Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -ĐẬU THỊ KIM CHUNG
ĐẶC ĐIỂM LÝ HÓA TÍNH TRÊN ĐẤT TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC - KHOA NÔNG LÂM NGƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH, ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ THEO QUY
HOẠCH CÂY TRỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - -
ĐẶC ĐIỂM LÝ HÓA TÍNH TRÊN ĐẤT TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC – KHOA NÔNG LÂM NGƯ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH, ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ THEO QUY HOẠCH CÂY TRỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT
Mã số: 60-62-01
Người thực hiện: Đậu Thị Kim Chung Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Phổ
VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này tôi đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm giúp đỡ của cán bộ, các thầy cô giáo và các bạn học viên, sinh
viên Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh
Trước tiên, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới thầy hướng
dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Quang Phổ đã giao đề tài và tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Nông
Lâm Ngư, Bộ môn Khoa học cây trồng, các quý Thầy cô giáo trong toàn
khoa đã quan tâm và đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện
khóa luận tốt nghiệp của tôi
Chân thành cám ơn các bạn sinh viên đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn
bè đã động viên giúp đỡ về cả vật chất và tinh thần cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Vinh, ngày 20 tháng 12 năm 2011
Học viên
Đậu Thị Kim Chung
Trang 4M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1.2 Tình hình nghiên cứu về đất trong và ngoài nước 5
1.3.3 Đánh giá đặc tính lý hoá đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp 281.4 Một số đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 29
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM,VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
32
Trang 52.4.3 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 35
3.1 Giới thiệu về hiện trạng đất của Trại thực nghiệm Nông học 43
3.2.2 Kết quả phân tích tỷ trọng đất trại thực nghiệm Nông học 46
3.2.3 Kết quả phân tích độ xốp đất trại thực nghiệm Nông học 48
3.2.4 Kết quả độ sâu mực nước ngầm trong đất qua một số thời điểm 50
3.2.5 Kết quả nghiên cứu về độ ẩm của đất trại nông học 51
3.2.6 Kết quả phân tích về thành phần cơ giới đất 52
3.3.1 Kết quả phân tích pHKCl trên đất trại thực nghiệm nông học 53
3.3.2 Kết quả phân tích Hàm lượng chất hữu cơ 54
3.3.4 Kết quả phân tích hàm lượng Phốt pho tổng số 59
3.3.5 Kết quả phân tích hàm lượng Phốt pho dễ tiêu 60
3.3.7 Kết quả phân tích hàm lượng Kali dễ tiêu 64
3.3.8 Kết quả phân tích hàm lượng canxi trao đổi 66
3.3.9.Kết quả phân tích hàm lượng Magie trao đổi 67
3.3.10 Kết quả nghiên cứu về hàm lượng một số nguyên tố vi lượng
trong đất trại nông học (ppm)
69
3.4.1 Một số đặc điểm đất trại cần chú ý khi quy hoạch sử dụng đất 70
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Tmin : Nhiệt độ thấp nhất
Utb : Độ ẩm trung bình Umin : Độ ẩm thấp nhất
Sn : Số giờ nắng trong tháng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 So sánh tỷ trọng một số khoáng vật và đất 19
4 Bảng 2.4 Giá trị chỉ thị của pH
KCl trong 6 nhóm đất chính của Việt Nam 24
5 Bảng 2.5 Giá trị chỉ thị về hàm lượng của cacbon hữu cơ (OC, %) 24
7 Bảng 2.7 Giới hạn chỉ thị của hàm lượng phốt pho tổng số 26
8 Bảng 2.8 Giới hạn chỉ thị về hàm lượng kali tổng số 27 9
Bảng 2.9 Bảng số liệu khí tượng từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011 31
11 Bảng 3.2 Dung trọng của các lô đất khác nhau và tầng đất khác nhau 45
12 Bảng 3.3 Tỷ trọng của các lô đất khác nhau và tầng đất khác nhau 47
13 Bảng 3.4 Kết quả về độ xốp của đất giữa các lô đất khác nhau và tầng đất 49
14 Bảng 3.5 Độ sâu mực nước ngầm trong đất qua một số thời điểm (cm) 51
15 Bảng 3.6 Diễn biến độ ẩm tầng mặt đất trại nông học qua một số thời
18 Bảng 3.9 Hàm lượng chất hữu cơ (%) trên đất trại thực nghiệm nông học 56
19 Bảng 3.10 Bảng kết quả phân tích đạm tổng số các tầng đất và các lô đất 58
20 Bảng 3.11 Kết quả phân tích hàm lượng P2O5 tổng số (%) 59
21 Bảng 3.12 Hàm lượng P2O5 dễ tiêu (mg/100g) ở các lô đất và tầng đất 61
22 Bảng 3.13 Kết quả phân tích hàm lượng K2O tổng số (%) 62
23 Bảng 3.14 Hàm lượng K2O dễ tiêu (mg/100g) ở các lô đất và tầng đất
khác nhau
64
24 Bảng 3.15 Kết quả phân tích hàm lượng canxi trao đổi (me/100g) 66
25 Bảng 3.16 Kết quả phân tích hàm lượng Magie trao đổi (mg/100g) 67
26 Bảng 3.17 Hàm lượng một số nguyên tố vi lượng (ppm) 69
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Dung trọng đất trại Nông học bình quân theo tầng(g/cm 3 ) 45
2 Biểu đồ 3.2 Dung trọng đất trại Nông học bình quân theo lô(g/cm 3 ) 46
3 Biểu đồ 3.3 Tỷ trọng của các tầng đất khác nhau trên đất trại nông học 47
4 Biểu đồ 3.4 Tỷ trọng của các lô đất khác nhau trên đất trại nông học 48
5 Biểu đồ 3.5 Độ xốp của đất giữa các tầng đất khác nhau của đất trại Nông học 49
6 Biểu đồ 3.6 Độ xốp của đất giữa các lô đất của đất trại Nông học 49
7 Đồ thị 1 Diễn biến mực nước ngầm thời điểm trong năm 51
8 Biểu đồ 3.7 Diễn biến độ ẩm tầng mặt qua một số thời điểm trong năm 52
9 Biểu đồ 3.8 Giá trị pHkcl các lô khác nhau và tầng đất khác nhau 54
10 Biểu đồ 3.9 Hàm lượng chất hữu cơ bình quân theo tầng đất 56
11 Biểu đồ 3.10 Hàm lượng chất hữu cơ bình quân theo lô đất 56
12 Biểu đồ 3.11 Hàm lượng N tổng số bình quân theo tầng đất 57
13 Biểu đồ 3.12 Hàm lượng N tổng số trong đất trại nông học 58
14 Biểu đồ 3.13 Hàm lượng P2O5 tổng số trong đất trại Nông học 59
15 Biểu đồ 3.14 Hàm lượng P2O5 tổng số trong đất trại Nông học 60
16 Biểu đồ 3.15 Hàm lượng P2O5 dễ tiêu của đất trại bình quân theo tầng 61
17 Biểu đồ 3.16 Hàm lượng Phốt pho dễ tiêu của đất bình quân theo lô đất 62
18 Biểu đồ 3.17 Hàm lượng Kali tổng số (%) bình quân theo lô đất 63
19 Biểu đồ 3.18 Hàm lượng Kali tổng số (%) bình quân theo tầng đất 64
20 Biểu đồ 3.19 Hàm lượng K2O dễ tiêu (mg/100g) ở các lô đất khác nhau 65
21 Biểu đồ 3.20 Hàm lượng K2O dễ tiêu (mg/100g) ở các tầng đất khác 65
22 Biểu đồ 3.21 Hàm lượng Ca2+ (me/100mg) bình quân theo tầng đất 66
23 Biểu đồ 3.22 Hàm lượng Ca2+ (me/100mg) bình quân theo tầng đất 67
24 Biểu đồ 3.23 Hàm lượng Mg2+ bình quân theo tầng đất 68
25 Biểu đồ 3.24 Hàm lượng Mg2+ bình quân theo tầng đất 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là nền tảng phânbố khu dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội Đất đai không chỉ là đốitượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đượctrong sản xuất nông lâm nghiệp
Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả kinhtế cao trên quan điểm phát triển bền vững là vấn đề quan trọng mà nhiều cơ quanquản lý nhà nước cũng như người dân đặc biệt quan tâm Hiện trạng sử dụng đấtnông nghiệp hiện nay ở các địa phương có thể nói phần nào đã khai thác đượctiềm năng vốn có của đất đai Tuy nhiên, việc đưa các loại cây trồng nào phù hợpvới điều kiện tự nhiên cũng như chất lượng đất của từng vùng nhằm nâng caohiệu quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng
Nghệ an - là một tỉnh thuộc vùng Bắc trung Bộ, nằm trong miềnnhiệt đới của Bắc bán cầu có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi, khí hậukhắc nghiệt, thường xuyên có bão lụt lớn vào mùa mưa và gió Tây Namkhô nóng vào mùa hè Đất đai phần lớn có độ phì thấp, phản ứng chua, khôhạn, diện tích vùng đồng bằng nhỏ hẹp, vùng ven biển có nơi bị ảnh hưởngcủa nước biển nên một số diện tích còn bị nhiễm mặn do triều cường Vùngđồng bằng ven biển một số diện tích lớn đang bị hoang hoá do quá trình rửatrôi, khô hạn hoặc bị mặn hoá xảy ra mạnh mẽ Sự phát triển dân số và kinhtế xã hội đã tạo ra sức ép về môi trường đất cũng như chất lượng đất Việcđánh giá đúng tiềm năng, những mặt hạn chế và đề ra các giải pháp khắcphục nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên đất đai có ý nghĩa thực tiễn
vô cùng quan trọng
Trại thực hành thí nghiệm Nông học khoa Nông Lâm Ngư (thuộc cơsở 2 Đại học Vinh) nằm trong vùng đất của xã Nghi Phong - Nghi Lộc -
Trang 10Nghệ An, dọc theo quốc lộ 46 Xét về tổng thể, đây là vùng đất cát nộiđồng thuộc loại đất cát pha nội đồng cách bờ biển 4 km về phía Đông, thựcbì là các cây trồng cạn ngắn ngày hàng năm (như lạc, đậu đỗ, ngô khoailang, lúa cạn, vừng…) theo tập quán canh tác ổn định, lâu đời Tuy nhiên,
cơ sở 2 Trường Đại học Vinh mới được thành lập, đang trong thời kỳ quyhoạch xây dựng Trong số diện tích đất của khoa Nông Lâm Ngư được quyhoạch xây dựng trại thực hành thí nghiệm nông học hiện có khoảng 1 ha.Diện tích mặt bằng của trại mới được san lấp và nâng độ cao mặt bằng lên(50 - 80 cm) từ các nguồn đất khác nhau từ nơi khác chuyên chở đến Vìvậy về đặc điểm lý hóa tính đất trên nền đất mới của trại thực nghiệm cầnđược đánh giá chính xác theo mặt bằng và độ sâu canh tác cần thiết Trên
cơ sở số liệu thu được sẽ là cơ sở khoa học để quy hoạch phân khu sử dụngvà cải tạo đất thích hợp với các loại cây trồng nông lâm nghiệp, phục vụcho nghiên cứu khoa học và thực hành cũng như hoạt động sản xuất củangành đào tạo nông học của khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại học Vinh
Xuất phát từ những lý do đó chúng tôi đã thực hiện đề tài “Đặc điểm lý hóa tính của đất ở khu vực trại thực nghiệm Nông học - khoa Nông Lâm ngư - Trường Đại học Vinh, đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý theo quy hoạch cây trồng”.
Việc nghiên cứu về đặc tính lý hóa đất tại đây nhằm đưa một sơ đồtổng quan về đặc điểm lý hóa tính của đất trại thực hành thí nghiệm phục
vụ công tác quản lý, cải tạo sử dụng đất hợp lý và bền vững
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được một cách tương đối đầy đủ hóa lý tính đất của vùngđất trại thực nghiệm Nông học của khoa Nông Lâm Ngư tại cơ sở 2 Đạihọc Vinh , xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
Trang 11- Đề xuất được hướng sử dụng hợp lý hiệu quả các đối tượng câytrồng.
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên về đất đai (các chỉ tiêu về hóa lýtính), các chỉ tiêu nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan, phản ánh đượcđặc điểm lý tính và hoá tính đất đã được phân lô theo diện tích mặt bằngcủa trại (8 lô)
- Bước đầu đề xuất hướng cải tạo và sử dụng hợp lý đất cho các loạicây trồng thí nghiệm phục vụ cho đào tạo dựa trên các kết quả phân tíchđất
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu về hóa lý tính của đất ở trại thựchành thí nghiệm cung cấp số liệu cụ thể để đề xuất hướng giải pháp nhằmnâng cao độ phì và độ đồng đều của đất Xây dựng cơ sở dữ liệu về hàmlượng các chất dinh dưỡng trong đất làm cơ sở cho việc bón phân và phânkhu vực hợp lý cho các loại cây trồng như cây lương thực, cây ăn quả, câycông nghiệp, rau màu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
Một nền nông nghiệp hiện đại yêu cầu các sản phẩm nông nghiệpphải trở thành hàng hóa, điều này sẽ làm thay đổi cơ bản hệ sinh thái đadạng cây trồng thành canh tác độc canh một loại cây trồng hoặc đa canhtrên vài loại cây nhất định Bên cạnh đó thì việc áp dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, như sử dụng giống có năng suấtcao, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bón nhiều phân hóa học đã đưa năngsuất cây trồng lên cao Nhưng việc áp dụng các biện pháp canh tác chưaphù hợp đã và đang làm đất nông nghiệp ngày một xấu đi, từ đó những giaiđoạn sau này năng suất cây trồng lại ngày một giảm đi hoặc không bềnvững
Hiện tượng phổ biến nhất trong sản xuất nông nghiệp là nền nôngnghiệp đơn canh, dẫn đến tình trạng cây trồng vụ sau hoặc chu kỳ sauthường sinh trưởng và phát triển kém hơn cây trồng vụ trước hay chu kỳtrước Hiện tượng đó do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó suythoái đất là nguyên nhân chính Một trong những nguyên nhân làm suythoái đất là sự suy giảm chất dinh dưỡng hoặc thành phần các chất dinhdưỡng mất cân đối Chính vì vậy việc xây dựng cơ sở dữ liệu về hàmlượng các chất dinh dưỡng trong đất là cần thiết để bổ sung dinh dưỡnghợp lý và kịp thời cho cây trồng, xây dựng các biện pháp nâng cao độphì nhiêu và chiến lược sử dụng đất bền vững
Để xác định được hàm lượng các nguyên tố người phân tích cầnnắm được các phương pháp xác định được các nguyên tố, phương pháplấy mẫu đúng kỹ thuật Ngoài ra, cần nắm được các mô hình canh tác,các hệ thống luân canh, đặc điểm khí hậu tình hình kinh tế, xã hội tại
Trang 13vùng nghiên cứu.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong nông nghiệp, mục đích cuối cùng là làm sao cho cây trồng đạt
năng suất cao, chất lượng tốt, để làm được điều đó cần đạt 3 yêu cầu sau:
chọn giống tốt, thực hiện tốt công tác bảo vệ thực vật, đáp ứng đầy đủ chấtdinh dưỡng cho cây trồng Tuy nhiên phân tích các yếu tố trong đất trên các
mô hình canh tác khác nhau, từ đó tìm ra mô hình canh tác hợp lý vẫn chưađược đi sâu trong những năm qua
Việc tìm được các hệ thống luân canh hợp lý với mỗi loại cây trồng,ngoài việc tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đó, cần xácđịnh được yêu cầu dinh dưỡng của mỗi loại cây trồng, mỗi giai đoạn sinhtrưởng, phát triển của mỗi loại cây, vậy nên cần phải phân tích xác địnhmột số chỉ tiêu nông hóa thổ nhưỡng để cung cấp cơ sở số liệu từ đó tìm ravà lập được hệ thống canh tác hợp lý được tiến hành dễ dàng hơn
Do việc san lấp để nâng cao mặt bằng, đất của trại thực nghiệmNông học hiện tại là đất được chuyên chở từ các nơi khác nhau đến với kếtcấu và chất lượng từng tầng cũng rất khác nhau Do hạn chế về mặt thờigian cũng như mới bước đầu nghiên cứu về đất trại chúng tôi chỉ phân tíchcác chỉ tiêu lý hóa tính chủ yếu, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng củacây trồng ở trại thực nghiệm Cũng bởi vì trại thực nghiệm nông học hiệntại không phải là đất nguyên thổ vì vậy cần phân tích chi tiết các chỉ tiêuhóa tính ở các tầng khác nhau, từ đó có cơ sở khoa học để cải tạo và sửdụng đất hợp lý
1.2 Tình hình nghiên cứu về đất trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đất là một dạng tài nguyên không thể thiếu đối với con người Đấtcó hai nghĩa: (1) đất đai là nơi ở, xây dựng cở sở hạ tầng và (2) thổ nhưỡng
Trang 14là mặt bằng để sản xuất nông lâm ngư nghiệp, phục vụ đời sống cho conngười Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lậplâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, sinh vật, khí hậu,địa hình, thời gian và con người Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạtkhoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35% Giátrị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì [3],[18] Tài nguyên đất của thế giới đã được thống kê như sau:
