1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về định giá tài sản trong cổ phần hóa (luận văn thạc sỹ luật)

85 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 880,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp được sử dụng trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành.. Đây là biện pháp quan trọng nh

Trang 1

Nguyễn Hoàng Khải

PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

TRONG CỔ PHẦN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Nguyễn Hoàng Khải

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thanh Bình

TP HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thanh Bình Các nội dung nghiên cứu và các kết quả trong đề tài nghiên cứu khoa học này là trung thực, khách quan và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Trong luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá, ý kiến cũng như số liệu của một số tác giả, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc cũng như đề cập trong phần tài liệu tham khảo

TÁC GIẢ

Nguyễn Hoàng Khải

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1.1 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến nay 23 Biểu đồ 1.2 Cơ cấu DNNN CPH theo quy mô vốn điều lệ từ năm 2016 đến nay 23 Biểu đồ 3.1 Đóng góp lợi nhuận của nhóm công ty liên doanh liên kết vào Vincem năm 2018 66 Bảng biểu 3.1 Tổng giá trị thực tế của 8 DNNN CPH được Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán kết quả định giá năm 2017 60

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU 4

MỤC LỤC 5

PHẦN MỞ ĐẦU 7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HOÁDOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 13

1.1 Một số vấn đề chung về doanh nghiệp nhà nước 13

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước 13

1.1.2 Quá trình hình thành phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 16

1.2 Mục tiêu, nội dung, thực trạng của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 18 1.2.1 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 18

1.2.2 Nội dung cơ bản cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 19

1.2.3 Thực trạng cổ phần hóa tại Việt Nam 21

1.3 Kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới về cổ phần hóa 24

1.3.1 Trung Quốc 24

1.3.2 Nga 26

1.3.3 Hàn Quốc 28

Chương 2: ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN DOANH NGHIỆP TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 31

2.1 Khái niệm xác định giá trị tài sản doanh nghiệp 31

2.1.1 Giá trị tài sản doanh nghiệp 31

2.1.2 Xác định giá trị tài sản doanh nghiệp 31

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản doanh nghiệp 33

2.1.4 Tài sản của doanh nghiệp nhà nước được định giá khi cổ phần hóa 35

2.2 Tổng quan các phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp 36

2.2.1 Phương pháp xác định theo giá trị tài sản 37

2.2.2 Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai 40

Trang 7

2.3 Các phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp được sử dụng trong

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam theo quy định pháp luật hiện

hành 42

2.3.1 Phương pháp tài sản 43

2.3.2 Phương pháp giá giao dịch 54

2.3.3 Phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp 55

2.3.4 Phương pháp chiết khấu dòng tiền thuần vốn chủ sở hữu 56

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 57

3.1 Thực trạng trong định giá tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa ở nước ta trong thời gian qua 57

3.1.1 Thuận lợi 57

3.1.2 Khó khăn 57

3.1.3 Một số bất cập trong quy định của pháp luật về định giá tài sản trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 61

3.1.4 Một số trường hợp định giá tài sản doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa 62

3.2 Đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện việc định giá tài sản trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 68

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 8

phủ) ban hành Chỉ thị số 202/CT ngày 08/6/1992 về nội dung thí điểm chuyển một

số DNNN thành CTCP, năm 1996 Chỉ phủ ban hành Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 về chuyển DNNN thành CTCP (thay cho Chỉ thị số 202/CT) Đây là biện

pháp quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến căn bản về cơ cấu sở hữu và hoạt động của các DNNN, để phù hợp hơn với nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh doanh của DNNN.1

CPH là quá trình đa dạng hóa CSH các DNNN nhằm thu hút các nguồn vốn

từ các NĐT và một bộ phận người lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ vốn nhằm phát triển nền kinh tế Qua hơn hai mươi năm thực hiện chủ trương CPH DNNN, các chỉ tiêu như: vốn, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của người lao động tại nhiều doanh nghiệp sau CPH đã có sự tăng trưởng CPH DNNN là một chủ trương lớn, hoàn toàn đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, việc thực hiện trong thời gian qua trong phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả tích cực rất đáng được ghi nhận Các doanh nghiệp sau khi CPH đã phát huy hiệu quả tích cực trong nâng cao năng lực cạnh tranh, tỷ suất sử dụng vốn tăng lên rõ rệt, giải

1 Phan Thị Thùy Linh (2017), “Cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn tại Việt Nam”, Luận

án tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương

Trang 9

quyết tốt công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đóng góp ngày càng nhiều hơn nghĩa vụ tài chính cho ngân sách nhà nước

Song song với những kết quả đã đạt được, trong một số thời điểm và một số địa phương quá trình CPH DNNN vẫn diễn ra chậm, chưa phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và yêu cầu thực tiễn Một số doanh nghiệp sau CPH hoạt động còn khó khăn, sức cạnh tranh thấp, thậm chí có doanh nghiệp thua lỗ Nhiều khía cạnh về kinh

tế - xã hội đã nảy sinh trong quá trình thực hiện chủ trương CPH DNNN đã tác động xấu đến tiến trình CPH nói riêng, đến sự phát triển kinh tế và xã hội nói chung Từ nhận thức đến hành động và chủ trương, cơ chế vẫn còn nhiều rào cản, trên thực tế

có một bộ phận thậm chí muốn kéo lùi tiến độ CPH DNNN để thực hiện những ý đồ

cá nhân

Đơn cử như tại thành phố Hồ Chí Minh, tiến độ CPH các DNNN trong 5 năm trở lại đây diễn tiến khá chậm Những năm đạt kết quả cao nhất là từ năm 2013 –

2015, số vốn nhà nước thu về hơn 4.700 tỷ đồng, bằng 54% kế hoạch Như vậy, 46%

số vốn còn lại tiếp tục thoái vào năm 2016 và số tiền thực tế đã thu về trong năm này là: 3.540 tỷ đồng, tăng 1,4 lần so với giá trị dự toán

Cùng năm 2016, UBND thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thoái vốn nhà nước tại 51 DNNN Đồng thời, thành phố thực hiện các thủ tục pháp lý để xác định giá trị doanh nghiệp và quyết định CPH cho 39/45 doanh nghiệp; giao tài sản để CPH 7/45 doanh nghiệp khác Năm 2017, UBND thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh kế hoạch thoái vốn của 10 tổng công ty và công ty mẹ có 100% vốn nhà nước trực thuộc thành phố, đã được phê duyệt tái cơ cấu giai đoạn 2013 - 2015 Tuy nhiên, tính đến 31/8/2018, tiến độ CPH những doanh nghiệp nêu trên vẫn dậm chân tại chỗ…

Theo kế hoạch giai đoạn 2017- 2020, thành phố Hồ Chí Minh có 51 DNNN thực hiện CPH Theo đó, năm 2017 - 2018 sẽ tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc nhằm hoàn thành cơ bản CPH DNNN; sắp xếp, chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty sau khi Chính phủ phê duyệt; thực hiện giải thể, bán, phá sản

11 doanh nghiệp Tuy nhiên, gần hai năm qua vẫn chưa có DNNN nào CPH Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang hoàn thành thủ tục để thoái vốn, CPH cho 39

Trang 10

DNNN của thành phố Từ diễn tiến trên đây, chỉ tiêu thoái vốn, CPH tại TP HCM cho 39 DNNN này trong năm 2018, 2019 được dự báo tiếp tục chậm trễ.2

Một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng trong trường hợp nêu trên là những vấn đề phát sinh trong áp dụng pháp luật về định giá tài sản DNNN,

đặc biệt việc xảy ra nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước qua CPH do việc định giá giá

trị doanh nghiệp thấp hơn giá trị thực tế, nhiều giá trị tài sản vô hình như thương hiệu doanh nghiệp, lợi thế thị trường, lợi thế độc quyền, giá trị đất đai ở một số vị trí đắc địa không được đánh giá đúng, nhiều doanh nghiệp bị bán với giá bèo bọt, tình trạng tài sản nhà nước mua vào luôn bị đánh giá cao lên, bán ra bị định giá thấp đi… Từ năm 2012 - 2016, qua kiểm toán 17 doanh nghiệp, Kiểm toán nhà nước xác định các trường hợp tăng giá trị thực tế vốn nhà nước 22.356,7 tỷ đồng, các trường hợp giảm giá trị thực tế vốn nhà nước 125,2 tỷ đồng, việc xác định giá trị doanh nghiệp thiếu chính xác, quản lý đất đai khi và sau khi CPH DNNN còn nhiều thiếu sót bởi nhiều

lý do, cả về quy trình thực hiện, năng lực trách nhiệm của tổ chức tư vấn và không loại trừ động cơ trục lợi

Định giá tài sản trong CPH DNNN thời gian qua được đánh giá là điểm yếu trong công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, nguyên nhân hàng đầu trong việc chậm trễ CPH DNNN theo chủ trương của Đảng và nhà nước, cũng như thất thoát tài sản nhà nước, làm phát sinh nhiều tiêu cực trong công tác CPH Vì vậy, việc

đi tìm lời giải cho vấn đề này là một yêu cầu và nhiệm vụ cần thiết trong bối cảnh hiện nay, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu cơ bản hoàn thành CPH DNNN mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra Chính vì lý do trên mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về định giá tài sản trong cổ phần hóa” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật của mình

