Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Mở ĐầU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác là một tác phẩm văn học đặc sắc,
có giá trị sử liệu cao Tác phẩm đợc đánh giá là đỉnh cao của thể kí trong vănhọc trung đại Việt Nam và đánh dấu bớc phát triển mới trong văn xuôi tự sựtrung đại, đồng thời cũng là “tác phẩm kí nghệ thuật đích thực, đầu tiên của ViệtNam” [32, 435]
Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp
cao học với tiêu đề : “Đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự”
2 Lịch sử vấn đề
Thợng Kinh kí sự đợc đánh giá là “một thiên tùy bút hiếm có, một đỉnh cao
của thể kí trung đại, là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực, đầu tiên của Việt Nam”[32, 435] Vì thế, đã có một số công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm này
Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu nh:
Lịch sử văn học Việt Nam - tập 1 (Nhà xuất bản Khoa học xã hội- 1980),
đã đánh giá tác phẩm ở góc độ phong cách : “Lê Hữu Trác đã bỏ xa phong cáchkhoa trơng, bay bớm hay xu hớng truyền kì để ghi lại những câu chuyện bình th-ờng, có thật trong đời sống hàng ngày, không phải của một vĩ nhân xa lạ nào màcủa chính ngay bản thân mình” [24, 320] ở đây, tác giả giáo trình đã thấy đợc
tác phẩm Thợng Kinh kí sự là một “kí sự”, ghi lại những câu chuyện bình thờng,
có thật trong đời sống hàng ngày, chứ không phải là những câu chuyện truyền
Trang 2kì, quái đản nh trong các truyện “truyền kì” trớc đó : “Ta thấy ở đây một sự biếnchuyển về quan niệm văn chơng đợc biểu hiện trong thực tiễn sáng tác” [24,32]
Văn học Việt Nam trung đại, đặc biệt là văn học giai đoạn từ thế kỉ XV
đến XVIII chủ yếu thành công ở thể loại truyện truyền kì Với những câu chuyệnkì ảo, với thế giới nghệ thuật bay bổng của trí tởng tợng, các tác giả giai đoạnnày đã xây dựng những tác phẩm nghiêng về phong cách khoa trơng, thoát li
cuộc sống thực tại Trong bối cảnh chung đó, Thợng Kinh kí sự ra đời, vừa tạo
nên “sự chuyển biến về quan niệm văn chơng” - đó là văn học gắn liền với hiệnthực, phản ánh hiện thực, vừa có giá trị mở đầu cho lối văn kí sự hiện đại Tuynhiên, đây mới chỉ là những nhận xét khái quát, sơ lợc về tác phẩm ở góc độphong cách và sự chuyển biến trong quan niệm văn chơng Nhng phong cách đóbiểu hiện ra sao, sự chuyển biến nh thế nào thì công trình cha chỉ ra cụ thể đợc Với giáo trình Việt Nam Văn học sử giản ớc tân biên - tập 1 (NXB Đồng
Tháp - 1996), Phạm Thế Ngũ đã có cái nhìn khá đầy đủ về thể loại kí, cũng nh
tác phẩm Thợng Kinh kí sự Ông cho rằng : Thợng Kinh kí sự “là một tác phẩm
hiếm có và đặc sắc về nhiều phơng diện trong văn học sử chữ Hán nớc ta xa”
[35,122] Bên cạnh đó, ông còn thấy đợc Thợng Kinh kí sự, cùng với một số tác
phẩm tiêu biểu khác đã góp phần phản ánh bộ mặt xã hội phong kiến Việt Nam:
“Duy chỉ ở mấy trang kí, nhất là ở tập du kí độc nhất vô nhị này, ngời đọc mừng
rỡ bắt mạch thấy một chút gì sát thực, linh hoạt về nếp sống xa cùng con ngời a” [34,126] Công trình chú ý đến giá trị phản ánh hiện thực xã hội của tác phẩm
x-Ông cho rằng: Thợng Kinh kí sự nhiều đoạn nh một cuốn phim lịch sử phản ánh
khá đầy đủ chân thực chốn thâm cung của các Trịnh vơng : “Tác giả dẫn chúng ta
đi dự cuốn phim xa xa của một giai đoạn lịch sử với sân khấu là đất Thăng Long
cổ kính” [35, 216] Tuy nhiên, công trình cha đề cập đến đặc điểm nghệ thuậtcủa tác phẩm
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội - 1999)
của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), có nhận xét: “Cóthể nói trong các tiểu loại của kí thì kí sự gần với truyện hơn cả” [11, 141] Trong
đó: Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tởng, hoặc Thợng Kinh kí sự của Hải
Th-ợng Lãn Ông Lê Hữu Trác là những kí sự tiêu biểu” [11, 141] ở đây, các tác giả
đã chú ý đến vấn đề yếu tố cốt truyện, nhân vật, sự kiện (gần với truyện), chứ
ch-a đề cập đến đặc điểm củch-a kí nói chung và tác phẩm Thợng Kinh kí sự nói riêng.
Trong Văn học Việt Nam nửa cuối Thế kỉ XVIII nửa đầu Thế kỉ XIX (NXB
Giáo dục, Hà Nội - 1999) của: Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận có
Trang 3đánh giá : Thợng Kinh kí sự cùng một số tác phẩm khác nh : Tang thơng ngẫu lục, Vũ trang tùy bút, Truyền kì tân phả, Kiến văn lục,… mà còn có giá trị bảo l đã tạo nên “bớc pháttriển mới của văn xuôi chữ Hán với các loại kí sự, bút kí, tùy bút, truyện ngắn”[17,39].
Tác giả Nguyễn Thị Nhàn trong Bình luận văn chơng trong nhà trờng
(NXB Đại học S phạm, Hà Nội -2006) cũng cho rằng : “cùng với một số tác
phẩm đơng thời nh : Vũ trung tùy bút, Tang thơng ngẫu lục, Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Thợng Kinh kí sự đã phản ánh khá sinh động một phần bộ mặt giai
cấp thống trị đơng thời khi đất nớc đang trải qua những cơn biến động dữ dội”[34,100] Trong bài viết này, tác giả công trình tập trung tìm hiểu nhân vật trần
thuật và nghệ thuật trữ tình để đi đến kết luận : “Qua Thợng Kinh kí sự chúng ta
cùng một lúc nhận biết đợc một phần hiện thực ở chốn thâm cung phủ chúatrong một hoàn cảnh cụ thể và chân dung một thầy lang chân chính, một nhâncách lớn sống vào thời kỳ bão táp của dân tộc nửa cuối thế kỉ XVIII [34,103]
Nh vậy, trong bài viết của Phạm Thế Ngũ và Nguyễn Thị Nhàn thì Thợng Kinh kí sự đợc đánh giá là “hiếm có và đặc sắc về nhiều phơng diện”, là tác phẩm
thể hiện khá sinh động cái tôi cá nhân của tác giả - nhân vật trần thuật và nghệ
thuật trữ tình độc đáo Cùng với một số tác phẩm kí khác, Thợng Kinh kí sự đã
góp phần tạo nên bớc phát triển mới của thể loại kí nói riêng và của văn xuôi chữHán trung đại nói chung Đặc biệt, trong bài viết của Nguyễn Thị Nhàn, tác giả
đã đề cập đến nghệ thuật trữ tình và nhân vật trần thuật – những yếu tố quan
trọng góp phần làm nên giá trị của Thợng Kinh kí sự Song nhìn chung, công
trình mới chỉ đợc đánh giá ở một số khía cạnh cụ thể, chứ cha có cái nhìn khái
quát về đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự.
Nguyễn Đăng Na trong các công trình : Con đờng giải mã văn học trung
đại Việt Nam, (NXBGiáo dục, Hà Nội - 2007), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, (tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội - 2001) đã có cái nhìn khá đầy đủ về thể
loại kí : quá trình hình thành, phát triển, đặc trng thể loại và những nhận xét,
đánh giá khá độc đáo về tác phẩm Thợng Kinh kí sự Ông cho rằng : “Thợng Kinh kí sự là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của Việt Nam Nó không
chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể kí Việt Nam thời trung đại, mà còn là mực
thớc cho lối viết kí sau này” [32,435] Theo ông : “Thợng Kinh kí sự là tác phẩm
kí nghệ thuật đích thực, đầu tiên của văn học trung đại” Bởi lẽ, tác phẩm đợc xâydựng bằng một hệ thống sự kiện đơn giản, đợc ghi chép, theo thời gian đang diễn
ra, đè nặng lên tâm trạng Lê Hữu Trác Đằng sau những sự kiện đơn giản, đợc
Trang 4ghi chép theo thể nhật kí ấy là tâm trạng, là nỗi lòng, là tâm sự của một thầythuốc, một nhà văn, nhà thơ tài hoa Chính vì lẽ đó, tác phẩm không chỉ mangtính chất là một “kí sự”, mà còn có thể xem là một “nhật kí”, một “du kí”, hoặc
một “kí phong cảnh” ở Thợng Kinh kí sự, tác giả đã “kết hợp ở đó nhiều bút
pháp nghệ thuật : du kí, hồi kí, kí phong cảnh, kí ngời, kí việc” [32,439} Đóchính là sự độc đáo của một tác phẩm có sự đan xen giữa tính chất tự sự và trữ
tình Mặt khác, ông cũng thấy đợc : trong Thợng Kinh kí sự, cái tôi cá nhân –
tác giả đợc bộc lộ trực tiếp, mạnh mẽ : “cha bao giờ và cha có một tác phẩm nào
mà cái tôi cá nhân của tác giả đợc bộc lộ một cách mạnh mẽ, rõ ràng nh ở Thợng Kinh kí sự” [32,438] Từ đó, ông đi đến kết luận : “Đến Lê Hữu Trác, thể kí văn
học đích thực đã thật sự ra đời, tạo đà cho hàng loạt tác phẩm kí khác” [32,439]
Tuy nhiên, vấn đề : Đặc điểm nghệ thuật trong Thợng Kinh kí sự vẫn cha đợc
nhìn nhận, đánh giá một cách hệ thống đầy đủ
Trong chơng trình Ngữ văn 11, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội-2007 đã giới thiệu về nội dung, giá trị cơ bản của tác phẩm Thợng Kinh kí sự, đồng thời h- ớng dẫn học sinh tiếp cận giá trị của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh - một đoạn
trích khá tiêu biểu, thể hiện các khía cạnh cơ bản của tác phẩm, từ nội dung đếnnghệ thuật Qua đó có thể giúp học sinh khái quát giá trị của tác phẩm văn học
đặc sắc này, cũng nh hiểu đợc tâm hồn đáng kính của một nhà văn, nhà thơ tàihoa
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số bài viết trên báo và tạp chí đánh giáthành công của tác phẩm, cũng nh những đóng góp của Lê Hữu Trác cho tiếntrình văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Tuy nhiên, vấn đề “Đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự” cha đợc
nhìn nhận đánh giá một cách hệ thống, sâu sắc, đầy đủ Bởi thế, ở luận văn này,chúng tôi mạnh dạn tiếp cận tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đặc điểm nghệthuật của tác phẩm ở các bình diện cụ thể : xử lí đề tài, hệ thống sự kiện, kết cấu,ngôn ngữ, thể loại, để từ đó góp phần đánh giá, nhìn nhận đầy đủ về giá trị độc
đáo của Thợng Kinh kí sự, cũng nh có cái nhìn khái quát về thể kí trung đại Việt
Nam nói chung
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu đề tài này nhằm thấy đợc vị trí của tác phẩm Thợng Kinh
kí sự trong hệ thống thể văn kí sự trung đại Việt Nam nói riêng và trong văn xuôi
tự sự trung đại nói chung Từ đó góp phần thấy đợc vị trí của Thợng Kinh kí sự
Trang 5trong quá trình hình thành, phát triển của thể loại kí nói chung, cũng nh tài năngcủa Lê Hữu Trác- một danh y nổi tiếng - một nhà nho thanh cao - một nhà văn,nhà thơ tài hoa.
3.2 Nghiên cứu đề tài này nhằm thấy đợc đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự, một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của tác phẩm ở các mặt : đề tài, sự kiện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, thể loại, từ đó thấy đợc Th- ợng Kinh kí sự đã đánh dấu bớc phát triển mới của thể kí trung đại.
