Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Lời Nói Đầu
Đề tài này đợc hoàn thành tại khoa Ngữ văn, Trờng đại học Vinh, dới sự
h-ớng dẫn nhiệt tình của Th.S Đoàn mạnh tiến và sự giúp đỡ, động viên của
các thầy cô giáo khác trong khoa, nhất là các thầy cô giáo trong tổ văn học ViệtNam hiện đại và tổ ngôn ngữ
Nhân dịp này chúng tôi chúng tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối vớithầy giáo hớng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp lời cảm
ơn chân thành nhất
Vinh, ngày 30 tháng 04 năm 2005
Ngời thực hiện
Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975 6
1 Giới thuyết chung về nhân vật 6
Trang 21.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975 7
1.2.1 Nhân vật ngời lính 8
1.2.2 Nhân vật Phụ nữ 13
1.2.3 Nhân vật trẻ em 18
1.2.4 Nhân vật nông dân 20
Chơng 2 : Không gian - Thời gian nghệ thuật 25
2.1 Không gian nghệ thuật 25
2.1.1 Khái niệm 25
2.1.2 Các đặc điểm không gian nghệ thuật trong truyện Nguyễn Minh Châu sau 1975 25
2.1.2.1 Không gian nhỏ hẹp thể hiện bi kịch đau đớn của nhân vật 25
2.1.2.2 Không gian của niềm hạnh phúc đồng thời là không gian của sự đau khổ 31
2.1.2.3 Không gian rộng lớn, trải dài 34
2.2 Thời gian nghệ thuật 36
2.2.1 Khái niệm 36
2.2.2 Các đặc điểm thời gian nghệ thuật trong truyện Nguyễn Minh Châu sau 1975 37
2.2.2.1 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là thời gian thực tại đau đớn đầy bi kịch 37
2.2.2.2 Thời gian bị kéo căng để làm rõ bi kịch trong cuộc đời nhân vật 38
2.2.2.3 Thời gian hiện tại và thời gian quá khứ đan xen nhau 40
2.2.2.4 Thời gian đồng hiện 42 Ch-ơng 3 : Tình huống và điểm nhìn trần thuật 44
3.1 Tình huống 44
3.1.1 Tình huống tự nhận thức 46
3.1.2 Tình huống thắt nút 48
3.1.3 Tình huống tơng phản 53
3.2 Điểm nhìn trần thuật 54
3.2.1 Trần thuật khách thể 55
3.2.2 Trần thuật theo ngôi thứ nhất 58
Kết luận 62
Trang 3Tài liệu tham khảo 64
mình bằng truyện ngắn Sau một buổi tập (1960) cho đến tác phẩm cuối cùng
Phiên Chợ Giát (1989), ông đã có 29 năm cầm bút và để lại cho nền văn học
n-ớc nhà 14 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau nh : truyện ngắn, truyện vừa,tiểu thuyết, phê bình Tác phẩm của ông khi miêu tả không khí hào hùng vàphẩm chất cao đẹp của con ngời Việt Nam trong chiến đấu, khi bộc lộ niềm lo âukhắc khoải và khát vọng thức tỉnh lơng tâm trong cảm hứng nhân văn mãnh liệt.Quãng thời gian cầm bút với số lợng tác phẩm nh vậy là không nhiều đối với mộtnhà văn, nhng điều đáng nói ở đây là với vốn hiểu biết sâu sắc cùng với một tráitim mẫn cảm, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo ra những tác phẩm đợc bạn đọc vàgiới phê bình nhiệt tình đón nhận vì nó thực sự có ích cho cách mạng và cuộcsống Những sáng tác của ông đợc giới nghiên cứu đánh giá cao và coi đó là mộttrong những hiện tợng văn học tài năng, mới mẻ Với cống hiến xuất sắc củamình trong hoạt động văn học nghệ thuật nhà văn nguyễn Minh Châu đã đợc: Bộquốc phòng, hội nhà văn Việt Nam trao tặng nhiều giải thởng có giá trị Việc tìmhiểu các tác phẩm của ông là cần thiết và chắc chắn sẽ rút ra nhiều bài học bổ íchcho quá trình sáng tác văn học sau này cũng nh việc giảng dạy các tác phẩm của
Trang 4ông đợc tốt hơn Ông cũng đợc xem là một trong những ngời đi đầu, tiên phongtrong đổi mới văn học
1.2 Mặt khác nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có tác phẩm
đợc đa vào giảng dạy nhiều trong nhà trờng phổ thông nh: Bức tranh (lớp 9),
Mảnh trăng cuối rừng (lớp 12) Đó đều là những tác phẩm tiêu biểu cho phong
cách sáng tác của nhà văn ở từng thời kỳ khác nhau và là những tác phẩm ghinhận sự biến chuyển trong t duy nghệ thuật của tác giả
1.3 Nguyễn Minh Châu không chỉ thành công ở thể loại tiểu thuyết, mà ôngcòn đã để lại dấu ấn riêng về nghệ thuật trong truyện ngắn của mình Truyệnngắn nguyễn Minh Châu sau 1975 và đặc biệt từ 1980 đã phát triển đến đỉnhcao nghệ thuật, ông không bao giờ bằng lòng với những gì mình đã đạt đợc màtrái lại luôn băn khoăn suy nghĩ tìm tòi đổi mới Sau 1975, chiến tranh kết thúccuộc sống trở lại với muôn mặt đời thờng ông có nhiều điều kiện hơn để thựchiện sự trăn trở đó Truyện ngắn sau 75, ghi nhận sự đổi mới về nghệ thuật trongcác sáng tác của ông từ cách miêu tả nhân vật, xây dựng tình huống, chọn đềtài đã có sự khác trớc Việc tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắnnguyễn Minh Châu sau 75 là cần thiết, nó giúp chúng ta nhận thấy sự phát triển
về nghệ thuật trong sáng tác của ông và qua đó giúp chúng ta hiểu sâu hơn cáctruyện ngắn của ông, thấy đợc dấu ấn tài năng mà ông gửi gắm trong đó Đặc biệtqua việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn chỉ ra nét riêng độc đáo về nghệthuật trong truyện ngắn của ông sau 75 đó là nét riêng độc đáo không lẫn với cácnhà văn khác, làm nên phong cách riêng của nguyễn Minh Châu
2 nhiệm vụ của đề tài:
2.1 Đề tài có nhiệm vụ chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
2.2 Phân tích các tác phẩm cụ thể sáng tác sau 1975 để làm sáng rõ những
đặc điểm nghệ thuật đó
3 Đối tợng khảo sát:
Là các truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sáng tác sau 1975 trong Nguyễn
Minh Châu truyện ngắn nhà xuất bản Hà Nội, 2003, bao gồm các truyện : Bức
tranh, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cơn giông, Sắm vai, Bến quê,
Cỏ lau, Phiên chợ Giát
4 lịch sử vấn đề:
Trang 5Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt
Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX Sau 1975, ông là ngời có công đầu trong đổi
mới t duy nghệ thuật và một trong những sự đổi mới đó chính là sự thay đổi t duynghệ thuật trong miêu tả nhân vật, trong đề tài Chính vì vậy con ngời trongtruyện ngắn của ông sau 75 hiện lên chân thực hơn : vừa có mặt tốt lại vừa có mặtxấu, vừa có ngời anh hùng lại vừa có kẻ hèn nhát sự đổi mới ấy đợc ôngchuyển tải hết vào trong tác phẩm của mình và thông qua nghệ thuật
4.1 Truỵên ngắn Nguyễn Minh Châu sau 75 đã thể hiện rõ sự đổi mới t duy
nghệ thuật và là bớc ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của ông Vì vậy đã cókhoảng 20 công trình của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình viết bài về nghệ thuậttrong truyện ngắn của ông sau 75 nh : Tôn Phơng Lan, Trần Đình Sử, Lê VănTùng, Lê Quang Hng, Nguyễn Thị Minh Thái, Bùi Việt Thắng, Đỗ Đức Hiểu Nhìn chung chúng tôi nhận thấy các bài viết này đi theo ba xu hớng chính :
4.1.1 Xu hớng thứ nhất nghiên cứu nghệ thuật trong toàn bộ sự nghiệp sáng
tác của Nguyễn Minh Châu trong đó bao gồm cả truyện ngắn sau 75, tiêu biểu là:
Tôn Phơng Lan với cuốn Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu Công
trình này thể hiện một quá trình nghiên cứu, làm việc công phu của tác giả và
đem đến cho ngời đọc một cái nhìn tổng thể về phong cách nghệ thuật cũng nh
b-ớc biến chuyển trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu Tuy cha đi sâuvào việc phân tích đợc nhiều tác phẩm cụ thể để làm dẫn chứng, minh hoạ chophần lý thuyết thêm phần thuyết phục nhng đây là một công trình có một số tácdụng thiết thực
4.1.2 Xu hớng thứ hai nghiên cứu nghệ thuật trong một tập truyện ngắn nào
đó của Nguyễn Minh Châu sáng tác sau 1975, tiêu biểu là : Trần Đình Sử, Văn
Chinh Chẳng hạn ở bài viết “ Bến quê một phong cách trần thuật giàu chất
triết lí ” tác giả Trần Đình Sử nhận xét: “ Đặc sắc của tập “ Bến Quê ” chủ yếu
thể nghiệm một hớng trần thuật mới có chiều sâu ” [2.167] ở đây, tác giả đã chỉ
ra giọng điệu khái quát của cả tập truyện Còn tác giả Văn Chinh trong bài viết
Nguyễn Minh Châu và tập truyện cuối cùng : Cỏ lau
gồm ba truyện ngắn bị phá cách để thích nghi với thời giờ hiếm hoi của ngời hiện
đại dành cho tiểu thuyết văn chơng trong sự hàm chứa hoàn cảnh và số phận nhân vật trót đã dồn tích quá nhiều của một nhà văn đã nhạy cảm còn cần kiệm quý báu đời sống ” [2.202] cũng là sự đánh giá có tính khái quát giá trị của cả tập
truyện
Trang 64.1.3 Xu hớng thứ ba nghiên cứu một phơng diện nghệ thuật nào đó trong
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, đây là xu hớng phổ biến nhất, tiêu biểu cócác tác giả: Lê Văn Tùng, Lê Quang Hng, Nguyễn Thị Minh Thái, Bùi ViệtThắng Các bài viết này thể hiện một sự khám phá độc đáo, mới mẻ Chẳng
hạn thầy giáo Lê Văn Tùng trong bài viết: “Không gian bến quê và một sự thức
nhận đau đớn sáng ngời của con ngời ” đã chỉ rõ: “không gian bến quê, vì vậy,
là không gian t tởng mang quan niệm độc đáo của nhà văn về bớc thức nhận của
đờng đời ”[2.175] Đây là sự phát hiện rất mới của ngời viết trong khi khám phá
bi kịch của nhân vật thông qua không gian trong tác phẩm