2 Vân Thanh (2018) “CPH DNNN của TP Hồ Chí Minh chậm do những vấn đề phát sinh”, Trang tin Đảng

bộ Thành phố Hồ Chí Minh., truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2019

Trang 11

2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu:

Đến thời điểm hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn

đề định giá tài sản, xác định giá trị DNNN trong CPH với những quy mô và mục đích khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:

- Nguyễn Minh Hoàng (2006), “Hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Phan Thị Thùy Linh (2017), “Cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn tại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế

trị Kinh doanh, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chủ yếu thuộc các chuyên ngành về kinh tế và đi sâu vào khía cạnh kinh tế của vấn đề định giá tài sản DNNN CPH Đến thời điểm hiện nay vấn đề định giá tài sản DNNN CPH vẫn tiếp tục mang tính thời

sự và chưa bao giờ cũ, việc hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp vẫn là một yêu cầu bức thiết đặt ra cho nước ta trong quá trình chuyển đổi DNNN hiện nay

Ở mỗi góc nhìn, mỗi tác giả sẽ có những cách nghiên cứu và tiếp cận vấn đề khác nhau, từ đó sẽ xuất hiện những quan điểm không giống nhau về cùng một vấn

đề, một hiện tượng Vì thế, việc nghiên cứu, khảo sát để dần hoàn thiện phương pháp định giá tài sản DNNN vẫn cần được tiếp tục Công trình nghiên cứu này sẽ chủ yếu nghiên cứu về khía cạnh quy định pháp luật liên quan đến định giá tài sản trong CPH

DNNN

Trang 12

3 Đối tượng, phạm vi, mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu Tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về định giá tài sản tại các DNNN thực hiện CPH;

- Nhận diện những bất cập trong các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện việc định giá tài sản CPH DNNN hiện nay

- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong việc định giá tài sản đối với CPH DNNN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật cũng như thực trạng định giá tài sản áp dụng trong quá trình CPH DNNN từ năm 1992 đến nay

3.3 Mục tiêu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu những vấn đề pháp

lý liên quan đến định giá tài sản DNNN trong quá trình CPH, các thủ tục, quy trình định giá tài sản, chỉ ra các bất cập trong quá trình định giá tài sản DNNN trong CPH, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các bất cập, tồn tại đang xảy ra trong quá trình định giá tài sản DNNN trong CPH

+ Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế, thúc đẩy hoàn thiện việc định giá tài sản trong CPH DNNN trong thời gian tới

3.4 Nội dung nghiên cứu

Trang 13

Đề tài nghiên cứu về những nội dung liên quan đến các quy định pháp luật, thực trạng và các vấn đề diễn ra trong việc định giá tài sản các DNNN trong quá trình

ra sao

3.5.2 Phương pháp cụ thể:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nhằm tổng hợp các vấn đề về chủ trương, chính sách của Đảng và các quy định pháp luật luật của nhà nước về CPH

DNNN, các quy định của pháp luật về định giá tài sản trong CPH DNNN

- Phương pháp thống kê - so sánh được sử dụng phần nghiên cứu đánh giá thực trạng định giá tài sản trong CPH DNNN và cách thức giải quyết các vấn đề về định giá tài sản trong CPH DNNN

- Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng để đưa ra những nhận xét, đánh giá sát thực hơn về tình hình định giá tài sản trong CPH DNNN và xử lý các vấn đề nảy sinh có tác động tiêu cực đến quá trình định giá tài sản trong CPH DNNN trong thời gian qua, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế của quá trình này

- Phương pháp lôgic - lịch sử sử dụng để tìm ra nguyên nhân của các hạn chế trong quá trình định giá tài sản CPH DNNN và giải quyết các vấn đề đó

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài các nội dung trên thì luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về CPH DNNN

Chương 2: Định giá tài sản trong CPH DNNN

Chương 3: Thực trạng định giá tài sản trong CPH DNNN tại Việt Nam và một

số kiến nghị

Trang 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HOÁ

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Một số vấn đề chung về doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Các nền kinh tế trên thế giới trong lịch sử đã cho thấy trong nền kinh tế thị trường, DNNN là một công cụ quan trọng của nhà nước để can thiệp vào thị trường

và điều chỉnh nền kinh tế quốc gia

Ở nước ta, đối với Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 và Luật Doanh nghiệp

2005 mới chỉ tập trung vào việc thành lập và mô hình tổ chức hoạt động của các

doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế mà chưa giải quyết được các vấn đề đặc

thù của DNNN Vì lẽ đó việc ban hành một chương riêng trong Luật Doanh nghiệp

2014 là cần thiết nhằm tạo ra hành lang pháp lý đủ chặt chẽ và thống nhất trong quản

lý DNNN Đây là một trong những biện pháp mạnh để ngăn chặn tình trạng DNNN đầu tư tràn lan và không hiệu quả vào các lĩnh vực ngoài ngành nghề chính, dẫn đến thua lỗ, làm mất vốn của nhà nước

Khái niệm về DNNN được quy định như sau: DNNN là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ3 Điều này được thể chế hóa ở cấp độ luật đã tạo ra một cuộc các mạng lớn về tư duy quản lý cũng như những thay đổi mang tính chất bước ngoặt đối với hoạt động kinh doanh đầu tư đối với DNNN Theo quy định của pháp luật hiện nay DNNN chỉ tồn tại dưới một hình thức duy nhất là công ty TNHH MTV do nhà nước làm CSH, bao gồm: công ty TNHH MTV do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con, hoặc công ty TNHH MTV độc lập do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Ở Anh, Ủy ban đặc biệt về quốc hữu hóa công nghiệp thành lập từ năm 1956 quy định DNNN phải có đủ các điều kiện: Chính phủ bổ nhiệm HĐQT doanh nghiệp; Doanh nghiệp được Uỷ ban quốc hữu hóa công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh;

3 Quốc Hội (2014), Luật Doanh nghiệp, ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014

Trang 15

Quốc hội hoặc cơ quan tài chính nhà nước không cung cấp phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp

Ở Pháp, những doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện sau được xác định là DNNN: Quyền sở hữu doanh nghiệp thuộc về chính phủ qua đó xác lập được địa vị lãnh đạo của nhà nước; Doanh nghiệp có địa vị pháp nhân độc lập; Doanh nghiệp là

tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi

Một số tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới đã chỉ ra ba đặc điểm chính của DNNN: Cổ đông chính trong doanh nghiệp là chính phủ hoặc chính phủ kiểm soát những chính sách chung mà doanh nghiệp theo đuổi; Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ phục vụ lợi ích chung của nhà nước và người dân; Doanh nghiệp là đơn vị độc lập tự chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động.4

Có thể hiểu một các rộng hơn DNNN là một tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công

ty nhà nước, CTCP, công ty TNHH

1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước

DNNN có những điểm chung như phần lớn vốn của doanh nghiệp do nhà nước

sở hữu nhờ đó chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các hoạt động của doanh nghiệp, các doanh nghiệp đều là một pháp nhân độc lập, bên cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải thực hiện song song cả mục tiêu phục vụ an sinh xã hội và các nhiệm vụ mà nhà nước giao

Các DNNN đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của nhà nước giao cho như đóng góp ngân sách, tạo ra công việc và đem lại thu nhập cho nhiều người lao động, là công cụ quan trọng để nhà nước giải quyết các vấn đề kinh

tế - xã hội DNNN thường có một khối lượng vốn rất lớn và người sở hữu số vốn đó chính là nhà nước Các DNNN thường sản xuất các sản phẩm đặc biệt với yêu cầu

4 Nguyễn Minh Hoàng (2006), “Hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án

Tiến sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 16

nguồn vốn lớn hoặc sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà nhà nước giữ vị trí độc quyền

Bên cạnh đó các DNNN ở các nước trên thế giới lại thường mắc phải tình trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp hơn so với các doanh nghiệp tư nhân Sự thua lỗ của DNNN đã dẫn đến sự thâm hụt lớn của ngân sách nhà nước, làm rối loạn khả năng điều hành kinh tế vĩ mô

Những vấn đề phát sinh trong DNNN đa số đều xuất phát từ tính chất phi thương mại hoặc phi lợi nhuận Quyền lực của người quản lý doanh nghiệp bị hạn chế rất lớn so với khu vực tư nhân dẫn đến việc chi phí đầu vào gia tăng Song song

đó các mặt hàng sản xuất được nhà nước quyết định mà không phù hợp với nhu cầu của thị trường Mục đích của các công ty tư nhân là lợi nhuận thì ngược lại các DNNN phải chấp nhận hy sinh lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội hoặc các kế hoạch

mà nhà nước giao Một vấn đề khác của quyền sở hữu nhà nước đối với DNNN là lợi ích của CSH không liên quan nhiều với kết quả hoạt động của doanh nghiệp Không những thế, các DNNN vẫn được hưởng những ưu đãi, có được những thế mạnh từ phía nhà nước hỗ trợ Do đó, DNNN dễ dựa dẫm vào nhà nước, không nỗ lực tự vượt qua khó khăn, dẫn đến nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả

1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Vai trò của DNNN đối với các nền kinh tế các nước khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố kinh tế, xã hội chi phối Tuy mang những đặc trưng riêng nhưng DNNN luôn có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước, cụ thể là:

Thứ nhất, DNNN là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc gia

Các nước trên thế giới trong lịch sử của mình đều đã hình thành và phát triển các DNNN DNNN là một bộ phận quan trọng trong việc đóng góp ngân sách ở mỗi quốc gia, vai trò này có những sự chuyển đổi không giống nhau trong các thời kỳ khác nhau

Thứ hai, DNNN là một công cụ để thực hiện chức năng can thiệp vào nền kinh

tế của nhà nước

Trang 17

Với kinh tế thị trường, sự tác động của thị trường tạo ra những vấn đề đối với nền kinh tế quốc gia, các doanh nghiệp luôn có lợi ích không giống nhau và có thể không phù hợp với lợi ích của xã hội Nếu không được điều chỉnh, can thiệp sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp phát triển theo nhu cầu riêng, đẫn đến sự mất cân đối, khủng hoảng và suy thoái trong nền kinh tế Với mục tiêu can thiệp và điều chỉnh nền kinh tế, hệ thống các chính sách, pháp luật được nhà nước ban hành để phát huy thế mạnh của các DNNN, thông qua các DNNN mà tác động gián tiếp vào nền kinh tế cũng như các khu vực kinh tế khác để phát triển nền kinh tế theo mục đích của mình

Thứ ba, DNNN là công cụ để thực hiện các chức năng quản lý xã hội của nhà

nước

Đối với nền kinh tế thị trường tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh là mục tiêu của các doanh nghiệp Vì vậy những ngành và những lĩnh vực có thể đạt được mục tiêu lợi nhuận sẽ được các doanh nghiệp tập trung đầu tư Ngược lại các lĩnh vực khó khăn ít hoặc không có lợi nhuận thì sẽ không đượ quan tâm Nhưng chính các ngành, lĩnh vực ít được quan tâm này lại có ý nghĩa lớn về mặt xã hội và phục vụ các nhu cầu của người dân Để giải quyết bài toán trên nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực

ít được quan tâm bằng các DNNN công ích, cung ứng các hàng hóa và dịch vụ công cộng, phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia

Thứ tư, thông qua các DNNN các nguồn lực sẽ được nhà nước phân bổ một

cách hài hòa, đồng đều Lợi nhuận và tự do cạnh tranh khiến cho các nguồn lực kinh

tế của đất nước không được phân bổ đồng đều, sức mạnh tổng thể của nền kinh tế không được phát huy Nhà nước sẽ can thiệp trực tiếp đến việc phân bổ này trong nền kinh tế và xã hội, đảm bảo phát huy các nguồn lực của đất nước thông qua các DNNN

Ở Việt Nam, DNNN còn là nhân tố mang bản chất của nền kinh tế trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giữ vai trò chủ đạo và cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế, làm nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 18

Từ năm 1954 các DNNN đầu tiên ở Việt Nam đã được được hình thành ở miền Bắc và ở miền Nam là từ năm 1975 Nguồn gốc hình thành và định hướng xây dựng, phát triển khác nhau nên các DNNN ớ Việt Nam có những đặc trưng không đồng nhất với các DNNN ở nhiều nước trên thế giới:

- Trình độ kĩ thuật, công nghệ lạc hậu, trừ một số rất ít (18%) DNNN được đầu tư mới đây, phần lớn các DNNN đã được sử dụng khá lâu, có trình độ kĩ thuật công nghệ thấp kém so với các nước từ ba đến bốn thế hệ, có doanh nghiệp còn trang

bị các thiết bị kỹ thuật xây dựng bằng kỹ thuật của nhiều nước khác nhau nên tính đồng bộ của doanh nghiệp thấp Các doanh nghiệp khó có khả năng cạnh tranh cao trong nền kinh tế thị trường

- Các DNNN không còn được bao cấp khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,

sự cạnh tranh quyết liệt của các thành phần kinh tế khác khiến cho nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả phải phá sản, giải thể Đa số các DNNN Việt Nam hình thành trong quá trình quản lý tập trung quan liêu bao cấp, đến lúc chuyển sang

cơ chế và giai đoạn mới lại không có sự kiểm soát hiệu quả việc thành lập dẫn đến phát triển mất cân đối, tràn lan, không có sự quy hoạch đồng bộ (đặc biệt cấp tỉnh, thành phố) Một số DNNN thiếu vốn đầu tư, trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu, trách nhiệm quản lý tài sản không được phân công, phân nhiệm cụ thể5

Những năm qua nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng nhanh, các DNNN vẫn đóng vai trò quan trọng nhất là đối với những ngành, những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, kĩ thuật cao, các lĩnh vực sản xuất hàng hóa và dịch vụ công cộng Bên cạnh đó DNNN vẫn là nguồn đóng góp phần lớn cho ngân sách Sau 30 năm đổi mới, các DNNN đã và đang chuyển hướng, sắp xếp lai căn bản, giảm được số lượng lớn doanh nghiệp chủ yếu la doanh nghiệp địa phương nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả Các doanh nghiệp còn lại được sắp xếp, tổ chức, tái cơ cấu và phần nào phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh Những năm gần đây chúng ta đã tiến hành cải cách DNNN, do đó mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã giảm từ 12.084 doanh

5 Trần Thị Mười (2006), “Hoàn thiện nội dung xác định giá trị doanh nghiệp cho Cổ phần hóa”, Luận văn

Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh;

Trang 19

nghiệp năm 1994 xuống còn 2.486 doanh nghiệp năm 2019 6, nhờ sự đổi mới việc tổ chức quản lý, về kĩ thuật và công nghệ của các doanh nghiệp còn lại, tổng sản phẩm giá trị tuyệt đối của kinh tế nhà nước, cũng như tỷ trọng tổng sản phẩm quốc dân (GDP) không những không giảm mà con tăng lên đáng kể

Bên cạnh những kết quả đã đạt được nhìn chung các DNNN còn gặp khó khăn, lợi nhuận còn thấp, một số DNNN thua lỗ, dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng Các DNNN đóng góp cho ngân sách chưa tương xứng với tiềm lực của bản thân cũng như với phần vốn và các nguồn lực mà nhà nước đầu tư cho nó Tình trạng thất thoát vốn nhà nước, yếu kém trong công tác quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính làm mất vai trò CSH của nhà nước đối với doanh nghiệp

Tóm lại, các DNNN ở nước ta do yếu tố lịch sự để lại đã, đang và sẽ đóng góp vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nhưng một số doanh nghiệp lại hoạt động kém hiệu quả và phát sinh nhiều tiêu cực Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi tất yếu phải có sự thay đổi căn bản trong hình thành và phát triển DNNN Đây là vấn đề quan trọng bắt buộc phải giải quyết một cách hiệu quả với những phương pháp và tiến trình phù hợp

1.2 Mục tiêu, nội dung, thực trạng của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.2.1 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Chúng ta có thể nhận định kinh tế nhà nước hiện tại vẫn chưa phải là điểm sáng như kỳ vọng, DNNN vẫn chưa thể hiện được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế Vấn đề ở đây là cần những phương pháp tiến hành đồng bộ trong đổi mới quản lý và phát triển DNNN Trong những phương pháp đó đó, Đảng và nhà nước ta xem CPH DNNN là phương pháp then chốt, hàng đầu với những mục tiêu sau:

Thứ nhất: CPH để giải quyết tình trạng mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất, lực

lượng sản xuất và tư liệu sản xuất CPH sẽ cụ thể hóa được chủ trương đa dạng hóa hình thức sở hữu doanh nghiệp Trong quá khứ chúng ta đã từng xây dựng chế độ công hữu một cách cứng nhắc với một số lượng lớn các DNNN mà không nhìn nhận

6 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2019, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội

Trang 20

được vấn đề quan hệ sản xuất này sẽ không phù hợp với lực lượng sản xuất yếu kém, lạc hậu Quá trình CPH DNNN sẽ giải quyết được vấn đề này và giúp lực lượng sản xuất ngày càng phát triển để phù hợp với quan hệ sản xuất

Thứ hai: CPH DNNN nhằm xã hội hóa và tăng cường nguồn lực lượng sản

xuất Khi CPH, người lao động lúc này trở thành người chủ của doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm và gắn bó với công việc Bên cạnh đó phương thức quản lý doanh nghiệp thay đổi theo hướng năng động hơn, tự chủ hơn trong hoạt động

Thứ ba: CPH DNNN sẽ thúc đẩy sự hình thành, phát triển và vận động của thị

trường chứng khoán trong nước, góp phần không nhỏ đưa nền kinh tế quốc gia hội nhập với khu vực và thế giới

Thứ tư: CPH DNNN là phương pháp quan trọng huy động và phân bổ các

nguồn lực với các CTCP có điều kiện tự chủ trong sản xuất kinh doanh để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động

Thứ năm: CPH sẽ tác động đến việc thay đổi công tác quản lý kinh tế ở tầm vĩ

mô và vi mô Quá trình chuyển đổi từ DNNN sang CTCP không chỉ là sự thay đổi về CSH mà đó còn là sự thay đổi quan trọng trong quản lý doanh nghiệp và quản lý nền kinh tế