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Thợng Kinh kí sự là tác phẩm độc đáo của thể loại kí trung đại - cả về
nội dung lẫn nghệ thuật, cũng nh việc thể hiện khá đầy đủ phẩm chất của Lê HữuTrác - với t cách của một nhà nho thanh cao, một nhà văn lỗi lạc, một danh y Đềtài chỉ tập trung tìm hiểu: “Đặc điểm nghệ thuật” của tác phẩm Tuy nhiên cũngcần thấy rằng : tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm có giá trị, bao giờcũng là một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung và nghệ thuật - đó là hình thứcbiểu hiện nội dung, hình thức phù hợp nội dung Nói nh Bêlinxki - nhà phê bìnhNga : “Trong tác phẩm nghệ thuật, t tởng và hình thức phải hòa hợp với nhau mộtcách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa làhủy diệt t tởng và ngợc lại cũng vậy” [29, 19] Tìm hiểu “Đặc điểm nghệ thuật”
của tác phẩm Thợng Kinh kí sự cũng xuất phát từ nội dung tác phẩm và dựa vào
đặc trng chung của thể loại kí Bởi vì, không có một nội dung nào không biểuhiện dới một hình thức nghệ thuật cụ thể ; và ngợc lại không có một hình thứcnào lại không chứa đựng nội dung Bêlinxki-cũng từng nói: “Khi hình thức làbiểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó khỏinội dung có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung, và ngợc lại, tách nội dung khỏihình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức” [29, 19]
4.2 Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về tác phẩm Thợng Kinh
kí sự Tuy nhiên để phục vụ cho luận văn này, chúng tôi chọn những tập sách dới
đây làm t liệu chính cho quá trình nghiên cứu của mình :
- Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam: những vấn đề văn xuôi tự
sự-Nguyễn Đăng Na – NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001
- Con đờng giải mã văn học Việt Nam - Nguyễn Đăng Na - NXB Giáodục, Hà Nội - 2006
- Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) - Nguyễn Lộc
-NXB Giáo dục, Hà Nội - 1997
Trang 6- Bình luận văn chơng trong nhà nhà trờng - Nhiều tác giả - Nhà xuất
bản ĐHSP, Hà Nội - 2006
- Lí luận văn học, tập 2 - Phơng Lựu - Nguyễn Xuân Nam - Thành Thế
Thái Bình - NXB Đại học S phạm, Hà Nội - 1987
- Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 2 - Nguyễn Đăng Na - NXB
Giáo dục, Hà Nội
5 Phơng pháp nghiên cứu
Thợng Kinh kí sự là một tác phẩm độc đáo, tiêu biểu của thể kí trung đại
-một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học - -một tên gọichung cho nhóm thể loại có tính giao thoa giữa văn học và báo chí, một thể loạivăn học phức tạp… mà còn có giá trị bảo lVì vậy, cần phải sử dụng phơng pháp và nguyên tắc sau đây :
5.1 Sử dụng phơng pháp : hệ thống, phân loại, đối chiếu, so sánh, phântích, tổng hợp và khái quát
5.2 Tuân thủ hai nguyên tắc nghiên cứu :
- Nguyên tắc quán triệt quan điểm duy vật lịch sử : đồng đại và lịch đại
- Nguyên tắc quán triệt quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữanội dung và hình thức
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn nêu đợc những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm Thợng Kinh kí sự trên các phơng diện : xử lí đề tài, hệ thống sự kiện, điểm nhìn nghệ
thuật cũng nh kết cấu, ngôn ngữ, sự giao thoa thể loại… mà còn có giá trị bảo lTừ đó, có cái nhìn tơng
đối toàn diện về tác phẩm Thợng Kinh kí sự, cũng nh những đóng góp của Lê
Hữu Trác đối với nền văn học trung đại
6.2 Chứng minh đợc những đóng góp đáng kể của tác phẩm đối với thểloại kí trung đại nói riêng và đối với văn xuôi trung đại nói chung Từ đó giúp
độc giả hiểu đúng, hiểu sâu những vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm kí sự đã đợc
đánh giá là : một thiên tùy bút hiếm có, một đỉnh cao của thể kí trung đại, cũng
nh tâm hồn đáng quý của một danh y lỗi lạc, một nhà văn, nhà thơ tài hoa
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn đợc triển khai qua ba chơng :
Chơng 1: Một số vấn đề lí thuyết về thể kí và kí trung đại Việt Nam
Trang 7Chơng 2: Đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự trên các mặt : xử lý
đề tài, hệ thống sự kiện, điểm nhìn nghệ thuật
Chơng 3 : Đặc điểm nghệ thuật của Thợng Kinh kí sự trên các mặt : kết
cấu, ngôn ngữ, thể loại
Chơng 1
MộT Số VấN Đề Lí THUYếT Về THể Kí Và Kí TRUNG ĐạI
VIệT NAM 1.1 Về thể kí
Kí là một loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự Việt Namthời trung đại Các tác giảt nghiên cứu Lí luận văn học cho rằng : “Kí là một loạithể văn học đặc biệt và phức tạp” [20, 275 ] Bởi kí có nghĩa là ghi chép sự việcgì đó để khỏi quên Với nghĩa đó, kí hàm nghĩa cực rộng, gồm tất cả các văn bảnghi chép về nông nghiệp, thơng nghiệp, về xã hội, về một chuyến đi xa của ai
đó ; hoặc nguồn gốc của một bộ tộc, lịch sử một đất nớc… mà còn có giá trị bảo lTuy nhiên, với t cách
là một thể văn, kí có số phận riêng Ban đầu kí là động từ, nhng sau đó nó đợcchuyển sang danh từ, dùng để chỉ những công văn, giấy tờ mang tính chất hànhchính Rồi nó đợc dùng để chỉ cả những điển tịch, những trớc tác của một số họcgiả cổ đại Với nghĩa ấy, kí gộp vào chúng những tác phẩm văn xuôi nằm trongvăn học chức năng hành chính, văn học chức năng lễ nghi, cũng nh văn học thẩm
mĩ… mà còn có giá trị bảo lVậy, cần hiểu kí nh thế nào cho phù hợp với đặc trng thể loại?
Có ý kiến cho rằng : đặc trng của kí là ở tính chính luận Gần với quanniệm này, có ngời lại cho rằng : đặc điểm của tác phẩm kí là ở tính chủ quan.Gulaép cho rằng : đặc trng của kí ở tính tổng hợp về đối tợng miêu tả, tức khôngphải chỉ là những số phận mà là “những bức tranh về các phong tục, về đời sốngxã hội, kinh tế, chính trị” [19,276] Trong khi đó, nhiều ngời tìm thấy ở kí đặc tr-
Trang 8ng của nó là tính t liệu - tức là phản ánh ngời thật, việc thật Tuy nhiên, xét kĩ,các đặc trng ấy đều chỉ có ý nghĩa góp phần phản ánh đặc trng của kí chứ cha thểgọi tên đích xác, đầy đủ đặc trng của “thể loại văn học phức tạp” này Bởi lẽ, nếunói : đặc trng của kí là ở tính chủ quan thì đặc trng này lại rõ hơn ở loại văn trữtình Còn nếu nói : đặc trng của kí là tính tổng hợp về đối tợng miêu tả thì có thểtìm thấy ở thể loại tiểu thuyết - đặc biệt là ở những tiểu thuyết nổi tiếng củaBanzắc, Đickenx, Thacơrây… mà còn có giá trị bảo lđã từng đợc Mác, Ăng ghen đánh giá là : “nhữngbức tranh xã hội rộng lớn, tỉ mỉ mà tác phẩm của những nhà chính trị, những nhàkinh tế, những nhà luân lí, những nhà thống kê, cũng cha khám phá đợc hết” [19,276].
Từ đó, có thể thấy : định nghĩa về kí cũng nh tìm hiểu kí có đặc trng gì, đó
là điều hết sức phức tạp Nói nh Tô Hoài : “Kí cũng nh truyện ngắn, truyện dài vàthơ, hình thù nó đấy nhng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo vàthích ứng Cho nên, càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn” [23,33 ] Hoặcnhà nghiên cứu Xô Viết Rbinxếp cũng cho rằng : “Về kí, thực tế là không thể nói
đến cái gì xác định đợc đặc trng thể loại của nó [19,277] Việc xác định đặc trngcủa kí không chỉ dựa vào những dấu hiệu bên ngoài mà còn có cách nhìn hệthống từ bên trong Nếu chỉ dựa vào một đặc điểm nh : viết về ngời thật, việc thậthay không, h cấu hay không h cấu,… mà còn có giá trị bảo l không đủ để xác định đặc trng bản chất của
kí Phải có một hệ thống đặc điểm và giữa chúng lại có mối liên hệ nội tại mớilàm nên đặc trng của kí Cần lu ý rằng : kí là một loại văn tự sự, trần thuật nhữngngời thật, việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hcấu, trong vai trò của ngời trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm củakết cấu và cốt truyện,… mà còn có giá trị bảo l thì mới làm nên đặc trng của kí
Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên), NXB Giáo dục, Hà Nội (1999) cho rằng :
Kí : “Một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồmnhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự , nhật
Trang 9Các tác giả Từ điển tiếng Việt, (Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội
Sách Lí luận văn học- tập 2 (Phơng Lựu - Nguyễn Xuân Nam - Thành Thế
Thái Bình, NXB Giáo dục - 1987), có viết :
Kí : “là một loại văn tự sự , trần thuật những ngời thật, việc thật… mà còn có giá trị bảo l Do trầnthuật ngời thật, việc thật, tác phẩm kí văn học có giá trị nh những t liệu lịch sửquý giá, có ý nghĩa và tác dụng rất lớn ngay đối với sự sáng tạo nghệ thuật vềsau”… mà còn có giá trị bảo l[19, 273]
Nhìn một cách tổng quát : trớc hết, kí là một bộ phận cùng với truyện ngắn
và tiểu thuyết chơng hồi, hợp thành văn xuôi tự sự thời trung đại Mặt khác, kí làtên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học.Tuy nhiên, không nên xem những tác phẩm kí là kết quả của sự xâm nhập củabáo chí vào văn học Trớc khi có hoạt động báo chí, trong lịch sử văn học đã có
những tác phẩm kí nổi tiếng nh : Sử kí của T Mã Thiên Mặc dầu cách đây mấy
ngàn năm, nhng tác phẩm này vừa có giá trị sử học, vừa có giá trị văn học Tuynhiên, cũng không thể không thừa nhận báo chí có tác động đến văn học, tínhchất chính luận, thời sự và chiến đấu của báo chí cũng đã thâm nhập vào văn học,nhất là đối với thể loại kí Các tác giả Lí luận văn học cũng cho rằng : “Khôngnên phân biệt kí báo chí với kí văn học một cách cực đoan, nhng cũng không nênxóa nhòa ranh giới giữa kí văn học và kí báo chí” [19 ,273] Điều đó chứng tỏ,giữa kí văn học và kí báo chí luôn luôn có mối liên hệ mật thiết và sự tác độngqua lại lẫn nhau Chúng vừa có điểm tơng đồng : đều tôn trọng tính xác thực vàtính thời sự, nhng vừa có tính khác biệt : ở kí báo chí, tính xác thực phải đợc đảmbảo ở mức tuyệt đối, tính thời sự cũng mang tính chất thật cấp bách, có khi hằngngày, hằng giờ, còn kí văn học không đòi hỏi nh vậy, nó đề cao hơn về chất suynghĩ và tình cảm của chủ thể
Tác phẩm kí văn học xuất hiện ở phơng Tây từ rất sớm (từ chủ nghĩa khai
sáng) và đã có những tác phẩm có giá trị ở Pháp có : Những bức tranh Pari của Mecxiê ; Tự thú của Rútxô ở Đức, có một số tác phẩm của Phoxter, Vecklin… mà còn có giá trị bảo l
Đến chủ nghĩa lãng mạn, mặc dù thể loại kí không thịnh hành, nhng vẫn để lại
Trang 10một số tác phẩm có giá trị đặc biệt, trong “trờng phái tự nhiên” ở Nga, đã có
những tác phẩm xuất sắc : Nhêcraxốp với Những xó xỉnh ở Pêtécbua ; Grigrovich với : Những ngời chơi đàn Sác mansica lang thang ở Pêterpua… mà còn có giá trị bảo l Một số nhà vănNga nổi tiếng khác nh : Hai nơ, Gorki,… mà còn có giá trị bảo lcũng có những tác phẩm kí đặc sắc
ở Việt Nam, những tác phẩm kí nổi tiếng cũng xuất hiện sớm nh : Thợng
Kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ Những năm
1930-1945, chứng kiến sự phát triển mạnh của các tác phẩm phóng sự viết về các
tệ nạn xã hội, mà Ngô Tất Tố với Việc làng, Nguyễn Đình Lạp với Ngõ hẻm ngoại ô; Tam Lang với Tôi kéo xe,… mà còn có giá trị bảo l là những nhà văn tiêu biểu của thể loại kí.Trong văn học cách mạng, loại thể kí bắt đầu từ sáng tác của Nguyễn ái Quốc,những năm hai mơi của thế kỉ hai mơi Sau cách mạng tháng Tám đến nay, có
nhiều tác phẩm kí có giá trị nh Truyện và kí của Trần Đăng, Nhật kí ở rừng của Nam Cao, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tởng, Vỡ tỉnh của Tô Hoài, Sống nh anh của Trần Đình Vân, Ngời mẹ cầm súng của Nguyễn Đình Thi, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Rất nhiều
ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc Tờng
Kí cơ bản khác với truyện (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết)
ở chỗ : trong tác phẩm kí không có một xung đột thống nhất, phần khai triển củatác phẩm chủ yếu mang tính chất miêu tả, tờng thuật Đề tài và chủ đề của tácphẩm kí cũng khác biệt với truyện, nó không phản ánh vấn đề sự hình thành tínhcách của cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh, mà là các vấn đề của trạng tháidân sự nh kinh tế, xã hội, chính trị, và các trạng thái tinh thần nh phong hóa, đạo
đức của chính môi trờng xã hội
Những sáng tác văn học thuộc thể kí là một bộ phận không thể tách rời củanền văn học thế giới nói chung và văn học dân tộc nói riêng Tuy nhiên, việc thừanhận thuộc tính văn học của những tác phẩm ký nhất định đôi lúc còn phụ thuộcvào quan niệm đơng thời ở từng nền văn học ở cái gọi là tính văn học Các đặc