Còn GS Đỗ Đức Hiểu trong bài “Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh
Châu ” đã chỉ rõ: “Nghệ thuật xây dựng Phiên chợ Giát, chủ yếu, là cái pha
màu, cái pha trộn của tâm trạng đối nghịch, là sự thâm nhập lẫn nhau của các chi tiết, là cái nét nhoè, cái mơ hồ, cái không xác định của cấu trúc hình tợng
”[2.178]
Với vị trí và tài năng của Nguyễn Minh Châu thì số lợng công trình nghiêncứu nh vậy về ông còn ít, do đó cha khám phá hết những giá trị nghệ thuật còn ẩnchứa trong các truyện ngắn của ông Nhng nhìn chung chúng tôi thấy ý kiến đa ratrong các công trình và các bài viết đều xác đáng đã đánh giá đúng tài năng nghệthuật của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn của ông sau 1975
4.2 Khi tiến hành làm khoá luận này, chúng tôi tiếp thu những ý kiến đánh
giá của các nhà nghiên cứu về nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn MinhChâu sau 1975 Đồng thời tác giả luận văn cũng tiếp tục suy nghĩ về những cáimới để chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của ông
- Phát hiện các ý lớn, ý nhỏ mối liên hệ giữa chúng
- Thông qua các chi tiết để đi đến sự tổng hợp, khái quát đánh giá
5.2 ở mức độ khác chúng tôi sử dụng phơng pháp so sánh để đối chiếu
làm rõ sự biến chuyển về nghệ thuật trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châutrớc và sau 1975 So sánh sự tơng đồng và khác nhau trong sáng tác của Nguyễn
Trang 7Minh Châu với các tác giả trớc đó hoặc cùng thời qua đó khẳng định những đónggóp của Nguyễn Minh Châu cho nền văn học Việt Nam hiện đại
6 cấu trúc khoá luận:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và mục Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khoá luận bao gồm các chơng:
Chơng 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975
Chơng 2: Không gian – Thời gian nghệ thuật
Chơng 3: Tình huống và điểm nhìn trần thuật
Chơng 1
Nghệ thuật xây dựng Nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975
1.1 Giới thuyết chung về nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác
phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, t tởng chủ đề và đến lợt mình nó lại
đ-ợc các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm khắc họa
Bất kỳ một tác phẩm văn học nào đều phải có nhân vật, nhân vật thể hiệncách nhìn nhận, đánh giá, chiếm lĩnh cuộc sống và thể hiện lý tởng thẩm mỹ,cảm hứng của nhà văn Nhân vật có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm vănhọc Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả trong tác phẩm bằng phơng tiệnngôn ngữ, thông qua nhân vật hiện thực cuộc sống đợc tái hiện vào trong tácphẩm.Văn học phản ánh cuộc sống song không phải là một sự sao chép nguyên sinhững gì vốn có của cuộc sống mà sự phản ánh đó đợc thể hiện thông qua lăngkính chủ quan của nhà văn Vì vậy nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó
có tính ớc lệ, không bị đồng nhất với con ngời có thật, ngay khi tác giả xây dựngnhân vật có những nết gần gủi với nguyên mẫu ngoài đời Nhân vật văn học là sựthể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngời ấy[15.250] ý nghĩa củanhân vật chỉ có đợc trong hệ thống một tác phẩm cụ thể Do vậy khi xây dựngnhân vật, nhà văn luôn chú ý tạo cho nhân vật ấy vừa mang những nét riêng đồngthời lại mang nét chung của những nhân vật khác Ngời đọc tiếp xúc với tác
Trang 8phẩm là tiếp xúc với nhân vật, do đó nhiều tác giả rất chú ý xây dựng nhân vậttrong quá trình sáng tác của mình: Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhậnthức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại ngời nào đó, về một vấn đềnào đó của hiện thực Nhân vật chính là ngời dẫn dắt ngời đọc vào một thế giớiriêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định Vì vậy nhiều tác giả đãxây dựng đợc các nhân vật điển hình cho thời đại mà của mình nh: Chị Dậu, ChíPhèo, Xuân tóc đỏ Nhân vật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, ghi nhận dấu
ấn sáng tạo của nhà văn và đem lại tên tuổi cho nhà văn ấy Nhân vật văn học indấu những xu hớng tiến hoá của t duy nghệ thuật [15.251]
1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
Truyện ngắn sau 1975, ghi nhận sự phát triển trong cách xây dựng nhânvật và trong quan niệm nghệ thuật về con ngời của ông Trong sáng tác củaNguyễn Minh Châu trớc 1975, nhân vật trong truyện chủ yếu là con ngời xã hội,con ngời tập thể, con ngời cộng đồng Con ngời ấy đặt lợi ích dân tộc, cộng
đồng lên trên hết Họ hiện lên thật hào hùng, đẹp đẽ nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của
họ bằng giọng anh hùng ca đầy tự hào qua những trang viết mang đậm chất sửthi Con ngời cá nhân của họ hoà lẫn và mang những nét chung của con ngời tậpthể, cộng đồng Họ cha đợc Nguyễn Minh Châu chú ý khai thác những nétriêng, cá biệt Họ chiến đấu với một lí tởng đẹp đẽ trong sáng và lòng yêu nớc
đó là hệ quy chiếu để đánh giá họ Sau 1975 cuộc sống của đất nớc hoà bình trởlại Nguyễn Minh Châu có thời gian tìm tòi, suy nghĩ trớc hiện thực cuộc sốngmới, con ngời mới – con ngời thời hậu chiến đã hiện ra với muôn mặt đời th-ờng, đây chính là môi trờng mới để Nguyễn Minh Châu xây dựng nhân vật củamình Đặc biệt tới 1980 sự nhìn nhận con ngời của ông có khác trớc, ông nhìn
thấy “ Con ngời trong một con ngời” thì cách đánh giá nó có chiều sâu hơn.
Nhân vật đợc nhìn nhận thể hiện ở góc độ cá nhân với nhiều vẻ đẹp, vẻ phức tạpcủa nó Trong cách xây dựng nhân vật một mặt Nguyễn Minh Châu vẫn kế thừanhững gì là thành công trớc đó nh: Xây dựng nhân vật nữ với vẻ đẹp truyền
thống (Thai- Cỏ lau), mặt khác cũng tạo nên nhân vật nữ với tính cách – số phận khác thờng (Quỳ – Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) Nếu thủ
pháp phân tích tâm lý nhân vật trớc đó cha đợc Nguyễn Minh Châu chú ý sửdụng thì sau 1975 nó lại đợc ông sử dụng một cách triệt để trong việc đi sâu thể
Trang 9hiện bi kịch của cá nhân con ngời ở hai nhân vật: Nhân vật ngời lính và nhân vậtnông dân Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 có các nhân vật sau :
1.2.1 Nhân vật ngời lính
Nguyễn Minh Châu là nhà văn – chiến sĩ cho nên có thể khẳng định rằngngời lính là hình tợng hết sức quen thuộc trong sáng tác của ông Có thể nói đây
là mảnh đất màu mở để ông khai thác cũng nh thể hiện sự tìm tòi sáng tạo, đổi
mới.Trớc 1975 hình tợng ngời lính đợc Nguyễn Minh Châu xây dựng là con ngờimang vẻ đẹp của thời đại, đó là những ngời đặt lợi ích dân tộc cộng đồng lên trênlợi ích cá nhân Họ hiện lên thật đẹp đẽ, họ chiến đấu không quản hy sinh vì độc
lập dân tộc, trong truyện Mảnh trăng, Lãm một chiến sĩ lái xe, đã bỏ nhà ra đi
khi không đợc gia đình đồng ý cho anh đi bộ đội Với họ lúc ấy đợc chiến đấu,
đ-ợc phục vụ tổ quốc là niềm vinh dự lớn lao không gì cao quý bằng, đó là hình ảnhcủa một ngời lính đi chiến đấu cha mất hết dáng vẻ của một th sinh Hà Nội
Trong truyện Những vùng trời khác nhau, qua con mắt Lê nhân vật Sơn xuất
hiện: “cậu ta dong dỏng cao, trắng trẻo, dáng đi mềm mại nh con gái ” vậy mà
khi con ngời ấy khi đi vào trận chiến thì lại vô cùng dũng cảm Từ đó Lê có cáinhìn khác về Sơn và tình bạn của họ nảy nở từ đó và trở thành đồng đội của nhau.Ngời lính lúc này hiện lên đẹp đẽ, hào hùng với tinh thần chiến đấu: “Không cógì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh chứ không chịu mất nớc, chứ nhất địnhkhông chịu làm nô lệ”
Sau 1975 và đặc biệt từ 1980 trở đi với đề tài chiến tranh nhân vật ngời lính
có nhiều thay đổi, lúc này vừa có là hình ảnh ngời lính chiến đấu nơi chiến trờngnhng lại đợc tác giả khai thác ở một khía cạnh rất mới đó là hình ảnh ngời lính
đầu hàng giặc một điều từ trớc đến nay không mấy nhà văn dám nói đến Lại vừa
là hình ảnh ngời lính của cuộc sống thời hậu chiến với bao điều cần nói đến Họhiện lên giữa cuộc sống đời thờng với bao nổi đau mà cuộc chiến tranh tàn khốc
đã để lại Trong họ mỗi ngời phải gánh chịu một nỗi đau khác nhau không aigiống ai và cũng không ai có thể chia sẻ đợc những nổi đau ấy Chỉ có họ với ýchí và nghị lực của một ngời lính đã từng vào sinh ra tử mới đủ sức vợt qua đểsống tiếp phần đời còn lại mặc dù đó là phần đời không mấy hạnh phúc mà đầy
đau thơng Viết về một đề tài khá quen thuộc và đã đem lại thành công khôngnhỏ cho Nguyễn Minh Châu, sau 75 ông vẫn khai thác nó và có thể nói khai thácrất thành công ở một phơng diện hoàn toàn mới đó là một sự nổ lực rất lớn trongviệc tìm tòi sáng tạo của tác giả
Trang 10Trong truyện Cơn giông - Nguyễn Minh Châu khai thác và xây dựng nhân