Tổng diện tích: 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và13.251 triệu ha đất không phủ băng Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canhtác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy Diện tíchđất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu
ha [14] Như vậy theo con số thống kê nói trên, thì diện tích đất đã canh tácchiếm một phần rất nhỏ (10,15%) so với tổng diện tích tự nhiên và khả năngkhai thác đất ở các nước phát triển gấp 2 lần so với nước đang phát triển Vớisự bùng nổ dân số như hiện nay, việc nghiên cứu và khai thác đất phục vụ chonông nghiệp được rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
Những kiến thức về đất đã được tích luỹ từ khi nghề nông bắt đầuphát triển, tức là từ lúc con người chuyển từ thu lượm thực vật hoang dạisang trồng trọt ở đồng ruộng vụ bắt đầu canh tác đất Quá trình sản xuất họkhông ngừng quan sát đất, ghi nhớ các tính chất đất, những kiến thức đóđược tích luỹ từ đời này qua đời khác cùng với sự phát triển của khoa học,chúng được đúc kết lại và nghiên cứu sâu thêm, đó là nguồn gốc phát sinh
ra khoa học thổ nhưỡng
Những kinh nghiệm đầu tiên về đất được tích luỹ được kể đến là từthời cổ Hy-lạp “Sự phân loại đất” độc đáo thấy trong các tuyển tập củanhững nhà triết học cổ Hy-lạp Aristot, Theophrast Thời bấy giờ, các ôngđã chia ra: đất tốt, đất phì nhiêu và đất cằn cỗi, đất không phì nhiêu Tuy
Trang 15vậy, thổ nhưỡng phát triển thành một ngành khoa học muộn hơn rất nhiều
Cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, ở Tây Âu đã nẩy sinh rahai quan điểm khác nhau về đất nông địa chất học và nông hoá học:
- Người đại diện cho nông địa chất học là Fallu Ông cho rằng đất làđá xốp, được hình thành từ đá chặt dưới ảnh hưởng của các quá trình phonghoá đá Ông phủ nhận vai trò tích cực của thực vật trong việc hình thànhđất, và cho rằng thực vật chỉ có vai trò thụ động hút các nguyên tố dinhdưỡng được giải phóng ra khi phong hoá đá mẹ và mẫu chất
- Nông hoá học liên quan đến những công trình của Thaer và Liebig
- là những người đại diện cho trường phái này Họ xem đất chỉ là nguồncung cấp các nguyên tố thụ động cho cây Thaer nêu ra giả thuyết dinhdưỡng thụ động cho cây bằng chất hữu cơ của đất (thuyết dinh dưỡngmùn) Tất nhiên, thuyết này không đúng nên tồn tại không lâu Đến năm
1840, Liebig cho xuất bản tài liệu “Hoá học ứng dụng trong trồng trọt vàsinh lý thực vật” Trong đó, ông nêu ra thực vật hấp thụ các chất dinhdưỡng khoáng từ đất Liebig xem đất không phải là một vật thể thiên nhiênđộc lập, không có sự phát sinh và phát triển, mà chỉ là một kho dự trữ thức
ăn cho cây Chính vì vậy,Liebig đã nêu ra “Quy luật tối thiểu” của thức ăn
vô cơ đối với cây trồng và “Quy luật hoàn lại” cho đất những hợp chất vô
cơ mà cây đã lấy đi trong đất Các qui luật này xem thường các yếu tố hìnhthành độ phì nhiêu của đất Lúc đó, độ phì nhiêu được xem là thành phầnhoá học của đất, định ra những giới hạn cho nó phát triển, từ đó đã đi đếnchỗ thừa nhận một cách công khai cái gọi là “Quy luật độ phì nhiêu giảmdần” của đất Mặt tích cực của học thuyết “Dinh dưỡng khoáng của thựcvật” do Liebig đề ra là trong nông nghiệp đã sử dụng phân hoá học mộtcách rộng rãi Kết quả năng suất cây trồng tăng lên một cách rõ rệt Đó làcống hiến lớn lao của Liebig [4], [12], [18]
Trang 16Như vậy, cả hai trường phái nông địa chất và nông hoá học đã chưaxây dựng được cơ sở để thổ nhưỡng phát triển thành một khoa học đúngđắn Họ cũng không nêu được khái niệm khoa học về sự hình thành đất vàcho rằng đất không phải là vật thể thiên nhiên, độc lập, có lịch sử riêng, vàđất không được phát sinh và phát triển.
Một thời gian sau đó, thổ nhưỡng đã thực sự trở thành khoa họcđược nẩy sinh ở Nga Ở đây đã có những cơ sở khoa học của thổ nhưỡngvà các phương pháp cơ bản nghiên cứu đất Sự hình thành khoa học thổnhưỡng ở Nga do có các yếu tố thúc đẩy sau:
(1) Sau khi chế độ nông nô ở Nga sụp đổ, nền sản xuất nông nghiệpphát triển rất nhanh, ngành trồng trọt phát triển bắt buộc con người phảichú ý tìm hiểu các đặc tính và khả năng của đất đai Người Nga đã nhậnthức rằng vùng đất đen (sécnôzôm) rộng lớn của nước Nga là vựa lúa mìquan trọng cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước Do đó, nhữngcuốn sách “địa bộ” đã ra đời, nội dung mô tả những vấn đề địa lý đất đai,phân chia rõ các khu đất: rừng, đầm cỏ, đầm lầy và đất đang sử dụng canhtác Lúc đó, họ chỉ căn cứ vào phẩm chất của đất mà chia ra các loại tốt,trung bình và xấu
(2) Vào cuối thế kỷ XVIII, công nghiệp nước Nga bắt đầu phát triểnmạnh Các trung tâm công nghiệp và các thành phố lớn đã hình thành đòihỏi nguyên liệu, lương thực và thực phẩm Nhiệm vụ mới của Viện hàn lâmkhoa học nước Nga là nghiên cứu thiên nhiên và đất Nhiều nhà khoa họcthổ nhưỡng đã xuất hiện và góp phần xứng đáng của mình vào việc xâydựng nền móng cho khoa học thổ nhưỡng [1]
Cho đến năm 1711 - 1765, Lômônôxôv bước đầu đã nhận định vềđất như sau: “những núi đá trọc có rêu xanh mọc, sau đó đen dần và trởthành đất, đất ấy được tích luỹ lâu đời, sau đó lại là cơ sở phát triển của các
Trang 17loại rêu to và thực vật khác, đất đó được hình thành và có độ phì nhiêu đảmbảo cho thế hệ thực vật sau phát triển” Với nhận định này, lần đầu tiênLômônôxôv đã nêu ra một cách đúng đắn sự phát triển của đất theo thờigian do tác động của thực vật vào đá Trường đại học tổng hợp Matxcơva
do Lômônôxôv sáng lập đã bắt đầu dạy môn thổ nhưỡng học năm 1755theo đề nghị của ông
P.A Kost-trev (1845 - 1890) là một trong những người đầu tiên sánglập ra khoa học thổ nhưỡng Những công trình của ông đã đặt cơ sở khoahọc cho thổ nhưỡng nông hoá Nghiên cứu đất và thực vật trong mối liênhệ chặt chẽ với nhau Ý nghĩa to lớn của đất đối với nông nghiệp đã chophép ông đưa ra nhiều lý luận có giá trị về thổ nhưỡng và trồng trọt Ôngđã xác định đất là lớp thổ bì trong đó có một khối lớn rễ thực vật phát triểnvà nhấn mạnh mối liên quan chặt chẽ của sự hình thành đất với hoạt độngsống của thực vật Lần đầu tiên, ông đã đưa ra khái niệm về sự hình thànhmùn liên quan đến hoạt động sống của vi sinh vật Những công trình củaông về tốc độ phân giải xác thực vật phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, tínhchất lý học của đất và hợp chất cacbonnat canxi có ý nghĩa rất quan trọng.Ông đã chỉ ra vai trò to lớn của cấu trúc đất bền trong nước đối với độ phìnhiêu của đất Và ông cũng đã nêu lên sự liên hệ chặt chẽ giữa các biệnpháp kỹ thuật nông nghiệp với những tính chất của đất và nhấn mạnh sựcần thiết phải thay đổi các biện pháp canh tác cho phù hợp với điều kiệnkhí hậu và đất đai của từng vùng Trong công trình “đất của vùngsécnôzôm Nga” (1886) ông đã nêu ra các đặc điểm hình thành mùn trongđất và các biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất Công lao lớn của ônglà đã gắn chặt giữa thổ nhưỡng và trồng trọt [2]
V.V Đacutraev (1846 - 1903) Có thể nói ông là người sáng lập rakhoa học về đất, nêu ra những nguyên tắc khoa học về sự phát sinh và phát