điểm về văn phong, ngôn từ nghệ thuật của những tác phẩm ký phản ánh thuộctính văn học của thể loại, bên cạnh sự gần gũi với văn học trong những nội dung
mà tác phẩm ký đề cập
Ký cho phép tái hiện những thời đoạn lịch sử đã qua trong tiến trình pháttriển xã hội thông qua những bình diện mà nó đề cập Có những tác phẩm chú ý
Trang 11đến việc miêu tả các phong tục qua những nét tính cách tiêu biểu ; có những tácphẩm chú ý miêu tả tính cách xã hội, hoặc dân tộc trong cuộc sống của c dân cácvùng miền qua các thời đại ; các tác phẩm mang âm hởng trữ tình, triết lý Nhiều tác phẩm nghiêng về tính báo chí, tính chính luận, biểu thị sự quan tâmmang tính thời sự đến những trạng thái và xu hớng nhất định của sự phát triển xãhội Bên cạnh đó, là những tác phẩm đậm tính chất liệu, hớng vào tái hiện chínhxác thực tại với những sự kiện có thực, thờng kèm theo sự lý giải, đánh giá tùytheo sự nhạy cảm và cách hiểu của tác giả Dạng thức lấy sự phản ánh chân thực
sự kiện, đối tợng đậm đặc chất t liệu đợc xem nh một thể loại chính luận của báochí Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu vẫn coi đó là một dạng thức ký, thậm chí là
ký văn học
Sáng tác văn học dạng thể ký thờng thịnh hành ở các giai đoạn văn học sửứng với thời kỳ xã hội có khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếpsống mới, làm tăng cờng chú ý đến sự miêu tả các thói tục Có thể thấy những ví
dụ sinh động trong nền văn học thế giới biểu hiện rõ rệt điều này Văn học Ngagiữa thế kỷ XIX, khi sự hỗn loạn xã hội với chế độ nông nô sụp đổ, quý tộc suy
đồi, tầng lớp hạ lu bị bần cùng hóa, ký là một trong những thể loại chủ đạo củavăn học Hoặc nớc Anh đầu thế kỷ XVIII, khi các tạp chí châm biếm đăng nhữngbài phác họa chân dung và cảnh sinh hoạt, đã trở thành ngọn nguồn cho sự nở rộthể kí
Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về ngời thật, việc thật Ngời viết kí miêutả thực tại theo tinh thần của sử học Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học.Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tảkhung cảnh Vì vậy, ở một góc độ nào đó, có nhiều tác phẩm kí gần với truyệnngắn Nhng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, kí có quan
điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không h cấu Nhà vănviết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống đợc phản ánhtrong tác phẩm Sự việc và con ngời trong kí phải xác thực hoàn toàn và có địachỉ hẳn hoi Bởi lẽ, kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh
động, chứ hầu nh không xây dựng các hình tợng mang tính khái quát
Kí bao gồm nhiều thể văn nh : bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí, nhật kí,… mà còn có giá trị bảo lTrong số đó, kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc - câu chuyện có thật.Tất nhiên, đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chânthực, tinh tờng của nhà văn trớc sự việc Khác với tạp kí, kí sự chọn cuộc hành
Trang 12trình với những cuộc gặp gỡ, làm việc thù tạc, qua đó nhà văn gửi gắm tâm sự
của mình về hiện thực cuộc sống, chẳng hạn nh : Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Kí sự Cao Lạng của Trần Đăng
Kí xuất hiện trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ X
đến XIV, dới dạng văn khắc và tự bạt Nhìn chung ở giai đoạn đầu này, kí vẫngần gũi với văn học chức năng ; là văn học chức năng lễ nghi Từ thế kỉ XV - đếnthế kỉ XVII là giai đoạn phát triển của kí - với thể tự bạch và một số thiên mangtính chất kí xen vào trong một số tác phẩm tự sự Phải đến giai đoạn từ cuối thế
kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX kí trung đại Việt Nam mới bớc vào giai đoạn pháttriển rực rỡ, thu đợc nhiều thành tựu đáng kể Nó không chỉ phát triển đa dạng vềthể loại, về nội dung, cảm hứng, đề tài, mà còn có những tác phẩm đạt thành tựunghệ thuật rực rỡ
Tóm lại, kí là một lĩnh vực văn học đặc thù, bởi lẽ, nó là tác phẩm vănxuôi, tái hiện các hiện thực đời sống và nhân vật nh là các sự thật xã hội, khôngtô vẽ Tâm thế ngời viết kí và ngời đọc kí khác hẳn tâm thế ngời viết và đọc vănhọc tự sự Đó là hình thức văn học để chiếm lĩnh các sự thực ngoài văn học của
đời sống Ngời đọc tìm đến kí ở các dạng nh : kí sự, phóng sự, bút kí, hồi kí, nhật
kí, truyện kí, du kí, … mà còn có giá trị bảo l là tìm đến các sự thật của đời sống không đợc đa vào lịch
sử, cũng cha đợc hóa thân vào các hình tợng nghệ thuật bay bổng của trí tởng ợng Chính điều đó đã làm cho kí có một sức sống riêng, trở thành một lĩnh vựcvăn học đặc thù, không thể nhập chung vào các loại khác
t-1.2 Về thể kí trong văn học trung đại Việt Nam
Nh trên đã nói : trong văn học, kí là một loại hình văn học phức tạp nhấttrong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Nhng bên cạnh đó, kí cũng là thểloại có vị trí then chốt đối với sự hình thành, phát triển của văn xuôi trung đại.Nói nh Trần Đình Sử : “Kí là một thể loại văn hết sức nổi bật của văn xuôitrung đại Việt Nam” [41, 542 ] Điều đó cũng có nghĩa là : kí là một thể loạiphức tạp, nhng cũng giữ vai trò khá quan trọng trong tiến trình phát triển củavăn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng
Quá trình phát triển của văn học trung đại thực chất là quá trình hìnhthành, phát triển các thể loại, thể tài văn học Kí trong văn xuôi tự sự là một bộphận của văn học, nó cũng chịu sự tác động của các quy luật chung Vì vậy, kíViệt Nam thời trung đại cũng rất phát triển, đạt đợc nhiều thành tựu
Trang 13Trớc hết, cần thấy rằng : kí là một bộ phận cùng với truyện ngắn và tiểuthuyết chơng hồi hợp thành văn xuôi tự sự và chủ yếu đợc viết bằng chữ Hán d-
ới hình thức các văn thể Trung Hoa Kí Việt Nam thời trung đại tiến triển quabốn giai đoạn :
Giai đoạn thứ nhất : Thế kỉ X - XIV- không chỉ là thời kỳ đặt nền móngcho loại hình truyện ngắn, mà còn đặt nền móng cả dòng tự sự viết dới dạng kí.Giai đoạn này “kí lại phải dựa hòan toàn vào văn học chức năng, là văn họcchức năng, trong đó đa phần là văn học chức năng lễ nghi” [32, 414] Mặt khác,giai đoạn này, cuộc sống xã hội lại không đặt ra nhu cầu về kí, vả lại “kinhnghiệm viết kí của ta còn quá khiêm nhờng” [32,415] Vì vậy, loại kí viết tự do,viết bằng tập, bằng quyển cha có điều kiện ra đời
Giai đoạn thứ hai : Thế Kỉ XV - XVIII, với sự biến động lớn của xã hội ;văn học có sự đổi mới và phát triển khá rõ “Sự bùng nổ về tác phẩm su tầm,san định cũng nh sáng tác trên mọi lĩnh vực, từ thơ ca trữ tình đến văn xuôi tự
sự, từ văn học viết bằng chữ Hán đến văn học viết bằng chữ Nôm, từ văn họcchức năng đến văn học nghệ thuật đã làm cho các thể văn tự bùng nổ theo”[32,423] Kí dới dạng “tự bạch” đến hậu kì trung đại tách dần ra bằng mônkhoa học riêng (nghiên cứu, phê bình, kí văn học) và chia tay với văn xuôi tự
sự Song, nó đã đặt nền móng cho loại hình kí nghệ thuật Trong đó: “tự bạch làtiếng nói cá nhân ngời cầm bút, khi vai trò cá nhân cha trực tiếp bộc lộ thì thể
kí đích thực cha thể ra đời” [32,425]
Bên cạnh đó, từ thế kỉ XV-XVII, còn xuất hiện một số tác phẩm văn xuôi
tự sự khác: Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) Các tác giả này vừa là những
ngời đặt nền móng cho thể kí Việt Nam thời trung đại, vừa là đại diện chonhững tác giả kí thế kỉ XV- XVII Bằng cách kết hợp những đoạn suy t và bìnhgiá đối tợng mình đang phản ánh vào cuối mỗi thiên tự sự, Hồ Nguyên Trừng
đã đặt đợc một chân lên biên giới của thể kí Đến Lê Thánh Tông và NguyễnDữ, các tác phẩm của họ đã đi những bớc đầu tiên trên lãnh địa của kí bằng con
đờng dựng lên những nhân vật của thế giới khác để đối thoại trực tiếp về thờicuộc Tuy nhiên, nếu xét kĩ thì tính chất truyện trong các tác phẩm của LêThánh Tông và Nguyễn Dữ mạnh hơn tính chất kí
Đặc điểm nổi bật của văn xuôi tự sự giai đoạn này là : kí cha thành một thểriêng, nó chỉ là một bộ phận nhỏ nằm trong tác phẩm tự sự Kí chỉ thực sự ra
đời khi ngời cầm bút trực diện trình bày đối tợng mình đang phản ánh bằng
Trang 14cảm quan của chính mình Thế kỉ X - XV cha làm đợc việc đó vì cái tôi cá nhâncha thoát ra đợc khỏi cái vỏ của cộng đồng Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng :ranh giới giữa truyện và kí là hết sức mong manh Vả lại, trong văn xuôi tự sựViệt Nam thời trung đại, thể loại của chúng không “thuần chủng”, tạo ra mộtgiai đoạn “văn, sử, triết bất phân” Có thể thấy dấu hiệu của kí xuất hiện trong
một số tác phẩm tự sự nh : Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (Một số thiên thể hiện đợc tính chất kí : Đức tất hữu vị, Phụ đức tinh minh, Điệp tự thi cách … mà còn có giá trị bảo l Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tôn (Trong đó có 4 chơng đợc viết) ;
dới dạng kí : Thiềm thì miêu duệ kí, Lỡng Phật đấu thuyết kí, Hiếu đễ nhị thần
Giai đoạn thứ ba : Thế kỉ XVIII-giữa Thế kỉ XIX-Thể kí trung đại ViệtNam bớc vào giai đoạn phát triển rực rỡ, thu đợc nhiều thành tựu đáng kể
“Sáng tác văn học thể kí thờng thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử ứng vớithời kì xã hội có sự khủng hoảng các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới,làm tăng cờng chú ý đến miêu tả các thói tục” [3, 180] Thế kỉ XVIII- XIX đầybão táp và biến động Cùng với văn học trung đại nói chung, văn xuôi tự sự nóiriêng có bớc chuyển mới : phản ánh trực tiếp, phản ánh tức thời những điều mắtthấy tai nghe, những điều đang xảy ra quanh ta Các tác giả giai đoạn này cốgắng viết về “ngời thật, việc thật”, cố gắng bám sát các sự kiện đơng thời Đó là
lí do để thể kí - một thể loại “tôn trọng sự thật” ra đời
Kí Việt nam thế kỉ XVIII - XIX có nhiều chuyển biến độc đáo, chúng đã :
“hoàn toàn phá cách, sáng tạo phóng túng, dài ngắn bất định, lời văn tự nhiên,
điển cố biến mất, chỉ còn nhà văn đối diện với sự việc, kể chuyện, trữ tình, bìnhluận” [ 41,574 ]
Mở đầu là : Công d tiệp kí của Vũ Phơng Đề - một tác phẩm có quy mô
đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam - gồm 43 thiên đợc tác giả gắn với tên
thể loại kí : Mộ Trạch Vũ tộc kí, Liêm tiết công thần kí, Thợng th Vũ Quỳnh kí,
Lê Cảnh Tuân kí, Đại Hng hầu kí, áI kê kí, Đào nơng kí, Hậu Bổng Quang Minh tự kí, Đinh Tiên Hoàng kí, Côn Lôn tam hải kí… mà còn có giá trị bảo lTác phẩm không chỉ cógiá trị mở đầu cho thể loại kí (43 thiên của nó đều đợc tác giả xác định là kí
Trang 15), mà còn chứa đựng những t
… mà còn có giá trị bảo l liệu quý về một thời đã qua Hơn thế, Vũ
Ph-ơng Đề còn là ngời có công xới lên trào lu viết kí : Trần Tiến viết Cát xuyên tiệp bút, Tiên tớng công niên phả lục ; Trần Khiêm Đờng viết Niên phả lục; Lê Hữu Trác viết Thợng Kinh kí sự Trần Trợ viết : Tục công d tiệp kí ; Lê Quýnh viết : Bắc hành tùng ; Phạm Đình Hổ viết : Vũ trung tùy bút, Châu Phong tạp thảo…
Nh vậy, thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, kí không chỉ phát triển đa dạng
về thể loại : tiệp kí, tiệp bút, niên phả lục, kí sự, tùy bút,… mà còn có giá trị bảo l mà còn có những tácphẩm đạt thành tựu rực rỡ Có thể thấy, văn xuôi chữ Hán Việt Nam giai đoạnnửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX tiêu biểu hơn cả là loại văn xuôi tự
sự, chủ yếu là văn kí sự ở giai đoạn trớc, kí sự chữ Hán cha phát triển Thànhtựu nổi bật của văn xuôi tự sự chữ Hán những giai đoạn trớc là loại truyện chíquái và truyền kì, nghĩa là những loại truyện dân gian có nhiều yếu tố hoang đ-ờng, quái đản, tác giả ghi lại bằng văn xuôi Có thể nói rằng : thế kỉ XV- XVI
là thế kỉ của truyện truyền kì Với đặc điểm dùng hình thức kì ảo làm phơngthức chuyển tải nội dung, truyện truyền kì sẽ chú ý đến những nhân vật nh :Nam Tào, Bắc Đẩu, thánh thần, tiên phật, ma vơng, quỷ dữ… mà còn có giá trị bảo lĐó là thế giới vừa
h, vừa thực, có cả cái thấp hèn và cái cao thợng, có cả ma và thánh, quỷ và tiên,