Thứ sáu: CPH DNNN là một phương pháp quan trọng để thay đổi, sắp xếp,

tái cơ cấu nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới

Tóm lại, với những vấn đề về hoạt động yếu kém, khó khăn của một bộ phận không nhỏ DNNN, quá trình CPH với những mục tiêu và hiệu quả của nó đã chứng minh được rằng đó là chủ trương phù hợp với công cuộc đổi mới và giai đoạn quá độ của nền kinh tế ở Việt Nam

1.2.2 Nội dung cơ bản cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Với những mục tiêu đã đề cập trên, quá trình CPH DNNN luôn được Đảng và nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt Qua hơn 20 năm tiến hành chủ trương CPH DNNN đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về nội dung, hình thức tiến hành CPH DNNN được ban hành nhằm tạo cơ chế cho việc CPH phù hợp với từng địa phương

và thời kỳ cụ thể Gần đây nhất, chính phủ đã ban hành quy định về chuyển DNNN

Trang 21

và công ty TNHH MTV do DNNN đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP7, nhiều khó

khăn vướng mắc trong quá trình CPH DNNN đã được loại bỏ

1.2.2.1 Đối tượng cổ phần hóa

- DNNN: Gồm các loại hình công ty TNHH MTV mà nhà nước nắm 100% vốn điều lệ là công ty mẹ thuộc Tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của Tổng công ty nhà nước, Công ty mẹ thuộc nhóm công ty mẹ và công ty con; Công ty TNHH MTV hoạt động độc lập mà nhà nước nắm 100% vốn điều lệ; Doanh nghiệp do nhà nước nắm 100% vốn điều lệ mà chưa chuyển thành loại hình công ty TNHH MTV;

- Loại hình công ty TNHH MTV mà trong đó DNNN đầu tư 100% vốn điều

lệ (gọi là doanh nghiệp cấp II) sẽ phải CPH nếu đảm bảo các điều kiện: Nhà nước không cần nắm 100% vốn điều lệ của công ty; sau khi xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp phải còn lại vốn nhà nước

1.2.2.2 Hình thức tiến hành cổ phần hóa

- Cách 1: Vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được giữ nguyên, song song đó

cổ phiếu được phát hành thêm với mục đích huy động và gia tăng tăng vốn điều lệ

- Cách 2: Một phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được bán hoặc có thể kết hợp một phần vốn nhà nước sẽ được bán và cổ phiếu được phát hành thêm để gia tăng vốn điều lệ

- Cách 3: Toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được bán hoặc kết hợp toàn bộ vốn nhà nước sẽ được bán và cổ phiếu được phát hành thêm để gia tăng vốn điều lệ

1.2.2.3 Xác định đối tượng mua cổ phần và hình thức bán cổ phần

- Đối tượng mua cổ phần: NĐT trong nước được quyền mua cổ phần của doanh

nghiệp CPH với số lượng không hạn chế, trừ trường hợp quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP; NĐT nước ngoài được quyền mua cổ phần của doanh nghiệp CPH

7 Chính phủ (2017), Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do DNNN đầu

tư 100% vốn điều lệ thành CTCP, ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2017

Trang 22

theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan

- Hình thức bán cổ phần gồm có 4 hình thức: Cổ phần được đấu giá công khai; Bảo lãnh phát hành cổ phần; Thỏa thuận mua cổ phần trực tiếp; Phương thức dựng

sổ bán cổ phần

1.2.3 Thực trạng cổ phần hóa tại Việt Nam

Quá trình CPH DNNN tại Việt Nam được thực hiện từ năm 1992 đến nay Đảng và nhà nước đã có nhiều chính sách thúc đẩy quá trình CPH nhưng các DNNN, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô lớn, kinh doanh đa ngành nghề còn chậm Thực

tế cho thấy, số lượng các DNNN tại Việt Nam ngày càng giảm qua các năm Điều này là do các DNNN thực hiện CPH và thay đổi hình thức sở hữu thành các doanh nghiệp tư nhân

Quá trình CPH DNNN tại Việt Nam được chia thành ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ năm 1992 – 2000 đã CPH được 558 DNNN Trong giai đoạn này, tiến độ CPH chậm, do trước khi có Luật Doanh nghiệp, các DNNN chưa nắm

bắt lợi ích của CPH nên chưa tham gia nhiều vào chương trình này Các doanh nghiệp này nhận thức được lợi ích của CPH mới thực sự tham gia vào quá trình này Đặc biệt, giai đoạn này chưa ban hành cơ chế chính sách rõ ràng cho các DNNN thực hiện CPH

Giai đoạn 2: Từ 2001 - 2007 đã CPH được 3.021 doanh nghiệp, chiếm 70,73%

tổng số doanh nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 2003 - 2006 đã CPH được 2.650 doanh nghiệp, chiếm 62,04% tổng số doanh nghiệp, được gọi là giai đoạn “cao điểm” của CPH Các nguyên nhân giúp số lượng doanh nghiệp tham gia CPH nhiều là do nhà

nước ban hành Luật Doanh nghiệp 2005, chuẩn bị cho việc mở cửa, hội nhập Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) Ngoài ra, các DNNN mặc dù được sự bảo hộ về thuế hoặc chính sách và nắm nhiều lợi thế nhưng vẫn không hoạt động hiệu quả bằng loại hình doanh nghiệp tư nhân

Giai đoạn 3: Từ 2008 đến nay, tiến độ thực hiện bị chậm lại Cụ thể, từ 2008

- 2011, chỉ có 165 doanh nghiệp được CPH, tương đương với số doanh nghiệp đã

Trang 23

CPH năm 2007, thấp hơn nhiều lần so với những năm trước Trong ba năm từ 2011 -

2013 chỉ 139 doanh nghiệp được CPH (trong đó, 2011 là 60 doanh nghiệp, 2012 là

13 doanh nghiệp, năm 2013 là 66 doanh nghiệp) Hầu hết các doanh nghiệp này đều

là những doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành, tài chính và quản trị doanh nghiệp phức tạp

Nhìn chung, CPH DNNN từ năm 1992 đến nay đã đạt được một số kết quả nhất định, tổng số DNNN CPH tính đến hết năm 2013 là 3.823, đến tháng 9/2017 đạt 4.271 doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu so sánh với kế hoạch đặt ra thì tiến trình CPH DNNN nhìn chung vẫn diễn ra chậm, giai đoạn 2001 – 2010, số lượng DNNN CPH chỉ bằng 1/3 so với kế hoạch đặt ra.8

Từ năm 2016 đến nay, số lượng DNNN được CPH rất ít, tính riêng trong năm

2016 chỉ có 55 DNNN được CPH Trong khi đó, kế hoạch CPH giai đoạn 2016 –

2020 là 240 DNNN Trong giai đoạn này, tiến trình CPH diễn ra chậm bởi một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, nhiều ý kiến cho rằng, DNNN phải giữ vai trò chủ đạo, vì vậy, việc

giảm số lượng DNNN sẽ làm giảm vai trò chủ đạo này

Thứ hai, sau hơn 15 năm CPH, những DNNN còn lại nằm trong danh sách

chưa CPH đa phần là doanh nghiệp có quy mô lớn, thậm chí là rất lớn Vấn đề này làm cho việc CPH các doanh nghiệp rất phức tạp, đặc biệt là trong quá trình định giá tài sản của doanh nghiệp

Thứ ba, các NĐT không còn quan tâm đến đầu tư vào các thương vụ đấu giá

cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), trong khi đó IPO là một phương pháp quan trọng để tiến hành CPH

8 Lý Thị Thu Hiền (2010), “Áp dụng các phương pháp tiên tiến trong xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt

Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 24

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 0.1 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến

nay(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 1.1 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến nay

Biểu đồ 1.2 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến nay

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 0.5 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến

nay(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 0.6 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến

nay(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 1.2 Cơ cấu DNNN CPH theo quy mô vốn điều lệ từ 2016 đến nay

Biểu đồ 1.2 Cơ cấu DNNN CPH theo quy mô vốn điều lệ từ 2016 đến nay

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 0.3 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến

nay(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Biểu đồ 0.4 Số lượng DNNN CPH từ năm 2011 đến

nay(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp)

Trang 25

1.3 Kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới về cổ phần hóa

1.3.1 Trung Quốc

Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về thể chế chính trị, đặc điểm kinh tế, văn hoá xã hội Các DNNN Trung Quốc trong quá trình cải cách cũng gặp phải rất nhiều khó khăn trong hoạt động, cạnh tranh và tồn tại ở thị trường trong

và ngoài nước Để giải quyết thực trạng này, ngay từ đầu thập niên 80, Trung Quốc

đã đề cập đến giải pháp CPH, đặc biệt trong thập niên 90, giải pháp này đã được thể chế hoá và được coi là biện pháp hữu hiệu trong cải cách DNNN.9

Có hai nội dung chính trong quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc bao gồm:

Cơ chế quản lý DNNN được thay đổi nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên sở hữu nhà nước và chuyển đổi sở hữu được thực hiện từng bước (các CTCP được hình thành, doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển)

Quá trình CPH DNNN ở Trung Quốc thực chất là một bộ phận của nội dung

đa dạng hoá CSH doanh nghiệp và là giải pháp quan trọng trong chương trình cải cách DNNN Quan điểm của CPH của Trung Quốc là: "Quyền sở hữu doanh nghiệp được chuyển đổi từng bước gắn liền với tinh thần tỉnh táo, thận trọng, toàn diện" Xuất phát từ quan điểm trên, tiến trình CPH ở Trung Quốc diễn ra chậm chạp, giai đoạn thí điểm kéo dài và hình thức CPH đơn nhất, cụ thể:

- Giai đoạn thí điểm (từ năm 1978 đến 1997) việc thí điểm, thực hiện CPH DNNN ở Trung Quốc chia thành các bước sau:

+ Bước 1: Từ năm 1978 đến năm 1983, công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc chủ yếu tập trung vào thực hiện: cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu nhà nước, vấn đề CPH mới chỉ trên giấy tờ

+ Bước 2: Từ năm 1984 đến năm 1988, song song với việc cải cách cơ chế quản lý, Trung Quốc đã bước đầu thực hiện việc chuyển đổi sở hữu DNNN Tuy

9Dương Thị Vân Anh (2012), Cổ phần hóa ở một số quốc gia trên thế giới Bài học kinh nghiệm cho Việt

Nam, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA).

