiếp, oan trái

"Giời đất thiên địa ơi ! Tiền sáu tạ gạo, mỗi tạ có sáu đồng đã tính lên

bảy đồng, giờ lại thêm mời đồng tiền lãi nữa" (Ngọn lửa, 12, tr355)

Trang 34

Nh vậy, việc sử dụng tài tình các tình thái từ giúp Nguyên Hồng rất lớnkhông chỉ trong việc phản ánh cuộc sống mà qua đó góp phần tạo nên mộtNguyên Hồng với giọng văn nhân hậu, ấm áp, trữ tình đầy xúc động.

Tóm lại, Nguyên Hồng với kinh nghiệm, tâm huyết, tài năng của mình đãtạo cho mình một vốn từ phong phú, đặc sắc, đa dạng, góp phần phản ánh tốtcuộc sống cùng khổ của nhân dân ta trớc cách mạng, đồng thời thể hiện tấmlòng nhân ái, bao dung của tác giả Tất cả góp vào sự thành công của truyệnngắn và tiểu thuyết của ông trớc cách mạng

2.2 Các biện pháp tu từ đợc sử dụng trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng Tám.

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nghĩa là không chỉ có ngôn từ phong phú

mà phải sử dụng nó một cách có nghệ thuật và giúp cho việc sử dụng tốt ngôn

từ thì các biện pháp tu từ sẽ có giá trị lớn tạo tính nghệ thuật cho tác phẩm vănhọc

Nguyên Hồng trong các tác phẩm của mình trớc cách mạng cũng rất có ýthức sử dụng tốt các biện pháp tu từ, góp phần tạo ra sức hấp dẫn và giá trị nghệthuật cho tác phẩm

2.2.1 So sánh tu từ.

Theo Phó giáo s Đinh Trọng Lạc: "So sánh là một biện pháp tu từ ngữnghĩa, trong đó ngời ta đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quankhông đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đónhằm diễn tả hình ảnh, một lối tri giác mới mẻ về đối tợng Cần phân biệt với sosánh lý luận, trong đó cáu đợc so sánh và cái so sánh là các đối tợng cùng loại

và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tơng đơng giữa hai đối tợng" (ĐinhTrọng Lạc, 1, tr154)

Lối so sánh ví von nh đã ăn sâu vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhândân ta: Vui nh tết, đẹp nh tiên, nhanh nh sóc

"Bố chồng là lông con phợng

Mẹ chồng là tợng mới tô"

Trang 35

(Tục ngữ)Một sự so sánh đầy thấm thía cho ngời con gái mới về nhà chồng.

"Thân em nh tấm lụa đàoDám đem xé lẻ vuông nào cho ai"

(Ca dao)Một sự so sánh đầy ý nghĩa, diễn tả niềm tự hào, kiêu hãnh của cô gái vềphẩm chất của mình

Trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyên Hồng trớc cách mạng sử dụngtơng đối nhiều các biện pháp tu từ so sánh để tạo ra những giá trị nghệ thuật đặcbiệt Theo thống kê của chúng tôi thì ở 200 trang truyện của 17 tác phẩm thì cótới 94 biện pháp so sánh tu từ đợc sử dụng Đối tợng đợc Nguyên Hồng đa ra sosánh là hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống con ngời

Trớc hết là hình ảnh về cuộc sống của con ngời Trong 94 biện pháp sosánh tu từ của 200 trang truyện thì có tới 79 hình ảnh đợc đa ra so sánh là nói vềcuộc sống của con ngời

Khi đa ra những hình ảnh so sánh về cuộc sống con ngời, nhà văn đãchọn những hình ảnh sắc nét chọn lọc, gây ấn tợng mạnh cho ngời đọc, tạo hiệuquả và giá trị nghệ thuật cao, đa lại cho ngời đọc nhiều d vị chua xót, thấm thía

"Trán thì dô, gò má cao, răng hô, da nhăn nheo, vành khăn trên đầuchẳng bao giờ gọn gàng, mà tóc thì ngắn, nhiều đám xoăn nh sợi móc Nếu mụ

Mão đứng yên cho ngời ta ngắm mụ sẽ trở nên mộ pho tợng gỗ đẽo gọt nham nhở dới đất móc lên hay hun khói" (Ngời mẹ không con, 11, tr245).

ở trên là hình ảnh một ngời đàn bà, qua những hình ảnh so sánh, tác giả

nh nói hết tất cả sự thua kém tàn phai về nhan sắc của ngời đàn bà ấy Nhng caohơn nó chứa chan một tình cảm cảm thông trớc sự thua thiệt đó Họ xấu đâuphải tại họ mà tại sao vì xấu mà họ không đợc hởng hạnh phúc bình dị của conngời

Trang 36

Và ở đây, ta lại thấy hết sắc mặt tàn bạo, ghê gớm của ngời đàn ông đánhvợ: "Mặt lão đen tím bầm Làn da nâu sậm biến thành một thứ vỏ sú, vỏ vẹt đã ngâm nớc Mắt hắn sáng quắc tởng sì ra lửa Hai mép hắn ngoác ra Cái vết dao

chém bập vào gò má nổi tròn lên nh mang rắn đang phun nọc" (Bố con lão

đen, 11, tr213).