đồng thời xen vào cả những cái sinh hoạt thờng ngày Khác với truyện truyềnkì, kí lại hớng về cuộc đời thực tại và tập trung phản ánh ngời thật, việc thật :(việc Lê Hữu Trác lên Kinh chữa bệnh cho chúa Trịnh, cùng với hàng loạt nhânvật có thật nh : Trịnh Sâm, Trịnh Cán, Quận Huy, Đặng Thị Huệ,… mà còn có giá trị bảo ltrong Thợng Kinh kí sự ; hoặc Trần Tiến viết về thân phụ mình trong Tiên tớng công niên phả lục, viết về mình trong : Trần Khiêm Đờng niên phả lục… mà còn có giá trị bảo l.) Kí xuất hiệnvới nhiều hình thức phong phú : ghi nhanh (tiệp kí), tùy bút, ngẫu lục, tạp thuật,
kí sự,… mà còn có giá trị bảo lvà nội dung cực kì đa dạng, đáp ứng nhu cầu phản ánh kịp thời hiệnthực sôi động của xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX
Văn kí sự đạt đợc những thành tựu rực rỡ là biểu hiện của ý thức con ngờikhông thể dửng dng trớc những vấn đề, trớc những biến cố xảy ra trong xã hội
Sử biên niên chỉ ghi chép việc làm của vua chúa, những chuyện “quốc gia đạisự”, không chép chuyện hàng ngày, chuyện sinh hoạt và cách viết lại khô khan
cho nên các nhà văn đã tìm đến loại văn kí sự Trong Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn án, trong Công d tiệp kí của Vũ Phơng Đề, Thoái thực kí văn của Trơng Quốc Dụng, có nhiều bài
kí về sinh hoạt và phong tục Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất là Thợng
Trang 16Kinh kí sự - một tập kí sự đặc sắc của nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác Tác phẩm đã đánh dấu sự phát triển mới của thể kí Việt Nam giai đoạn này Qua Th- ợng Kinh kí sự, tác giả đã ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy và tâm trạng của
ông trong chuyến ra kinh thăm bệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán
Giai đoạn thứ t : nửa cuối thế kỉ XIX, đồng nghĩa với sự kiện lịch sử : thựcdân Pháp xâm lợc Việt Nam (1958), mọi phơng diện trong đời sống xã hội, trong
đó có văn học bị đảo tung Sau khi đạt đến đỉnh cao ở giai đoạn thứ ba (thế kỉXVIII - giữa thế kỉ XIII), kí rơi vào bế tắc
Trong giai đoạn này, thể kí đi theo hai hớng Hớng thứ nhất : tiếp tục
truyền thống viết kí bằng chữ Hán Mở đầu là Giá Viên biệt lục của nhóm tác
giả : Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Ngụy Khắc Đản Họ là một nhóm sứ thầnthay mặt triều đình Đại Nam đi ra nớc ngoài để bàn quốc sự ngoại giao So với
các tác phẩm trớc đó (Tây hành kiến văn kỉ lợc, Hải trình chí lợc ), Giá Viên biệt lục hơn hẳn về quy mô, phong phú gấp nhiều lần về nội dung Mặc dù có
những hạn chế, nhng tác phẩm vẫn đánh dấu bớc phát triển mới về quy mô phản
ánh và đối tợng phản ánh của kí giai đoạn thứ t - nửa cuối thế kỉ XIX Nó chứng
tỏ rằng : kí có khả năng phản ánh đợc những vấn đề quan trọng mà thời đại đặt
ra, những vấn đề mang tầm quốc tế Nh vậy, cuộc xâm lợc của thực dân Pháp vừa
mở ra một cục diện phản ánh mới của thể kí, nhng cũng vừa đẩy thể kí vào sự bếtắc về phơng thức phản ánh
Sau Giá Viên biệt lục là các tác giả kí cuối cùng của thế kỉ XIX : Đặng
Huy Trứ, Nguyễn Trờng Tộ, Họ đều là những ngời tận mắt chứng kiến cảnh
đất nớc từng bớc mất dần chủ quyền vào tay ngời Pháp và đếu có lòng yêu nớc,thơng nòi, muốn cứu dân tộc ra khỏi vòng nguy khốn Vì thế, các tác phẩm của
họ đều có chung một tiếng nói : cứu dân, cứu nớc Kí ở những năm cuối giai
đoạn này chuyển sang dạng đặc biệt : điều trần và kế sách Văn chơng của ĐặngHuy Trứ có nội dung sâu sắc, mang tính chất hùng biện Nhng chính vì thế,những bài viết có tính chất tản mạn của ông thiên về văn nghị luận hơn là kí Vìvậy, thể kí càng rơi vào bế tắc
Sau Đặng Huy Trứ, kí của Nguyễn Trờng Tộ và Nguyễn Lộ Trạch ngả hẳnsang loại hình văn học chức năng : những bản điều trần, những bản trình bàycông việc cần làm nh : cử ngời đi học kĩ thuật, đi học ngoại ngữ, và những kếsách đối với thời cuộc để canh tân đất nớc Nh vậy, có thể nói : đến đây kí truyềnthống đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Trớc thời cuộc mới, kí không thểgiữ mãi lối viết nh xa Nó nhờng bớc cho kí hiện đại ra đời và phát triển
Trang 17Nhìn chung, suốt mời thế kỉ trung đại, kí luôn bám sát hiện thực cuộcsống, phản ánh những vấn đề thẩm mĩ do thời đại đặt ra Trong quá trình pháttriển ấy, kí từng bớc hoàn thiện mình Thời kì đầu, thế kỉ X - XV, kí cha táchkhỏi văn học chức năng, còn là đối tợng, thậm chí kí còn là chính văn học chứcnăng và mang nặng tính lễ nghi Thành tựu nổi bật ở giai đoạn này là các bài kíthuộc loại hình văn khắc Song, trên thực tế chúng đã đặt nền móng cho thể loại
kí ở những giai đoạn sau Giai đoạn thứ hai, thế kỉ XV - XVII, kí chia tay với vănkhắc, phát triển thành thể tự bạt Có thể xem tự bạt là dạng đặc biệt của kí tronggiai đoạn thứ hai Bởi lẽ, ở đây cái tôi cá nhân đợc bộc lộ, ngời viết thể hiện trựctiếp quan niệm về những vấn đề văn học nghệ thuật, về việc su tầm cũng nh sángtác, đặc biệt là tạo điều kiện cho ngời viết có thể trình bày tình cảm và nhận thức
về xã hội, về con ngời- những yếu tố hết sức quan trọng của thể kí Bên cạnh đó,thành tựu thứ hai của giai đoạn này là cuộc thể nghiệm của kí qua một số tác
giả : Hồ Nguyên Trừng với Nam ông mộng lục; Lê Thánh Tông với Thánh Tông
di thảo ; và Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục Họ đã từng bớc tiến sát đến biên
giới của kí và thực sự tạo đà cho thể kí đích thực ra đời Giai đoạn thứ ba- thế kỉXVIII - giữa thế kỉ XIX là thời kì nở rộ và chín muồi của kí Cha bao giờ số lợng
kí lại nhiều nh ở giai đoạn này Chúng không chỉ nhiều về số lợng, cao về chất ợng, lớn về quy mô, mà còn phong phú, đa dạng về phong cách, kiểu loại : tiệp
l-kí, bút l-kí, niên phả lục, kí sự, tùng l-kí, tùy bút, tạp thảo, ngẫu lục, kỉ lợc, chí lợc… mà còn có giá trị bảo l
Có thể nói : trong văn học trung đại Việt Nam, kí giữ một vai trò đặc biệtquan trọng Nhiều tác phẩm kí có giá trị lần lợt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ
mặt đa dạng của đời sống văn học Đến Lê Hữu Trác, với Thợng Kinh kí sự (năm 1783), Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bút (cuối thế kỉ XVIII ), Châu phong tạp thảo (những năm 1795 - 1825), thể kí đã đạt tới đỉnh cao, nở rộ và đa dạng về nội
dung, phong phú về hình thức Những tác phẩm ấy đã phản ánh kịp thời, nhiềumặt của hiện thực đời sống bề bộn, phong phú lúc bấy giờ, đồng thời cũng xứng
đáng là thể loại văn học có những đóng góp đáng kể cho quá trình phát triển củathể loại kí nói riêng, cho văn học trung đại nói chung
1.3 Vị trí của Thợng Kinh kí sự trong văn học trung đại Việt Nam.
Văn học trung đại Việt Nam giữ vị trí cực kì quan trọng, là cơ sở hìnhthành, phát triển của văn học dân tộc, đồng thời cũng là cơ sở giúp chúng ta tìmhiểu toàn bộ nền văn học Việt Nam Bởi lẽ, trong suốt lịch trình gần một ngànnăm phát triển, văn học trung đại Việt Nam đã tạo dựng những truyền thống nghệ
Trang 18thuật riêng cho dân tộc ; trong đó, có sự hình thành phát triển rất quan trọng củacác yếu tố từ ngôn ngữ, thể loại, hệ thống thi pháp, phơng thức t duy nghệ thuật
đến cách tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo truyền thốngnghệ thuật riêng cho mình… mà còn có giá trị bảo l
Nhìn chung, quá trình phát triển của văn học trung đại là quá trình pháttriển của văn tự, của thể loại và của quá trình biến đổi các phơng thức t duy nghệthuật… mà còn có giá trị bảo lTrong đó, mỗi thể loại đều có số phận riêng : hình thành, phát triển, lụitàn Đặc biệt, trong loại hình văn học trung đại có những thể tuy là văn học chứcnăng hành chính hoặc chức năng lễ nghi, song vẫn có những tác phẩm nổi tiếng
nh : Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập và các bài văn bia, văn tựa, bạt… mà còn có giá trị bảo l
Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển trong vòng mời thế
kỉ, qua ba giai đoạn và có những biến động sâu sắc Nếu nh thế kỉ X- XV là giai
đoạn hình thành, thì thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là giai đoạn phát triển rực
rỡ, giai đoạn đơm hoa kết trái và bội thu ở giai đoạn này, văn học trung đại ViệtNam chẳng những phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, mà còn ghi lạidấu ấn bằng những tác phẩm đỉnh cao trong tất cả các loại hình nghệ thuật Riêng
về thể loại văn học có nhiều chuyển biến Trớc hết, văn học chữ Hán đang trên đàphát triển, đặc biệt là văn xuôi tự sự Cùng với truyện truyền kì, thể kí đợc mùa
với những tác phẩm nổi tiếng nh : Công d tiệp kí của Vũ Phơng Đề ; Niên phả lục của Trần Tiến ; Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh ; Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ ; Tang thơng ngẫu lục của Tùng Niên và Kính Phủ và đặc biệt là Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác - một tác phẩm đợc đánh giá là “đỉnh cao của thể kí
trung đại”, là tác phẩm “có tính chất đột phá sáng tạo” Có thể nói : đến Lê Hữu
Trác, với Thợng Kinh kí sự (năm 1783), Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bút (cuối thế kỉ XVIII), Châu phong tạp thảo (những năm 1795- 1825), thể kí đã đạy tới
đỉnh cao và đa dạng, phong phú về hình thức
Thợng Kinh kí sự là tác phẩm kí độc đáo của Lê Hữu Trác nói riêng và của
nền văn xuôi trung đại nói chung Có thể thấy trong văn học lịch triều, đây là mộtthiên tùy bút hiếm có, đánh dấu sự phát triển của văn xuôi chữ Hán, cũng nh thểloại kí trung đại Việt Nam Đây thực sự là một tập kí đầy tính văn học, thuật việc,tả lòng, kết hợp chặt chẽ, làm nổi rõ một nhân cách thanh cao, trong sạch Khimiêu tả thì quan sát tinh tờng, chân thực, tỉ mỉ để làm nổi bật khung cảnh cầnmiêu tả, khi tả lòng thì thành thực, trung hậu và cũng hết sức sắc sảo Vì thế,quang cảnh phủ Chúa Trịnh hiện lên vừa sinh động, vừa hấp dẫn nh có thật, đồng
Trang 19thời ngời đọc cũng thấy đợc tấm lòng đáng kính của bậc danh y lỗi lạc của mộtnhà văn, nhà thơ tài hoa.
Thợng Kinh kí sự không chỉ là một tác phẩm văn học đặc sắc, quý giá, mà
còn có giá trị sử liệu cao Mặc dầu, không có quy mô phản ánh đồ sộ, đầy đủ nh
trong Hoàng Lê nhất thống chí, song ngời đọc vẫn có thể tìm thấy ở đây những t
liệu hết sức quý giá về xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế
kỉ XIX: “Duy chỉ ở mấy truyện kí, nhất là ở tập nhật kí độc nhất vô nhị này, ngời
đọc mừng rỡ bắt mạch thấy một chút gì xác thực, linh hoạt về nếp sống xa cùngcon ngời xa ; [35, 216] Đó là những hình ảnh độc đáo về một giai đoạn lịch sửcủa Kinh thành Thăng Long cổ kính, đó là cuộc sống giàu sang, xa hoa nhngcũng u tối, bệnh tật ở phủ chúa Trịnh, đó còn là hình ảnh khá đầy đủ về nhữngkhuôn mặt lừng danh đơng thời : từ chúa Trịnh đến đám công hầu khanh tớng,
đến cả cái xã hội của những tao nhân, mặc khách … mà còn có giá trị bảo lở đây, cảnh đẹp tơng phảnvới con ngời Cảnh lộng lẫy, xinh tơi nhng con ngời già cỗi, héo hon, nhợt nhạt,
ốm yếu Sự tơng phản đó không chỉ làm nổi bật cách sống xa hoa, lãng phí, vônghĩa lí ở phủ chúa Trịnh, mà còn ngầm chứa thái độ phê phán của tác giả Ngoài
ra, tác phẩm còn để lại những dấu ấn độc đáo trong cách sinh hoạt, trong sự thểhiện quyền uy tột cùng cuả chúa Trịnh… mà còn có giá trị bảo l Vì vậy, dới ngòi bút kí sự sắc sảo của
Lê Hữu Trác, hiện thực ở phủ Chúa hiện lên nh một cuốn phim lịch sử vừa sinh
động vừa chân thật
Cùng với các tác phẩm thơ của Hồ Xuân Hơng, Bà huyện Thanh Quan,
Đoạn trờng tân thanh của Nguyễn Du, bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc của
Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn
phái,… mà còn có giá trị bảo l Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác đã trở thành mẫu mực cho văn học
trung đại Việt Nam và là những đỉnh cao cho đời sau vơn tới Những thành tựu ấykhông chỉ đánh giấu giai đoạn phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam, mà còntạo ra những biến đổi về chất so với các giai đoạn trớc đó
Thợng Kinh kí sự đợc đánh giá là đỉnh cao của thể kí trung đại Việt Nam
và đánh dấu bớc phát triển mới trong văn xuôi tự sự trung đại Thiên kí sự này
đánh dấu trình độ kí sự văn học cổ điển Việt Nam đã đạt đến trình độ cao, có tính
chất đột phá sáng tạo Có thể nói : đến Thợng Kinh kí sự, thể kí văn học đích thực
của Việt Nam mới thật sự ra đời
Trang 20Theo các tác giả sách Lí luận văn học, đề tài là: “khái niệm chỉ loại các
hiện tợng đời sống đợc miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học” [19,
34 ] Nh vậy, đề tài có nghĩa là xác định nhà văn viết về cái gì?