Trang 26

nhiên, việc thí điểm CPH DNNN chỉ được tiến hành dưới hình thức thành lập CTCP mới (cổ đông là nhà nước, tập thể là một ít cá nhân)

+ Bước 3: Từ năm 1989 đến 1997, các DNNN kinh doanh ngày càng thua lỗ kéo dài, chính phủ Trung Quốc ngay lập tức có nhiều động thái với mục đích đẩy mạnh CPH DNNN Tuy nhiên, giai đoạn thử nghiệm CPH vẫn tiếp tục kéo dài Tính đến năm 1993, hơn 3000 DNNN thí điểm CPH trong cả nước Số CTCP có cổ phiếu được giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải và Sở Giao dịch Chứng khoán Thâm Quyến là 196 công ty, tổng giá trị cổ phiếu trên toàn thị trường ước tính khoảng 400 tỷ nhân dân tệ

Trong giai đoạn thí điểm, CPH DNNN ở Trung Quốc chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện của các doanh nghiệp mà chưa thực sự phát triển trở thành một chủ trương với mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể Nếu so sánh với tổng số khoảng 305.000 DNNN (số liệu năm 1977) thì con số vài nghìn DNNN được CPH thực sự chỉ là một con số nhỏ (chỉ chiếm gần 1%)

- Giai đoạn triển khai: Trước thực trạng chậm chạp của tiến trình CPH, cộng thêm sức ép từ việc làm ăn thua lỗ của các DNNN Đại hội lần thứ 15 Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 9/1977) đã nhấn mạnh việc đẩy nhanh công tác CPH và xây dựng doanh nghiệp hiện đại theo công thức "Củng cố doanh nghiệp lớn và giải phóng doanh nghiệp nhỏ" với kế hoạch giảm dần theo 3 cấp:

+ Doanh nghiệp lớn: Nhà nước nắm quyền sở hữu 100% vốn đới với doanh nghiệp loại này bao gồm khoảng 1000 tập đoàn, công ty lớn hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược như an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng, công nghệ

+ Doanh nghiệp trung bình: Đối với loại doanh nghiệp này nhà nước có thể là

cổ đông chi phối; cũng có thể là cổ đông thường và không cần đảm bảo có tính chiến lược

+ Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhà nước tiến hành CPH, thậm chí tư nhân hóa và không tiếp tục nắm giữ bất kỳ cổ phần nào

Trang 27

Như vậy, CPH DNNN ở Trung quốc đã mang lại diện mạo mới cho các doanh nghiệp Kết quả là, các doanh nghiệp sau CPH ở Trung Quốc đã hoạt động hiệu quả hơn, tình trạng tham nhũng trong các DNNN được đẩy lùi, bộ máy quản lý của CTCP

đã được sắp xếp lại theo hướng tinh giản bộ máy gián tiếp, ưu tiên cho lao động ở khối trực tiếp sản xuất; công tác quản trị doanh nghiệp được đề cao; quyền sở hữu tài sản, sở hữu đất đai được phân định rõ ràng theo quyền sở hữu vốn của từng đối tượng trong CTCP Các chỉ tiêu, như: Doanh thu; lợi nhuận; các khoản nộp cổ phần, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như thu nhập bình quân người lao động được cải thiện

rõ rệt và CPH thực sự là một chủ trương đúng đắn trong công cuộc cải cách DNNN

ở Trung Quốc

1.3.2 Nga

Ở Nga, do sở hữu nhà nước bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đồng thời với cuộc cải biến nền tảng chính trị xã hội nên tiến trình “tư nhân hóa” mang tính đặc thù với những phức tạp riêng Đa số các xí nghiệp nhà nước đều hưởng chế độ độc quyền trong lĩnh vực của mình Giá bán một xí nghiệp sẽ là rất cao nếu vẫn còn giữ được thế độc quyền đó Song duy trì như thế về lâu về dài sẽ có hại cho nền kinh tế

Xí nghiệp độc quyền được CPH đó sẽ lại cần tiếp tục được độc quyền để có thể tồn tại Chính vì vậy mà nên đặt mục tiêu CPH là bán xí nghiệp mà không duy trì thế độc quyền

CPH các DNNN được thực hiện trong hầu hết các ngành kinh tế Đặc biệt, ngành công nghiệp dầu mỏ (sản xuất, tinh lọc và phân phối dầu mỏ) được tư nhân hóa đầu tiên Tuy nhiên, nhà nước vẫn giữ một số ngành kinh tế có vị trí quan trọng như cơ sở hạ tầng, viễn thông, điện lực, khai khoáng

Đợt CPH đầu tiên năm 1992 - 1994 kết thúc với 85 xí nghiệp nhỏ và 82.000

xí nghiệp quốc doanh (tức 1/3 tổng số DNNN) được tư nhân hóa Đặc biệt, giai đoạn đầu đã tiến hành tư nhân hóa bằng giải pháp cấp tập với khối lượng rất lớn các DNNN (năm 1994 là 23.800 doanh nghiệp) Đến năm 1995, đợt CPH thứ hai diễn ra, lần này các công ty nhà nước lớn nhất được giải tư (năm 1995 - 10.200 doanh nghiệp) Đến giữa năm 1996, công cuộc CPH coi như đã hoàn tất (năm 1996 là gần 5.000 doanh

Trang 28

nghiệp) Sau cuộc bầu cử năm 1996, chương trình CPH lại tiếp tục (1997 xấp xỉ 2.500 doanh nghiệp), chủ yếu tập trung vào các xí nghiệp hàng đầu như YeES Rossii (điện lực), Rosgosstrakh (bảo hiểm) Một lần nữa, người lao động các đơn vị này s“bán như cho” các cổ phiếu của họ

Hình thức CPH khá đa dạng như bán cổ phiếu cho người của doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu nhân dân Kế hoạch “tem phiếu” được đề xuất nhằm phân chia công bằng tài sản cho các công dân Toàn bộ tài sản quốc gia được định giá ước tính

150 tỷ rúp với dân số khoảng 150 triệu, từ kết quả đó tính toán tem phiếu có mệnh giá tương đương 10.000 rúp Mỗi người dân được phân chia một tờ séc tượng trưng cho một phần tài sản quốc gia Ý tưởng này thật đơn giản để nhanh chóng chuyển quyền kiểm soát các mảng lớn của nền kinh tế công hữu sang tư nhân

Giống đợt CPH thứ nhất, người lao động tại doanh nghiệp được chia một số

cổ phiếu, trong khi đó bán ra ngoài số cổ phiếu còn lại Đa số cổ phiếu và quyền sở hữu doanh nghiệp rơi vào tay các quan chức có quyền lực chi phối lớn với nền kinh

tế Năm 1996, chương trình CPH lại tiếp tục và một lần nữa, người lao động các đơn

vị này lại tiếp tục bán như cho các cổ phiếu của họ

Đáng chú ý, việc chuyển nhượng thông qua chứng chỉ cầm cố đặc biệt, thiếu phương tiện thanh toán bằng tiền dẫn đến hiện tượng chuyển đổi sở hữu không phản ánh thực chất giá trị, tài sản quốc gia Vì vậy, việc định giá tài sản doanh nghiệp gồm

cả giá trị sử dụng đất đai không chính xác, thấp hơn rất nhiều so với thực tế và được cầm cố sang tay tư nhân với giá rẻ mạt Những cơ sở vật chất của các xí nghiệp nằm