vật ngời lính ở góc độ hoàn toàn khác trớc Viết về ngời lính và chiến tranhNguyễn Minh Châu bên cạnh việc miêu tả tính chất khốc liệt của cuộc chiến, tinhthần chiến đấu của ngời lính, Nguyễn Minh Châu còn có một cái nhìn mới trongmiêu tả Lâu nay khi viết về ngời lính các nhà văn chúng ta thờng ngợi ca làchính Viết về ngời lính họ miêu tả thật hào hùng, đẹp đẽ, ta đánh trận nào thắngtrận ấy, ngời lính của ta dũng cảm, kiên cờng, không bao giờ đầu hàng giặc Họchiến đấu vì độc lập tự do của tổ quốc Viết về bọn địch đó là đội quân đánh thuênhút nhát, đầu hàng, thiếu dũng cảm trong chiến đấu Viết về chiến tranh để cangợi cuộc kháng chiến của quân và dân ta là một việc làm cần thiết vì nó độngviên cổ vũ mọi ngời trong cuộc chiến Tuy nhiên nếu chỉ có ca ngợi không thôithì chúng ta lại không thấy đợc tính chất tàn khốc của chiến tranh Hoà bình lậplại Nguyễn Minh Châu mới có điều kiện nhìn lại đề tài chiến tranh trong các tácphẩm của mình nói riêng của văn học giai đoạn này nói chung Ông thấy rằngcách viết đó là không phù hợp nữa Họ đã thi vị hoá, cờng điệu hoá khi xây dựngnhân vật ngời lính.Ta biết rằng trong chiến tranh khốc liệt không phải ngời línhnào của ta cũng đủ dũng cảm để không đầu hàng giặc, trận đánh nào ta cũngchiến thắng và đó là lẽ tất yếu của chiến tranh.Về sau cùng với Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Trọng Oánh trong tiểu thuyết Đất trắng đã làm sáng tỏ sự khốc
liệt của cuộc chiến với việc miêu tả có những trận đánh ta bị tiêu diệt cả đại đội.Nguyễn Minh Châu đã xây dựng ngời lính ở phơng diện đầu hàng giặc điều mà
trớc đây cha bao giờ dám nói tới Trong truyện Cơn giông nhân vật Quang đợc
miêu tả, nhìn nhận là một ngời lính đầu hàng giặc Tác giả phơi bày bản chất ích
kỷ cơ hội của một tên phản bội do “luôn luôn tìm cách thoả mãn mọi thèm khát
đợc sống sung sớng đợc ăn ngon mặc đẹp, đợc mọi ngời xung quanh chiều chuộng và tôn kính ” [1.231] Con ngời ấy có thể là con ngời tốt khi cách mạng
đi lên nhng hắn sẽ trở thành tên phản bội khi cách mạng gặp khó khăn thử thách.Con ngời ta ai mà chẳng muốn sung sớng, muốn có vợ đẹp con khôn song nóphải đợc đặt trong một hoàn cảnh phù hợp Khao khát ấy của Quang là một điềuchính đáng đối với một ngời bình thờng trong cuộc sống hoà bình không có gì
đáng lên án Nhng đây là chiến tranh với bao nhiêu sự tàn khốc ác liệt dữ dội của
nó, trong khi biết bao ngời đã phải hy sinh cho độc lập dân tộc thì Quang lại vẫnnuôi giữ một ớc mơ trong một hoàn cảnh không thích hợp và đó là điều đáng lên
án.Tác giả miêu tả Quang và Thăng là hai ngời bạn, hai ngời đồng đội của nhau
Trang 11cùng chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lợc.Trong gian khổ, ác liệt của cuộc chiến
đòi hỏi một sự thử thách rất lớn của ngời lính thì Quang đã không chịu đựng đợc
và đã đầu hàng giặc Quang và Thăng đợc xây dựng với hai tính cách khác nhautrong khi Quang ra sức chiến đấu cho độc lập tự do của dân tộc thì Quang lại đầuhàng giặc.Thật trớ trêu thay sau lần Thăng định bắn Quang khi hắn chạy sanghàng ngũ của giặc thì bây giờ tại quả đồi này giữa bãi tha ma là sự chiến đấu giữahai chiếc xe tăng, chiếc xe T.34 do Thăng lái đã bị chính Quang lái chiếc xe tăngM.41 bắn cháy Thăng lại nằm trong tay Quang, hắn đã dùng mọi thủ đoạn đedoạ để giết Thăng nhằm chứng tỏ sự trung thành với cấp trên của một tên línhmới Hắn tha cho Thăng khi mang trên ngời đầy thơng tích với toan tính Thăng
sẽ chết trớc khi về đợc với đồng đội Nhng một lần nữa phẩm chất cách mạng củangời lính trong Quang và Thăng lại có dịp đem ra so sánh với nhau Với một ngờiluôn chiến đấu vì tổ quốc đã giúp cho Thăng có thêm sức mạnh để vợt qua nhữnggiây phút khó khăn.Ta giả sử trờng hợp đó nếu Quang là ngời thay vào vị trí củaThăng thì chắc rằng Quang sẽ chết, chết vì thiếu ý chí, thiếu lòng kiên trung.Làm rõ sự đầu hàng của Quang là do tính cách của hắn, cách lý giải đó củaThăng là cha thoả đáng Xây dựng nhân vật Quang, qua đó Nguyễn Minh Châulên án những kẻ phản bội lại đất nớc mình, không vì lợi ích của dân tộc cộng
đồng mà lại vì nhu cầu cá nhân của riêng mình Qua nhân vật Quang, NguyễnMinh Châu nhấn mạnh sự phản bội lại tổ quốc của một bộ phận lính ta là có thật
và ta phải chấp nhận nó nh một phần tất yếu của chiến tranh Đây là sự tìm tòithể nghiệm rất mới của Nguyễn Minh Châu và sự tìm tòi ấy đã đem lại cho tácphẩm của ông một sức sống mới trong một hoàn canh mới Viết về ngời lính sauchiến tranh Nguyễn Minh Châu xây dựng họ với những số phận khác nhau
Trong truyện Bức tranh nhân vật ngời lính là một chiến sĩ vô danh song lại
rất dũng cảm cứu sống nhà hoạ sĩ đầy danh tiếng Chiến tranh kết thúc anh trở vềvới cuộc sống đời thờng làm nghề cắt tóc và phải gánh chịu hậu quả đầy đau đớn
do cuộc chiến để lại: ngời mẹ mù cả hai mắt do khóc thơng con nhiều vì tởngrằng con trai mình đã hy sinh Ngời hoạ sĩ do vô tình hay cố ý? đã gây nên nổi
đau cho ngời lính năm xa ngời đã từng cứu sống anh ta Xét trên quan điểm về
đạo đức rõ ràng ngời lính vô danh ấy lại hiện lên thật đẹp đẽ cao thợng Khi nhận
ra ngời hoạ sĩ năm xa anh vẫn tiếp tục làm công việc của mình mà không kết ánngời hoạ sĩ ấy Ngời hoạ sĩ sống đợc là nhờ một phần vào sự ăn năn hối lỗi của
Trang 12chính mình mặt khác đó chính là sự nhân đạo quá lớn của ngời đời mà cụ thể ở
đây là ngời lính cũ
Cũng viết về ngời lính sau chiến tranh số phận cuộc đời Lực trong truyện Cỏ
lau hiện lên thật đau đớn Lực là ngời lính bị chiến tranh để lại hậu quả nặng nề
nhất, cới vợ mới mấy ngày Lực phải lên đờng đi chiến đấu bảo vệ tổ quốc để lạisau lng ngời vợ trẻ và gia đình Sau 24 năm tham gia chiến tranh anh trở về quêhơng với t cách trung đoàn trởng phụ trách việc thu gom hài cốt liệt sĩ.Ta thấycuộc đời anh gần nh gắn bó trọn vẹn với công việc của chiến tranh Khi ở chiếntrờng anh dũng cảm chiến đấu chống lại kẻ thù nay trở về gia đình thì gia đìnhanh đã tan tác: em trai hy sinh mà anh không hay biết, bố phải sống nhờ gia đìnhngời vợ cũ, ngời vợ ngoan ngoãn hiền lành mà anh rất mực yêu quý nay đã tái giá
an bài trong cuộc sống của một gia đình mới.Tơng lai của anh hiện lên cảnh sống
với ngời bố già giữa một vùng đầy “những hình ngời đàn bà bằng đá đầy cô đơn
”, chiến tranh “nh một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi cũng không
bị cắt lìa hẳn” [1.435] Anh không tìm thấy hạnh phúc ở ngay giữa cuộc sống
hiện tại, hạnh phúc trong quá khứ nay cũng theo thời gian chỉ còn là ký ức Mốitình giữa Thai và Lực mới đợc thắp sáng lên đầy hạnh phúc ngọt ngào thì đó
cũng là lúc anh đã từng ớc mơ “khi nào kháng chiến xong, ta có thể mở một cái
nông trờng ở đây” [1.448] Tuy nhiên, cái ớc mơ bé nhỏ ấy của anh đã không
thực hiện đợc Chiến tranh nó đã biến anh từ một ngời có gia đình nay thành một
kẻ đầy đau thơng và tan tác, biến anh từ một ngời còn sống nảy trở thành một
ng-ời đã chết, chết ngay giữa lúc còn sống Một ngng-ời sống mà phải vái trớc mộ của
mình “mặc dù mình không nằm trong đó ” Bây giờ tình cảnh của anh và Thai là
khác nhau song vấn đề làm sao anh có thể quên đợc ngời vợ mà anh hằng yêuquý Ngời vợ ấy rất yêu anh, còn yêu anh và chỉ yêu mình anh Chiến tranh đãkhông gây cho anh một vết thơng nào về thể xác nhng lại gây ra cho anh một vếtthơng lòng đầy xót xa nhức nhối và khó có thể lành lại đợc.Trong chiến tranh anhkhông hề bị thơng nhng trong tình cảm anh lại là ngời bị tử thơng Con ngời cô
đơn thời hậu chiến ấy đã từng là ngời anh hùng nơi chiến trận nhng cũng khôngtránh khỏi những thói thờng anh cũng vì một chút tự ái mà đã đẩy ngời chiến sĩdới quyền đến chổ hy sinh Chỉ khi anh bị vết thơng lòng anh mới cảm thấy nỗi
đau của mình cũng nh thơng cảm cho nỗi đau của ngời khác
Xây dựng nhân vật Lực, Nguyễn Minh Châu đem đến một nổi đau mới chocon ngời do chiến tranh gây ra đó là vết thơng lòng Nếu là vết thơng về thể xác
Trang 13nó có thể lành lại còn vết thơng lòng thì nó âm ỉ mãi Nhân vật Lực còn đợc hiệnlên là một con ngời rất đời thờng Lực là sự đúc kết nỗi đau của con ngời trongchiến tranh một cách rõ nét
Ngoài ra, ta còn bắt gặp hình ảnh ngời lính trong các truyện khác nh: Ngời
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, nhân vật Phác trong Mùa trái cóc ở Miền Nam góp phần làm rõ hơn, tô đậm hơn, bổ sung thêm cho nhân vật ngời lính
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.2.2 Nhân vật Phụ nữ
Ngời phụ nữ luôn là mẫu hình lý tởng để các nhà văn khai thác, thể hiện,chúng ta bắt gặp rất nhiều nhân vật phụ nữ trong các tác phẩm của Tự lực văn
đoàn ở giai đoạn đầu trong sáng tác, họ hiện lên rất đẹp nh : Mai trong Nửa
chừng xuân, Liên trong Gánh hàng hoa nhân vật phụ nữ trong các tác phẩm
của Thạch Lam, Nam Cao, Ngô Tất Tố nhìn chung họ đều những phụ nữ mangnét đẹp của truyền thống: chịu thơng, chịu khó, thơng chồng thơng con, chungthuỷ trong tình yêu Nguyễn Minh Châu một mặt vẫn kế tiếp những nét đẹp đó