Với những hình ảnh so sánh sắc nét, độc đáo, bộ mặt ngời đàn ông hiệnlên thật tàn nhẫn, độc ác, thể hiện một con ngời thô lỗ với tâm trạng bức xúc tr-

ớc cuộc sống

Và đây là hình ảnh tên lính lê dơng: "Và, quái gở, không hiểu ở đâu hiện

ra hai tên lính lê dơng và hai tên lính da đen hùng hục nh lợn lòi xông vào" (Ngời đàn bà Tàu, 11, tr210).

So sánh tên lính lê dơng với lợn lòi là một sự đánh giá đúng mực chính

đáng bản chất tàn bạo, mất trí đầy tội ác của bọn cớp nớc So sánh con ngời vớicác hình ảnh con vật đó là sự thể hiện thái độ bất bình, phê phán của tác giả vớinhân vật

Và đặc biệt thơ mộng hơn bởi lối tả vẻ đẹp của một cô gái rất trẻ trungcủa Nguyên Hồng: "Cặp môi hé mở ngoài hai hàm răng huyền thơm và ngonlàm sao ! Nhìn nó ngời ta phải tởng ngay đến quả nho đỏ mọng và búp đào mơn mởn Và cái bầu vú thây lẩy trên mảng ngực cẩm thạch kia, một ngời

đang lạc giữa sa mạc chỉ nhìn thoáng qua sẽ cháy cổ đi rồi chết" (Cô gái quê,

11, tr179)

Với những hình ảnh so sánh đầy ấn tợng trên, Nguyên Hồng đã lột tả hết

vẻ đẹp trong sáng và sức sống mơn mởn căng đầy trong ngời thôn nữ tơi đẹpkia Một sự ca ngợi đầy thiên ý, trân trọng của tác giả đối với những con ngờilao động

Và đặc biệt thiên tài hơn khi Nguyên Hồng tả thiên nhiên với nắng giótràn đầy: "Dòng sông xanh biếc lấp lánh những ánh trăng vàng nhạt sau vàng t-

ơi, sau hồng phớt Rồi cả mảng trời bên tay trái óng mợt nh tấm màn nhung đỏ viền lơ" (Trong cảnh khốn cùng, 11, tr93).

Trang 37

Quả là một dòng sông phẳng lặng chở đầy ánh trăng Những sự so sánhtrên đã diễn tả đợc hết vẻ đẹp trong sáng, đầy sức sống của thiên nhiên Nói nhgiáo s Phan Cự Đệ: " trong văn Nguyên Hồng luôn có nắng gió lao xao, phấpphới, rực rỡ và một bầu trời trong xanh lấp lánh rất đẹp Cái đó là gì nếu khôngphải là lòng ham sống, tin yêu cuộc sống là vẻ đẹp của lý tởng, là những ớc mơlãng mạn về từ tơng lai" (11, tr39).

Việc sử dụng các hình ảnh so sánh tu từ có tác dụng diễn tả những hình

ảnh, những tình cảm tinh tế, trừu tợng, một cách cụ thể, rõ ràng Đó chính là sự

cụ thể hoá, giá trị tạo hình, gợi cảm nhằm nhấn mạnh điều muốn nói Lối sosánh cũng tạo cho ngôn ngữ Nguyên Hồng sức hấp dẫn, gợi nhiều liên tởng lạ,

độc đáo

2.2.2 Nhân hoá.

Nhân hoá "là phép tu từ trong văn học bao gồm việc gắn cho đối tợng phi

động hoặc loài vật những đặc tính và phẩm chất của con ngời chẳng hạn nh cókhả năng nói năng, có khả năng tham gia vào trong các quan hệ đặc trng cho xãhội loài ngời" (Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, 9, tr193)

Biện pháp tu từ nhân hoá đã có từ lâu và nhiều trong văn học:

"Vì sơng nên núi bạc đầuBiển lay vì gió, hoa sầu vì ma"

(Ca dao)Tác giả dân gian đã dùng những hình ảnh bạc đầu, sầu để diễn tả tâm sựcủa mình

Trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trớc cách mạngtháng Tám, ông đã sử dụng tơng đối các biện pháp nhân hoá trong trang văn củamình Tuy các biện pháp nhân hoá xuất hiện tha nhng sự xuất hiện đúng lúc tạohiệu quả cao trong việc diễn tả sự vật, sự việc một cách sống động