ở vị trí sinh lợi cao sau tư nhân hóa được chuyển mục đích thành cơ sở kinh doanh thương mại Năm 2001 một cuộc thống kê cho thấy dù đã tích cực sửa sai nhưng 337 triệu m2 diện tích nhà xưởng thuộc sở hữu của nhà nước sau quá trình “tư nhân hóa”

kể trên đã chuyển mục đích sử dụng sang hoạt động thương mại 214 triệu m2

CPH lúc đó đang là bài bản mà các định chế quốc tế như IMF, WB, Bộ Ngân khố Hoa Kỳ (cổ đông lớn nhất của các định chế này) muốn chính phủ mới ở Nga áp dụng Nhờ đó, chính phủ sẽ có tiền lấp đầy ngân sách, sẽ đem vốn về cho xí nghiệp,

sẽ tạo động lực lao động vì lợi ích bản thân

Trang 29

Việc thiếu sự đảm bảo về pháp lý đã không thu hút được các NĐT nước ngoài

do lo ngại độ rủi ro cao Năm 2000, đầu tư nước ngoài vào Nga chỉ có 10,9 tỷ USD Sau 10 năm sửa sai, đến năm 2010 con số này đã tăng lên 9,52% đạt 114,7 tỷ USD TNH không kết hợp với tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp, dù nhà nước vẫn giành được quyền kiểm soát đa phần các khâu kinh tế trọng yếu (mạng lưới đường sắt, ngành sản xuất hàng không vũ trụ, tổ hợp năng lượng thống nhất, nguồn nước ngầm

và thềm lục địa) nhưng hậu quả sản xuất vẫn đình trệ, tình hình kinh tế và xã hội đều trở nên xấu đi GDP liên tục bị suy giảm với mức -3% mỗi năm từ 1200 tỷ USD năm

1991 còn 900 tỷ USD năm 1998 Có thể nói, nguyên nhân chính giảm mạnh GDP do nước Nga chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sang nền kinh tế thị trường chưa được chuẩn bị tốt và CPH DNNN thể hiện hạn chế, thất bại

1.3.3 Hàn Quốc

Hàn Quốc là một nuớc châu Á có nền kinh tế thị trường phát triển, tốc độ phát triển của nền kinh tế có được như ngày hôm nay của Hàn Quốc là do thực hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường và mở rộng khu vực kinh tế tư nhân

Để chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, chính phủ Hàn Quốc đã đề ra chương trình tư nhân hóa và CPH, nhằm cơ cấu lại lĩnh vực hoạt động của khu vực kinh tế nhà nuớc Ngay từ các năm 1968 đến năm 1973, Hàn Quốc đã thực hiện chương trình CPH lần thứ nhất đối với 11 DNNN Trong các năm 1981-

1983, Hàn Quốc đã thực hiện chương trình CPH, hướng nền kinh tế chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế thị trường Hàn Quốc đã bán cổ phần của mình ở 6 DNNN

và 4 tổ chức tài chính bằng hình thức bán đấu giá công khai Số tiền thu được qua hai lần CPH được dùng để đầu tư vào doanh nghiệp cần kiểm soát của nhà nước, nhằm đảm bảo cho nền kinh tế thường xuyên ổn định và tăng trưởng

Tháng 4/1987, Hàn Quốc đã đề ra "Chương trình CPH toàn dân" với quy mô lớn, trong đó toàn bộ hoặc một phần lớn cổ phần của Hàn Quốc trong 10 DNNN Đến tháng 11/1987, lại bổ sung thêm một doanh nghiệp nữa Chương trình này được thực hiện trong các năm từ 1988 đến 1992, số tiền Hàn Quốc thu đuợc thông qua chương trình CPH vào khoảng 7, 1 tỷ USD Trong 11 DNNN đó thì có 7 doanh nghiệp, chính

Trang 30

phủ Hàn Quốc vẫn nắm giữ ít nhất 51% cổ phiếu, vì chúng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, như: Ngân hàng ngoại tệ, Công ty Gang thép Pohang, Công ty Điện lực Triều Tiên, Công ty Bưu điện Triều Tiên

Chương trình CPH lần này có quy mô lớn, với số lượng cổ phiếu bán ra nhiều hơn hẳn so với hai lần trước Những DNNN được CPH hầu hết là những doanh nghiệp độc quyền tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên phạm vi cả nuớc, cụ thể:

- Hàn Quốc đã bán cổ phần của một số DNNN cho khu vực kinh tế tư nhân,

để từng bước tạo ra môi trường bình đẳng trong cạnh tranh giữa hai khu vực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giữa chúng Đồng thời, bán cổ phần của nhà nước trong các ngân hàng và Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc, nhằm phát triển thị trường tài chính và thực hiện cạnh tranh bình đẳng về cung cấp vốn cho DNNN và doanh nghiệp tư nhân

- Hàn Quốc đã chuyển giao một phần sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp quan trọng, quy mô lớn, đang làm ăn có lãi cho các tầng lớp nhân dân, nhằm hỗ trợ cho giá cả cổ phiếu trên thị trường và đảm bảo mức lợi tức cổ phần Điều này có sức hấp dẫn đối với công chúng và được sự quan tâm của nhiều quốc gia

Từ năm 1988 đến năm 2015, Hàn Quốc đã thực hiện xong chương trình CPH

và tái cấu trúc doanh nghiệp với một mục tiêu khá rõ ràng, đó là: Để giảm rủi ro hệ thống và nguy cơ của cuộc khủng hoảng thứ cấp Để thực hiện mục tiêu tái cấu trúc doanh nghiệp, mà trong đó CPH là một trong những giải pháp quan trọng nhất của Hàn Quốc Điều đầu tiên, Hàn Quốc thực hiện là thông qua một loạt các chính sách, biện pháp nhằm tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu công ty Trong đó, có miễn

và giảm thuế để khuyến khích thực hiện giao dịch sát nhập và mua lại giữa các cty và các tập đoàn Thực hiện các giải pháp quản trị doanh nghiệp và các biện pháp để bảo

vệ quyền CSH của những người nắm giữ cổ phần thiểu số, tạo ra các tòa án phá sản chuyên dụng để hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Các bước thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp của chính phủ Hàn Quốc, như:

Thứ nhất: Các Tổng công ty, công ty, tập đoàn có mức nợ cao được phép tham gia quá trình giám sát phá sản của tòa án

Trang 31

Thứ hai: Sắp xếp lại các tập đoàn theo thứ tự, xếp hạng theo độ lớn tài sản do ngân hàng và ủy ban giám sát tài chính xếp hạng

Thứ ba: Tìm cách giảm sự quá tải trong ngành công nghiệp, bằng cách buộc các tập đoàn lớn và một số DNNN vào một loạt giao dịch hoán đổi tài sản

Thứ tư: Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách yêu cầu các ngân hàng gia hạn các khoản vay của họ, đưa ra khoảng thời gian trả nợ ưu đãi cho các doanh nghiệp

Việc thực hiện tái cơ cấu DNNN mà trong đó CPH DNNN là một giải pháp quan trọng đã giúp cho các DNNN sau CPH ở Hàn Quốc phát triển vượt bậc, tất cả các chỉ tiêu cơ bản, như: Doanh thu, các khoản nộp Ngân sách, thu nhập bình quân của người lao động, đặc biệt chỉ tiêu lợi nhuận tăng đột biến Đây chính là nhân tố tác động lớn đến nền kinh tế Hàn Quốc, đưa nền kinh tế Hàn Quốc phát triển lớn thứ

tư ở châu Á và thứ 15 trên thế giới

Trang 32

Chương 2: ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN DOANH NGHIỆP TRONG CỔ PHẦN HÓA

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 2.1 Khái niệm xác định giá trị tài sản doanh nghiệp

2.1.1 Giá trị tài sản doanh nghiệp

Doanh nghiệp được thừa nhận là một dạng hàng hóa đặc biệt NĐT mua doanh nghiệp với mục đích thu được khoản lợi nhuận nhất định song song đó cung ứng một lượng hàng hóa, dịch vụ cho xã hội Vì lý do đó mối quan tâm hàng đầu của người mua doanh nghiệp chính là sự phát triển và lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai và cũng là một trong những cơ sở hàng đầu để định lượng giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp có thể hiểu là các biểu hiện bằng tài chính từ toàn bộ các khoản thu nhập các NĐT thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Giá trị vốn CSH không phản ánh đầy đủ giá trị doanh nghiệp mà phải là tổng hợp của tất

cả các tài sản trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp được định giá

Quy mô, cơ cấu tài sản, trụ sở kinh doanh, hình thức quản trị và sự tác động của môi trường đối với mỗi doanh nghiệp là khác nhau Hai doanh nghiệp không bao giờ giống nhau hoàn toàn vì vậy việc so sánh giá trị các doanh nghiệp với nhau chỉ

có tính chất tham khảo

Tập hợp những tài sản cố định với giá trị sử dụng bị giảm dần theo thời gian cũng không phản ánh đầy đủ giá trị doanh nghiệp, Doanh nghiệp là thực thể hoạt động, vận động và có thể tiếp tục phát triển hoặc suy yếu trong tương lai Mối quan

hệ của doanh nghiệp với môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp sẽ quyết định sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó việc đánh giá về doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp cần phải đánh giá tất cả các mối quan hệ của doanh nghiệp trong quá trình vận động và phát triển.10

2.1.2 Xác định giá trị tài sản doanh nghiệp

10 Nguyễn Minh Hoàng (2006), “Hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận

án Tiến sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 33

Việc tìm hiểu một cách chi tiết và xác định các hoạt động của doanh nghiệp với mục đích đánh giá giá trị hiện tại cũng như khả năng phát triển của một doanh nghiệp được thừa nhận một cách rộng rãi là quá trình xác định giá trị tài sản doanh nghiệp Các công ty đã và đang chuẩn bị CPH; các công ty sắp có những thay đổi lớn

về sở hữu hoặc cơ cấu quản lý với các hoạt động sáp nhập, liên kết, chuyển nhượng, mua bán, ; các công ty chuẩn bị IPO hoặc các công ty đang phát triển và dự kiến mở rộng quy mô, công ty có sự thay đổi cơ bản về tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh

Xác định giá trị tài sản doanh nghiệp với mục đích hỗ trợ quá trình chuyển đổi

cơ cấu trong vốn CSH của doanh nghiệp Tình hình hiện tại của công ty luôn được NĐT và cổ đông quan tâm, họ muốn xác định khả năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp, các khoản nợ, các vấn đề về thuế, các khả năng tiềm ẩn về kiện tụng, tranh chấp

Xác định giá trị tài sản doanh nghiệp giúp chuẩn bị cho việc IPO thành công Thị trường chứng khoán luôn có những yêu cầu về hệ thống thông tin mà doanh nghiệp phải công bố rộng rãi trong các văn bản IPO Xác định giá trị doanh nghiệp phải chỉ ra được hoạt động trọng yếu của doanh nghiệp, các cơ hội cũng như rủi ro Không có sự chuẩn bị này, các bên liên quan trong quá trình IPO của doanh nghiệp

sẽ gặp nhiều khó khăn và giá trị doanh nghiệp sẽ bị giảm đáng kể khi niêm yết dẫn đến lợi ích của các CSH bị ảnh hưởng xấu.11

Trước thực trạng hoạt động kém hiệu quả việc xác định giá trị doanh nghiệp

sẽ phần nào cải thiện tình hình hoạt động của công ty Quá trình này sẽ đánh giá một cách khách quan các ưu điểm và vấn đề tiêu cực của công ty trong hoạt động, việc chỉ ra các vấn đề đó là phương pháp với mục đích giúp doanh nghiệp đánh giá một cách khách quan các hoạt động của mình hoặc, phát hiện các cơ hội phát triển

11 Nguyễn Thị Hoàng Giang, Bùi Thị Hồng Nhung (2014), “Nghiên cứu áp dụng mô hình định giá tương đối

với các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học và phát

triển (tập 12)

Trang 34

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản doanh nghiệp

2.1.3.1 Môi trường bên ngoài

Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, luật pháp, xã hội, công nghệ… Các nghiên cứu môi trường vĩ mô với mục đích đánh giá quy mô và nhu cầu thị trường, sự tác động của các yếu tố trên đối với hoạt động doanh nghiệp

Dự đoán khả năng phát triển của nền kinh tế có thể hỗ trợ trong việc dự đoán hướng phát triển doanh nghiệp Các yếu tố: Tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát sẽ cần thiết trong việc đánh giá khả năng phát triển của nền kinh tế

Chính trị và pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, bao gồm các chủ trương, chính sách của nhà nước, hệ thống pháp luật, diễn biến và

sự vận động của tình hình chính trị trong và ngoài nước

Các yếu tố thuộc môi trường văn hóa, xã hội bao gồm quan niệm đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, phong tục, tập quán, truyền thống; trình độ nhận thức, tri thức xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến đến hoạt động của doanh nghiệp

Vấn đề môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực có hạn nhưng như cầu ngày càng lớn buộc doanh nghiệp phái có những điều chỉnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Công nghệ là một yếu tố rất năng động tạo ra cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Sự thay đổi liên tục của công nghệ, các công nghệ mới thay thế cho các công nghệ lạc hậu làm xuất hiện khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hiện đại ảnh hưởng đến việc kinh doanh các sản phẩm truyền thống cũng như áp lực phải đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Đối với môi trường ngành của doanh nghiệp, cần phân tích những vấn đề liên quan đến chu kỳ hoạt động kinh doanh, triển vọng phát triển, áp lực cạnh tranh,… khi đánh giá Chu kỳ kinh tế luôn có mối liên quan lớn đến khả năng phát triển của một ngành Với khả năng phát triển mạnh của ngành sẽ đem lại cho doanh nghiệp

Trang 35

nhiều cơ hội phát triển Cạnh tranh trong từng ngành sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu thể hiện ở hai mặt là là giá cả và chất lượng sản phẩm.12

2.1.3.2 Môi trường bên trong

Việc đánh giá hiện trạng tài sản thực tế của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu bởi vì tài sản là sự thể hiện của các yếu tố vật chất cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp Tài sản và giá trị của chúng là một sự đảm bảo rõ ràng nhất, cụ thể nhất về giá trị doanh nghiệp Song song đó, vị trí kinh doanh được đặc trưng bởi các yếu tố như địa điểm, diện tích,…cũng có ý nghĩa lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Việc đánh giá mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, thị phần của doanh nghiệp tại thị trường trong và ngoài nước là cơ sở để khái quát sức mạnh thương hiệu của doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh cụ thể trong từng giai đoạn nhất định sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy đánh giá chiến lược kinh doanh bao gồm chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối, hỗ trợ bán hàng,…và ước tính doanh thu cũng là một cơ sở để hình thành giá trị doanh nghiệp

Mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng cũng sẽ quyết định đến thành công của một doanh nghiệp Khi áp lực cạnh tranh ngày càng lớn thì việc thu hút và chăm sóc, tạo mối quan hệ với khách hàng là vô cùng khó khăn; từ đó xây dựng và duy trì mạng lưới khách hàng là yếu tố quan trọng để những khách hàng trung thành gắn bó với doanh nghiệp

Việc quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Việc đánh giá quản trị doanh nghiệp tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp; cơ cấu tổ chức; trình độ công nghệ, nguồn nhân lực

Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp có phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp hay việc chuyển đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp có phù hợp với

12 Lý Thị Thu Hiền (2007), “Áp dụng các phương pháp tiên tiến trong xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt

Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 36

đặc điểm của doanh nghiệp hay không cũng tác động đến cơ cấu giá trị vốn CSH và giá trị doanh nghiệp

Đánh giá cơ cấu tổ chức và công nghệ thiết bị của doanh nghiệp cũng là yêu cầu quan trọng Cơ cấu tổ chức là hệ thống các công việc, phân công phân nhiệm và điều phối các nguồn lực trong doanh nghiệp Công nghệ của doanh nghiệp bao gồm trình độ công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp lạc hậu hay hiện đại; hoạt động của doanh nghiệp tác đến môi trường như thế nào; kế hoạch đổi mới công nghệ…

Bên cạnh đó người lao động hay yếu tố con người luôn được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp bao gồm các khía cạnh: Văn hoá doanh nghiệp, triết lý kinh doanh; chính sách đầu tư, chăm lo và phát triển nguồn nhân lực; năng lực của ban lãnh đạo

2.1.4 Tài sản của doanh nghiệp nhà nước được định giá khi cổ phần hóa

Tài sản của DNNN được định giá khi CPH bao gồm các loại tài sản sau13:

+ Máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, máy móc đơn

lẻ

13 Bộ Tài chính (2014), Thông tư 127/2014/TT-BTC về hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh

nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP, ban hành ngày 05 tháng 9 năm

2014

Trang 37

+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như

hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước

+ Thiết bị, dụng cụ quản lý dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng

+ Các loại tài sản cố định khác: toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt

kê vào các loại trên

+ Quyền kinh doanh, giấy phép

+ Mạng lưới khách hàng, các số liệu kỹ thuật, quy trình, thủ tục của doanh nghiệp

+ Các loại tài sản vô hình khác bao gồm đội ngũ nhân lực, vị trí kinh doanh, giá trị văn hóa, lịch sử, tinh thần,

2.2 Tổng quan các phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp

Trên thế giới hiện nay sử dụng rất nhiều các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, có thể liệt kê một số phương pháp như phương pháp lưu lượng tiền tệ chiết khấu, phương pháp vốn hóa lợi nhuận, phương pháp xác định giá trị theo tài sản, phương pháp chi phí, phương pháp thâm nhập thị trường Tuy nhiên có thể phân loại thành hai phương pháp chính để xác định giá trị doanh nghiệp 14

14 Phan Thị Thùy Linh (2017), “Cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn tại Việt Nam”, Luận

án tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương

Trang 38

2.2.1 Phương pháp xác định theo giá trị tài sản

Phương pháp này cho rằng doanh nghiệp là một hàng hóa thông thường, giá trị doanh nghiệp sẽ bằng tổng giá trị thị trường của số tài sản mà doanh nghiệp hiện

có Mặc dù giá trị doanh nghiệp có thể được xem là tổng giá trị các tài sản hiện tại nhưng để thực hiện việc mua bán doanh nghiệp cần phải xác định được tài sản thuần của doanh nghiệp Có hai cách tính trong phương pháp này:

Cách 1: Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán

Dựa vào bảng cân đối kết toán là cách đơn giản và dễ thực hiện nếu như việc ghi chép sổ sách kế toán và phản ánh các hoạt động phát sinh được đầy đủ, chính xác, khách quan, phù hợp với các quy định pháp luật Cách này sẽ chỉ ra khả năng độc lập

về tài chính, khả năng tự chủ trong sản xuất kinh doanh, vị thế tín dụng của doanh nghiệp và là căn cứ thích hợp để NĐT đánh giá độ an toàn khi đầu tư