Mỗi thể loại văn học thờng có một mảng đề tài đặc trng Trong đó mỗi tácphẩm lại có một cách tiếp cận hiện thực cuộc sống riêng Đó chính là việc xử lí
đề tài, là cách nhà văn tái hiện hiện thực qua lăng kính chủ quan của mình đểsáng tạo tác phẩm Mặc dù gần gũi với thể loại truyện, nhng đề tài của tác phẩm
kí có khác so với truyện Nó không phải đề cập đến “vấn đề sự hình thành tínhcách của cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh, mà là các vấn đề trạng thái dân
sự (kinh tế, xã hội, chính trị) và trạng thái tinh thần (phong hóa, đạo đức) của bảnthân môi trờng, xã hội” [2, 179] Nh vậy, so với truyện, đề tài của kí bị hạn chếtrong khuôn khổ viết về hiện tại, về những điều mắt thấy, tai nghe, về ngời thật,việc thật Nếu truyện đợc phép đào sâu vào quá khứ, bay bổng bằng tởng tợng,trang hoàng bằng kì ảo (nhất là kiểu truyện truyền kì), thì kí chủ yếu là viết vềhiện tại, ít hoặc không đợc dùng các yếu tố h cấu, các thủ pháp nghệ thuật củathần thoại, sử thi, truyền kì… mà còn có giá trị bảo l Vì thế, không gian và thời gian nghệ thuật trong kíbao giờ cũng cụ thể, gắn với sự kiện và nhân vật đang đề cập tới Kí trung đạiViệt Nam hình thành trong khoảng từ thế kỉ X - XIV và có những tác phẩm đạt
đỉnh cao ở thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, trong đó có Thợng Kinh kí sự của Lê
Hữu Trác
Trang 21Tập Thợng Kinh kí sự đợc viết vào thập niên 80 của thế kỷ XVIII (1782)
-đó là một thời kỳ rối ren của triều đình phong kiến Lê - Trịnh, giai đoạn chính trịkhủng hoảng trầm trọng trớc khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc Giai cấp phongkiến thống trị trong giai đoạn này tỏ ra không còn năng lực quản lí và lãnh đạonhà nớc, chỉ lao vào ăn chơi trụy lạc và tranh giành quyền lợi, sinh ra đâm chémlẫn nhau Nhìn chung, đó là giai đoạn xã hội đầy biến động với những cuộc “thay
đổi sơn hà”
Trong hoàn cảnh lịch sử đầy biến động đó, văn học giai đoạn từ thế kỉXVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX phát triển rực rỡ, đạt đợc nhiều thành tựu trên mọiphơng diện, từ nội dung đến hình thức, đồng thời cũng ghi lại dấu ấn bằng nhữngtác phẩm đạt đỉnh cao trong tất cả các loại hình nghệ thuật Nhiệm vụ chủ yếucủa văn học giai đoạn này là : thể hiện sức mạnh của con ngời Việt Nam, dân tộcViệt Nam ; phơi bày những mặt trái của xã hội ; phản ánh số phận đoạn trờng củanhững kiếp ngời “thấp cổ bé họng”, của những thân phận nhỏ nhoi Từ đó, vănhọc thể hiện khát vọng đập phá những ràng buộc lạc hậu, bất công để vơn tới giảithoát con ngời về tình cảm, về hạnh phúc lứa đôi Nhìn chung, trong văn học giai
đoạn này, ta vẫn có thể gặp lại những đề tài phổ biến của văn học giai đoạn trớc,
đó là đề tài vịnh sử, vịnh thiên nhiên Tuy nhiên, vịnh sử, vịnh thiên nhiên ở đây
đã khác trớc về nguyên tắc : lịch sử và thiên nhiên không còn là hình thức ngụ ýcủa những bài học về đạo đức, mà chủ yếu để nói lên cảm xúc của nhà văn, nhàthơ trớc những đối tợng ấy ; đồng thời qua đó, bộc lộ nhận thức của mình vềnhững vấn đề đặt ra trong cuộc sống trớc mắt Nhìn chung, đề tài cơ bản trongvăn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX không phải là lịch
sử và thiên nhiên, mà là những vấn đề thiết cốt trong cuộc sống trớc mắt Cụ thể
là các tác giả giai đoạn này viết về chiến tranh phong kiến và những tai họa của
nó, viết về sự thối nát của giai cấp phong kiến thống trị, về cuộc sống khổ cựccủa nhân dân, về thân phận ngời phụ nữ, về tình yêu và những ràng buộc khắcnghiệt của đạo đức lễ giáo phong kiến… mà còn có giá trị bảo lNói cách khác, vấn đề mà văn học giai
đoạn này quan tâm trực tiếp là cuộc sống và con ngời Nó phát triển trên hai bìnhdiện bổ sung cho nhau : phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con ngời, đềcao con ngời và đề cao cuộc sống trần tục
Văn học nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX về một phơng diện cóthể gọi là nền văn học phê phán, tố cáo xã hội Các tác giả giai đoạn này đã tậptrung phê phán, tố cáo gay gắt những hiện tợng suy đồi của xã hội phong kiến.Trong những tác phẩm viết theo thể kí bằng chữ Hán, bộ mặt của xã hội phong
Trang 22kiến, của giai cấp thống trị đợc dựng lên khá đậm nét Hoàng Lê nhất thống chí
của Ngô gia văn phái là bức tranh sinh động về cảnh thối nát của triều đìnhphong kiến lúc bấy giờ : vua Lê chỉ là kẻ bù nhìn ; Chúa Trịnh nắm quyền hànhthì u mê mù quáng, gây ra bè đảng trong phủ chúa; quan lại thì bất tài, bất lực, cơhội và tùy thời Bên cạnh đó, một số tác phẩm khác cũng tập trung làm nổi bật
một số vấn đề nóng bỏng, thiết cốt của xã hội nh : Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Nguyễn
án… mà còn có giá trị bảo l Trong bối cảnh chung đó, Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác, mặc dù không có quy mô rộng lớn nh Hoàng Lê nhất thống chí, nhng cũng góp phần tố
cáo những điều xấu xa của xã hội ấy Tác phẩm kể lại cuộc hành trình từ quênhà Nghệ Tĩnh của Lê Hữu Trác ra kinh thành Thăng Long để chữa bệnh choChúa Trịnh, vì Chúa đã biết tiếng tăm lừng lẫy của một đại danh y Đằng sau đó,tác phẩm cũng làm nổi bật tâm trạng của một con ngời cực kì bất mãn đối với xãhội đơng thời, cảm thấy mình “chẳng khác gì một ngời tù”, và thể hiện thái độcoi thờng danh lợi, coi trọng khí tiết, cũng nh tâm hồn tinh tế của một nhà văn,nhà thơ tài hoa
Nh vậy, Thợng Kinh kí sự khai thác đề tài mang tính lịch sử - đó là hiện
thực cuộc sống xa hoa ở phủ chúa Trịnh, từ đó góp phần thể hiện một cách sinh
động hiện thực xã hội đơng thời Nhng điều đáng nói là : Lê Hữu Trác khôngphản ánh hiện thực một cách trực tiếp, mà chủ yếu là qua những dòng kí sự củamột thầy thuốc áo vải, lần đầu tiên đặt chân vào nơi cung cấm Bằng con mắtquan sát khách quan, tỉ mỉ, bằng thái độ phê phán kín đáo của tác giả, hiện thựccuộc sống ở phủ chúa hiện lên vừa chân thực, vừa sinh động nh có thật
Có thể nói, Thợng Kinh kí sự là tác phẩm có sự kết hợp đặc sắc, nhuần
nhuyễn giữa chất “kí” của thể loại kí và chất “sự” của thể loại truyện Đặc biệthơn, tác phẩm còn có sự đan xen yếu tố tự sự và trữ tình để làm nên dấu ấn đặc
sắc Nói nh Nguyễn Đăng Na trong lời giới thiệu về tác phẩm Thợng Kinh kí sự :
“Tuy lấy kí sự, một loại hình văn xuôi nghệ thuật làm thể tài ghi- thuật, nhng âmhởng của tác phẩm nh một bài thơ trữ tình chứa chan niềm tâm sự của tác giả
Đấy là những cảm xúc của “ông già lời” (Lãn Ông) trớc hiện thực về cảnh vật vàcon ngời mà tác giả tận mắt chứng kiến” [29, 219]
Dới ngòi bút tinh tế, sắc sảo của Lê Hữu Trác, hình ảnh phủ Chúa Trịnhhiện lên kín đáo mà rõ nét với những cung điện nguy nga, cầu kì, với những conngời kì dị, vô nghĩa, từ chúa Trịnh Sâm đến ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo,
Trang 23và đám công khanh, quan lại, tất cả đều có cái gì đó mờ mờ, bệnh tật, bất tài, bấtlực… mà còn có giá trị bảo l
Đọc Thợng Kinh kí sự, chúng ta thấy tác giả hết sức ngỡ ngàng trớc cảnh
dân tình khốn khổ, đói kém, loạn lạc mà kinh thành Thăng Long vẫn rực rỡ vàngson, xa hoa, lộng lẫy… mà còn có giá trị bảo l Ông viết trong tập kí: “Khi đến cửa phủ thì đợc ngời dẫn
đi qua hai lần cửa nữa rồi rẽ theo đờng bên trái mà tiến bớc Tôi ngẩng đầu lên coi thì bốn phơng, tám mặt, nơi nào cũng cây cối um tùm, chim kêu, hoa nở, gió thoảng, hơng đa Những dãy hành lang quanh co, nối tiếp nhau Ngời giữ cửa truyền báo rộn ràng, ngời có việc quan qua lại nh mắc cửi” Đó là những hình
ảnh góp phần thể hiện một cuộc sống đầy đủ, thừa thãi đến mức xa hoa, lãng phí.Ngay cả dinh của quan Chánh đờng cũng đợc tác giả miêu tả khá kĩ trong sự giàu
sang, cầu kì : rẽ qua đ“ ờng bên phải đi hơn nửa dặm thì đến nơi ở của quan Chánh đờng, cửa dinh cao lớn, voi có thể vào lọt Hai bên đặt điếm thờng trực, bày binh khí xem rất chỉnh tề Quân sĩ ngày đêm thay thế nhau xét hỏi những ai
ra vào” Và nữa, theo chân tác giả, quang cảnh phủ Chúa hiện ra cực kì lộng lẫy :
“Quanh co hơn một dặm đến đâu cũng lâu đài, gác tía, cửa ngọc, rèm châu ” Rồi
: “Qua dãy hành lang về phía tây thì đi đến một ngôi nhà lớn, vừa cao, vừa rộng, hai bên để hai cỗ kiệu, những đồ nghi trợng đều chạm trổ thiếp vàng ; ở gian giữa kê cao một cái sập ngự cũng thiếp vàng ; trên sập treo một cái võng điều Trớc sập và hai bên sập có kê kỉ án, đồ đạc chẳng thờng thấy ở nhân gian … Lại qua một cửa nữa, đến một cái cầu cao và rộng ở đây, cột đều sơn son, thếp vàng” Trong bữa ăn ông thấy: “chén bạc, mâm vàng, các món ăn đều quí, lạ, mới hay phong vị của đại gia là thế” Khung cảnh xa hoa, lộng lẫy ở phủ chúa đ-
ợc tác giả thể hiện rõ trong những vần thơ tinh tế:
Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt
Cả trời Nam sang nhất là đây.
Lầu từng gác vẽ tung mây
Rèm châu, hiên ngọc, ánh mai ánh vào.
Hoa cung thoảng ngọt ngào đa tới
Vờn ngự nghe vẹt nói đòi phen
Quê mùa cung cấm cha quen
Khác gì ng phủ đào nguyên thuở nào!
Khi vào thăm bệnh cho chúa Trịnh, ông viết: Đi qua chừng bốn năm lớp“
trớng gấm thì đến căn nhà rộng, ở giữa phòng có một cái sập thếp vàng Một
ng-ời ngồi trên sập độ năm sáu tuổi, mặc áo lụa đỏ Có mấy ngng-ời đứng hầu hai bên.
Trang 24Giữa phòng là một cây nến to cắm trên một cái giá bằng đồng Bên sập đặt một cái ghế rồng sơn son thiếp vàng, trên ghế bày nệm gấm.”