đồng thời có sự thay đổi trong việc xây dựng các nhân vật nữ.Trớc 1975, chúng
ta đã từng bắt gặp các nhân vật nữ rất đẹp qua các tác phẩm khác nhau: Nguyệt
trong Mảnh trăng cuối rừng là ngời con gái trẻ trung, xinh đẹp, dũng cảm trong
chiến trờng: xây dựng cầu đá xanh, lấp đờng cho xe chạy đặc biệt cô rất thôngthạo con đờng mà cô ngày đêm bảo vệ khi cô đẫn đờng cho xe Lãm đi trong đêmtối Nét đẹp hiện lên cao quý ở Nguyệt đó là niềm tin vào cuộc sống và đặc biệt
là niềm tin vào con ngời nhất là tin vào ngời mình yêu Vì vậy cô đã mang trongmình một mối tình với một ngời con trai mà cô cha hề biết mặt Mẹ Lân trong
Ngời mẹ xóm nhà thờ là ngời mẹ tiêu biểu trong chiến tranh, chiến tranh đã cớp
đi những ngời thân nhất của mẹ : chồng, con trai, con dâu và cả đứa cháu ruộtcủa mẹ Tuy nhiên ở mẹ tấm lòng dành cho cách mạng cho kháng chiến không
hề thay đổi Ngời mẹ theo đạo ấy vẫn nuôi dỡng cán và đặc biệt là một lòng cămthù giặc luôn ngùn ngụt trong lòng mẹ Giữa trận đánh ác liệt các chiến sĩ vẫn
nghe mẹ hô to: “Các con bắn đi! giết đi! giết hết chúng nó đi! ” Chúng ta nhận
thấy một điều ngời mẹ ấy hiện lên thật đẹp, thật anh dũng cùng với một tấm lòngyêu nớc thiết tha
Sau 1975, Nguyễn Minh Châu một mặt vẫn kế tiếp những nét đẹp vốn có mặtkhác ông khai thác chiều sâu sự phức tạp của con ngời cá nhân Thể hiện rõ nhất
trong việc đổi mới khi xây dựng nhân vật nữ là nhân vật Quỳ trong truyện Ngời
Trang 14đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Từ 1980 do thay đổi quan niệm về con ngời,
Nguyễn Minh Châu chú ý miêu tả “con ngời trong một con ngời ” Do vậy nhân
vật nữ hiện lên có chiều sâu, có cá tính, có số phận rõ ràng, nó thể việc đi sâu tìmhiểu thể hiện con ngời cá nhân ở đây ta ghi nhận sự nổ lực tìm tòi của NguyễnMinh Châu
Nhân vật nữ tiêu biểu cho sự tìm tòi, đổi mới, sáng tạo của Nguyễn Minh
Châu sau 1975 là nhân vật Quỳ trong truyện Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành Quỳ - Nhân vật chính của truyện có số phận “không bình thờng” cùng với
một cá tính riêng độc đáo Quỳ đã đi qua chiến tranh và đang sống một cuộcsống mới – cuộc sống thời hậu chiến Xây dựng Quỳ là nhân vật có cá tínhmạnh mẽ, độc đáo và thực sự gây đợc ấn tợng cho độc giả Cha bao giờ ta bắt gặpmột nhân vật nữ có ảnh hởng lớn nh vậy đối với những ngời xung quanh và cũngcha bao giờ ta bắt gặp ngời phụ nữ nào lại làm chủ cuộc đời mình nh thế Quỳsau khi tốt nghiệp lớp 10 cô không đi học nớc ngoài mặc dù có giấy gọi học màcô quyết định vào Trờng Sơn để chiến đấu Khi vào chiến trờng cô làm mọi công
việc không trừ một công việc gì :“Diễn viên văn công, đánh máy, cấp dỡng, in
lytô, giao liên dẫn đờng, y tá ”[1.121] Cuộc sống kháng chiến gian khổ nh vậy
nhng ngời con gái ấy có sức khoẻ hơn ngời: “Trong khi các chị em khác có ngời
bị sốt rét rụng cả tóc ”còn Quỳ thì cứ trơ ra, da thịt vẫn trắng trẻo, đỏ đắn “ ”
Mặt khác Quỳ là ngời rất “nhanh trí và sáng ý ” cũng nh bao trẻ tuổi khác Quỳ
đã yêu, cô hiện lên nh một nàng công chúa giữa rừng xanh mọi ngời đều đemlòng yêu mến cô, phải chăng vì điều đó mà Quỳ tự kiêu, coi mình là cao giáchăng? Điều đó cũng có lẽ đúng một phần vì Quỳ đợc cng chiều quá Nhng lý do
chính là Quỳ có tính cách “khác thờng”do đó Quỳ đã theo đuổi một mối tình với một tiêu chuẩn “không bình thờng” dành cho ngời mình yêu Quỳ yêu tiểu đoàn
trởng Hoà vốn là sinh viên đang theo học năm thứ hai khoa chế tạo máy của ờng Bách Khoa, đi bộ đội bằng tài năng khoa học anh đã chuyển thành tài năngquân sự Quỳ yêu Hoà nhng lại không muốn anh là một ngời bình thờng, Quỳyêu song không chấp nhận một ngời yêu bình thờng vì vậy Quỳ muốn ngời yêu
tr-mình phải là một “thánh nhân” Đến khi cô nhận ra sai lầm thì cô phải chấp nhận
hậu qủa: ngời yêu Quỳ cha trở thành một thánh nhân nh cô mơ ớc thì ngời ấy đãphải hy sinh Khi chiến tranh kết thúc cô phải khắc phục hậu quả do mình gây ra
Quỳ xuất hiện nh một “qủa lạ” và chính quả lạ ấy là điều Nguyễn Minh Châu
Trang 15muốn đem đến cho ngời đọc Truyện viết theo lối đối thoại pha chút màu sắcmộng mị và huyền thoại
Truyện đợc xây dựng theo lời kể của nhân vật, Quỳ là một phụ nữ khả ái vàxinh đẹp Nguyễn Minh Châu cho Quỳ xuất hiện trong một hoàn cảnh khá đặc
biệt đầy ánh trăng :“Chỉ thấy một vài mảng của ánh trăng rơi rớt xuống một mái
tóc đàn bà đang buông xoã ôm trùm lấy một khuôn mặt không thể nào xác định
đợc già hay trẻ, đẹp hay xấu ”[1.110] đặc biệt bao giờ chị củng đi thẳng đó là
một cách gây ấn tợng lý thú với nhân vật tôi và bạn đọc Nhân vật tôi đi từ ngạc
nhiên này đến ngạc nhiên khác khi bắt gặp :“chổ này chào chị Quỳ, chổ kia chào
chị Quỳ ”[1.111] ngời ấy “có giọng nói nghe âm ấm và rất trong” ngời ấy
không làm việc là không chịu đợc, từ đó nhân vật tôi tìm cách tiếp xúc với Quỳ
và câu chuyện về cô đợc bộc lộ Quỳ đợc miêu tả rất sâu sắc về tâm lý khi yêu
chị “sinh ra cái tính cầm cái gì trên tay cũng làm đổ, cũng đánh vỡ”, khi giáp mặt ngời yêu “mặt nóng bừng nh vừa đợc lôi ra, lúc tái nhợt nh vừa vớt dới nớc
lên” đó là những nét tâm lý rất bình thờng hay gặp ở những ngời bắt đầu yêu
Nh-ng cách tỏ tình của Quỳ thì rất đặc biệt cô “vừa van lạy nh một con nô lệ vừa rút
súng K54 ra doạ ”[1.127] ngời mà mình yêu Khi tiếp xúc với ngời ấy cô lại
sinh ra chán, bởi cô thấy ngời ấy cũng bình thờng nh bao ngời khác “cũng mừng
rỡ hí hửng khi đợc thăng cấp anh ấy cũng ăn, cũng ngủ, đi lại cũng chăn một
đàn gà riêng, đánh một cái quần xà lỏn đi phát rẫy, cũng yêu ng“ ” ời này nói xấu sau lng ngời kia ”[1.128] và đó là một con ngời hết sức bình thờng Cô không
chịu nỗi ngời yêu mình “có mồ hôi tay” hoặc “trong khi mọi ngời bàn tán thơng
tiếc kể lể bao nhiêu công đức, thành tích và nét tốt của anh ấy thì tôi chỉ nghĩ đến
tật xấu của anh ấy ”[1.138] Đó chính là những nét tính cách khá độc đáo mà
Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo ra cho nhân vật của mình Xây dựng nhân vậtQuỳ với cá tính mạnh mẽ và độc đáo, Nguyễn Minh Châu để cho chị hành độngtheo tính cách của mình Giữa cuộc chiến ấy chị vẫn mong muốn đi tìm một giátrị tuyệt đối trong tình yêu và chắc chắn rằng khát vọng ấy không bao giờ thựchiện đợc Quỳ đợc xây dựng khá thành công ở góc độ con ngời cá nhân với mộtngòi bút đi sâu khám phá mọi ngõ ngách trong tâm hồn nhân vật Quỳ hiện ra vớimột tính cách, một số phận không giống ai, đó chính là sự phức tạp của một conngời mà Nguyễn Minh Châu đã tìm tòi phát hiện ra Mặt khác Quỳ đợc xây dựngvới những nét đẹp truyền thống: chịu thơng chịu khó, dũng cảm, biết vợt lên số
phận đặc biệt trong cô luôn có ý thức về thiên chức của ngời phụ nữ đó là bản“
Trang 16năng chăm lo bảo vệ lấy sự sống của con ngời do chính chúng tôi mang nặng đẻ
đau ra Đó chính là tình thơng bẩm sinh của nữ tính – sợi dây thần kinh đặc
biệt của giới nữ chúng tôi ”[1.166] điều đó góp phần làm cho Quỳ hiện lên đẹp
đẽ có phần phức tạp về tính cách và số phận
Trong truyện Cỏ lau - nhân vật Thai đợc xây dựng theo nét đẹp của ngời phụ
nữ truyền thống, cô đợc xem là điểm hội tụ những nét đẹp về ngời phụ nữ trớc
đó Khoảng thời gian Thai hạnh phúc bên chồng không đợc bao lâu thì cô lại phảisống trong tình cảnh bị chia cách Ngay cả khi hạnh phúc nhất tác giả đặt cô vàomột khung cảnh có nhiều ngọn núi vọng phu, điều đó nh một sự dự báo cho cuộc
đời chị về sau có thể sẽ nh những ngọn núi vọng phu kia? Trong thời gian chồng
đi chiến trận, Thai ở nhà vẫn đảm đang mọi công việc trong gia đình, ngoài racòn tham gia công tác chiến đấu ở hậu phơng và đã từng bị bắt, bị tù đày Cô còn
phải chăm sóc bố chồng, chôn cất em chồng và “chôn cả chồng” nữa ở nhân vật
Thai tiêu biểu cho bi kịch của ngời phụ nữ trong chiến tranh là rất rõ và đầy đau
đớn Khi nhận đợc tin chồng chết chị đã đi bớc nữa không phải chị đã hết yêuchồng mà chị còn quá trẻ trong khi cuộc sống trớc mắt còn dài mà chị không thểkhông có một gia đình để làm nơi nơng tựa và chia sẻ Điều này chúng ta hoàntoàn có thể thông cảm cho sự quyết định đó của chị và có thể xem đó là một việclàm hợp lý trong hoàn cảnh đó Nhng cũng chính sự lựa chọn đi thêm bớc nữacủa cô mà đã đẩy cô vào bi kịch đầy đau đớn: Ngời chồng mà cô hằng yêu mến
ấy đã không chết và nay lại đột nhiên trở về quê hơng sau khi chiến tranh kếtthúc trong khi cô đã có một gia đình mới đang êm ấm và hạnh phúc.Thai phải lựachọn ra sao giữa mối tình ngày xa với Lực và cái hạnh phúc mà cô đang có? đó là
sự lựa chọn và quyết định không mấy dễ dàng.Ta biết một điều rằng mặc dù đi
b-ớc nữa nhng trong trái tim của Thai “suốt đời chỉ có thể yêu đợc một ngời ” ngời
đàn bà ấy theo lời Quảng – chồng mới của cô nhận xét “là một thứ đàn bà cổ ”.