Cách này chứng minh qua sổ sách để thấy được rằng doanh nghiệp luôn luôn được đảm bảo bằng giá trị của các tài sản hiện nếu chấp nhận đầu tư chứ không phải bằng cái có thể hoặc cái dự đoán Tuy nhiên phương pháp này khi xác định giá trị doanh nghiệp chỉ là số liệu để tham khảo trong quá trình sử dụng các phương pháp khác

Giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán gồm các bảng kê, các sổ tổng hợp mặc

dù chính xác, khách quan nhưng tất cả đều mang nặng tính lịch sử, sẽ không đáp ứng được yêu cầu ở thời điểm định giá doanh nghiệp Phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp sử dụng, thời điểm mà doanh nghiệp định giá, sự lựa chọn tuổi thọ của tài sản

cố định sẽ ảnh hưởng đến giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ kế toán, vì lẽ đó giá trị còn lại trong trường hợp này thường không phù hợp với giá trị thị trường

Cách 2: Dựa vào giá thị trường

Đầu tiên phải loại ra khỏi danh mục đánh giá những tài sản không còn cần thiết, không đáp ứng yêu cầu, tiếp tục đánh giá lượng tài sản còn lại theo nguyên tắc

sử dụng giá trị thị trường để tính cho từng loại tài sản cụ thể

Với tài sản hữu hình là hiện vật xác định giá trị theo giá thị trường nếu hiện đang có bán trên thị trường Tài sản đã qua sử dụng sẽ dựa vào khả năng sử dụng còn

Trang 39

lại của tài sản để áp dụng tỷ lệ khấu trừ trên giá trị tài sản Những tài sản trên thị trường không còn tồn tại sẽ được áp dụng một hệ số quy đổi với những tài sản tương

tự nhưng khác loại có tính năng tương đương

Tài sản bằng tiền sẽ xác định thông qua việc đối chiếu số dư trong tài khoản doanh nghiệp Ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý được quy đổi theo tỷ giá và giá thị trường tại thời điểm đánh giá

Các khoản phải thu phụ thuộc khả năng thu hồi nợ ở nhiều mức độ khác nhau Bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ, xác minh các yếu tố liên quan đến pháp lý, đánh giá khả năng thu hồi của từng khoản thu nhằm loại ra những khoản không có khả năng thu hồi

Với các khoản đầu tư ra bên ngoài phải đánh giá một cách toàn diện giá trị hiện tại của các khoản đầu tư đó Nếu khoản đầu tư này không lớn sẽ được tính trực tiếp bằng giá thị trường của chúng thông qua hình thức chứng khoán hoặc phụ thuộc vào số liệu của đối tác liên doanh, liên kết để xác định

Với các tài sản cho thuê, quyền thuê bất động sản sẽ phải được tính theo phương pháp chiết khấu dòng tiền tương lai Các loại tài sản vô hình chỉ được thừa nhận nếu được đề cập trên sổ sách và thường sẽ không tính đến lợi thế thương mại

Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp 15 :

- Ưu điểm:

+ Phương pháp này giúp xác định được giá trị của từng tài sản cụ thể, là căn

cứ cụ thể rõ ràng nhất về khoản thu nhập mà NĐT chắc chắn sẽ đạt được khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp, số tiền của NĐT luôn sẽ được bảo đảm bằng một lượng tài sản cụ thể

+ Xác định giá thị trường những tài sản có thể bán sẽ chỉ ra khoản thu nhập tối thiểu mà CSH sẽ nhận được Đây là mức giá tối thiểu mà các bên đưa ra trong quá trình đàm phán mua bán doanh nghiệp

15 Nguyễn Duy Hưng (2008), “Giải pháp nâng cao định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa VietNam

Airlines”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Trang 40

+ Phương pháp này sẽ phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ có số tài sản ít, quá trình định giá không đòi hỏi những yêu cầu phức tạp, giá trị của tài sản vô hình không đáng kể với chiến lược kinh doanh không rõ ràng, gần như không có căn cứ

để xác định lợi nhuận tương lai

- Nhược điểm:

+ Với quan điểm doanh nghiệp là tập hợp rời rạc các loại tài sản, mua bán doanh nghiệp tương tự như mua bán từng tài sản riêng lẻ Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp này giống như kỹ thuật định giá tài sản thông thường, chỉ đơn giản bằng tổng giá trị thị trường của tài sản trong doanh nghiệp tại một thời điểm, Doanh nghiệp trong trường hợp này không được coi như một thực thể vận động mà chỉ tồn tại trong một trạng thái tĩnh Vì lẽ đó sẽ không có tầm nhìn chiến lược về doanh nghiệp bởi đa số NĐT mua doanh nghiệp với mục tiêu sở hữu các khoản lợi nhuận trong tương lai chứ không phải để ngay lập tức thanh lý toàn bộ tài sản doanh nghiệp

+ Phương pháp này cũng không cung cấp được hệ thống thông tin cần thiết để NĐT đánh giá về khả năng phát triển của doanh nghiệp, có thể cùng giá trị tài sản như nhau ngay cả khi không có tác động của yếu tố cạnh tranh nhưng doanh nghiệp này lại có giá cao hơn doanh nghiệp kia

+ Phương pháp này không đề cập đến phần lớn các yếu tố vô hình nhưng lại

có giá trị lớn trong doanh nghiệp như: trình độ quản lý, nguồn nhân lực, thị phần, giá trị thương hiệu, yếu tố lịch sử Một số doanh nghiệp có giá trị tài sản không đáng kể nhưng khả năng phát triển và triển vọng sinh lời lại rất cao phụ thuộc vào các yếu tố

vô hình trên

+ Đối với một số trường hợp việc xác định giá trị tài sản ròng sẽ vô cùng khó khăn như xác định giá trị của một tập đoàn có nhiều chi nhánh, nhiều công ty thành viên, có nhiều khoản đầu tư ra bên ngoài, mỗi chi nhánh lại có một số lượng các tài sản lớn đã qua sử dụng và không còn tồn tại trên thị trường, đòi hỏi phải thống kê đánh giá chi tiết từng tài sản tại mỗi chi nhánh và các tài sản khác của doanh nghiệp

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc Hội (2003), Luật Doanh nghiệp nhà nước, ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2003
5. Quốc hội (2014), Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
6. Chính phủ (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP, ban hành ngày 18 tháng 7 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% "vốn nhà nước thành CTCP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
7. Chính phủ (2013), Nghị định 189/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100%vốn nhà nước thành CTCP, ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 189/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% "vốn nhà nước thành CTCP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
8. Chính phủ (2015), Nghị định 116/2015/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100%vốn nhà nước thành CTCP, ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 116/2015/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% "vốn nhà nước thành CTCP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
9. Chính phủ (2017), Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do DNNN đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP, ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do DNNN đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
10. Chính phủ (2018), Nghị định 32/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, ban hành ngày 03 tháng 8 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 32/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
11. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 127/2014/TT-BTC về hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP, ban hành ngày 05 tháng 9 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 127/2014/TT-BTC về hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
12. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC về việc hướng dẫn kế toán doanh nghiệp, ban hành ngày ngày 22 tháng 12 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 200/2014/TT-BTC về việc hướng dẫn kế toán doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
13. Bộ Tài chính (2018), Thông tư 41/2018/TT-BTC về hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do DNNN đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP, ban hành ngày 04 tháng 5 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 41/2018/TT-BTC về hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do DNNN đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2018
14. Bộ Tài chính (2017), Thông tư số 122/2017/TT-BTC về ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá việt nam số 12, ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 122/2017/TT-BTC về ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá việt nam số 12
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
15. Bộ Tài chính (2018), Thông tư số 59/2018/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp, ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 59/2018/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2018
16. Bộ Tài chính (2019), Công văn số 2679/BTC-QLG gửi các Tổng Giám đốc, Giám đốc các doanh nghiệp thẩm định giá hướng dẫn việc áp dụng một số văn bản hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp, ban hành ngày 11 tháng 3 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2679/BTC-QLG gửi các Tổng Giám đốc, Giám đốc các doanh nghiệp thẩm định giá hướng dẫn việc áp dụng một số văn bản hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2019
17. Lê Học Lâm và Lê Ngọc Đức (2014), Luật Kinh doanh, Nhà Xuất bản Lao động Xã hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh doanh
Tác giả: Lê Học Lâm và Lê Ngọc Đức
Nhà XB: Nhà Xuất bản Lao động Xã hội
Năm: 2014
18. Trương Thanh Đức (2017), Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014
Tác giả: Trương Thanh Đức
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật
Năm: 2017
19. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2019, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2019
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thống kê
Năm: 2019
20. Nguyễn Duy Hưng (2008), “Giải pháp nâng cao định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa VietNam Airlines”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nâng cao định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa VietNam Airlines”
Tác giả: Nguyễn Duy Hưng
Năm: 2008
21. Nguyễn Minh Hoàng (2006), “Hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàng
Năm: 2006
22. Lý Thị Thu Hiền (2010), “Áp dụng các phương pháp tiên tiến trong xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Áp dụng các phương pháp tiên tiến trong xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam”
Tác giả: Lý Thị Thu Hiền
Năm: 2010
23. Trần Thị Mười (2006), “Hoàn thiện nội dung xác định giá trị doanh nghiệp cho Cổ phần hóa”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện nội dung xác định giá trị doanh nghiệp cho Cổ phần hóa”
Tác giả: Trần Thị Mười
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w