Trang 18triển của đất Trước ông, những nghiên cứu về đất không đặt trong mối liênhệ với những qui luật phát sinh và hình thành ra nó Theo ông, nghiên cứunhư vậy không toàn diện và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến không tìm rađược những biện pháp tốt để nâng cao độ phì nhiêu của đất Ông khẳngđịnh rõ ràng mối liên quan có tính chất qui luật giữa đất và các điều kiệncủa môi trường xung quanh Trong nhiều năm ông đã tiến hành nghiên cứuđất Sécnôzôm Những kết quả nghiên cứu của ông được thể hiện ở trongcông trình phân loại đất sécnôzôm ở Nga Trong đó, đáng chú ý nhất là ôngđã nêu ra học thuyết hình thành đất Sécnôzôm, mô tả tính chất của chúng,những số liệu phân tích đặc điểm hình thái, qui luật phân bố đất Sécnôzômvà có cả phương pháp nâng cao độ phì nhiêu Trên cơ sở nghiên cứu ấy,ông đã đưa ra cơ sở khoa học của việc hình thành đất trong điều kiện tựnhiên Ông cho rằng đất là một vật thể thiên nhiên, có lịch sử riêng, nóđược hình thành do tác động của 5 yếu tố là: Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địahình và thời gian Nghiên cứu đất không chỉ xét từng yếu tố, từng điều kiệnriêng rẽ, mà phải xét chúng trong mối liên quan chặt chẽ với nhau Ngoài
ra, ông còn nêu ra các vùng tự nhiên ảnh hưởng tới sự hình thành đất, sơ đồphân loại đất của nửa phía Bắc địa cầu, các phương pháp nghiên cứu đất vànhững biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất Ông đã gắn chặt thổnhưỡng lý thuyết với thực hành và đã nghiên cứu nguyên nhân làm cho khôhạn ở vùng đất thảo nguyên và đưa ra các biện pháp cải thiện chế độ nướcở vùng này để nâng cao độ phì nhiêu của đất [1]
N.M Sibirxev (1860 - 1900) - là người học trò gần gũi nhất, ngườikế tục và cộng tác của Đacutraev Trên nền tảng học thuyết hình thành đấtcủa Đacutraev và học thuyết của Kost-trev, Sibirxev đã nghiên cứu vàSibirxev phát triển thêm, ông coi đất là môi trường cho cây phát triển.Những nghiên cứu chủ yếu của Sibirxev là phân loại, lập bản đồ đất,
Trang 19phương pháp nghiên cứu đất, biện pháp đấu tranh với khô hạn và đánh giáđất Sibirxev nhấn mạnh sự hình thành đất là kết quả biến đổi của đá do tácđộng tổng hợp của các yếu tố sinh vật và vi sinh vật.
K.Đ Gơlinea (1867-1927) là viện sĩ thổ nhưỡng đầu tiên Dưới sựlãnh đạo của ông, nhiều cuộc nghiên cứu thăm dò đất đai đã được tiếnhành, nhất là nghiên cứu đất vùng châu Á của Nga phục vụ cho việc di dân(1908 - 1915) Những kết quả nghiên cứu cho tới nay còn có giá trị lớn lao.Gơlinea đã viết nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về phong hoá đá,phát sinh học và phân loại đất Ông là một trong những người tổ chức rahội thổ nhưỡng và học viện thổ nhưỡng mang tên Đôcutraev
P.S Kossôvic (1862 - 1915) cũng là một trong những người sánglập ra việc nghiên cứu thực nghiệm về lý, hoá học và nông hoá học đất.Trong những công trình của mình, ông không chỉ hệ thống những kiếnthức thực tế về đất, mà còn phát triển, nâng cao những vấn đề hình thànhđất, phân loại đất và tiến hoá đất
V.R Wiliam (1863 - 1939) là một nhà bác học Xô Viết, Viện sĩ thổnhưỡng và nông hoá Ông đã lãnh đạo phái sinh vật học mới trong thổnhưỡng, thống nhất thổ nhưỡng phát sinh của Đacutraev và thổ nhưỡngnông hoá của Kost-trev Viliam đã nêu ra vòng tuần hoàn sinh học là cơ sởcủa sự hình thành đất và độ phì nhiêu của nó Ông đã chỉ ra vai trò quantrọng của sinh vật trong việc hình thành những tính chất của đất, đặc biệtcây xanh, vi sinh vật, thành phần và hoạt động sống của chúng ảnh hưởngtới chiều hướng của quá trình hình thành đất Viliam đã xem sự hình thànhđất là một quá trình thống nhất do tác động của các yếu tố sinh quyển vàthạch quyển Một loại đất cụ thể được hình thành với độ phì nhiêu nhấtđịnh phụ thuộc vào đặc điểm của thực vật, vi sinh vật, động vật, thời gian(tác động của các yếu tố sinh vật vào đá mẹ) và điều kiện cụ thể của môi
Trang 20trường (nhất là khí hậu và địa hình) Những quan điểm của Viliam về quátrình hình thành đất pôtzôn, đất đồng cỏ, đất lầy có ý nghĩa rất lớn đối vớisự phát triển sau này của học thuyết phát sinh học thổ nhưỡng Ông đã chỉ
ra tính chất quan trọng nhất của đất là độ phì nhiêu, đã xem sự hình thànhđất là quá trình phát triển của độ phì nhiêu Trên cơ sở khái niệm củaĐacutraev về sự phát triển của đất, ông đã nhấn mạnh sự tiến hoá của đấtliên quan trực tiếp với sự thay đổi độ phì nhiêu của nó Về phương diệnmùn đất, ông đã chỉ ra ảnh hưởng của hoạt động vi sinh vật tới sự hìnhthành mùn và tính chất của nó Những công trình của ông về lĩnh vực mùnđất đã có ảnh hưởng lớn lao tới việc nghiên cứu tiếp tục vấn đề này về sau
K.K Gêđrôits (1872 - 1932) có công lớn trong lĩnh vực keo đất vàkhả năng hấp phụ của đất Ông đã nêu ra ý nghĩa của keo đất và khả nănghấp phụ trao đổi cation đối với sự phát triển những tính chất của đất vàdinh dưỡng khoáng của thực vật Đồng thời, ông cũng nêu ra nhiều phươngpháp nghiên cứu lý-hoá học đất, đề ra các biện pháp cải tạo đất như bón vôicho đất chua, bón thạch cao cho đất mặn, rửa mặn, bón phốt pho cho đất…những công trình của ông được tiến hành trong giai đoạn thổ nhưỡng đangphát triển mạnh và là cơ sở cho những quan điểm lý-hoá học của quá trìnhhình thành đất và biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất
L.I Prasôlôv (1875 - 1954) là người có những công trình phân loạitheo địa lý thổ nhưỡng có giá trị lớn lao, và ông đã nêu ra những cơ sở khoahọc cho bản đồ thổ nhưỡng hiện đại, lập ra nhiều bản đồ thổ nhưỡng trongnước và thế giới
I.V Tiurin (1892 - 1962) tác giả của nhiều công trình về phát sinhhọc, địa lý thổ nhưỡng, hoá học đất và nhiều phương pháp phân tích hoáhọc đất Tiurin đã có cống hiến lớn lao về lĩnh vực chất hữu cơ, nhất là chấtmùn của đất Ông cho rằng chất mùn được hình thành là kết quả của quá
Trang 21trình sinh hoá học phân giải và tổng hợp chất hữu cơ trong đất Đồng thời,ông đã nêu ra phương pháp nghiên cứu chúng.
Với những tài liệu sử sách để lại thì có thể thấy việc tìm hiểu vànghiên cứu thổ nhưỡng đã tồn tại từ rất lâu và xuất phát từ nhu cầu cấpthiết từ cái ăn của con người Tiến trình nghiên cứu thổ nhưỡng phát triểnmạnh vào thế kỷ 19 cho đến bây giờ Những thành tựu to lớn đó là sự gópcông to lớn của các nhà khoa học Nga Trên nền tảng sẵn có, ngành thổnhưỡng đã gặt hái được nhiều thành công đến bây giờ Đặc biệt phải kể đếncông trình xây dựng bản đồ thế giới của nhà sử học Đức Arno Peters (1916
- 2002) Bản đồ của ông làm cho phong trào thế giới thứ 3 phấn khởi vàđược hầu hết các tổ chức lớn trên quốc tế như FAO - UNESCO sử dụng đểxây dựng bản đồ thế giới và phân loại đất Hiện nay những kết quả vànhững thành tựu về nghiên cứu đất và đánh giá đất đai đã được cộng đồngthế giới tổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ hoạt động của các tổchức liên hiệp quốc (FAO, UNESCO, IRSC …) như tài sản tri thức chungcủa nhân loại Cho đến bây giờ con người đã sử dụng nhiều công cụ hiệnđại để phục vụ trong công tác nghiên cứu thổ nhưỡng như Viễn thám, GIS,máy bay…
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đất nước Việt Nam trải dài hơn 3260 km bờ biển với diện tích tựnhiên là 33.091.093 ha xếp thứ 55 trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới.Song vì dân số đông (đứng thứ 12) nên bình quân đất tự nhiên theo đầungười vào loại thấp (thứ 120) với mức 0,48 ha/người chỉ bằng 1/6 mứcbình quân trên thế giới Trong đó diện tích đảo, núi đá ngoài biển khoảng1.370.100 ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích tự nhiên), phần đất liềnkhoảng 31,2 triệu ha (chiếm 94,5% diện tích tự nhiên) Phần đất liền với3/4 tổng diện tích là đồi núi, do vậy việc canh tác nông nghiệp rất khó khănvà phức tạp Diện tích đất nông nghiệp chiếm 22,2% nhưng nền nông
Trang 22nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng trong mục tiêu phát triển chung của đấtnước (Viện Nông Hoá, 2007[43], [13], [14]).