Cứ nh vậy, quang cảnh phủ chúa theo nhân vật tôi từng bớc hiện ra cực kì
xa hoa, tráng lệ, không ở đâu sánh bằng Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa vớinhững hành lang quanh co nối tiếp nhau, ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác Khuônviên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân đợc kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh tríthiên nhiên kì lạ Trong vờn, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đa thoangthoảng mùi hơng Bên trong là những đại đờng, gác tía với kiệu son, võng lọng
Đồ dùng của chúa đợc sơn son, thếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều
là mâm vàng, chén bạc, của ngon, vật lạ… mà còn có giá trị bảo l Đến nội cung của thế tử phải trải quasáu lần trớng gấm Nơi ở của thế tử rất sang trọng, có sập thếp vàng, ghế rồngbày nệm ấm, xung quanh lấp lánh, hơng hoa ngào ngạt… mà còn có giá trị bảo l
Bên cạnh đó, nh một cuốn phim lịch sử, Thợng Kinh kí sự còn góp phần
khắc họa những gơng mặt lừng danh đơng thời, song chẳng phải uy nghi lẫm liệttrong vai chúa tể muôn dân, mà hiện nguyên hình là những con ngời tầm thờng,
lo âu, đau đớn, bệnh hoạn ở đó, có một ông chúa Trịnh Sâm lộng quyền, mêmuội, háo sắc, sa đọa, nhng ốm yếu, nằm mệt lả trên võng mà son phấn, lụa làvẫn vây bọc xung quanh ; một thế tử Trịnh Cán ốm yếu, bệnh tật ; một ông quan
đầu triều Hoàng Đình Bảo cơ hội, cả ngày lật đật trong phủ chúa, bồi hồi muốnxỉu khi nghe tin bệnh tình thế tử trở nặng và hàng loạt những công hầu khanh t-ớng vô tích sự, nhiễu nhơng, ăn không ngồi rồi… mà còn có giá trị bảo lĐây là cụ Quận Tào với t thất,kiến trúc nguy nga, với cảnh trí chẳng kém gì trong vơng phủ Đây là quan Thamtụng tả binh hồi hu, tuổi đã cao mà còn ngổn ngang hầu thiếp, cho nên rên xiết
ôm bệnh và phải cầu đến Hải Thợng Lãn Ông Và sau nữa là cái xã hội tao nhânmặc khách của đất Thăng Long ngàn năm văn vật… mà còn có giá trị bảo lTất cả góp phần làm nổi rõ
bộ mặt của cuộc sống vơng giả, giàu sang xa hoa, lộng lẫy nơi phủ Chúa
Ngời đọc không khỏi ngỡ ngàng trớc hiện thực cuộc sống ở phủ ChúaTrịnh Con đờng vào phủ sao mà quanh co, vòng vèo, khúc mắc Thế giới Trịnhphủ tởng nh có đến nghìn cửa, mà cửa nào cũng bị chặn hỏi, cũng ngăn cáchthâm nghiêm Một ngời đợc đặc biệt triệu mời nh Lê Hữu Trác mà chút nữa còn
bị giữ ngoài cửa thì muôn nỗi oan khổ của nhân gian còn mong gì vào đợc saubao nhiêu lần trớng gấm của kẻ cầm quyền!
Trịnh phủ thật là một xứ sở phù hoa, đài các, sang trọng đến lạ lùng Từ
điếm Hậu Mã đến phòng trà kì quặc Một ngời vốn sinh trởng trong chốn phồnhoa nh ông mà vẫn không ngớt thốt lên kinh ngạc Bởi sự xa hoa ấy nằm ngoài
Trang 25tầm hiểu biết và sức tởng tợng của Lãn Ông Có điều, ông kể về sự sang trọng,hoa lệ trong phủ chúa với giọng ngỡ ngàng, nhng không hề mê thích mà điềm
đạm và cả ngầm chứa sự chỉ trích, phê phán, phẫn nộ, xót xa
ở đây, cảnh đẹp tơng phản với con ngời Cảnh lộng lẫy, xinh tơi, ngời giàcỗi, héo hon, nhợt nhạt Ngời nhiều, qua lại nh mắc cửi, nh những cái bóng nhạtnhòa, những tợng ngời câm lặng, cứng nhắc chứ không sống động, linh hoạt Conngời lại tự bng bít, đầy ải mình, quanh năm đèn sáp chiếu sáng, không có ánhmặt trời Nội cung của cha con Trịnh Sâm tự biến thành ngục thất giam hãmnhững kẻ đã thu nhỏ mình vào trong trụy lạc và bệnh hoạn
Tất nhiên, đằng sau đó, ta còn có thể thấy nhiều cái, thấy những nét phongtục, cách c xử, tới lui, cho đến lời ăn tiếng nói trong cái xã hội quí tôc của nớc tacách đây gần hai thế kỉ Đồng thời, tác phẩm còn giúp ngời đọc thấy đợc thái độphê phán kín đáo của Lê Hữu Trác và tâm hồn tinh tế của một nhà văn, nhà thơtài hoa
Các nhà nho xa chỉ hay làm thơ, dù chỉ là một tứ thơ ngắn ngủi, mang tính
ớc lệ Và rất khó tìm thấy trong thơ văn các cụ những dấu vết rộng lớn về xã hội
đơng thời, hoặc một âm hởng sâu xa về tình cảm của tác giả Trong văn xuôi, nhloại truyện chí quái và truyền kì, ngời đọc sẽ đợc tiếp cận với thế giới ảo huyền,với các nhân vật chỉ xuất hiện trong tởng tợng Trong văn xuôi nh loại sử kí, vớibút pháp ớc lệ đã rũ sạch mọi chi tiết, mọi sắc thái về thời gian, không gian Chỉ
ở thể loại kí, các tác giả mới có điều kiện ghi chép, phản ánh hiện thực một cáchsâu sắc, đầy đủ, chi tiết Mặc dù quy mô phản ánh hiện thực không rộng lớn nh
Hoàng Lê nhất thống chí, nhng Thợng Kinh kí sự cũng đã góp phần phản ánh bộ
mặt xã hội đơng thời Có thể nói: “ở tập du kí độc nhất vô nhị này, ngời đọcmừng rỡ bắt mạch thấy một chút gì xác thực, linh hoạt về nếp sống xa cùng conngời xa”[35, 216] Đó chính là tính chất “sự” trong thiên kí sự độc đáo này
Cũng nh một số tác phẩm kí khác, Thợng Kinh kí sự, tập trung phản ánh
hiện thực cuộc sống xa hoa, lộng lẫy nơi phủ chúa Trịnh, từ đó góp phần phản
ánh hoàn cảnh xã hội nớc ta những năm cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX vớinhững biến động sâu sắc Nhng điều độc đáo là : đằng sau những sự kiện mangtính lịch sử đó, tác phẩm còn thể hiện rõ tâm sự, tấm lòng cũng nh những nhậnxét tinh tờng và tâm hồn lãng mạn của một danh y lỗi lạc, một nhà văn, nhà thơtài hoa
Đọc Thợng Kinh kí sự, ngời đọc không khỏi xúc động trớc thái độ của Lê
Hữu Trác về vấn đề công danh bổng lộc Trong cái xã hội mà ngời ngời, nhà nhà
Trang 26đua chen mua danh bán tớc, sống cơ hội, tùy thời, Lê Hữu Trác lại xem đó là mộttai họa Khi nhận đợc lệnh lên Kinh, nhiều ngời cho đó là phúc lộc, còn ông thì
lại “lạnh cả tóc gáy”, “ngời nh ngẩn nh ngơ mất nửa giờ” Ông tâm sự : “Ngời ta thì lấy việc đợc làm quan là mừng, ông lấy việc từ quan là may” Và nữa, ông trả lời với mọi ngời: “Cây kia có hoa nên bị ngời ta hái; ngời ta có cái h danh nên phải lụy về danh Ví bằng trốn cái danh đi có hơn không” ? Vì thế ông cứ thao thức không sao ngủ đợc, sau đó lại bộc lộ tâm sự: “Mình thuở trẻ mài gơm, đọc sách Mời lăm năm phiêu bạt giang hồ, không có cái gì là sở đắc Mình đã xem công danh là vật bỏ, về núi Hơng Sơn dựng lều, nuôi mẹ, đọc sách, mong tiêu dao vui thú trong cái vờn đạo lí của Hoàng Đế, Kì Bá, lấy việc giữ thân mình, cứu giúp ngời cho là đắc sách lắm Nay không ngờ lại bị cái h danh làm lụy đến nông nỗi này” Ông đã thể hiện những dòng tâm sự hết sức cảm động : Chỗ tôi“
ở tuy là nơi hẻo lánh, chỉ đợc cái nhàn hạ, tịch mịch : mây đầu non, trăng mặt biển, lòng tôi lu luyến không nỡ rời Ngày nay không biết đến bao giờ tôi mới đợc trở về vui chơi với hơu nai, nói chuyện với bạn chài, ngời hái củi dới bóng trời chiều ” Tâm sự đó khiến cho một nhà s mà tác giả gặp trên đờng đi cũng phải
ngậm ngùi : X “ a nay, cái bệnh cao lơng đã ăn sâu vào xơng tủy của ngời ta rồi! Tại sao mọi ngời đều mê, riêng cụ lại tỉnh nh vậy?”
Đọc từ đầu đến cuối tác phẩm, ngời đọc sẽ thấy đợc cái tâm của Lê HữuTrác : luôn luôn muốn đợc thoát khỏi vòng danh lợi để trở về quê nhà Ông sợ đ-
ợc Chúa sủng ái, sợ phải ra kinh đô, sợ phải dấn thân vào chốn quan trờng Tâmtrạng ấy đã dằn vặt ông suốt từ lúc lên thuyền ra đi đến khi đợc quay về chốnrừng núi Cứ nh thế, suốt gần một năm trời, một nỗi lòng canh cánh khôn nguôinhớ quê đau đáu, lòng muốn quay về quê hơng, là nguyện vọng duy nhất, là điềuthiết tha nhất của Lê Hữu Trác Ông đã thể hiện cái nhìn của ông tr ớc vinh hoa,phú quý, trớc danh lợi không bao giờ màng… mà còn có giá trị bảo lCái nhìn đó càng đáng quý hơn khixung quanh ông biết bao kẻ cơ hội và tùy thời, tìm mọi cách để lao vào vòngdanh lợi
Sau mỗi sự kiện đợc miêu tả, bao giờ Lê Hữu Trác cũng bộc lộ những nhậnxét tinh tờng của nhà văn Có lúc, đó là những dòng tâm sự đầy tính triết lí, nhng
có lúc lại là những bài thơ tài hoa Điều này khiến cho tác phẩm của Lê Hữu Trác
xa dần với văn học chức năng và trở thành tác phẩm kí “đích thực, đầu tiên của
văn học trung đại” ở đây, tác giả không chỉ trực diện trình bày đối tợng mình
đang phản ánh bằng cảm quan của chính mình, mà còn bộc lộ một cách tinh tếcảm xúc của một nhà thơ, nhà văn tài hoa Điêù đó, khiến cho tác phẩm kí sự của
Trang 27Lê Hữu Trác “mang âm hởng nh một bài thơ trữ tình chứa chan niềm tâm sự củatác giả Đấy là những cảm xúc của “ông già lời” (Lãn Ông) trớc hiện thực về
cảnh vật và con ngời mà tác giả tận mắt chứng kiến” [29,219] Vì thế đọc Thợng Kinh kí sự, ngời đọc đợc tiếp cận với một tác phẩm vừa có giá trị văn học, vừa có
có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn hóa
Tóm lại, Thợng Kinh kí sự khai thác đề tài mang tính lịch sử : viết về sự
thối nát của giai cấp phong kiến thống trị đơng thời- đó là hiện thực cuộc sống xahoa, lộng lẫy ở phủ chúa Trịnh, là gơng mặt của những nhân vật lịch sử tiêubiểu đơng thời, là đám quan lại bất tài, bất lực, cơ hội và tùy thời … mà còn có giá trị bảo l Tác phẩm
đã góp phần phản ánh xã hội nớc ta những năm cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉXIX với những biến động sâu sắc Đằng sau những sự kiện mang tính lịch sử đó,tác phẩm còn thể hiện thái độ ngầm phê phán xã hội và tâm sự muốn thoát khỏivòng danh lợi, cũng nh tấm lòng đáng kính của một danh y lỗi lạc, một nhà văn,nhà thơ tài hoa Đó chính là sự tài tình của Lê Hữu Trác trong việc lựa chọn, xử lí
đề tài để làm nên một tác phẩm kí sự độc đáo
2.2 Hệ thống sự kiện
Sự kiện đợc hiểu là : “Sự việc có ý nghĩa ít nhiều quan trọng đã xảy ra”[36, 862] “Sự kiện là những biến đổi, tác động, sự cố có ý nghĩa quan trọng đốivới nhân vật, làm cho nhân vật và quan hệ của chúng không giữ nguyên hiệntrạng mà phải biến đổi theo” [19, 100 ] Nh vậy, sự kiện là yếu tố quan trọng để lígiải tác phẩm, nhất là với tác phẩm tự sự Bởi lẽ, sự kiện, một mặt nó phản ánhcác quan hệ, xung đột xã hội của nhân vật, mặt khác lại có chức năng kết cấu làmcho nhân vật gần nhau hoặc xa nhau,… mà còn có giá trị bảo ltừ đó tác động trực tiếp đến sự hình thành,phát triển của tác phẩm
Mỗi một tác phẩm tự sự đợc cấu thành bởi một hệ thống sự kiện nhất định
để làm nên cốt truyện : “Truyện là chuỗi sự kiện xảy ra liên tiếp trong khônggian và thời gian cho nhân vật và có ý nghĩa đối với tác giả, có mở đầu, có pháttriển và có kết thúc, thể hiện những quan hệ, mâu thuẫn và quá trình nhất địnhcủa cuộc sống” [19, 101 ] Từ đó có thể thấy : hình thức tổ chức sự kiện cơ bảnnhất của văn học là liên kết các sự kiện thành truyện nh trong tác phẩm tự sự vàkịch Hơn nữa, toàn bộ việc tổ chức hệ thống sự kiện đều nhằm một mục đích cơbản : phơi bày các xung đột xã hội và thể hiện các số phận, tính cách con ngời
Trang 28Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của từng thể loại văn học, từng giai đoạn văn học,từng phong cách nhà văn mà có sự thể hiện hệ thống sự kiện khác nhau.