Chính những phẩm chất, những nét đẹp ấy lại giúp Thai có đợc sự quyết đoán
trong việc quyết định của mình ở cuối chuyện, dù Thai có “mắc trăm công nghìn
việc ”, dẫu đau đớn chờ chồng và ngay cả khi có gia đình mới Thai vẫn quyết
định quay trở lại với Lực – với tình yêu đích thực của cô
Nh vậy “ngay trong những nhân vật quen thuộc, nhân vật sở tr“ ờng của”
Nguyễn Minh Châu, ngời ta cũng thấy anh không bao giờ lặp lại mình một cách
đơn giản”[2.311] và Thai là tiêu biểu cho nhân vật này của Nguyễn Minh Châu
1.2.3 Nhân vật trẻ em
Trang 17Cùng với sự xuất hiện của nhân vật phụ nữ, nhân vật trẻ em trong truyệnngắn Nguyễn Minh Châu từ 1975 cũng hiện lên với nhiều nét đẹp Trớc 1975,
trong tác phẩm Ngời mẹ xóm nhà thờ Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhân vật
Nết, một bé trai tuy nhỏ tuổi nhng đã biết: làm liên lạc, đa bộ đội về nhà mìnhnghỉ Em đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ để lại niềm thơng tiếc cho
bà nội và những chiến sĩ bộ đội đã từng đi qua đây Nết đợc miêu tả với nét đẹpcủa một em bé trong chiến tranh Sau 1975, nhân vật trẻ em của ông vẫn thể hiện
đợc nét đẹp trong tâm hồn, trong tính cách
Nếu nhân vật Nết trong truyện Ngời mẹ xóm nhà thờ phải chịu cuộc sống
đau khổ do chiến tranh gây ra (bố, mẹ đều bị giặc giết cả) thì Phác trong Chiếc
thuyền ngoài xa đợc sống trong cảnh hoà bình có cha, có mẹ, có chị gái, ông
nội Phác có gia đình, có bố mẹ thật đấy mà lại cũng nh không bởi bố mẹ emluôn có sự bất hoà trong cuộc sống gia đình do đó em đã tham gia lao động cùngvới ông để kiếm sống Phác tuy nhỏ tuổi nhng đã sớm nhận ra chính ngời bố vũphu của mình là nguyên nhân gây ra sự bất hoà trong gia đình.Trong một lầnchứng kiến cảnh ngời bố tàn nhẫn đánh mẹ mình, Phác đã liều mình xông vào
giật lấy cái “thắt lng da” trong tay ngời bố với mục đích ngăn chặn hành động vũ
phu ấy Sau lần đó mối bất hoà trong gia đình vẫn không đợc giải quyết, khi gặplại tình cảnh ấy em đã thu sẵn một con dao với mục đích giết ngời bố vũ phusong mục đích không thành do ngời chị gái phát hiện và ngăn chặn kịp thời Nét
đẹp của Phác là em sớm nhận ra đâu là phải đâu là trái, đâu là nguyên nhân dẫn
đến sự xung đột trong gia đình Thông qua truyện ngắn này Nguyễn Minh Châumuốn gửi một bức thông điệp đến những ngời làm cha làm mẹ rằng chính sựxung đột trong gia đình thì trẻ em là ngời nhận hậu quả nặng nề nhất và nó sẽ tác
động đến tâm hồn và tính cách các em sau này Ngoài ra Nguyễn Minh Châu xâydựng nhiều nhân vật trẻ em là nhân vật nữ mang nét đẹp dáng dấp của ngời mẹ,
đó là các bé gái dịu dàng và tình cảm:Thơm trong Cỏ lau là bé gái thông minh,
láu lỉnh nhng do ảnh hởng từ ngời mẹ nên em sớm có nhận thức và hiểu biết.Tácgiả miêu tả đoạn Lực cùng với em ra nghĩa địa thắp hơng thì những lời nói của
em làm Lực ngỡ ngàng.Thơm trịnh trọng bẻ miếng bánh làm đôi đặt lên hai ngôi
mộ Lúc này Thơm không còn tinh nghịch nh khi còn trên đờng, em đã thể hiện
sự quan sát rất tinh tế trong cuộc sống khi nói với Lực ông t“ ởng ngời lớn không cúng à? ối ngời lớn hơn ông còn cúng” Tuy vậy ở em hiện ra những nét rất trẻ
con nh: thích nhà mình có nhiều mộ Từ nhân vật bé Thơm mà Lực nhìn thấy
Trang 18phảng phất những nét của Thai: “Tôi bất chợt nhận ra tất cả những nét quen
thuộc của Thai đợc lặp lại trong đứa trẻ đứng trớc mặt Có một cái gì đó hết sức yếu ớt, nồng nàn và chân thực đến giản dị trong giọng nói, trong con mắt, trên khuôn mặt và trong mọi điệu bộ nh lột ra từ mẹ nó” [1.436] Thơm đợc xây dựng
là một em bé sớm khôn sớm có nhận thức và hiểu biết do đó em vừa có nét tínhcách của ngời lớn lại vừa có nét tính cách còn trẻ con, Thơm hiện lên thật đẹp và
đáng yêu
Nghiên trong Phiên chợ Giát là một bé gái sinh ra trong một gia đình nghèo
khổ, mặc dù mới chín tuổi “nhng từ khi biết cầm liềm, là đứa con gái bé nhất của
lão đã biết ngày ngày chăm chỉ đi cắt cỏ, mỗi ngày một gánh đầy ” [1.560].
Nghiên là bé gái chăm chỉ siêng năng trong lao động vì vậy đứa con gái lúc nào“
hai bàn tay cũng sây sát ứa máu vì công việc cắt cỏ cho bò ăn ” Siêng năng lao
động là nét đẹp của một bé gái thuần nông trởng thành đó là do em chịu ảnh ởng rất lớn từ ngời bố ngời mẹ lam lũ Nghiên còn hiện lên qua nét đẹp giàu lòngyêu thơng: em thơng con vật mà em hàng ngày chăm sóc, nay sắp phải xa nó emrất buồn tủi Nh vậy nét đẹp của Nghiên hiện lên ở hai phơng diện: nét đẹp tronglao động và nét đẹp trong tình yêu thơng
Cùng với nhân vật Lan trong Một lần đối chứng nhân vật trẻ em trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu hiện lên thật đẹp, hồn nhiên, sớm hiểu biết,siêng năng góp phần làm đẹp hơn, đa dạng hơn thế giới nhân vật truyện ngắncủa ông
1.2.4 Nhân vật nông dân
Ngời nông dân trong các sáng tác ở giai đoạn trớc đó ngời đọc dễ nhận racái tốt, cái xấu rạch ròi không lẫn lộn trong tính cách của mỗi nhân vật Đến lãoKhúng của Nguyễn Minh Châu ngời đọc lại rất khó nhận diện Nhà văn để chonhân vật vận động trong hai mơi năm Có thể, đó là một khoảng thời gian biến
động dữ dội trong lịch sử xã hội của chúng ta Và có khi đó là khoảng thời gianthử thách, nghiệt ngã phẩm chất của con ngời của dân tộc Nét đặc sắc trongtruyện ngắn Nguyễn Minh Châu là ông đi sâu vào quan sát, phân tích tạo đợc cáinhìn xuyên suốt vào số phận một giới, một lớp ngời nhất định Với một cái nhìn
nh vậy, ông đã xây dựng đợc hình tợng nông dân độc đáo đó là lão Khúng qua
hai truyện: Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát Lão Khúng của Nguyễn Minh
Châu là một nông dân – “nông dân ròng” từ cách sống, suy nghĩ cho đến lối c
sử hành động.Trong Khách ở quê ra - Nguyễn Minh Châu miêu tả lão Khúng từ
Trang 19quê ra Hà Nội, lão khó chịu vô cùng khi phải hít thở bầu không khí chật hẹp , ồn
ào, khi thấy các dãy nhà nh những : “cái hộp sắt tây đậy kín mít cả những cái
mặt ngời ló ra y nh một lũ chim bồ câu đang gù trong cái chuồng” [1.356] Khi
thấy “ngời nào cũng y nh ngâm lâu ngày trong bể nớc mới vớt lên ? da thịt ngời
đâu mà cứ mềm oặt, mềm nh sợi bún, từ cái ngón tay đều mềm, tiếng nói cũng mềm, dáng đi điệu đứng lại càng mềm, nhất là tiếng cời mới thật là mềm chứ ?”