Sự hiểu biết của người xưa về điều kiện tự nhiên và đất lúc bấy giờthể hiện từ Dư địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn, hay nhiều tác phẩm kháccủa Lê Tác, Lê Quí Đôn, Nguyễn Nghiêm, Văn An ở thế kỷ thứ 15; hoặccâu nói của Lê Quý Đôn về những kiến thức về tự nhiên và đất từ xa xưa:
“Từ khi có trời đất là có núi sông, khung thành dầu có khác mà núi sôngkhông đổi” (Đất Việt nam, 2000) [29]
Trên quan điểm sử dụng đất, các ông đã nêu ra cách phân loại như:đất đồi, đất phù sa, đất chua mặn, đất mặn, đất bạc màu…; hoặc phân loạiđất theo thành phần cơ giới như đất sét, đất thịt, đất cát già, đất cát non;hoặc về việc phân hạng đất đã dựa tính chất, độ phì nhiêu của đất, mức độruộng tốt xấu Từ đó, các ông cũng đã đưa ra bảng phân hạng đất như
“nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền” Tiếp theo là sự phân loại đấttheo điều kiện địa hình như đất cao, đất trũng, đất chiêm trũng Phân loạiđất dựa theo khả năng, đồng thời vụ sản xuất như đất hai vụ lúa, đất một
vụ lúa, một vụ màu, đất chuyển màu,… những kiến thức đó được đúc kếtdựa trên kinh nghiệm thực tế và đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễnsản xuất Sau đó, những kiến thức tích luỹ về đất hoặc liên quan đến đấttrồng, qua quá trình sản xuất của người xưa cũng đã đúc rút thành kinhnghiệm và đưa ra những những biện pháp có cơ sở khoa học vững chắcnhư: Làm ải, làm cỏ sục bùn, phơi ruộng,… [4]
Đất của Việt Nam đa dạng về loài, phong phú về khả năng sử dụng.Căn cứ vào nguồn gốc hình thành có thể phân ra 2 nhóm lớn: (1) nhóm đấtđược hình thành do bồi tụ (đất thuỷ thành) có diện tích khoảng 8 triệu ha,chiếm 28,27% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất đồng bằng khoảng 7triệu ha; (2) nhóm đất được hình thành tại chỗ (đất địa thành) có khoảng 25triệu ha [10]
Trang 23Nhìn chung, các quá trình chính trong đất của Việt nam bao gồm:quá trình phong hoá, trong đó phong hoá hoá học và phong hoá sinh họcxảy ra mạnh hơn phong hoá lý học, bao gồm các quá trình: quá trình mùnhoá, quá trình bồi tụ đất đồng bằng và đất đồng bằng miền núi; quá trìnhglây hoá, quá trình mặn hóa… Tuỳ theo điều kiện kiện địa hình, điều kiệnmôi trường và phương thức sử dụng mà quá trình này hay quá trình khácchiếm ưu thế, quyết định đến hình thành nhóm, loại đất với các tính chấtđặc trưng khác nhau [11].
Khó có thể tách rời lịch sử nghiên cứu đất với lịch sử phát triển nôngnghiệp Khoa học đất Việt Nam phát triển cùng với sự xâm chiếm của thựcdân Pháp, các nhà khoa học người Pháp, J Lan, F Roule, G Frontau, R.Auriol, R.Dumont…Nghị định tổ chức Uỷ ban Công nghiệp Nam Kỳ 1865thúc đẩy những nghiên cứu về nông nghiệp cùng như tài nguyên đất đai.Đến năm 1888, công tác nghiên cứu về đất có mô tả và xem xét phân tíchtrong phòng thí nghiệm đầu tiên ở Việt nam Đến năm 1890, đã phân tíchđược thành phần hoá học của một số mẫu đất Nam Bộ Cho đến 1901 côngtác phân tích đã được phát triển và thực hiện 49 mẫu đất ở Gò Công và BếnTre Lúc bấy giờ đất Nam Kỳ đã được nghiên cứu và chia ra 3 loại hình:Đất phù sa sét đồng bằng; Đất cát nhẹ miền Đông; Đất ở loại hình trunggian khác [2]
Năm 1903, ở Hà Nội cũng thành lập phòng nghiên cứu và phân tíchnông công nghiệp, thời điểm này Aupray đã nghiên cứu, phân tích đất ởtrại thí nghiệm trồng ngô Thanh Ban - Phú Thọ Năm 1903 - 1909, là thời
kỳ tập trung công tác nghiên cứu đất và phân bón tại 8 trạm nghiên cứu Bắcvà Trung kỳ
Năm 1930, Jve Henry xứng đáng được nhắc đến với tác phẩm có tầmcỡ đầu tiên: ”Đất đỏ và đất đen phát triển trên đá mẹ bazan ở Đông
Trang 24Dương” Tác phẩm đã phản ánh đầy đủ điều kiện phát sinh phát triển tínhchất các nhóm đất phát triển trên đá mẹ bazan và các tiểu vùng phân bố củachúng ở Việt Nam Đây là tác phẩm có giá trị nhất thời bấy giờ [3],[12].
Trải qua hai cuộc kháng chiến khó khăn, khốc liệt, sau cách mạngtháng 8 thành công năm 1945, ngành khoa học đất Việt Nam không ngừngphát triển và đã mang lại những thành tựu to lớn Những nghiên cứu toàndiện trên mọi chuyên ngành của khoa học đất như: Phát sinh học đất, phânloại và bản đồ, vật lý thổ nhưỡng, hoá học thổ nhưỡng, sinh học thổnhưỡng, trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và ở phạm vicả nước, đồng thời đã có những kết quả nghiên cứu về phân loại đất như
- Phân loại đất Miền Bắc (1959) có 5 nhóm và 18 đơn vị, sau đó bổsung có cơ sở hơn (V.M.Fridland 1964) gồm 5 nhóm và 28 đơn vị
- Phân loại đầu tiên đất Miền Nam (F.R.Moorman 1960) có 7 nhómvà 25 đơn vị Phân loại chung đất Việt Nam trong bản đồ tỷ lệ 1/1000.000(1976) gồm 13 nhóm và 30 đơn vị
- Phân loại đất dùng cho bản đồ tỷ lệ trung bình và lớn (1978) gồm
14 nhóm và 64 đơn vị [29][14]
Đất Việt Nam (chú giải bản đồ đất, tỷ lệ 1/1000.000) đã đúc kết cậpnhật và hệ thống hoá các nghiên cứu đất toàn quốc và tiến hành theo hệthống phân vị ba cấp tương đương như FAO - UNESCO: Nhóm (cấp I),đơn vị (cấp II), đơn vị phụ (cấp III) Các tác giả đã phân chia đất Việt Namthành 19 nhóm bao gồm 54 đơn vị, công trình này có ý nghĩa rất lớn trongcác nghiên cứu đất cũng như qui hoạch sử dụng đất ở những phạm vi lớn[4], [18]
Đánh giá phân hạng đất đai khái quát toàn quốc của Tôn Thất Chiểuvà nhóm nghiên cứu thực hiện năm (1999) với tỷ lệ bản đồ 1/500.000.Phương pháp đánh giá ở đây dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai
Trang 25của bộ nông nghiệp Hoa Kỳ Chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng vàđịa hình sử dụng nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp, gồm 7 nhóm đấtđai được phân lập cho sản xuất nông, lâm nghiệp và mục đích khác.