Nằm trong thể loại tự sự, kí chú trọng viết về cuộc đời thực tại, viết về
ng-ời thật, việc thật Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không baogiờ quên miêu tả khung cảnh Vì vậy, ở một góc độ nào đó có nhiều tác phẩm kí
gần với truyện ngắn Tuy nhiên, nhìn từ đặc trng thể loại, kí cơ bản khác với
truyện (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết ) ở chỗ : trong tác phẩm
kí không có một xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếumang tính chất miêu tả, tờng thuật Vì vậy, hệ thống sự kiện trong thể loại kí nóichung và trong thể kí sự nói riêng có những đặc điểm khá riêng biệt
Nhìn từ đặc trng thể kí sự, một thể văn thuộc loại hình kí nhằm ghi chép
một câu chuyện, một sự kiện tơng đối hoàn chỉnh, thì Thợng Kinh kí sự đã kể lại
cuộc hành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của Lê Hữu Trác ra kinh thành ThăngLong để chữa bệnh cho chúa Trịnh Khác với một số tác phẩm kí sự khác nh :
Công d tiệp kí của Vũ Phơng Đề ; Tiên tớng công niên phả lục của Trần Tiến ; Tục công d tiệp kí của Trần Trợ, Lê Hữu Trác không tự thuật về cuộc đời mình,
mà chỉ tập trung ghi lại những sự việc, sự kiện liên quan đến chuyến đi kinh đô,cả đi lẫn về vừa tròn chín tháng, hai mơi ngày Vì vậy, tác phẩm có hệ thống sựkiện khá đơn giản, đợc tổ chức vừa theo mạch tuyến tính, vừa theo mạch liên t-ởng ở đó, có sự xen kẽ giữa việc miêu tả sự kiện, con ngời với những đoạn nghịluận, trữ tình của ngời trần thuật Mặc dù, đợc viết theo thể kí sự, không chiamục, nhng cơ bản tác phẩm đợc triển khai theo các sự kiện chính : giã nhà lênKinh, đến Kinh thành, chẩn bệnh cho chúa Trịnh, dọn nhà, họa thơ, nhớ nhà, gặpbạn cũ, tiễn bạn, chữa bệnh cho thế tử, viếng chùa Trấn Quốc, tái ngộ cố nhân,thăm làng cũ, thăm bệnh, chữa bệnh không thành, về nhà… mà còn có giá trị bảo lTuy nhiên, điều đáng
nói là : đằng sau cốt truyện đơn giản ấy, Thợng Kinh kí sự đã vẽ lại một bức tranh
sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh và tâm sự thầm kíncủa Lê Hữu Trác về vấn đề công danh, bổng lộc Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chéptrung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo,… mà còn có giá trị bảo l khiến cho ngời đọc có cảmgiác sự việc đang diễn ra nh có thật
Tác phẩm đợc xây dựng bởi một hệ thống các sự kiện cụ thể, chân thực.Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ cách ghi tỉ mỉ sự việc,thời gian, trong việc có ngời, ngời gắn chặt với cảnh, với môi trờng hoạt động cụ
thể Vì vậy, Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác vừa sinh động vừa độc đáo so với
các tác phẩm kí trớc đó Nhờ thế, ngời đọc có thể hình dung rất rõ những cảnh
Trang 29huống đặc biệt đang xảy ra, đồng thời có cảm giác đây không phải là câu chuyện
h cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu Điều này khiến cho ợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác có bớc tiến mới so với các tác phẩm kí trớc đó để
Th-trở thành “tác phẩm kí nghệ thuật đích thực” Các sự việc cứ theo thời gian diễn
ra, đè nặng lên tâm trạng Lê Hữu Trác, một nhà văn, nhà thơ tài hoa Ông mở đầu
tác phẩm bằng một mốc thời gian cụ thể : “Tháng giêng, năm Nhâm Dần, niên hiệu Cảnh Hng thứ 43”, và đánh dấu sự kiện “giã nhà lên kinh” cũng bằng một mốc thời gian : “ Ngày 12 thấy quan thị trấn cho hai ngời sai nhân đến nói”… mà còn có giá trị bảo l
Sau đó ông ghi lại một cách tỉ mỉ : ngày 17 (tháng giêng) nhổ neo ra đi ; ngày 18lên bờ yết kiến quan thị trấn ; ngày 20 quan văn th đi theo ; ngày 21 khởi hành từsáng sớm ; ngày 22 đến núi Long Sơn, 23 đến Đền Cờn, 24 tiếp tục lên đờng, 25cũng vậy ; ngày 26 đến đò Đài Liên ; 27 đến đèo Ba Dội ; ngày 30 đến cầu ThịnhLiệt, coi nh đã đến Kinh thành… mà còn có giá trị bảo l
Một số tác phẩm kí trớc đó, các tác giả thờng chỉ đơn thuần thuật việc vàghi sự kiện chứ không, hoặc rất ít cảm xúc, ít tả cảnh, ít bày tỏ quan điểm của
mình Ví dụ trong Công d tiệp kí của Vũ Phơng Đề, khi kết thúc các sự kiện cụ thể nh viết về Suối rắn ông nói : “Năm Giáp Tuất tôi phụng mệnh đi qua đây, hỏi ngời trong ấy biết đợc việc này”, hoặc trong Đại Hng Hầu kí : “đến nay dân còn truyền tụng việc này” Các tác phẩm : Tiên Tớng Công niên phả lục, Trần Khiêm
Đờng niên phả lục của Trần Tiến, mặc dầu cái tôi cá nhân đợc bộc lộ khá rõ, cảm
xúc, tâm sự của tác giả đã đợc thể hiện, song nhìn chung còn đơn giản, sơ lợc
Đến ngay cả những tác phẩm sau này nh : Tục công d tiệp kí của Trần Trợ, Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh, mặc dầu có sự tiếp thu các tác phẩm trớc đó (Về nội dung và nghệ thuật, khi viết Công d tiệp kí, Trần Trợ muốn noi theo bớc đi của
Vũ Phơng Đề ), nhng vấn đề cảm xúc của tác giả thể hiện trong tác phẩm vẫn còn
mờ nhạt
Thợng Kinh kí sự của Lê Hữu Trác, bên cạnh các sự kiện đợc quan sát
miêu tả chân thực còn có sự đan xen các đoạn tả cảnh độc đáo, và biểu lộ cảm
xúc tinh tế Khi miêu tả cảnh xuống thuyền ra đi ông viết : Đêm hôm ấy, thuyền“
đi dới trăng Hai bên bờ vắng ngắt chỉ nghe tiếng chó sủa Một vầng trăng sáng vằng vặc lòng sông Hai bên bờ, nớc lên chờ khách sang sông Chuông nện chùa
xa văng vẳng ; sơng che cây cỏ mịt mù Mấy ngọn đèn chài hiu hắt ; một đôi cò trắng đuổi nhau Những ngời tùy tùng đều mợn chén giải sầu Tôi cũng nhân đó ngâm một bài thơ để tỏ nỗi lòng”… mà còn có giá trị bảo l Cảnh vật cứ từng bớc hiện lên sinh động, hấpdẫn dới con mắt quan sát tinh tế và tâm hồn dạt dào cảm xúc của tác giả Hoặc là
Trang 30ông miêu tả cảnh núi non trùng điệp trên đờng đi : “Phía tây núi non trùng trùng,
điệp điệp, khi ẩn khi hiện trong đám mây trắng Trên đờng có mấy ngọn núi nhỏ tách riêng Buổi chiều, nơi trắng, nơi vàng làm cho cánh đồng thêm vẻ đẹp Tôi
đến núi Long Sơn, thấy một nơi quanh co, cổ thụ um tùm, thật là mát mẻ Đá xếp
nh bàn, dàn ra thâm thấp có vẻ ngay ngắn lắm”… mà còn có giá trị bảo l Khi vào phủ chúa, bằng conmắt quan sát tinh tế, sắc sảo của một thầy thuốc áo vải lần đầu tiên đợc chiêmngỡng cuộc sống ở thâm cung, tác giả thể hiện những đoạn miêu tả độc đáo Từkhung cảnh bao quát trớc phủ chúa, đến cảnh sinh hoạt cụ thể nh : đồ dùng củachúa đều sơn son thiếp vàng, bữa ăn toàn của ngon, vật lạ, kẻ hầu ngời hạ đi lạitấp nập,… mà còn có giá trị bảo lđều đợc tác giả miêu tả đầy đủ, chi tiết
Bên cạnh đó, xen giữa các sự kiện cụ thể, các đoạn tả cảnh tinh tế còn lànhững đoạn bộc lộ tâm trạng Đó là nỗi buồn man mác khi nhận đợc lệnh phải từ
giã gia đình, quê hơng để lên Kinh: “Tôi thấy sự việc quan trọng nh thế, lo sợ vô cùng, ngời cứ nh ngẩn, nh ngơ mất nửa giờ” Sau đó ông lại tự an ủi mình : Mình“
thuở trẻ mài gơm, đọc sách Mời lăm năm phiêu bạt giang hồ, không có cái gì là
sở đắc Mình đã xem công danh là vật bỏ, về núi Hơng Sơn dựng lều, nuôi mẹ,
đọc sách, mong tiêu dao, vui thú trong cái vờn đạo lí của Hoàng Đế, Kì Bá, lấy việc giữ thân mình, cứu ngời là đắc sách lắm Nay không ngờ lại bị cái h danh làm liên lụy đến nông nỗi này” Trên đờng đi, ngắm cảnh, sinh tình, lòng tác giả
bồi hồi cảm xúc Nỗi lòng đó lại đợc ông thể hiện trong những vần thơ tinh tế,
đầy ắp tâm trạng:
“Êm đềm một giải nớc mây Quan hà man mác khôn khuây nỗi lòng
Chiếc buồm thuận gió thẳng dong Giọt sơng gieo nặng, cánh hồng thớt tha”… mà còn có giá trị bảo l
Cứ nh thế, bên cạnh việc quan sát, ghi chép tỉ mỉ sự kiện là tâm trạng, cảmxúc chân thành cũng nh sự đan xen những đoạn tả cảnh khiến cho ngời đọc cócảm giác trong việc có ngời, ngời gắn chặt với cảnh,… mà còn có giá trị bảo ltất cả hiện ra nh có thật.Vì vậy, dới ngòi bút của tác giả có những đoạn văn trong tác phẩm hiện lên nhmột thiên du kí, nhng cũng có những đoạn văn lại là nhật kí bám sát sự việc theodiễn biến thời gian Điều đặc biệt là xen giữa những đoạn du kí, nhật kí, kí sự đó,lại là những đoạn kí phong cảnh khiến cho mọi sự việc, con ngời trong tác phẩm
đợc bao bọc trong dòng cảm xúc của ngời cầm bút tài hoa Từ vật dụng đặt trớcsân phủ chúa đến bữa cơm trong điếm Hậu Mã, từ chúa Trịnh, các công hầu,khanh tớng đến các cung nhân,… mà còn có giá trị bảo l tất tật đợc miêu tả tỉ mỉ Đây là cảnh giàu sang
Trang 31trong phủ chúa : “Đồ nghi trợng đợc sơn son thếp vàng ở giữa, đặt một sập sơn son thếp vàng Trên sập mắc một cái võng điều đỏ Trớc sập và hai bên bày bàn ghế, những đồ đạc nhân gian cha từng thấy” Còn đây là cảnh tối om, u uất ở thâm cung: “Tôi đi theo Đột nhiên thấy ông ta mở một chỗ trong màn gấm rồi b-
ớc vào ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả Đi qua độ năm sáu lần ớng gấm nh vậy, đến một cái phòng rộng, ở giữa phòng có một cái sập thếp vàng Một ngời ngồi trên sập độ năm sáu tuổi, mặc áo lụa đỏ”… mà còn có giá trị bảo l Khi bắt mạch cho thế
tr-tử Cán, tác giả kể: “Tôi coi kĩ một lợt bụng, chân, tay, thân thể Quan Chánh ờng lại truyền bái tạ mà cho lui Tôi liền đứng dậy, lạy bốn lạy” Sau đó ông nhận xét: “theo tôi đó là vì thế tử ở trong chốn màn che trớng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm, nên tạng phủ yếu đi Vả lại, bệnh mắc đã lâu, tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò Đó là vì nguyên khí đã hao mòn, thơng tổn quá mức.”