Đây là không khí rộn ràng, ấm áp, vui vẻ của gia đình khu vờn: "Sắcxanh mọng của vờn xu hào, bắp cải và rau diếp ở xung quanh đấy, cuồn cuộnchạy theo gió, tràn cả ra bên ngoài Mặt đất thấp thoáng những gợn quằn quại

Trang 38

của cây cỏ đơng nảy nở tìm khoảng rộng và màu mỡ hơn Trên cao, những đámmây xốp vừa tản ra, nắng lại bừng lên tới xuống ào ào" (Ngời mẹ không con,

sự tức tối và thê thảm trong gian nhà" (Trớc xác chết, 11, tr398)

Bộ mặt thiên nhiên đợc nhìn thấy rõ ràng hơn, cụ thể hơn, nó thật độc ác,tàn nhẫn nh để dày vò, đe dọa hù hồn những kiếp ngời đói rách

"Dới cái ánh sáng thoi thóp, một ngọn núi tím đục cố ngoi lên dới lớp

s-ơng nhờ nhờ nh khói Bao nhiêu ngọn cây và nóc nhà về phía này cũng đều nh

có khói quấn quít Và từ cái biển khói ấy, tiếng chim gọi nhau, tiếng lá xao

động, tiếng gió vi vu thoang thoảng đa lại hoá thành một thứ tiếng xào xạc heohút vô cùng" (Buổi chiều xám, tr390)

Cả một vùng thiên nhiên cảnh vật nh quấn quít lấy nhau, đùm bọc lấynhau, giữa chúng đã đợc tác giả thổi vào tình yêu thơng gần gũi, dễ gây khiếnlòng ngời một ớc ao tổ ấm, một nỗi nhớ quê hơng gia đình

Nh vậy, với việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá đã tạo tác dụng lớntrong việc diễn tả cuộc sống thêm sinh động, làm cho thiên nhiên cảnh vật nhlao xao, phấp phới, mừng vui hạnh phúc nh con ngời Tất cả góp phần tạo nênchất lãng mạn trữ tình cho tác phẩm

2.2.3 Câu hỏi tu từ.

"Câu hỏi tu từ là câu về hình thức, là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng

định hoặc phủ định có cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằmtăng cờng tính diễn cảm của phát ngôn" (Đinh Trọng Lạc, 1, tr194)

Trong văn học dân gian cũng nh văn học viết xa nay, câu hỏi tu từ đợc sửdụng nhiều

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Đinh Trọng Lạc - 99 biện pháp tu từ trong tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Néi 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 biện pháp tu từ trong tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
2.Đinh Trọng Lạc (chủ biên) - Phong cách học tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Néi 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
3.Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
4.Đỗ Thị Kim Liên. Bài tập ngữ pháp tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
5.Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
6.Đoàn Thị Tiến- Khoá luận tốt nghiệp cử nhân ngữ văn .ĐHQGHN-§HKHXH & NV 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoá luận tốt ng
7.Hà Minh Đức - Nguyên Hồng về tác giả và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Néi 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên Hồng về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
8.Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (chủ biên). Từ điển thuật ngữvăn học. NXB ĐHQG, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ"văn học
Nhà XB: NXB ĐHQG
9.Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyên Hồng thân thế và sự nghiệp.NXB Hải Phòng 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên Hồng thân thế và sự nghiệp
Nhà XB: NXB Hải Phòng1997
10. Nguyễn Nh ý - Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học. NXB Giáo dục, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáodục
12.Phan Cự Đệ. Tuyển tập Nguyên Hồng (tập 1). NXB Văn học, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyên Hồng (tập 1)
Nhà XB: NXB Văn học
13.Phan Cự Đệ. Tuyển tập Nguyên Hồng (tập 2). NXB Văn học, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyên Hồng (tập 2)
Nhà XB: NXB Văn học
14.Phan Công Lệ. Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Ngữ văn - Đại học Vinh 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoá luận tốt nghiệp
15.Phan Thị Đông. Khoá Luận tốt nghiệp S phạm Ngữ văn- Đại học Vinh 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoá Luận tốt nghiệp
16.Phan Văn Các. Từ điển từ Hán Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ Hán Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Phơng Lựu (chủ biên). Lý luận văn học. NXB Giáo dục, 1997 (tái bản lần thứ I) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
18.Sách giáo khoa Văn học 11 (Sách chỉnh lý hợp hợp nhất). NXB Giáo dục, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Văn học 11 (Sách chỉnh lý hợp hợp nhất)
Nhà XB: NXB Giáo dục
20.Viện ngôn ngữ học .Từ điển tiếng việt. NXB Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
19.Tập thể tác giả khoa Ngữ văn - Đại học Vinh. Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ. NXB Giáo dục, Đà Nẵng 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w