Nghiên cứu đánh giá và quy hoạch đất khai hoang ở Việt Nam củaBùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu (1991) đã ứng dụng phân loại khảnăng của FAO Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên(thổ nhưỡng, thuỷ văn và tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp) và nghiên cứumới chỉ dừng lại ở lớp thích nghi cho từng loại hình sử dụng
Vào năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã chỉ đạothực hiện công tác đánh giá đất trên cả 9 vùng sinh thái của cả nước vớibản đồ tỷ lệ 1/250.000 Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đấtđai của các vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung, phương phápđánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam làphù hợp trong hoàn cảnh hiện nay [3]
Trần An Phong (1994) khi nghiên cứu về đất, ông đã đưa ra kết quảđánh giá hiện trạng sử dụng đất nước ta theo quan điểm sinh thái và lâubền, phương pháp đánh giá này đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa cácyếu tố tính chất của đất, hiện trạng sử dụng đất, tính thích nghi đất đai vùngsinh thái
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất lâm nghiệp ở từng vùng sinh thái vàtrong toàn quốc của Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2000) [13] là phươngpháp ứng dụng phần mềm GIS trên máy tính để xây dựng các bản đồ đánhgiá tiềm năng sử dụng đất trong lâm nghiệp, phương pháp này cho phép lợidụng được các thông tin sẵn có và có ý nghĩa là mang tính chiến lược và dựbáo
Từ đó cho đến nay, ngành Khoa học đất không ngừng phát triển Hầunhư trong các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp đều thành lập chuyên ngànhNông hóa - Thổ nhưỡng và phòng phân tích thổ nhưỡng để phục vụ công
Trang 26tác nghiên cứu nông nghiệp Nói như vậy, ngành khoa học đất thực sự khởisắc và đã để lại nhiều công trình nghiên cứu tầm cỡ cho đất nước ta.
Nghiên cứu về đất trên vùng nghiên cứu gần đây có Nguyễn ThịThủy, nghiên cứu về ” chất lượng đất cát ven biển huyện Nghi Lộc – Nghệan”, 2009
1.3 Tổng quan về đặc điểm lý hoá tính đất
1.3.1 Khái quát về đặc điểm vật lý đất
Các tính chất lý học của đất là các tính chất về mặt vật lý có liênquan đến sự hình thành, bản chất và khả năng sử dụng của đất Chúng khácnhau tùy thuộc vào từng loại đất, điều kiện hình thành và sử dụng đất Cáctính chất vật lý quan trọng nhất của đất là dung trọng, tỷ trọng, độ xốp, cấutrúc và thành phần cơ giới đất Các tính chất này có ý nghĩa rất quan trọngtrong khi ta xem xét quyết định mục đích sử dụng đất [22]
Khác với các tính chất hóa học có thể thay đổi khá lớn khi có tác độngcủa con người như bón phân, các tính chất vật lý của đất hầu như không thểthay đổi được dưới tác động của con người Chính vì vậy, có thể xem cáctính chất vật lý đất là những tính chất mang tính bản chất của đất Chúngquyết định nhiều đến độ phì nhiêu của đất, khả năng tiếp nhận, lưu giữ cácchất dinh dưỡng đất, cũng như điều kiện môi trường cho việc sử dụng chấtdinh dưỡng của cây Canh tác hợp lý sẽ giúp đất ngày càng thuần thục, ổnđịnh và nâng cao độ phì đất, duy trì và tăng cao năng suất, chất lượng nôngsản Ngược lại, canh tác không hợp lý trong thời gian tương đối dài cũngdẫn đến những thay đổi, chủ yếu là theo chiều hướng bất lợi cho sử dụngđất, của các tính chất vật lý đất như hiện tượng đất bị chai cứng Khi chúngthay đổi thì những biện pháp khắc phục thường rất khó khăn, tốn kém và
Trang 27thiếu hiệu quả Do đó, nghiên cứu các tính chất vật lý của đất giúp ta hiểu
rõ về bản chất, quá trình hình thành đất Nắm rõ những điểm chính về bảnchất của đất giúp ta hoạch định kế hoạch sử dụng đất hợp lý nhất, tiết kiệmvà hiệu quả nhất
+ Một số tính chất vật lý
Tỉ trọng đất: Tỉ trọng đất là khối lượng của một đơn vị thể tíchnhững hạt đất khô kiệt, xít chặt, tính bằng g/cm3 [22]
Tỉ trọng đất được quyết định chủ yếu bằng các khoáng nguyênsinh, thứ sinh và các khoáng nguyên sinh và chất hữu cơ trong đất Vìtỷ lệ chất hữu cơ trong đất không lớn nên thực tế tỉ trọng đất chủ yếuphụ thuộc vào thành phần khoáng vật và thành phần hoá học của đất
Ta có thể so sánh tỉ trọng một số khoáng vật và đất để thấy rõhơn (bảng 2.1)
Bảng 2.1 So sánh tỷ trọng một số khoáng vật và đất
Nguồn: Vũ Hữu Yêm, 2003
Trang 28Như vậy, đất càng nhỏ mịn thì tỉ trọng càng lớn và nếu đất càng nhiều
mùn thì tỷ trọng sẽ càng nhỏ
Dung trọng:
Dung trọng được sử dụng để đánh giá đất vì nó phụ thuộc vào thành phần khoáng , chất hữu cơ và kết cấu ( bảng 2.2.)
Bảng 2.2 Sử dụng dung trọng để đánh giá đất:
Dung trọng (g/cm 3 ) Đánh giá
1,4 – 1,6 Đất ở tầng dưới tầng canh tác
Nguồn: Vũ Hữu Yêm, 2003
Độ xốp đất: Độ xốp đất là tỷ lệ phần trăm các khe hở trong đất so với thể tích chung của đất Độ xốp có thể biến động từ 30 – 70 %phụ thuộc vào kết cấu đất, dung trọng và tỷ trọng của đất, độ xốp thích hợp nhất cho trồng trọt (60 – 70) [22]
Thành phần cơ giới đất: Thành phần cơ giới còn được gọi là thành
phần cấp hạt của đất Đây là hàm lượng phần trăm của những nguyên tố cơhọc có kích thước khác nhau khi đoàn lạp đất ở trong trạng thái phân hủy
Thành phần cơ giới của đất có ý nghĩa rất lớn về mặt môi trường khiđánh giá đất Đất có thành phần cơ giới nặng (đất sét, đất sét pha thịt)thường có khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm các nguyên tố kim loại nặng
Trang 29độc hại cho cây trồng và sức khỏe con người với dung tích hấp phụ lớn Đólà do các nguyên tố cơ học đất ở cấp hạt sét, là các khoáng sét và các phứchữu cơ – khoáng có tỷ diện bề mặt lớn, do đó chúng có khả năng lưu giữ vàgiải phóng, kiểm soát sự vận chuyển các chất ô nhiễm.
Các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (đất cát, cát pha) cũng ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường đất do hiện tượng rửa trôi mạnh mẽ cácchất dinh dưỡng trong đất Ngoài ra, đất có thành phần cơ giới nhẹ cũnglàm mất cân bằng nước/ không khí trong đất do không giữ được nước(nước bị trọng lực hút nhanh), đất dễ bị khô cũng ảnh hưởng lớn đến hoạttính sinh học của đất Đất có thành phần cơ giới nhẹ thường dễ bị thoái hóa
do các các nguyên tố cơ học ít dính kết, rời rạc nên dễ bị cuốn trôi do gióhoặc rửa trôi do nước Các đất có thành phần cơ giới nhẹ thường nghèodinh dưỡng và khó sử dụng cho sản xuất nông nghiệp do không giữ đượcnước
Thành phần cấp hạt còn liên quan mật thiết đến các tính chất vật lý đấtkhác như độ xốp, độ chặt, độ ẩm đất Nhìn chung, đất có thành phần cấphạt thích hợp cho cây trồng là đất thịt Tuy nhiên, quá trình canh tác vớiviệc giữ nước một thời gian dài trong năm trên ruộng và sử dụng các công
cụ cơ giới thường xuyên đã thay đổi đáng kể cấu trúc đất, tạo thành mộttầng đế cày ở độ sau dưới bề mặt đất khoảng 20 cm, khiến các cấu tượngđất liên kết với nhau bền vững hơn, đã phần nào thay đổi tỷ lệ các cấp hạttrong đất Việc làm đất nhằm giúp đất trở lên tơi xốp hơn, giải phóng nhiềuchất dinh dưỡng hơn cho dung dịch đất là biện pháp thường được áp dụng.Ngoài ra, thành phần cấp hạt của đất còn có liên quan mật thiết đến các tínhchất hóa học của đất Các nguyên tố cơ học ở cấp hạt sét thường có khảnăng hấp phụ và trao đổi các chất dinh dưỡng khoáng với dung dịch đất
Trang 30theo cơ chế cân bằng động Nguồn khoáng chất dưới dạng hòa tan trongdung dịch đất chính là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng Đặc biệt,các nguyên tố cơ học hữu cơ (mùn đất) chính là nguồn dự trữ các chất dinhdưỡng và sẽ giải phóng dưỡng chất cung cấp cho cây trồng khi được huyđộng.