đ-Với cách miêu tả tinh tế, quan sát tỉ mỉ kết hợp với những đoạn tả cảnh tài
tình và những đoạn bộc lộ cảm xúc chân thực, Thợng Kinh kí sự đã tạo nên dấu
ấn độc đáo Nói nh Nguyễn Đăng Na trong Con đờng giải mã văn học trung đại Việt Nam : “Nếu Trần Tiến đã đa thể kí phát triển thêm một bớc mới, thì Lê Hữu
Trác lại có công hoàn thiện thể kí Việt Nam và tạo cái mực thớc cho lối viết kí
sau này” [32, 435 ] Bởi lẽ, ở hai tác phẩm : Tiên Tớng Công niên phả lục, Trần Khiêm Đờng niên phả lục, Trần Tiến đã bám sát hiện thực, phản ánh trực tiếp
những sự kiện, những con ngời quanh ông, hoặc của chính bản thân ông Tuynhiên, kí dới dạng phả thờng bị ràng buộc do đặc điểm của thể loại qui định - đó
là loại hình văn học chức năng Bởi vậy, viết phả, ngời cầm bút không thể tự dochạy theo mạch cảm xúc Hơn nữa, có những lúc, do tuân theo yêu cầu của thểphả, mà những năm tháng chẳng có sự kiện gì tác giả vẫn phải ghi cho đúng thủtục khiến cho tác phẩm rời rạc Vì thế, trong tác phẩm có những đoạn dờng nhchỉ có hình thức, chứ không chứa đựng nội dung và càng không có biểu hiện cảmxúc, t tởng của tác giả
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc đợc những
chi tiết, sự kiện đắt nói lên đợc quyền uy tối thợng cùng nếp sống hởng thụ cực kì
xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm Khi tả tập trung, ông đi từ quang cảnh bênngoài của phủ chúa, đờng đi, lối lại với những hành lang quanh co, nối tiếp nhau
đến khuôn viên của phủ chúa rộng, có trạm dừng chân đợc kiến trúc thật kiểucách với cảnh trí thiên nhiên thật kì lạ Sau đó ông đi vào tả kĩ lỡng khung cảnhbên trong của phủ chúa với những đại đờng, gác tía, kiệu son, võng điều Đồ
Trang 32dùng của chúa đợc sơn son, thếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều làmâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ,… mà còn có giá trị bảo lđến nội cung của thế tử phải qua sáu lầntrớng gấm Nơi ở của thế tử rất sang trọng, có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm
ấm, xung quanh lấp lánh, hơng hoa ngào ngạt… mà còn có giá trị bảo lTất cả, tất cả, quang cảnh phủchúa từ trong ra ngoài đợc tác giả miêu tả đầy đủ, chi tiết và hết sức tinh tế
Ngợc lại, khi tả điểm xuyết, Lê Hữu Trác lại lựa chọn những chi tiết đắt
để làm nổi bật đợc vấn đề cần nói Ví dụ xuyên suốt tác phẩm chúng ta thấyTrịnh Cán nở một nụ cời duy nhất khi khen Lê Hữu Trác lạy :
“Tôi nín thở đứng chờ từ xa Quan Chánh đờng truyền lệnh cho tôi lạy bốn lạy Thế tử cời:
- Ông này lạy khéo!”
Một thế tử gầy gò, ốm yếu, sống nơi thâm cung, vây bọc trong vàng bạc,châu báu đã bật tiếng cời Một tiếng cời tởng nh đơn giản, nhng Lê Hữu Trác đãbiết lựa chọn, đặt đúng chỗ nên đã tạo đợc giá trị độc đáo cho tác phẩm Bởi lẽ,tiếng cời vô tình của ông chúa nhỏ đã để cho ngời đọc bao suy nghĩ Trong cănphòng u tối giữa chốn thâm cung, bên cạnh ánh sáng lờ mờ của ngọn nến sáp vàvô số lụa là gấm vóc, cậu bé xanh xao, vàng vọt bỗng bật tiếng cời khi thấy Lê
Hữu Trác lạy Cái cời kèm theo câu nói : “Ông này lạy khéo ” Chi tiết đó có sứcgợi, sức ám ảnh lớn Bởi vì, chúng ta chắc chắn rằng : mọi ngày ông chúa nhỏ đãquá quen cái cảnh ngời ta lạy lục mình Tuy nhiên, hàng ngày, đó là cái lạy củanhững kẻ khom lng luồn cúi, mu cầu danh lợi, còn cái lạy của Lê Hữu Trác là cáilạy của một bề tôi trung quân, sống ngay thẳng không màng của cải, vinh hoaphú quý Vì vậy, vừa mới trông thấy Lê Hữu Trác lạy, thế tử đã bật cời và khen
lạy khéo
“ ” Câu khen của thế tử bé khiến lòng ta đắng chát khi nghĩ đến mốiquan hệ giữa một đứa trẻ quyền thế với một ông già đầy tri thức và phẩm cách.Khi nghe lời phán ấy, lòng Lãn Ông chắc không thể không thoáng nhói đau! Nh-
ng cách kể của ông là cách kể của một ngời đã trở nên bình thản ông thu nénlòng mình để trở thành ngời kể chuyện, chép việc đáng tin cậy và cũng hết sứcchân thực
Đằng sau chi tiết đó, ngời đọc còn thấy đợc bi kịch của một đứa trẻ sớm bị
đa vào vòng danh lợi, bon chen của cả một triều đại Trịnh Cán hay Trịnh Tông
và sau này là Trịnh Khải, Trịnh Bồng,… mà còn có giá trị bảo lđều là trò đùa của lịch sử, là con mồi cho
sự tranh giành quyền bính, chém giết lẫn nhau Nhà văn đã rất khách quan khi đachi tiết tiếng cời của Trịnh Cán để cố tìm lại cái ngây thơ, hồn nhiên của một cậu
bé đã bị tham vọng của ngời lớn làm cho u tối
Trang 33ở một chỗ khác, khi khám bệnh, bốc thuốc cho thế tử Cán, trong lúc nguykịch do uống nhiều thuốc của các thầy lang băm, sự sống chỉ còn tính từng ngày,
Trịnh Cán vẫn đủ tinh anh để nói: “Chè của cụ ngọt, ta thích lắm” Một chi tiết
tởng chừng đơn giản, nhng cũng có thể để lại dấu ấn độc đáo và có sức gợi lớnlao Trớc hết, câu nói đó khiến cho ngời đọc càng thêm thơng xót cho ông chúanhỏ sớm bị lôi cuốn vào vòng quay của quyền lực, phục vụ cho quyền lực Đãvài lần, do lơng tâm nghề nghiệp mà Lê Hữu Trác cũng đã dốc sức chạy chữa chothế tử Nhng bài thuốc của ông đã bị những kẻ ngù ngờ, chỉ biết cầu danh lợi bỏqua Xung quanh thế tử, thầy thuốc, thầy lang, lính tráng, quan lại có đến mấychục ngời chầu chực ăn không ngồi rồi Họ hầu nh chẳng ai làm việc chính sự,cũng chẳng ai thực sự quan tâm đến căn bệnh của cha con nhà chúa Họ chỉ lomỗi một việc vun vén cho quyền lợi của cá nhân mình Ngoài ra, câu nói còn gópphần khẳng định bài thuốc của Lê Hữu Trác là đúng, đồng thời thể hiện một tàinăng, một lơng tâm nghề nghiệp của một thầy thuốc có tài, có tâm
Hoặc nữa, chỉ một chi tiết nhỏ khi Lê Hữu Trác miêu tả thái độ của quanChánh đờng trớc cái tin bệnh tình thế tử trở nên nặng hơn, khó lòng cứu chữacũng có giá trị độc đáo:
“Quan Chánh đờng truyền bảo tôi đến sở Thập Tự ghé vào tai tôi nói nhỏ rằng:
d-Tiếng thở dài của quan Chánh đờng không chỉ giúp ngời đọc thấy đợc thái
độ thất vọng của một bề tôi suốt ngày hầu hạ cha con chúa Trịnh mà còn soi rọibản chất của những kẻ bề tôi không vì tính mạng của chủ, không hề lo việc chính
sự, mà chỉ chú ý đến một mục đích duy nhất là vấn đề danh lợi của bản thân, gióchiều nào xoay chiều ấy Tiếng thở dài ấy cũng là sự thể hiện thái độ thất vọngtột cùng của một kẻ cơ hội, tùy thời đã không từ một thủ đoạn nào để đạt đợcmục đích Vốn là trấn thủ Nghệ An, Quận Huy có ý làm phản, Trịnh Sâm biết đ -
ợc, bàn tìm cách giết hắn.Thế là Quận Huy xin về triều Trong triều bây giờ đang
Trang 34có sự tranh chấp giữa Trịnh Tông và Trịnh Cán Thấy Trịnh Cán còn bé, thế dựakhông bền, hắn đa tiền của đút lót cho Trịnh Tông để làm chỗ dựa Nhng TrịnhTông không thèm nhìn, thế là hắn quay sang Trịnh Cán, đem cả ngôi nhà của ông
là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc dâng cho Trịnh Cán làm dinh thự Từ đó,Quận Huy trở thành ngời riêng của Đặng Thị Huệ, thế lực nghiêng cả thiên hạ.Bây giờ nghe tin bệnh tình của chúa trở nặng, tức là đồng nghĩa với việc baonhiêu công sức, mu mô của Quận Huy tan thành mây khói Đó cũng là chi tiết dựbáo sự mục rỗng dẫn đến sụp đổ hoàn toàn không gì cỡng lại đợc của chínhquyền phong kiến lúc bấy giờ
Nh vậy, khi tả tập trung, Lê Hữu Trác đã cố gắng làm nổi bật bức tranhcuộc sống xa hoa, lộng lẫy, đầy uy quyền ở phủ chúa Nhng, khi tả điểm xuyết,
ông lại khéo lựa chọn đợc những chi tiết đắt để góp phần làm nổi bật bức tranhcuộc sống đang hiện hữu một cách tài tình
Khi kể việc, tả ngời, Lê Hữu Trác không vay mợn những khuôn mẫu, chấtliệu có sẵn, mà hớng tới khai thác những chất liệu đời thờng, đời t… mà còn có giá trị bảo l Tác giả rấtcoi trọng việc kể lại ngọn ngành, sắp xếp sự việc cho đầy đủ, mạch lạc, có đầu,
có cuối, khiến cho các sự việc diễn ra nh có thật
Tóm lại, với hệ thống sự kiện đơn giản, đợc tổ chức vừa theo mạch tuyếntính, vừa theo mạch liên tởng, có sự xen kẽ giữa việc miêu tả sự kiện, con ngờivới những đoạn nghị luận, trữ tình của ngời trần thuật, kết hợp với cách miêu tả
tập trung với điểm xuyết, chọn lọc những chi tiết, sự kiện “đắt”, Thợng Kinh kí
sự đã làm nổi bật đợc cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa Trịnh và tâm sự của Lê Hữu
Trác -một danh y lỗi lạc, một nhà văn, nhà thơ tài hoa Tác phẩm do vậy đã tạonên đợc một bớc phát triển mới của thể kí trung đại
2.3 Điểm nhìn nghệ thuật
Điểm nhìn nghệ thuật đợc Lại Nguyên Ân hiểu là : “Vị trí từ đó ngời trầnthuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếukhông có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thểtrong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật” [3, 113]
Các nhà nghhiên cứu Lí luận văn học cũng cho rằng : “Nghệ sĩ không thểmiêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống đợc nếu không xác định cho mình một
điểm nhìn đối với sự vật, hiện tợng : nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao haythấp, từ bên trong ra hay từ bên ngoài vào” [19, 113 ] Nh vậy, điểm nhìn nghệthuật có vai trò hết sức quan trọng trong việc sáng tạo nghệ thuật, bởi nó đem lại
Trang 35cho ngời thởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống, với con ngời Hơn thế,
sự đổi thay trong điểm nhìn của nhà văn sẽ kéo theo sự thay đổi trong quan điểmnghệ thuật Bêlinxki từng nói rằng : “khi đứng trớc một phong cảnh đẹp thì chỉ cómột điểm nhìn làm cho ta thấy toàn cảnh và chiều sâu của nó Nếu đứng xa quáhay gần quá, lệch về phía bên phải hoặc bên trái quá cũng làm cho phong cảnhmất vẻ toàn vẹn, hoàn mĩ” [19, 113] Điều đó cũng có nghĩa là : điểm nhìn trầnthuật có ảnh hởng lớn đến quá trình sáng tạo tác phẩm của ngời nghệ sĩ
Xét về trờng nhìn trần thuật, tức là điểm nhìn bao quát từ một chỗ đứngnào đó, có thể thấy có hai loại cơ bản : trờng nhìn tác giả và trờng nhìn nhân vật
ở loại trờng nhìn tác giả, chủ yếu trần thuật theo sự quan sát, hiểu biết của ngờitrần thuật đứng ngoài truyện Thông thờng ở điểm nhìn này, nó không bị hạn chế,mang lại tính khách quan tối đa cho trần thuật Trờng nhìn tác giả chủ yếu tồn tại
ở các truyện kể dân gian, kịch, truyện kí và tiểu thuyết Còn trờng nhìn nhân vậtchủ yếu trần thuật theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm Loại này lạicho phép đa vào trần thuật quan điểm riêng, sắc thái, tâm lí, cá tính, mang đậmtính chủ quan, tăng cờng chất trữ tình hoặc châm biếm Tuy nhiên, trong sángtác, hai loại điểm nhìn này nhiều khi không tách biệt nhau, mà phối hợp, luânphiên nhau trong một hệ thống trần thuật phức tạp, để tạo nên cái nhìn phongphú, đa diện trớc hiện thực cuộc sống Ngoài ra, xét ở bình diện tâm lí, có thểphân biệt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Điểm nhìn bên trong giúpcho tác giả trần thuật qua tâm trạng cụ thể, từ đó có thể tái hiện tinh tế tâm hồnnhân vật Còn điểm nhìn bên ngoài thờng xuất hiện qua các đoạn trần thuật sựviệc, ít liên quan đến nhân vật và diễn biến tâm trạng
Trong loại hình tự sự, vai trò của ngời kể chuyện vô cùng quan trọng.Nhân vật kể chuyện hầu hết thờng đứng ở ngôi thứ nhất (tôi) trong toàn bộ câuchuyện đợc trần thuật Vì vậy, có thể nói : cái tôi là chủ thể để nhận thức kháchthể - đối tợng cần trần thuật một cách trực tiếp Tuy nhiên, cũng có những tácphẩm ngời kể chuyện không đóng vai trò thứ nhất, họ kể chuyện một cách giántiếp - câu chuyện đợc nghe từ ngời này, ngời khác kể Riêng với thể loại ký, hầuhết điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm là của tác giả Nhà phê bình Xô viếtPriliut có nói: “Thông thờng tôi trong ký là tác giả, mặc dù không trừ hình thứcngời trần thuật ớc lệ” [19, 294] Sự có mặt của nhân vật trần thuật, nhất là tác giả,trớc hết đóng vai trò là con ngời và sự việc trong tác phẩm, đồng thời cũng để bộc
lộ tính khuynh hớng của mình