[1.349] Cách nhìn ngời của lão Khúng nó hiện lên sự xa cách trong hoàn cảnhsống, môi trờng sống của hai thế giới khác nhau Lão Khúng quen lao động chântay, quen với cảnh sống nông thôn tầm nhìn không xa hơn cái luỹ tre làng, vì vậyviệc nhìn cái nhà nó khác với ngôi nhà của lão đang sống cũng thể hiện sự lạc
hậu trong con ngời lão Lão thấy ngời thành thị ai cũng “trắng nhợt”, “mềm oặt”
khác xa với vẻ rắn chắc của mình Vẻ đẹp của thế giới văn minh đô thị thật sự là
một thử thách đối với lão, từ việc nhìn những ngôi nhà “kín mít” ấy đã phần nào
lộ rõ bản chất lạc hậu của con ngời nông dân trong lão Không chỉ vậy lão còn rút
ra kết luận cho riêng mình “hoá ra đám ngời ẻo lả nh ngọn cỏ này không phải
chỉ đi dạo mà cũng phải ăn uống” [1.353] hoặc “hoá ra cái anh dân Hà Nội cũng phải ăn uống” Khác với những ngời lão quan sát thấy, con ngời lão hiện
lên :“hai bàn tay lão đầy những chổ nổi u nổi cục, các ngón vặn vẹo và bọc một
lớp da giống nh một thứ vỏ cây và bàn tay lão giống y nh một toà rễ cây vừa mới
đợc đào từ dới đất lên” [1.322] Lão hiện lên là một con ngời chả giống ai dới
hình thức “vừa gầy, vừa đen, vừa già, vừa xấu” Do vậy khi xây dựng nhân vật
lão Khúng tác giả đặt lão vào môi trờng thành thị môi trờng hoàn toàn xa lạ thì từngoại hình, cách nhìn nhận tâm hồn, tính cách của lão, cả cái cách ngồi mâmuống rợu của lão đều tơng phản với vẻ văn minh đô thị Lão Khúng tâm niệmrất đúng khi cho rằng mình không thể xa rời hòn đất, môi trờng quen thuộc vớilão phải là đất cát, núi rừng hoang dã nơi mà không có nhiều ngời náo nhiệt nhthành thị, nơi đòi hỏi sự lao động thật sự của con ngời để cải tạo nó Chúng tabiết rằng đất cát là t liệu sản xuất quan trọng nhất đối với ngời nông dân, đã lànông dân ai mà không gắn bó với đất đai nhng đất đai đối với lão Khúng đợc đẩylên đến mức độ hồn nhiên táo bạo ghê gớm.Vẻ đẹp hoang sơ nơi con ngời lãohoàn toàn không phù hợp với cuộc sống đô thị
Với Lão Khúng lần đầu tiên ta bắt gặp Nguyễn Minh Châu miêu tả ngoạihình của nhân vật, điều mà trớc đây rất ít gặp và thậm chí trong các truyện ngắnsau này Vấn đề đặt ra Nguyễn Minh Châu miêu tả ngoại hình nhân vật để làm
Trang 20gì? có hay chăng sự tơng đồng trong miêu tả ngời nông dân của ông với NamCao trớc đó? Để trả lời các câu hỏi này không phải là một chuyện dễ dàng gì tuynhiên ở đây ta chỉ có thể trả lời rằng việc miêu tả ngọi hình của lão Khúng là cómột ý đồ nghệ thuật nào đó Và một trong các ý đồ nghệ thuật hiện lên rõ nhất đó
là việc tác giả tạo nên sự tơng phản của lão với những con ngời thành thị khôngchỉ trong cách sống, cách suy nghĩ mà cả về hình dáng bên ngoài Và ở đâychúng ta cũng ghi nhận một sự thay đổi trong cách miêu tả nhân vật của NguyễnMinh Châu mặc dù cách miêu tả này không có gì là mới mẻ nhng vấn đề là nó
đem lại hiệu quả nghệ thuật cho nhân vật trong tác phẩm của ông Lão Khúng
đ-ợc xây dựng với vẻ đẹp đa dạng có chiều sâu, ngời “nông dân ròng ” ấy hiện lên
với vẻ đẹp trong lao động Lão lao động không biết mệt mỏi, không biết nghỉngơi để lo miếng cơm manh áo cho cái gia đình bé nhỏ ấy Trong môi trờng sống
quen thuộc với sự chịu khó trong lao động, lão “tranh chấp với rừng từng bớc
chân, không phải chỉ trả giá bằng mồ hôi mà bằng cả nớc mắt ” [1.325] Một vẻ
đẹp khác nữa của lão là lòng bao dung để cứu vớt cuộc đời của Huệ, lấy Huệ –một gái thành thị lỡ bớc Lão làm phúc để rồi suốt hai mơi năm lão lặng lẽ chấpnhận cái điều kiện không hỏi han về gốc tích của thằng Dũng - đứa bé mà lão đỡ
đầu, nuôi nấng Lão yêu thơng con vợ nh con đẻ của mình (là sự bịn rịn trong
tình cảm của lão với con bò khoang) trong Phiên chợ Giát
Nhân vật Khúng còn hiện lên là một ngời quyết đoán và có phần khác thờngtrong các quyết định của mình Khi ở miền xuôi lão đã dựng ngôi nhà của mình
ngay trên cái nền nơi “thần linh đứng” nhng rồi lão vẫn sống đợc có sao đâu?
Không chỉ vậy lão còn quyết dẫn cả nhà lên miền núi hoang sơ và đầy gian khổ.Lão đã tách mình ra khỏi quê hơng làng xã nghĩa là tách hoàn toàn ra khỏi cuộc
sống xã hội tập thể đặt mình vào một vùng đất hoang sơ cằn cỗi “chó ăn đá gà
ăn sỏi ”.Từ mảnh đất này lão Khúng đã bộc lộ cá tính, bản lĩnh của mình không
hề bị xã hội chi phối, có thể nói Khúng là con đẻ của xã hội công xã nông thôntồn tại ngay trong lòng xã hội chủ nghĩa Cùng với sự mạnh dạn đó lão Khúng đi
đến một quyết định khác không kém phần khôn ngoan: trong lúc bao nhiêu conngời đang nô nức vào hợp tác xã để làm ăn thì lão quyết định không vào Chủtịch Bời đã gọi lão là cái dinh luỹ cuối cùng của lối làm ăn cá thể trên cái huyện
đang ào ào trống rong cờ mở đi lên chủ nghĩa xã hội Nhng ở một góc độ nào đóchúng ta cũng không đồng tình với lối sống của lão, bởi chính lão làm trì trệ sựphát triển chung của xã hội, ở lão còn mang nặng lối t hữu của ngời nông dân
Trang 21Truyện Phiên chợ Giát, tính cách của lão còn biểu hiện trong đời sống nội
tâm khá phong phú Tình cảm của lão đối với con bò khoang đen diễn biến đầyphức tạp khi lão quyết định bán nó Con bò khoang ấy đối với lão không chỉ là
con vật đã giúp lão “khai hoang lập địa” mà trong chiều sâu của mối quan hệ con
vật ấy lão quý nó nh thân thể mình Do đó lão cha bao giờ đánh hay quát mắng
nó trừ hai thời điểm khó xử lão mới đánh nó, đó là lúc nó đá ông chủ tịch Bờingã xuống ruộng và lúc ông quyết định thả nó về rừng.Từ lúc quyết định bán con
bò tâm lý lão đầy biến động, trên quãng đờng xuống chợ Giát – chuyến đi cuốicùng của lão với con Khoang đen – cũng là đoạn đờng gợi lại những đoạn đời,những sự kiện làm nên số phận khác thờng của lão [2.198] Lúc lão nhớ khithằng Dũng con lão mất, nhớ khi con vật đá bí th huyên Bời và cuối cùng khi
nh sực tỉnh khỏi những giấc mơ lão quyết định giải thoát cho con vật “phần nàoxuất phát từ lòng cả tin ngây thơ ở một con ngời vừa ranh mãnh vừa tự tin”[4.99]nhng cuối tác phẩm nó lại quay về với lão nh một sự an bài về số phận
Phiên chợ Giát đợc nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu gọi là “văn bản đa thanh”
ngời đọc dõi theo cái tâm linh đầy mộng mị, mông lung, đầy hồi tởng, đầy ảogiác những cuộc đối thoại của lão đối với chính mình, với vũ trụ hoang vu, vớingời con trai chết trận, với con bò khoang ngời bạn nhọc nhằn hay chính sự phân
thân của tác giả ? và đó chính là điều Nguyễn Minh Châu từng nói: ông “chỉ
trình cho mọi ngời biết cái hiện thực cuộc sống còn ai muốn hiểu thế nào thích thú góc độ nào xin cứ tự do ”.
Nh vậy qua hai truyện ngắn này, nhân vật lão Khúng – ngời nông dân củanhà văn Nguyễn Minh Châu có trong mình đậm đặc những nét tâm lý, tình cảm,
ý thức, hành vi từ mặt trái đến mặt phải của một tiểu nông Khi ‘tiếp xúc” với lão,ngời đọc nh đến với thiên nhiên đất trời, đến với những gì vừa cổ sơ của buổihồng hoang, vừa mới mẻ gần kề đâu đây Lão vừa khiến ta kính trọng lại vừa làmcho ta bực tức Lão vừa làm cho ta thơng nhng lão cũng đáng giận bởi cái tínhchất phác và bảo thủ Lão còn có thế giới nội tâm đa dạng phức tạp cùng vớichị Dậu – Ngô Tất Tố, Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao, lãoKhúng của Nguyễn Minh Châu đã góp phần làm cho hình ảnh ngời nông dânhiện lên ở nhiều vẻ, nhiều bình diện
Trang 222.1.2 Các đặc điểm không gian nghệ thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau1975
2.1.2.1 Không gian nhỏ hẹp thể hiện bi kịch đau đớn của nhân vật
Trang 23Loại không gian này, chúng ta bắt gặp rất nhiều trong các sáng tác củaNam Cao, đó là không gian chật hẹp trong ngôi nhà thể hiện: bi kịch đói nghèo,
bi kịch đời thừa Nguyễn Minh Châu trớc đó khi viết về chiến tranh luôn đặtnhân vật trong một không gian rộng lớn để làm rõ chất anh hùng ca của cuộckháng chiến dân tộc Sau 1975, cách thể hiện không gian của Nguyễn Minh Châu
có bớc đổi mới, một mặt ông vẫn sử dụng những không gian nhỏ hẹp mà các tácgiả trớc đó đã dùng, mặt khác ông lại đi sâu thể hiện bi kịch của mỗi con ngờitrong mỗi hoàn cảnh nhất định, các bi kịch đó nó gắn liền với quan điểm đạo đứcnào đó mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm
Trong truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu muốn thể hiện bi kịch
đau đớn của ngời hoạ sĩ trong không gian nhỏ bé là cái quán cắt tóc Ngời hoạ sĩ
ấy có tác phẩm “nổi tiếng không chỉ trong nớc mà còn ở nớc ngoài” Một lần anh
ta đến một cái quán nhỏ để cắt tóc, anh ta bàng hoàng phát hiện ra tội lỗi củamình đối với ngời lính, ngời thồ tranh ngời cứu sống anh ta năm xa Bắt đầu từcái ngày phát hiện ra tội lỗi ấy anh ta không còn đợc sống yên ổn nữa Anh tasống trong dằn vặt đau khổ Ngời hoạ sĩ nhận ra sự vi phạm chuẩn mực đạo đứcthông thờng của mình Cũng chính trong con ngời anh ta một con ngời khác hiện
ra xuê xoa biện ra các lý do :“Chỉ sau một tuần lễ tôi đã thiết lập đợc với cái xã
hội hậu phơng chung quanh những mối quan hệ mới, cái không khí chiến trờng tự
nhiên nhạt nhoà đi, cái mối nhiệt tâm của lúc còn ở trong đó vơi bớt đi” [1.99].
Lý do ngời hoạ sĩ đa ra phải chăng chính là sự lãng quên, vô trách nhiệm của conngời chúng ta khi trở về với nơi thân thuộc trong cuộc sống sung túc thì lập tứcquên hết mọi chuyện ngày hôm qua? Ngời hoạ sĩ lại viện ra lý do khác cho chínhmình :
“Tôi là một nghệ sĩ chứ đâu phải là một anh thợ vẽ truyền thần công việc của
ngời nghệ sĩ là phải phục vụ cả một số đông ngời, chứ không phải phục vụ một ngời? Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh Anh hãy chịu
để cho tôi quyên đi, để phục vụ cho cái mục đích lớn lao hơn” [1.100]
Lý do này ngời hoạ sĩ đã nấp vào cái bóng chung của nghệ thuật, lấy cáibóng ấy che đậy cho tội lỗi của mình Nghệ thuật chỉ phục vụ chỉ phục vụ cho số
đông, cho mục đích lớn lao của cộng đồng còn lợi ích cá nhân phải bỏ qua hoặctạm gác lại hay hy sinh nó đi
Đó chỉ là cái cớ ngời hoạ sĩ biện hộ cho tội lỗi của mình, một cách biện hộkhông thuyết phục Nếu chúng ta chú ý quan sát cách c xử thờng tình của một
Trang 24con ngời có đạo đức thì hiển nhiên không có một lý do nào có thể biện hộ cho tội
lỗi đó đợc Trong trờng hợp này ngời hoạ sĩ đã không đủ can đảm để ra đầu thú“ ”với ngời thợ cắt tóc – ngời lính cũ, nhng lơng tâm của anh lại không để cho anhquên đi cái tội lỗi ấy, đó chính là bi kịch dành cho ngời hoạ sĩ Bi kịch của ngờihoạ sĩ trong truyện diễn ra khá phức tạp, vấn đề lơng tâm trách nhiệm của cánhân đợc Nguyễn Minh Châu đặt ra khá rạch ròi, cụ thể là đối với ngời hoạ sĩ:Nếu anh là ngời có lơng tâm có đạo đức liệu anh có cho phép mình vô ơn đối vớingời lính dẫn đờng vô danh trong xã hội nhng lại có công cứu sống mình? Khinhận ra tội lỗi kia liệu anh có ra đầu thú không? Anh có dám gánh vác một phần
trách nhiệm về hậu quả mà mình gây ra? Còn ở góc độ ngời hoạ sĩ phải chăng “vì
mục đích phục vụ số đông” mà cho phép anh ta có quyền lừa dối coi lời hứa ấy
chỉ là phép xã giao thông thờng.Trớc nỗi đau kia anh ta có hoàn toàn dửng dngvô can khi mà đã tìm ra lý do bào chữa cho chính mình? Để diễn tả nổi đau rằnvặt tự vấn lơng tâm tự nhìn lại mình, Nguyễn Minh Châu sử dụng thủ pháp miêutả tâm lý, độc thoại nội tâm Nếu trớc 1975 thủ pháp miêu tả tâm lý cha đợc sửdụng thì sau 1975 thủ pháp này đợc ông chú trọng sử dụng nh một nét mới trongkhám phá và xây dựng nhân vật Nhân vật dới thủ pháp này sự tự nhận thức thểhiện khá rõ nét qua mối quan hệ với những ngời xung quanh, tự bộc lộ mình vớicảm xúc chân thật nhất Với việc đi sâu vào mọi ngõ ngách của tâm hồn cùng vớibút pháp độc thoại nội tâm nhân vật đợc tiếp cận từ nhiều hớng Ngời hoạ sĩ saukhi sau khi nhận ra tội lỗi của mình, anh ta đã nhiều lần chạy trốn khỏi cái quáncắt tóc ấy Thực ra anh ta đang chạy trốn quá khứ cũng nh tội lỗi của mình Nhnglàm sao anh có thể chạy trốn đợc khi chính anh không phải là ngời vô tâm, khitội lỗi kia đang hiện rõ trớc mắt anh : ngời mẹ nhớ con khóc mù cả mắt, tấm ảnh
ấy lại treo ngay trớc mặt gợi nhớ lời hứa ngày trớc của anh.Trong lần đầu khi anhngửa cổ lên cho ngời thợ cắt tóc làm công việc của mình, nhân vật hoạ sĩ đợc
miêu tả với cảm giác “da mặt dày hơn” Ngời hoạ sĩ bắt đầu nhận thức dợc tội lỗi kia của mình, chính lỗi lầm ấy khiến ngời hoạ sĩ thấy :“Tôi chỉ muốn kéo một cái
mặt nạ hoặc bé xíu lại nh hạt đậu” Nhân vật hoạ sĩ bày tỏ cảm giác tội lỗi kia
đang rằn vặt với chuyện rọn nhà :“Khi ngời ta phải thay đổi chổ ở, có những thứ
đồ đạc tởng nh biến mất từ lâu, lục lọi tìm kiếm khắp không thấy thì tự nhiên lòi mặt ra tận trong góc tủ, dới gầm dờng Có những thứ đồ đạc vô nghĩa, có những thứ gợi một chút kỷ niệm đẹp đẽ Có những thứ đồ đạc gợi lên một câu chuyện chẳng hay ho gì, tuởng đã quyên hẳn cái chuyện đó thì bây giờ cái đồ vật lại từ
Trang 25xó xỉnh bụi bặm từ xó tối từ từ bò ra, cái vật vô tri lại thủ thỉ nói chuyện với anh, khiển trách anh, lên án anh” [1.98]
Nhân vật hoạ sĩ so sánh nh vậy nhằm nói đến một tội lỗi mà anh ta vô tìnhhay cố ý gây ra, tởng rằng nó đã trôi qua hôm nay nó lại có dịp sống lại trong anh
và khiến anh đau khổ Lần thứ nhất khi đến quán cắt tóc anh có sự dằn vặt tự vấn
“Tại sao ngày ấy tôi không đa tấm ảnh đến cho gia đình anh? mà tôi còn nhớ, tôi
đã hứa với anh với cả tôi nữa, đinh ninh và hùng hồn lắm và cũng thực tâm lắm
chứ ? ” [1.98] Lần ấy cuộc đấu tranh t tởng dẫu có gay gắt nhng ta vẫn cha thấy
đợc cái nguy hiểm lấy lợi ích cộng đồng làm lá chắn cho hành vi sai trái của cánhân Lơng tâm anh không cho phép anh thờ ơ hay lạnh nhạt mà nó càng rằn vặtanh rối rít hơn Nếu lần thứ nhất anh đến quán cắt tóc vô tình nhận ra tội lỗi củamình thì lần tứ hai đến cái quán ấy anh ta càng thấy rõ tội lỗi ấy qua cuộc tròtruyện với vợ ngời thợ cắt tóc Lần thứ ba đến cái quán ấy song nó đã đợc chuyển
đi chổ khác, anh ta hoàn toàn có thể “tẩu thoát” tội lỗi ấy mà không ai hay Nhng
trong không gian của cái quán cắt tóc, nó đang chứa đựng một bi kịch của anh vìvậy anh cứ trở đi trở lại cái quán đó Cái quán ấy vẫn vẫy gọi anh, l ơng tâm anhkhông để cho anh yên do đó anh không thể không đến đó Vì vậy lần cuối khi
đến cái quán ấy bi kịch trong anh lên đến mức cao trào, trong không gian bé nhỏngòi bút Nguyễn Minh Châu không bị phân tán vào việc miêu tả các khung cảnhkhác mà tất cả đợc tập trung đi sâu vào khai thác bi kịch tinh thần đang diễn ra
dữ dội trong con ngời hoạ sĩ Trong anh đang sống lẫn lộn ng“ ời tốt kẻ xấu, rồng phợng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ? ” [1.106], hàng loạt các câu hỏi, các câu
trả lời tự vấn lơng tâm đang diễn ra và hình ảnh bức tranh tự hoạ đã thể hiện đầy
đủ nhất bi kịch của ngời hoạ sĩ Không gian nhỏ hẹp làm nổi bật bi kịch đau đớncủa một con ngời điều mà không gian rộng lớn không có đièu kiện đi sâu làm rõ
Kiểu không gian này còn đợc thể hiện ở truyện Sắm vai Một bi kịch “sắm
vai” đầy đau đớn đợc thể hiện ngay trong căn phòng nhà văn T Nhà văn T là
“một ngời dám tớc bỏ hết mọi cái phù phiếm những lớp vỏ bề ngoài vô bổ, tất cả
những gì lấp lánh có thể lừa dối mình và ngời khác, trong cuộc sống hàng ngày của chính mình”[1.233] Con ngời ấy có giờ giấc sinh hoạt làm việc không giống
ai trong khu tập thể mà anh ta sống: Buổi sáng hàng trăm con ng“ ời thức dậy hối hả tập thể dục, ăn sáng, chải tóc thì anh T vẫn ngồi viết ”[1.235] Con ngời ấy
“hoạ là có sấm sét đánh hay bom nổ hoặc động đất thì mới có thể nhấc anh
quẳng ra khỏi những trang bản thảo”[1.235] Một ngời có cách sống cẩu thả, căn
Trang 26phòng anh thích để trống cho nó rộng rãi và thoải mái Nhng anh ta bổng chiềutheo ý thích của ngời vợ mà từ bỏ hết tất cả thói quen, nếp sống của mình để trở
thành một anh chàng hào hoa, có vẻ ngoài rất thời thợng Chúng ta đã biết “Sắm
vai” trên sân khấu là một việc rất khó dù đó là một diễn viên chuyên nghiệp có
tài, huống chi việc “Sắm vai” trong cuộc sống của một ngời quen với cách sống
của mình nay phải bắt trớc những ngời khác thì càng khó khăn hơn Con ngời ấy
đã từng khẳng định: “trong những cái đánh mất, có thể đánh mất vàng bạc châu
báu nhng không đợc đánh mất mình” [1.236],vậy là từ chổ anh ta có nếp sống
sinh hoạt riêng bây giờ cũng thức dậy sinh hoạt nh mọi ngời Từ chổ căn phòng
để trống không nay đợc chất đầy đồ đạc Bên cạnh đó anh còn trau truốt cho bản
thân: lắp răng giả cho đẹp hơn, anh còn đi may quần áo mới, mấy cái áo sơ mi“
toàn là màu còn trẻ cả ”[1.237] Cha hết anh còn nhuộm tóc “mái tóc của anh trở nên đen nh mun chứ không phải lốm đốm bạc nữa, lại còn lợn trớc trán
”[1.237] Nh vậy là anh ta đã thay đổi một sự thay đổi đầy đau đớn với một ngời
từng tâm niệm : “Sống làm sao có thể làm việc đợc là cả một nghệ thuật, nhất
thiết phải làm giảm bớt đi những cái rờm rà, phiền toái đi ”[1.239] Một ngời đã
từng có một lối sống riêng ấy chỉ mong muốn làm sao dồn hết tâm huyết đến
công việc thì nay “khuôn mặt anh T bây giờ nh bị chia đôi ra một bên đầu suy
nghĩ lơ đễnh của ngời nghệ sĩ sáng tạo, một phía bên kia lại hết sức vui vẻ, trẻ trung nh một ngời hoá trang dở cha song” [1.240] và bây giờ đến tiếng cời anh
cũng thấy “lạ lùng và đáng thơng Trong căn phòng ấy đã và đang chứng kiến một bi kịch “sắm vai” chẳng phù hợp với anh - ngời diễn nó một chút nào Khi
phải trải qua nhiều cảnh diễn, trong t cách một con ngời mới anh thấy nó hoàntoàn xa lạ với mình và nó cũng tạo cho anh một bi kịch đau đớn, xót xa Cuối
cùng anh nhận ra việc “sắm vai” đó là không thể tiếp tục đợc nữa và anh đã trở
lại với chính con ngời thật của mình Không gian chật hẹp là không gian bi kịchcủa việc đánh mất mình và trở lại với chính mình của nhà văn T
Thể hiện rõ nhất bi kịch của nhân vật trong không gian nhỏ hẹp là truyện
Bến quê Nhân vật Nhĩ đang trong một tình trạng đặc biệt: bệnh nặng, sắp chết,
đang nằm trên tấm phản sát cửa sổ nhà mình bất ngờ phát hiện ra không gian
Bến quê ngay cạnh cửa sổ Điểm nhìn không gian này có đợc là nhờ vợ anh đang
chăm sóc ngời chồng toàn thân bất toại: “chải tóc cho chồng xong, Liên đỡ anh
ngồi dậy”[1.286] Qua điểm nhìn này, Nhĩ thấy rõ “những tia nắng sớm đang từ
từ di chuyển từ mặt nớc bên này lên những bãi bờ, và cả một vùng phù sa lâu đời
Trang 27của bãi bồi ”[1.287] Bên bến sông quê ấy “lúc này đang phô ra trớc khuôn cửa
sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá nh da thịt, hơi thở của đất màu mỡ ”[1.287], đó là không gian
rất gần gũi với anh ngay bên cạnh cửa sổ nhà mình Suốt cuộc đời anh “không sót
một xó xỉnh nào trên trái đất ” mà anh cha đặt chân tới Nhng với không gian
tuyệt đẹp ấy gần gủi thế mà anh cha một lần đặt chân tới, mong muốn duy nhất
của anh lúc này là một lần đợc đặt chân sang bên kia sông nhng lúc này “lực bất
tòng tâm” Cái niềm hy vọng mong manh ấy anh gửi gắm hoàn toàn vào đứa con
của mình Tuy nhiên, nh một sự lặp lại, đứa con cứ chơi hết chổ này đến chổkhác mà không sang bên kia sông Bi kịch đau đớn của nhân vật Nhĩ đợc tác giảthể hiện qua sự chuyển đổi không gian.Từ không gian bên kia bến sông rộng rãi,cao thoáng, bây giờ không gian ấy bị thu hẹp lại, ai tiếp sức cho anh? Mấy đứa
trẻ hàng xóm xuất hiện với “những ngón tay chua lòm mùi nớc da ” chúng “rất
n-ơng nhẹ giúp anh đi nốt nửa vòng trái đất từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản khoảng cách chừng 50 phân ” [1.291] Nhờ vậy, anh nhìn thấy cánh buồm, con
đò ngang mỗi ngày một chuyến Anh lo con mải chơi chậm chuyến đò Anh buồn
bả nghĩ về sự quanh co của cuộc đời và hối tiếc rằng mình “ đã từng trải, từng in
gót chân khắp mọi chân trời xa lạ ” [1.292] giúp anh nhận ra sự “giàu có lẫn
mọi vẻ đẹp” chính niềm khám phá giống nh một niềm say mê pha lẫn với nổi ân
hận đau đớn Chính trong không gian ngôi nhà, không gian chiếc giờng ấy thểhiện bi kịch đau đớn của Nhĩ là: mong muốn một lần đợc thám hiểm trên mảnh
đất quê hơng nhng nó khó thực hiện đợc khi anh đang toàn thân bất toại Tâm lýcủa nhân vật Nhĩ diễn biến trong không gian nhỏ hẹp khung cửa sổ, căn nhà vàtấm phản, không gian khung cửa sổ ấy nh thể hiện sự bất lực, giam hãm con ng-
ời, thể hiện sự vô vọng của Nhĩ khi ớc mơ tởng chừng rất đơn giản, rất bình dịnhng không bao giờ Nhĩ thực hiện đợc
Tạo dựng không gian nhỏ bé là một cách để Nguyễn Minh Châu đi vàokhám phá bi kịch, nổi đau của cá nhân con ngời một cách cô đúc và rõ nét
2.1.2.2 Không gian của niềm hạnh phúc đồng thời là không gian của
sự đau khổ
Với không gian này, nhân vật đợc đặt vào hoàn cảnh mang tính chất tơngphản nhau qua đó phần nào làm cho bi kịch của nhân vật thêm đau xót Trớc đótrong khung cảnh ấy nếu nhân vật đợc sống và hởng thụ niềm hạnh phúc thì saunày cũng với khung cảnh ấy nhân vật lại phải sống trong đau khổ trong bi kịch
Trang 28của cuộc đời Do đó ta thấy rằng khi tạo dựng loại không gian này tác giả vừa thểhiện đợc niềm vui, niềm hạnh phúc đồng thời thể hiện niềm đau đớn của nhân
vật Trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa nhân vật tôi – nhà nhiếp ảnh - đợc
tr-ởng phòng giao nhiệm vụ chụp ảnh có cảnh sơng mù để làm lịch cuối năm Nhân
vật tôi sau bao ngày phục kích tình cờ phát hiện một bức tranh rất đẹp và có thể xem là một cảnh đắt“ ” mà trong cuộc đời cầm máy nhân vật tôi không mấy khi
bắt gặp Không gian lúc này đợc miêu tả “trời đầy mù từ biển bay vào lại lác đác
mấy hạt ma” [1.254] và bức tranh hiện ra “trớc mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh hoạ cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè và bầu sơng mù trắng nh sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào ”[1.255].
Đó chính là bức tranh nghệ thuật rất đẹp một sự phát hiện hoặc một sự “gặp may”
của nhân vật tôi bằng cách nào cũng đợc và chính nhân vật tôi đã phát hiện và
chụp lại bức tranh tuyệt đẹp ấy “toàn bộ khung cảnh từ đờng nét đến ánh sáng
đều hài hoà và đẹp một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích” [1.255].Trong không gian
biển, đẹp mơ mộng, huyền ảo nhân vật tôi sung sớng nh đã “phát hiện ra chân lý
của sự hoàn thiện” Nhng rồi niềm hạnh phúc của nhân vật tôi cha đợc bao lâu.
Giữa không gian ấy, nhà nhiếp ảnh còn phát hiện ra tấn bi kịch đau khổ củanhững ngời ng dân Nhân vật tôi chứng kiến cảnh vũ phu của ngời chồng dànhcho ngời vợ ngay cạnh khung cảnh đẹp đẽ ấy Qua đó, nhân vật tôi hiểu thêmcuộc sống khổ sở của những ng dân, do đông con cho nên ngời đàn ông đã trútmọi đau khổ lên ngời vợ thơng yêu của mình Cũng từ sự chứng kiến đó, nhân vậttôi còn phát hiện ra rằng cuộc sống của những ngời phụ nữ trên biển thật là khổ
cực và vất vả Họ phải lao động quần quật, không chỉ làm một cái “máy đẻ ” mà
còn bị chồng đánh đập dã man Họ sống một cuộc sống lệ thuộc vào ngời chồng
Dù bị đánh “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng ”, họ vẫn không dám
bỏ chồng vì “trên thuyền phải có một ngời đàn ông dù hắn man rợ, tàn bạo ”.
Nh vậy với không gian một vùng biển vừa thể hiện niềm hạnh phúc của nhânvật tôi, vừa thể hiện sự đau đớn của cuộc sống ngời phụ nữ trên biển Để sau nàymỗi khi ngắm bức tranh với không gian vùng biển ấy nhân vật tôi lúc nào cũng
thấy “cái màu hồng hồng của ánh sơng mai” và thấy “ngời đàn bà đang bớc ra từ
tấm ảnh”[1.270].
Không gian này ta còn bắt gặp trong truyện Cỏ lau Nhân vật Lực cới vợ
mới đợc mấy ngày anh phải lên đờng phục vụ tổ quốc Chính mấy ngày ấy nhnglại là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời Lực Để thể hiện niềm