Việc bón phân khoáng không hợp lý, nhất là các phân bón chua sinhlý đã tăng cường vào đất một số thành phần hóa học không thích hợp,chúng kết hợp với các nguyên tố có sẵn trong đất, tạo thành các nguyên tố
cơ học mới, làm thay đổi tỷ lệ cấp hạt trong đất và về mặt hóa học làm đấtchua hơn, về mặt vật lý làm đất chai cứng lại do các nguyên tố cơ học đấtnói trên đã tạo thành các chất xi – măng trong đất, liên kết các cấu tượngđất Quy định về cấp hạt được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Phân loại thành phần cấp hạt
Tên gọi Đường kính (mm) Tên gọi Đường kính (mm)
Cát to 1 – 2 Cát thô 0,2 - 2 Cát trung bình 0,5 – 1
Cát nhỏ 0,05 – 0,5 Cát mịn 0,02 – 0,2 Limon to 0,01 – 0,05
Limon trung bình 0,005 – 0,01 Limon 0,002 – 0,02 Limon nhỏ 0,002 – 0,005
Sét thô 0,0005 – 0,001 Sét 0,0002 – 0,002 Sét nhỏ 0,0001 – 0,0005
Trang 31Keo sét < 0,0001
+ Độ chua
Đất có phản úng chua khi trong đất có chứa nhiều cation H+ và
Al3+, mức độ chua phụ thuộc vào nồng độ của các cation H+ và Al3+ Nồngđộ các cation này trong đất càng cao thì đất càng chua Những loại đất cóđộ phì nhiêu cao đều phải có một giới hạn pH nhất định không quá chuahoặc quá kiềm [23]
Một số nghiên cứu đã cho thấy khi pH đất < 3 rất hạn chế đối vớinhiều loại cây trồng pH từ 3 đến 4 hạn chế vừa và nếu pH > 4 ít hạn chếcây trồng [1]
Bảng 2.4 Giá trị chỉ thị của pH KCl trong 6 nhóm đất chính của Việt Nam
Nhóm đất Khoảng giá trị Trung bình
Chú thích: (*)đất khô
Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7377: 2004)
1.3.2 Các đặc tính hoá học của đất
+ Chất hữu cơ(OC)
Dấu hiệu cơ bản làm đất khác đá mẹ là đất có chất hữu cơ Số lượngvà tính chất của chúng tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành đất,quyết định nhiều tính chất lý, hoá, sinh và độ phì nhiêu của đất
Theo Đỗ Ánh và cộng sự (2000) [1], đất đồng bằng đơn giản dựa vàohàm lượng chất hữu cơ (OM) được phân theo 3 cấp gồm khi OM dưới 1%
Trang 32là đất nghèo hữu cơ, OM từ 2% là đất có hữu cơ trung bình và OM trên2% là đất giàu hữu cơ.
Phan Liêu cho rằng đất cát biển chỉ có 0,9% mùn và theo Lê VănTiềm cho rằng chất hữu cơ dưới 1% : rất nghèo, 1 - 2%: nghèo, 2 - 3%:trung bình, 3 - 5 %: khá và trên 5%: giàu [8] Chỉ thị về hàm lượng củacacbon hữu cơ trong một số nhóm đất chính ở Việt Nam được thống kê ởbảng sau 2.5
Bảng 2.5 Giá trị chỉ thị về hàm lượng của cacbon hữu cơ (OC, %) trong 6 nhóm đất chính của Việt Nam
Nhóm đất Các bon hữu cơ tổng số (OC,%)
Khoảng giá trị Trung bình
Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7376: 2004 )
+ Đạm tổng số (N%)
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quyết định năng suất cây trồng, Ntrong từng loại đất phù thuộc vào hàm lượng hữu cơ trong đất, đất giàumùn thì có nhiều N Đỗ ánh và CS (2000) [1] đề nghị phân chia hàm lượngđạm trong đất theo 3 cấp gồm đất nghèo đạm khi có dưới 0,1% N, đất cóhàm lượng đạm trung bình khi chứa từ 0,1 đến 0,2% N và đất giàu đạm khicó trên 0,2%N
Đạm tổng số trong đất dao động từ 0,04 - 0,5 % tùy thuộc vào loạiđất Đất giàu đạm nhất là đất mùn trên núi và đất nghèo đạm nhất là đất bạcmàu
Trang 33Bảng 2.6 Khoảng giá trị chỉ thị của Nitơ tổng số trong 6 nhóm đất chính của Việt Nam
Nhóm đất Ni tơ tổng số (N, %)
Khoảng giá trị Trung bình
0,177 0,141
0, 072 0,293 0,156 0,068
Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7373: 2004)
* Lân tổng số và lân dễ tiêu
Sau N là P nguyên tố rất cần thiết đối với cây trồng, trong đất P làchỉ tiêu đánh giá độ phì của đất, đất giàu P mới có độ màu mỡ cao, ngượclại đất có độ màu mỡ cao đều giàu P” P có ý nghĩa về mặt dinh dưỡngcũng như về mặt khắc phục một số yếu tố trong đất độc hại của cây trồng
Ở đất chua có Fe, Al, ion H2PO4- chiếm phần lớn (99%) dễ xảy ra các phảnứng với các ion này tạo thành photphat sắt nhôm khó hòa tan hơn
Trong đất nguyên tố P chủ yếu từ apatit, photphorit phong hóa tạothành chiếm khoảng 0,08%, P trong đất tồn tại ở 2 dạng:
- P vô cơ chủ yếu là các muối Ca, Al, Fe trong đất trung tính và đấtkiềm photphat canxi chiếm ưu thế
Giá trị chỉ thị của hàm lượng phốt pho tổng số trong một số nhóm đất chính của Việt Nam được tại bảng 2.7
Trang 34Bảng 2.7 Giới hạn chỉ thị của hàm lượng phốt pho tổng số trong 6 nhóm đất
chính của Việt Nam
Nhóm đất Phốt pho tổng số (P2O5, %)
Khoảng giá trị Trung bình
Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7374: 2004)
* Đặc điểm và vai trò của nguyên tố Kali
Các nghiên cứu cho thấy K trong đất tập trung chủ yếu vào các hạtlimon mịn và vừa nếu có chứa khoáng nguyên sinh Như vậy sự phân bố vềmức độ tập trung K phụ thuộc vào nguồn đá mẹ, mức độ khoáng hóa, vàphụ thuộc vào sự hình thành đất Quá trình phong hóa lâu dài để hình thànhđất, K được giải phóng, và được giữ lại trong tất cả các cấp hạt, chủ yếutrong các cấp hạt nhỏ đối với khoáng thứ sinh và trong limon chứa nhiềukhoáng nguyên sinh giàu Kali
Do tốc độ phong hóa nhanh và rửa trôi mạnh nói chung Kali tổng sốcủa đất Việt Nam thấp và đặc biệt Kali trao đổi chiếm 1 tỷ lệ nhỏ so vớiKali tổng số(0,2- 0,5% đối với đất ngập nước, và 1- 2% đối với đất cạn)
Tác giả Nguyễn Văn Chiến (1999) đã chia các loại đất theo khả năngcung cấp kali như sau:
• Nhóm có tiềm năng cung cấp kali cao gồm đất mặn ven biển, đấtphèn
• Nhóm có tiềm năng cung cấp kali khá: Đất phù sa sông Hồng
Trang 35• Nhóm có tiềm năng cung cấp kali trung bình: đất chiêm trũng, phù
sa một số con sông miền Trung và sông Thái Bình
• Nhóm có tiềm năng cung cấp kali thấp: đất bazan, đất đỏ vàng trênđá vôi, đất đỏ vàng trên đá granit
• Nhóm có tiềm năng cung cấp kali rất thấp: đất phiến thạch sét, đấtđỏ vàng trên mica, đất xám bạc màu và đất cát biển
Bảng 2.8 Giới hạn chỉ thị về hàm lượng kali tổng số trong 6 nhóm đất chính của Việt Nam
Nhóm đất Kali tổng số (K2O, %)
Khoảng giá trị Trung bình
Nguồn: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7375: 2004)
+ Các cation kiềm thổ trao đổi.
Canxi: Về mặt dinh dưỡng lượng Ca++ trao đổi thấp là 0,40 1đ1/100đất Mandra (1995) (dẫn theo Vũ Hữu Yêm, 2007) [23] cho rằng khi Ca++ <21đ1/100 gam đất đã phải bón vôi để cải tạo đất Nhu cầu cung cấp vôi chođất còn ở chỗ phải bảo đảm cân đối Ca/Mg
Magiê: Đối với cây trồng, khi lượng Mg++ trao đổi đạt 0,28 – 0,401đ1/100gam đất tuỳ theo loại đất và cây mà cây trồng không phản ứng vớiviệc phân magiê nữa (Lombin và Fayemi, 1975) Cần phải bảo đảm đủmagiê cho cây, song lại phải khống chế không để magiê vào cây quá nhiều
sẽ gây ngộ độc cho cây Do vậy, phải nhận xét mối cân đối Ca/Mg – K/Mgvà (Ca + Mg)/K bảo đảm cho kết cấu đất được bền vững và cây trồng pháttriển tốt (Vũ Hữu Yêm, 2007)
+ Dung tích hấp phụ (CEC)
Trang 36Dung tích hấp phụ hay khả năng trao đổi cation của đất đượccoi là một trong những yếu tố độ phì quan trọng nhất Đất có CEC cao, đặcbiệt tổng các cation kiềm và kiềm thổ cao sẽ làm tăng khả năng trao đổi.Các cation dinh dưỡng như K+
, Ca2+, NH4+, Mg2+ sẽ được giải phóng đểcung cấp cho cây khi trong dung dịch đất thiếu các cation này hoặc đượcgiữ lại trên bề mặt keo đất khi dư thừa do mới bón phân hoặc khi khoánghoá chất hữu cơ trong đất diễn ra mạnh mẽ Do đó thông qua CEC để đánhgiá được khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất cho cây trồng cũng nhưnhu cầu và hiệu lực của phân bón cho cây đối với từng loại đất Đỗ ánh và
cs, (2000) [1] đề nghị phân CEC theo 3 cấp gồm đất hấp thụ thấp, đất cókhả năng hấp thụ trung bình và đất hấp phụ cao tương ứng với CEC nhỏhơn 10me/100 đất, CEC từ 10 đến 20me/100g đất và CEC lớn hơn20me/100g đất
+ Các nguyên tố vi lượng
Các nguyên tố vi lượng là các nguyên tố dinh dưỡng đóng vai tròrất quan trọng trong hoạt động sống của cây trồng nhưng hàm lượng củachúng trong cây rất ít, từ 10-3 – 10-5% Các nguyên tố vi lượng gồm cóMolipden (Mo), Bo (B), Kẽm (Zn), đồng (Cu), Mangan (Mn), Miken (Ni),Coban(Co) [37]
Ngoài những nguyên tố đa và trung lượng như N, P, K, Ca, Mg muốn tăng năng suất và phẩm chất nông sản cần phải bón cho đất nhữngnguyên tố vi lượng tuỳ theo yêu cầu của từng cáy trồng Do đó, yêu cầu vềphân vi lượng là vô cùng cấp thiết, cần tìm hiểu hàm lượng các nguyên tố vilượng trong một số loại đất để sử dụng phân vi lượng đạt hiệu suất cao nângcao độ phì nhiêu của đất một cách toàn diện (Nguyễn Vy và cs, 1978) [20]
1.3.3 Đánh giá đặc tính lý hoá đất phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững (NNBV) ngày càng được nói đến nhiều hơnvà được coi là một bộ phận thiết yếu của nền kinh tế bền vững hiện đại.Theo Rosemary Morrow (1994) thì nông nghiệp bền vững được xây dựngtrên nền tảng của nền tảng của sinh thái học tức là sự nghiên cứu nhữngmối liên hệ và tương quan giữa các cơ thể sống và môi trường của chúng
Trang 37Hiệu quả của một phương pháp mới làm bền vững và phong phú hơn chocuộc sống mà không gây suy thoái môi trường tự nhiên - xã hội [9].
Nói đến nông nghiệp bền vững, nhóm cố vấn nghiên cứu nôngnghiệp quốc tế (CGIR), 1989 đã định nghĩa nông nghiệp bền vững là sựquản lý thành công các nguồn tài nguyên đối với nông nghiệp để đảm bảothỏa mãn các nhu cầu thay đổi của con người nhưng vẫn duy trì và tăngcường chất lượng của môi trường Còn theo Tổ chức ủy ban thế giới về môitrường và phát triển của liên hợp quốc (WCED) thì nông nghiệp bền vữnglà sự đáp ứng được các nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con ngườihiện nay, nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu riêng của thế hệ tương lai.Có thể nói có rất nhiều quan điểm về nông nghiệp bền vững song nhìnchung, NNBV đã được nhiều tác giả thừa nhận là:” những hệ thống định cưlâu bền, là minh chứng cho một cách tiếp cận về sử dụng đất, tạo ra mốiliên kết chặt chẽ giữa tiểu vùng khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súcvật, đất nước và những nhu cầu của con người, xây dựng nên những cộngđồng chặt chẽ và có hiệu quả” Như vậy,một nền NNBV phải đạt được cả
ba mục đích:
- Gìn giữ và làm phong phú môi trường
- Đạt hiệu quả kinh tế cao
- Bảo đảm công bằng kinh tế và công bằng xã hội
1.4 Một số đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên của Nghệ An
* Vị trí địa lý
Tỉnh Nghệ An thuộc Bắc Trung Bộ nước Việt Nam, tọa độ địa lý
18033’10” đến 19024’43” vĩ độ Bắc và từ 103052’53” đến 105045’50” kinh độĐông Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tâygiáp Lào, phía đông giáp biển Đông Nghệ An bao gồm 1 thành phố trựcthuộc, 2 thị xã và 17 huyện
Diện tích: 16.487 km2
Trang 38* Đặc điểm khí hậu - thời tiết:
- Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tácđộng trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8dương lịch hàng năm) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đếntháng 3 dương lịch năm sau)
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.616,9mm Lượng mưa thấpnhất là 1.110,1mm ở huyện Tương Dương Nhiệt độ trung bình: 25,20C Sốgiờ nắng trong năm: 1.460 giờ Độ ẩm tương đối trung bình: 86 - 87% Độẩm thấp nhất là 42% vào tháng 7
1.4.2 Đặc điểm tự nhiên của Nghi Lộc
Nghi Lộc nằm ở vị trí 18054’ vĩ độ Bắc và 105045’ kinh độ Đông, độcao so với mực nước biển là 18,5m Đây là vùng đồng bằng, chủ yếu là đấtcát, đất thịt nhẹ và trung bình, là khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cómùa đông lạnh và mùa hè nóng
Nhiệt độ trung bình năm là 23,90C mùa hè nhiệt độ khá cao, nóngnhất vào tháng 6 (30,20C), mùa đông nhiệt độ hạ xuống thấp nhất vào tháng
- Lượng mưa trung bình hàng năm1.670mm.
- Nhiệt độ trung bình 25,2 0C
- Số giờ nắng trong năm 1.420 giờ.
Trang 39- Độ ẩm tương đối trung bình 86-87 (%).
Tình hình khí tượng của vùng tại thời điểm nghiên cứu:
Bảng 2.9 Bảng số liệu khí tượng từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011
Thán
g
Nhiệt độ (0 0 C) Mưa (mm) Độ ẩm (%)
Sn (giờ) Ttb Tma x Tmi n S.ngà y Lượng Utb Umi n
Trang 40Chương 2 ĐỊA ĐIỂM,VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
* Mẫu đất được lấy từ trại thực nghiệm khoa Nông Lâm Ngư
* Phân tích đặc điểm hóa tính trong phòng thí nghiệm Bộ môn Nônghọc, khoa Nông Lâm Ngư, và PTN Trung tâm trường Đại Học Vinh
2.2 Vật liệu nghiên cứu
* Dụng cụ lấy mẫu: khoan mẫu đất, ống dung trọng, cuốc, xẻng, daoinox, thước đo, bao bóng, vòng chun, bút viết
* Các thiết bị phục vụ phân tích như: máy nghiền mẫu, máy lắc rây,máy ly tâm, máy lắc mẫu, máy so màu, cân phân tích, tủ sấy máy cất đạm,máy gia nhiệt, nồi cách thuỷ,
* Các dụng cụ thí nghiệm: pipet, buret, bình tam giác, cốc đong, ốngđong, bình định mức các cỡ, bộ cất Kendal
* Các hoá cần thiết cho thí nghiệm: theo sổ tay phân tích đất, nước,phân bón và cây trồng của Viện thổ nhưỡng - Nông hoá
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Đặc điểm lý hoá tính đất của trại thực nghiệm nông học khoa NôngLâm Ngư Trường Đại học Vinh
- Đề xuất hướng sử dụng đất trại hợp lý theo quy hoạch cây trồng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu mẫu đất
Lấy mẫu đất là khâu quan trọng đầu tiên trong phân tích đất Lấymẫu chính xác, đúng kỹ thuật thì các số liệu mới phản ánh được thực trạngcủa đất nơi nghiên cứu Để lấy mẫu chính xác thì trong quá trình lấy mẫucần đảm bảo 2 yêu cầu sau: