1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn pháp luật về thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng

71 112 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì việc nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển tiềm ẩn rủi ro cao như vậy, nên các tổ chức tín dụng chưa mạnh dạn áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay này, dẫn đến nhiều doanh nghiệp khó có kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG ANH SƠN

TP HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 2

Tôi - Lý Thị Ngọc Loan - xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của mình dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Dương Anh Sơn Mọi tài liệu tham khảo đều được trích dẫn và ghi nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Lý Thị Ngọc Loan

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN TẠI TỔ

CHỨC TÍN DỤNG 8

1.1 Hàng hóa luân chuyển 8

1.1.1 Khái niệm hàng hoá luân chuyển 8

1.1.2 Đặc điểm của hàng hoá luân chuyển 11

1.2 Thế chấp hàng hóa luân chuyển 15

1.2.1 Khái quát về thế chấp hàng hóa luân chuyển 15

1.2.2 Đặc điểm của thế chấp hàng hóa luân chuyển 20

1.3 Mối liên hệ giữa nghiệp vụ cho vay và nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng 25

1.4 Ý nghĩa của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ CỦA THẾ CHẤP HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 35

2.1 Điều kiện nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển 35

2.2 Đăng ký biện pháp bảo đảm là thế chấp hàng hóa luân chuyển 39

2.3 Quyền được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển của bên thế chấp 42

2.4 Quản lý khoản phải thu phát sinh từ tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển 49

2.5 Quản lý tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển 52

2.6 Xử lý tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển 59

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62

PHẦN KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp trong ngành sản xuất cần đến nguồn vốn của các tổ chức tín dụng Ngược lại, để đảm bảo khả năng thu hồi khoản vay, bao gồm nợ gốc và lãi, bên cạnh việc thẩm định khách hàng kỹ càng về khả năng tài chính, phương án sử dụng vốn vay, dự án thực hiện hoạt động kinh doanh hiệu quả, các tổ chức tín dụng cũng rất chú trọng đến vấn đề áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay Mặc dù việc áp dụng biện pháp bảo đảm không bắt buộc và do tổ chức tín dụng quyết định nhưng rõ ràng, biện pháp bảo đảm là cần thiết để phòng ngừa rủi ro tín dụng Có nhiều biện pháp để bảo đảm tiền vay khác nhau, trong đó phổ biến là thế chấp, cầm cố, bảo lãnh Tài sản bảo đảm cũng rất phong phú, bao gồm bất động sản, động sản Tuy nhiên, gắn với hoạt động sản xuất và nhu cầu vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, việc các bên thỏa thuận lựa chọn hàng hóa luân chuyển trong sản xuất kinh doanh làm tài sản bảo đảm

là hoàn toàn phù hợp Tại Việt Nam, khuynh hướng các tổ chức tín dụng nhận thế chấp tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển đang có xu hướng gia tăng trong bối cảnh Chính phủ khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và kêu gọi hỗ trợ tài chính/vốn cho đối tượng này Đây là đối tượng có nhu cầu lớn về vốn từ các tổ chức tín dụng để bổ sung nguồn vốn lưu động phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh

Mặc dù vậy, thực tiễn thời gian vừa qua cho thấy, việc các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay có bảo đảm bằng biện pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển còn nhiều bất cập, chứa đựng nhiều rủi ro cho các tổ chức tín dụng Tiêu biểu là các trường hợp hàng hóa thế chấp bị tẩu tán, tổ chức tín dụng không xử lý được tài sản bảo đảm Điều này xuất phát từ việc tổ chức tín dụng chưa nắm rõ bản chất và phạm vi của thế chấp hàng hóa luân chuyển và mối quan hệ giữa thế chấp hàng hóa luân chuyển với hoạt động cho vay của mình Đồng thời, về mặt khách quan, một số quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này còn bất cập, chưa đầy đủ dẫn đến việc áp dụng trong thực tế còn khó khăn hoặc hiệu quả thực thi không cao

Trang 5

Đứng trước nhu cầu thực tế đó, pháp luật về thế chấp hàng hóa luân chuyển cần được xây dựng và hoàn thiện nhằm đáp ứng mục tiêu tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia giao dịch thuận tiện, quyền và nghĩa vụ của các bên được bảo vệ và thi hành Tuy nhiên, qua quá trình rà soát các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến vấn đề này, người viết nhận thấy các quy định về thế chấp hàng hóa luân chuyển còn mờ nhạt, chưa đầy đủ, chưa làm nổi bật tính riêng, đặc thù của loại tài sản bảo đảm này so với các loại tài sản thế chấp nói chung Từ đó, dẫn đến cách hiểu khác nhau và tạo khe hở pháp lý khiến cho tổ chức tín dụng khó xử lý tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong trường hợp khách hàng không còn khả năng thanh toán khoản vay Vì việc nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển tiềm ẩn rủi ro cao như vậy, nên các tổ chức tín dụng chưa mạnh dạn áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay này, dẫn đến nhiều doanh nghiệp khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn của các tổ chức tín dụng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo đà phát triển kinh tế - xã hội

Với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống về pháp luật thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng để giải quyết những tồn tại về mặt lý luận lẫn

thực tiễn liên quan đến vấn đề này, người viết đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về thế

chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên

ngành Luật Kinh tế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung và thế chấp tài sản bảo đảm nói riêng trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã được đề cập ở rất nhiều công trình nghiên cứu bao gồm sách chuyên khảo, luận văn thạc sỹ, bài báo khoa học Cụ thể:

- Sách chuyên khảo: "Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng" do tác giả Lê Thu Thủy làm chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp, 2006

Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập một cách có hệ thống, các biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, chỉ ra những thiếu sót và hướng khắc phục, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có so sánh với các biện pháp

Trang 6

bảo đảm tiền vay của các nước trên thế giới, như: Nhật Bản, Liên bang Nga, Pháp, Mỹ

- Luận văn thạc sỹ luật: “Cơ sở pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi

nợ cho các Ngân hàng thương mại ” của tác giả Vũ Thị Kim Oanh (năm bảo vệ đề

tài: 2009 tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) Tác giả đã trình bày các

cơ sở pháp lý của quyền xử lý tài sản bảo đảm và các bất cập trong áp dụng tại các ngân hàng thông qua các bản án liên quan Qua đó, một số bài học kinh nghiệm được rút ra và kiến nghị được đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm

- Luận văn thạc sỹ luật: “Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng” của tác giả Lâm Minh Đức (năm bảo vệ đề tài: 2009

tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) Đề tài này đã phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn về xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể là xử lý tài sản thế chấp, từ

đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng dễ dàng xử lý tài sản bảo đảm, nhất là bất động sản

- Luận văn thạc sỹ luật: “Thế chấp tài sản - biện pháp đảm bảo tiền vay qua thực tiễn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam” của tác giả Bùi Thị

Nga (năm bảo vệ đề tài: 2014 tại Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội) Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại NHTMCP Hàng hải Việt Nam, từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cũng như đối với NHTMCP Hàng hải Việt Nam

Nội dung của hầu hết các đề tài này đã cung cấp một cách có hệ thống về các biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, chỉ ra những thiếu sót và phương hướng khắc phục, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Các đề tài này đi sâu nghiên cứu chi tiết đến nhiều loại tài sản bảo đảm, tuy nhiên, phần lớn các đề tài này đề cập chủ yếu đến bảo đảm tiền vay bằng bất động sản và rất

Trang 7

ít đề cập đến bảo đảm tiền vay bằng động sản, trong đó có thế chấp hàng hóa luân chuyển

Liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, đã có một luận văn thạc sỹ luật với

đề tài: “Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng hàng hóa luân chuyển tại các ngân hàng thương mại: thực tiễn áp dụng và định hướng hoàn thiện” của tác giả Lê Thị Thúy

An (năm bảo vệ đề tài: 2015 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật) Đề tài này đã phân tích các quy định pháp luật, tìm hiểu thực trạng tồn tại trong việc vận dụng quy định pháp luật cũng như thực tế đang diễn ra tại các ngân hàng thương mại khi nhận tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển để đảm bảo cho các khoản vay Qua đó, tác giả của đề tài này đã có một số kiến nghị cho nhà lập pháp nên kế thừa các ưu điểm, khắc phục những thiếu sót, bất cập, góp phần hoàn thiện pháp luật về việc nhận tài sản là hàng hóa luân chuyển để đảm bảo tiền vay Đồng thời, đưa ra một số giải pháp để giải quyết các vấn đề thực tế đang phát sinh tại các ngân hàng thương mại khi nhận tài sản là hàng hóa luân chuyển

Mặc dù vậy, tôi cho rằng việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề để hoàn thiện việc thế chấp hàng hóa luân chuyển nhằm đảm bảo cho khoản vay tại các tổ chức tín dụng vẫn là một đề tài cần thiết và mang tính thời sự Thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ của thế chấp hàng hóa luân chuyển gắn với hoạt động cho vay của

tổ chức tín dụng, đối chiếu với quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật để

từ đó rút ra các hạn chế, bất cập, tồn tại để có khuyến nghị phù hợp Như thế, việc định hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp hàng hóa luân chuyển mới thực sự đạt hiệu quả như mong muốn, tránh các tồn tại phát sinh không đáng có trong thực tiễn như không xử lý được tài sản thế chấp, nhiều ngân hàng cùng tranh chấp một lô hàng hóa luân chuyển …

Tóm lại, tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật

về thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng sẽ có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn để giải quyết nhu cầu thực tế và phù hợp với khuynh hướng không dùng động sản làm tài sản bảo đảm trong giao dịch bảo đảm hiện đại

Trang 8

3 Mục tiêu, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Mục đích của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hàng hóa luân chuyển, thế chấp hàng hóa luân chuyển thông qua việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan và thực tiễn vận dụng thế chấp hàng hóa luân chuyển để bảo đảm cho các khoản vay tại các tổ chức tín dụng Trên cơ sở lý thuyết về thế chấp hàng hóa luân chuyển, người viết sẽ đưa ra một số kiến nghị để khắc phục các hạn chế, tồn tại

về mặt pháp lý, định hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp hàng hóa luân chuyển thông qua các cơ chế pháp lý bảo đảm hiệu quả của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng

Đối tượng nghiên cứu: quy định pháp luật và thực trạng về thế chấp hàng hóa luân chuyển

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được giới hạn trong phạm

vi đề tài này là thế chấp hàng hóa luân chuyển - một biện pháp bảo đảm tiền vay của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại các tổ chức tín dụng và gắn liền với mối quan hệ đi vay – cho vay giữa doanh nghiệp/ khách hàng vay và tổ chức tín dụng

Để đạt được mục đích nghiên cứu, người viết xác định các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Bản chất của hàng hóa luân chuyển và thế chấp hàng hóa luân chuyển là gì?

Ý nghĩa về khía cạnh kinh tế của thế chấp hàng hóa luân chuyển là gì?

- Khi nào và điều kiện gì để các tổ chức tín dụng nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển? Mối liên hệ giữa nghiệp vụ cho vay và việc nhận hàng hóa luân chuyển làm tài sản bảo đảm cho khoản vay? Thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm là thế chấp hàng hóa luân chuyển tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ra sao?

- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, những cơ chế pháp lý nào cần đặt ra để đảm bảo hiệu quả của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng? Nội dung này đưa ra các kiến nghị tương ứng với các bất cập phát sinh do thiếu quy định pháp lý hoặc có quy định nhưng chưa phù hợp dẫn đến thực tiễn áp dụng pháp luật chưa hiệu quả

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý và nội dung khoa học đặt

Chương 2 của đề tài đi sâu phân tích các hạn chế, bất cập từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động thế chấp hàng hóa luân chuyển tại các tổ chức tín dụng Qua đó, người viết đề xuất một số kiến nghị về cơ chế pháp lý bảo đảm hiệu quả của thế chấp hàng hóa luân chuyển Để đạt được mục tiêu này, người viết sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu, chứng minh và giải thích

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp cơ sở lý thuyết về thế chấp hàng hóa luân chuyển, bao gồm các định hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý để đảm bảo hiệu quả của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại các tổ chức tín dụng

Giá trị ứng dụng của đề tài: Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn liền với tình hình và nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội Cụ thể là nhu cầu vay vốn từ các tổ chức tín dụng của các thành phần trong nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp Ngược lại, vấn đề đặt ra đối với các tổ chức tín dụng khi cấp khoản vay cho khách hàng là phải đảm bảo hiệu quả phương án sử dụng vốn và khả năng thu hồi nợ gốc và lãi Thế chấp hàng hóa luân chuyển là giải pháp hài hòa hai yêu cầu đó, góp phần gỡ nút thắt trong việc khơi thông nguồn vốn tín dụng đi đôi với đảm bảo chất lượng tín dụng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Kết quả của đề tài nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong hoạt động cho vay, nhận

Trang 10

thế chấp hàng hóa luân chuyển tại các tổ chức tín dụng và là nguồn tham khảo cho các định hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp hàng hóa luân chuyển

6 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm hai chương:

Chương 1: Lý luận về thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng Chương 2: Cơ chế pháp lý bảo đảm hiệu quả của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN TẠI

TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Hàng hóa luân chuyển

1.1.1 Khái niệm hàng hóa luân chuyển

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh còn được gọi tắt

là “Hàng hóa luân chuyển” Trong từ điển tiếng Việt, không tìm thấy định nghĩa cho cụm từ “hàng hóa luân chuyển” Do đó, có thể cắt nghĩa “hàng hóa luân chuyển” dựa trên định nghĩa của hai cụm từ “hàng hóa” và “luân chuyển” Theo đó, “hàng hóa” nghĩa là “sản phẩm do lao động làm ra được mua bán trên thị trường nói chung”1 còn

“luân chuyển” nghĩa là “lần lượt tiếp nối hay chuyển đổi cho nhau thành một hay nhiều vòng”2 Như vậy, có thể hiểu “hàng hóa luân chuyển” bao gồm các loại nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh Loại hàng hóa này không cố định mà luôn luôn luân chuyển và được lưu thông trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp qua các hoạt động mua bán, trao đổi…

Hàng hóa luân chuyển xét trong một chỉnh thể thống nhất bao gồm các đặc tính như sau:

- Hàng hóa luân chuyển là một loại hàng hóa và do đó có những tính chất chung của hàng hóa Hàng hoá không phải tự nhiên có, mà là kết quả của quá trình lao động của con người và có thể được trao đổi, mua bán Đối với một doanh nghiệp sản xuất, hàng hóa có thể bao gồm nguyên liệu, thành phẩm, bán thành phẩm gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Hay nói cách khác, hàng hóa luân chuyển là kết quả của hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thông qua thành

1 Hoàng Phê (chủ biên), Hoàng Thị Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng

Thanh Hòa (2011), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 656

2 Hoàng Phê (chủ biên), Hoàng Thị Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng

Thanh Hòa (2011), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 921

Trang 12

quả lao động của người lao động của doanh nghiệp đó hoặc được doanh nghiệp mua bán, trao đổi trong quá trình kinh doanh liên quan đến lĩnh vực, ngành nghề đăng ký

- Đặc thù của hàng hóa luân chuyển tạo nên sự khác biệt với các hàng hóa thông thường là tính chất “luân chuyển”, hàng hóa được nối tiếp, gối đầu nhau theo chu kỳ Mỗi một doanh nghiệp, tùy vào lĩnh vực, ngành nghề cụ thể, có một chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau, nhưng đều tuần hoàn, lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhất định Nhờ hoạt động trao đổi, mua bán với nhà cung cấp, người mua hàng của doanh nghiệp, hàng hóa luân chuyển được gối đầu nhau để qua một chu kỳ mới

Như vậy, hàng hóa luân chuyển (của một doanh nghiệp sản xuất) bao gồm nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm được doanh nghiệp trao đổi, mua bán trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đó

Về mặt pháp lý, theo quy định của Việt Nam, thuật ngữ pháp lý “hàng hóa

luân chuyển” lần đầu xuất hiện tại Nghị định 165/1999/NĐ-CP (năm 1999) và thuật ngữ này vẫn còn tiếp tục duy trì cho đến thời điểm hiện nay Tuy nhiên, quy định pháp lý trong từng thời kỳ ghi nhận sự khác biệt trong nội hàm “hàng hóa luân chuyển” qua từng thời kỳ

- Khoản 8 Điều 2 Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch

bảo đảm quy định: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác hoặc các bất động sản dùng để trao đổi, mua bán gắn với chức năng sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm”

Như vậy, Nghị định 165/1999/NĐ-CP quy định hàng hóa luân chuyển gồm động sản (trong đó, quy định liệt kê nhằm nhấn mạnh một số loại động sản phổ biến như: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng) và bất động sản nhưng phải thỏa mãn yêu cầu “dùng để trao đổi, mua bán gắn với chức năng sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm”

- Khoản 8 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định:

“Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên

Trang 13

bảo đảm” Đây là quy định pháp lý áp dụng hiện hành về hàng hóa luân chuyển Khác

với Nghị định 165/1999/NĐ-CP, hàng hóa luân chuyển, theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP, chỉ bao gồm động sản và phải là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm Quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP có phần hợp lý hơn so với Nghị định 165/1999/NĐ-CP bởi lẽ chỉ động sản mới có tính chất luân chuyển Còn bất động sản

có bản chất cố định, trường hợp bất động sản là hàng hóa, sản phẩm (ví dụ căn hộ do chủ đầu tư/ công ty bất động sản xây dựng) cũng không được xem là hàng hóa luân chuyển bởi lẽ đặc thù của lĩnh vực này không tạo ra một chu kỳ kinh doanh tuần hoàn giống như doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thông thường Khi hoàn thành xong một

dự án, chủ đầu tư sẽ bắt đầu một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới, ở một dự án mới Máy móc, thiết bị cũng không được xem là hàng hóa luân chuyển bởi vì đây là các tài sản cố định của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể sản xuất, là tiền đề của hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Khoản 5 Điều 2 Dự thảo 1 của Nghị định Quy định các biện pháp thi hành

Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch bảo đảm cũng giữ nguyên định nghĩa: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm”

Như vậy, khái niệm hàng hóa luân chuyển trong Dự thảo này tương đồng với quy định hiện nay là Nghị định 163/2006/NĐ-CP Và cũng khá tương đồng với quy định quốc tế vì khái niệm được luật hóa này thể hiện được bản chất và đặc tính của hàng hóa luân chuyển

Theo Mục 48 Phần 9-102 Chương 9 – Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa

Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) 2010, hàng hóa luân chuyển (inventory) được hiểu là hàng hóa, trừ sản phẩm nông nghiệp mà:

(a) được thuê bởi một người là bên cho thuê;

(b) được sở hữu bởi một người để bán hoặc cho thuê hoặc được cung cấp theo hợp đồng dịch vụ;

(c) được cung cấp bởi một người theo hợp đồng dịch vụ; hoặc

Trang 14

(d) bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, hoặc các sản phẩm được sử dụng hoặc tiêu thụ cho một hoạt động kinh doanh

Như vậy, theo các hiểu chung nhất của UCC, hàng hóa luân chuyển (inventory) (hay một số nước châu Âu gọi là “stock”) là hàng hóa của một doanh nghiệp dùng để bán, cho thuê trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp đó

Tóm lại, hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm

1.1.2 Đặc điểm của hàng hoá luân chuyển

Từ việc nghiên cứu khái niệm hàng hóa luân chuyển, một số đặc điểm như sau của hàng hóa luân chuyển được rút ra:

- Thứ nhất, hàng hóa luân chuyển là động sản nên có tính chất chung của động

sản Theo Khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Dân sự 2015, động sản là những tài sản không phải là bất động sản Như vậy, cách xác định động sản trong pháp luật Việt Nam là các tài sản loại trừ bất động sản (bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật) Tuy nhiên, cách xác định này không làm nổi bật được tính chất riêng biệt giữa động sản và bất động sản Đồng thời, mặc dù động sản được xác định là các tài sản không phải là bất động sản nhưng bất động sản còn bao gồm các tài sản khác theo quy định của pháp luật Điều này làm cho việc xác định động sản trở nên khó khăn và phức tạp

Cách phân loại một tài sản là động sản hay bất động sản chủ yếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không di dời được3 Theo đó, động sản là các tài sản có thể di dời được trong khi đó bất động sản mang tính chất cố định

Với tính chất có thể di dời được của động sản nói chung, đứng ở góc độ của bên nhận bảo đảm, hàng hóa luân chuyển thường khó quản lý hơn so với các loại bất

3 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và

quyền thừa kế, NXB Hồng Đức, trang 19.

Trang 15

động sản Đồng thời, động sản có tính khấu hao, hao mòn hơn là bất động sản do đặc thù của hàng hóa luân chuyển, ví dụ, hàng nông sản chỉ có thời hạn sử dụng nhất định, hoặc hàng hóa bị hao hụt trong quá trình vận chuyển hay điều kiện bảo quản

Ngoài ra, đối với bất động sản thường thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu nên có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu trong khi đối với động sản thì không

có Đối với hàng hóa luân chuyển, các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu chủ yếu là hợp đồng mua bán, hóa đơn, và các chứng từ thanh toán, … Dù các tổ chức tín dụng

có cố gắng thẩm định cẩn thận nhưng vì hàng hóa không có giấy tờ chứng minh sở hữu, chỉ có hóa đơn mua bán nên cũng rất khó cho các tổ chức tín dụng trong việc quản lý loại hàng hóa này.Vụ Công ty Trường Ngân dùng một kho cà phê thế chấp cho tận 7 ngân hàng vay 600 tỷ đồng, trong khi giá trị thực của kho hàng này chỉ có

100 tỷ đồng đã khiến các ngân hàng phải tranh giành quyền kiểm soát kho cà phê này4

Như vậy, hàng hóa luân chuyển không mang tính cố định, có thể di dời được,

có tính khấu hao, hao mòn cao và không thuộc loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu

- Thứ hai, tính chất đặc thù của hàng hóa luân chuyển là tính chất “luân

chuyển” Hàng hóa luân chuyển để thế chấp có thể được thay đổi, thay thế theo chu

kỳ sản xuất, kinh doanh bởi đặc thù “luân chuyển” Ví dụ, hàng hóa luân chuyển có thể tồn tại ở dạng nguyên liệu chế biến, bán thành phẩm, thành phẩm, vật phẩm Chẳng hạn, hàng hóa luân chuyển trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp chế biến, sản xuất, phân phối cà phê gồm: hạt cà phê thô, bột cà phê,

cà phê thành phẩm, cà phê đóng gói Tính chất luân chuyển được thể hiện trên các khía cạnh:

+ Hàng hóa luân chuyển phải tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của bên bảo đảm Vì thế, khi xem xét, xác định hàng hóa luân chuyển của một doanh nghiệp, cần xác định ngành

4 Hà Thành (2013), Lấp lỗ hổng cho vay thế chấp hàng tồn kho, tại

http://thoibaonganhang.vn/lap-lo-hong-cho-vay-the-chap-hang-ton-kho-26210.html, truy cập ngày 3/4/2018

Trang 16

nghề kinh doanh của doanh nghiệp đó Ví dụ, nếu một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, phân phối cà phê thì các hàng hóa luân chuyển phải gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp này Điều này đòi hỏi bên nhận bảo đảm cần nắm rất rõ hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm chu kỳ kinh doanh, đặc thù ngành nghề, nguồn cung, nguồn cầu, thị trường tiêu thụ của bên bảo đảm Do đó, đứng ở góc độ của bên nhận bảo đảm, trong đó có các tổ chức tín dụng, việc nhận bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển của bên thứ ba là ít có khả năng, mặc dù pháp luật không cấm vì trên thực tiễn, tổ chức tín dụng phải am hiểu tường tận hoạt động kinh doanh của khách hàng vay

+ Hàng hóa luân chuyển phải được lưu thông trong nền kinh tế thông qua việc trao đổi, mua bán Thật vậy, Khoản 8 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:

“Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm” Do đó, nhận bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển có những rủi ro nhất

định do bên nhận bảo đảm khó kiểm soát và biện pháp bảo đảm hài hòa với tính chất này của hàng hóa luân chuyển là thế chấp Theo đó, bên thế chấp không phải giao tài sản cho bên nhận thế chấp Trái lại, đối với biện pháp cầm cố, bên cầm cố sẽ giao tài sản cho bên nhận cầm cố

- Thứ ba, tính xác định của hàng hóa luân chuyển là tương đối Đặc điểm này

là hệ quả tất yếu của tính chất luân chuyển Tuy nhiên, xét trong bối cảnh hàng hóa luân chuyển là một đối tượng của một nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ bảo đảm), hàng hóa luân chuyển phải thỏa mãn các điều kiện mà Bộ luật Dân sự quy định về đối tượng của nghĩa vụ dân sự Một trong những điều kiện là đối tượng của nghĩa vụ dân sự

phải được xác định cụ thể Khoản 2 Điều 276 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định” Theo yêu cầu này, tài sản bảo đảm trong

giao dịch bảo đảm nói chung là vật thì các bên phải xác định rõ được vật đó là vật gì,

ví dụ, số lượng, khối lượng, tính chất, đặc điểm nhận dạng của tài sản bảo đảm Nếu

là tài sản hình thành trong tương lai thì phải có giấy tờ liên quan để chứng minh, xác định cụ thể về tài sản đó và đảm bảo rằng tài sản đó chắc chắn được hình thành và

Trang 17

thuộc sở hữu của bên bảo đảm Nếu là giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản thì bên bảo đảm phải có bằng chứng chứng minh quyền tài sản hoặc giấy tờ có giá đó thuộc sở hữu của mình5 Quy định này nếu áp dụng cứng nhắc sẽ dẫn đến khó khăn trong việc

sử dụng tài sản để bảo đảm cho các nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự, kinh tế Theo

đó, tài sản luân chuyển sẽ không được coi là thỏa mãn điều này

Hàng hóa luân chuyển, xét cho cùng cũng là những vật hữu hình mà ta có thể cầm nắm được, cân, đo, đong, đếm được, do đó có thể xác định được Tuy nhiên, tính xác định được của hàng hóa luân chuyển chỉ mang tính chất tương đối bởi vì tính luân chuyển, gối đầu theo chu kỳ Về điểm này, Khoản 2 Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015

quy định: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”

Điều khoản này là chìa khóa cho phạm vi của “tính xác định” Tính xác định không được hiểu một cách cứng nhắc rằng tài sản bảo đảm phải được gọi tên, mô tả chi tiết

mà có thể được mô tả chung Điều khoản này đặc biệt có ý nghĩa trong việc xác định thế nào là hàng hóa luân chuyển để qua đó tiến hành kê khai tài sản thế chấp khi đăng

ký biện pháp bảo đảm

Trong thực tiễn tại các tổ chức tín dụng, để đảm bảo khả năng thu hồi nợ trong trường hợp bên vay không thể thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, các tổ chức tín dụng thường quy định thêm các tiêu chí của hàng hóa luân chuyển được thế chấp tại tổ chức tín dụng đó Từ góc độ kinh tế, thông thường, hàng hóa luân chuyển phải thỏa mãn một số tiêu chí như sau:

- Tổng giá trị của tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển ước tính phải lớn hơn hạn mức tín dụng/ số tiền cho vay/ giải ngân

- Hàng hóa luân chuyển phải là hàng hóa dễ tiêu thụ, có khả năng thanh khoản cao và có thể dễ dàng xử lý được Vì vậy, khi nhận tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển, tổ chức tín dụng đặc biệt lưu ý đến thị trường tiêu thụ, tính chu chuyển/ luân chuyển và vị trí của hàng hóa trong thị trường để việc xử lý tài sản nếu có xảy ra sẽ được tiến hành thuận lợi, nhanh gọn

5 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2012), Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, NXB Tư pháp,

trang 147

Trang 18

- Hàng hóa luân chuyển vừa có nhu cầu sử dụng lớn trên thị trường, khả năng trao đổi cao, dễ tiêu thụ bởi tính chất “luân chuyển”, “không cố định” vừa thường có tính khấu hao, hao hụt về thực tế do điều kiện tự nhiên hay chính bản chất nội tại của hàng hóa luân chuyển (ví dụ: nguyên vật liệu, hàng hóa hết hạn sử dụng) nên bên nhận thế chấp đặc biệt lưu ý đến khả năng có thể kiểm soát được tài sản thế chấp Nghĩa là bên nhận thế chấp phải vừa hài hòa được việc để tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển có thể lưu thông nhằm tạo ra giá trị kinh tế bằng cách để bên thế chấp bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấpvới đúng bản chất, chu trình sản xuất kinh doanh đồng thời bên nhận thế chấp có thể giám sát được bên thế chấp trong quá trình thực hiện các quyền năng đặc biệt đó Điều này là không dễ dàng và bên nhận thế chấp, cụ thể là các tổ chức tín dụng phải có một loạt các biện pháp, cơ chế, quy trình nhằm kiểm soát loại tài sản thế chấp này

1.2 Thế chấp hàng hóa luân chuyển

1.2.1 Khái quát về thế chấp hàng hóa luân chuyển

Pháp luật Việt Nam ghi nhận các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như sau: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc, ký cược, ký quỹ; bảo lưu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản).Mỗi biện pháp bảo đảm có những đặc trưng riêng biệt Trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đó, thế chấp tài sản và cầm

cố tài sản là phổ biến hơn cả Điểm khác biệt lớn nhất của hai biện pháp bảo đảm này

là có sự chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hay không? Theo đó, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Ngược lại, thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện các biện pháp bảo đảm Xuất phát từ đặc thù của đối tượng tham gia giao dịch là hàng hóa luân chuyển là tính “luân chuyển” như đã phân tích ở trên, biện pháp bảo đảm thế chấp hàng hóa luân chuyển phù hợp về mặt thực tiễn hơn

Trang 19

so với biện pháp bảo đảm cầm cố hàng hóa luân chuyển Bởi vì nếu chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm, giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm sẽ không được khai thác bởi những người có khả năng sử dụng, khai thác hàng hóa luân chuyển một cách hiệu quả Về góc độ của bên nhận cầm cố, nếu họ nắm trong tay một tài sản bảo đảm mà lẽ ra nên được lưu thông trong nền kinh tế, thì việc nắm giữ, chiếm hữu đó

là không hiệu quả Biện pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển sẽ giải quyết được bài toán tối ưu hóa hiệu quả sử dụng Và do vậy, cách tối ưu là các bên trong giao dịch bảo đảm sẽ lựa chọn biện pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển

Trong nền kinh tế bao cấp, các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm giữa các bên không thực sự tồn tại Chính vì thế, không có khái niệm về giao dịch bảo đảm nói chung (bao gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,…)

Giao dịch bảo đảm được đề cập lần đầu trong Pháp lệnh về Hợp đồng kinh tế

1989 (thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh) và Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự

1991 (thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh, đặt cọc)

Trong giai đoạn 1995 - 2005 (sau khi ra đời Bộ luật Dân sự 1995), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và các quy định về giao dịch bảo đảm trong Pháp lệnh này vẫn được áp dụng với các hợp đồng kinh tế, tạo nên sự không thống nhất trong việc chọn luật và áp dụng pháp luật về biện pháp bảo đảm

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành những quy định riêng về giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực ngân hàng như Quyết định số 217/QĐNH ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy chế thế chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh vay vốn ngân hàng; Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Nghị định

số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999, Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19/5/2003 hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

Việc Ngân hàng Nhà nước đồng thời ban hành các quy định riêng biệt như vậy

đã gây nên tình trạng bất nhất trong áp dụng quy định về giao dịch bảo đảm vì về bản

Trang 20

chất của giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực ngân hàng không khác so với giao dịch bảo đảm trong dân sự thông thường

Ở các nước theo hệ thống thông luật, khái niệm giao dịch bảo đảm (secured transactions) được hiểu là toàn bộ các giao dịch, không phụ thuộc vào hình thức và tên gọi, có mục đích tạo lập một quyền lợi được bảo đảm (secured interest) đối với tài sản riêng hoặc tài sản cố định, bao gồm: hàng hóa, giấy tờ có giá hoặc các tài sản

vô hình khác, là giao dịch thiết lập thông qua một thỏa thuận bảo đảm (là thỏa thuận trong đó quy định về hoặc tạo lập nên một lợi ích bảo đảm giữa chủ nợ và bên bảo đảm) Như vậy, giao dịch bảo đảm không bị giới hạn về loại hình của giao dịch mà được xác định căn cứ vào mục đích thiết lập giao dịch Do đó, các giao dịch bảo đảm không chỉ gồm những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo luật dân sự truyền thống mà còn bao gồm các giao dịch khác như bảo lưu quyền sở hữu tromg mua trả chậm, trả dần, chuyển nhượng quyền đòi nợ, quyền cầm giữ, thuê tài sản.6 Đối tượng của các giao dịch này là các động sản, bao gồm tài sản hữu hình và cả tài sản vô hình

Chính vì cách tiếp cận giao dịch bảo đảm như trên, trên thế giới, ở các nước theo hệ thống thông luật, cho vay để mua hàng và được bảo đảm chi trả bằng chính hàng hóa đó cũng có từ lâu đời Xuất phát từ cội nguồn giao dịch bảo đảm được xác định căn cứ vào mục đích thiết lập giao dịch Hình thức tài trợ này được ra đời khi sản xuất vẫn còn “bằng tay” với số lượng nhỏ và bên vay cần ít vốn Nhu cầu vốn tín dụng ngắn hạn chủ yếu trong giai đoạn này là những người tiểu thương nhỏ, họ phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng Hình thức tài trợ này dần dần hình thành thuật ngữ ngân hàng “thương mại”7 Do đó, lúc đầu, các khoản vay mà ngân hàng cấp dưới hình thức tài trợ này chỉ giới hạn cho các tiểu thương, người buôn bán Dần dần, các ngân hàng cũng tài trợ cho nhà sản xuất bởi vì các khoản vay được bảo đảm chi trả bằng chính hàng hóa đó cũng có tính thanh khoản qua việc bán hàng một cách tuần tự

6 Lê Thị Thu Thủy (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, NXB Tư

pháp, trang 253

7 Albert R Koch (1948), “Economic aspects of inventory and receivables financing”, Law

and Contemporary Problems, trang 569

Trang 21

Trái lại, ở các nước theo hệ thống dân luật, tiêu biểu là Pháp, Đức, Nhật Bản,giao dịch bảo đảm được hiểu là các biện pháp bảo đảm cụ thể như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh Các giao dịch này tập trung chủ yếu trong Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong pháp luật Việt Nam, việc ghi nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển chính thức có từ Bộ luật Dân sự 1995 và tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2005

và Bộ luật Dân sự 2015 Theo Điều 342 Bộ luật Dân sự 2015, thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ

Thế chấp hàng hóa luân chuyển thể hiện rõ nhất tính chất không chuyển giao tài sản bảo đảm của bên thế chấp do xuất phát từ đặc trưng của hàng hóa luân chuyển

là phải tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của hàng hóa

Trên thế giới, khi nghiên cứu về thế chấp hàng hóa luân chuyển, chúng ta nhận thấy việc thế chấp hàng hóa luân chuyển được xem xét trong hoàn cảnh, mục đích cho vay Do đó, hình thức cho vay/ tài trợ để mua hàng và được bảo đảm chi trả bằng chính hàng hóa đó (inventory financing) là các khoản vay có mục đích dùng tiền vay

để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh (hàng hóa luân chuyển), đồng thời bên vay thế chấp chính hàng hóa, nguyên liệu được mua bằng tiền được cho vay/ tài trợ để đảm bảo cho bên cho vay/ bên nhận thế chấp rằng trong trường hợp bên vay/ bên thế chấp không thể trả được nợ, bên vay sẽ dùng tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển đó để làm nguồn dự bị trả nợ cho bên cho vay Hình thức cho vay/ tài trợ này thường được chia làm hai loại:

- Thứ nhất: Các khoản tài trợ cho các hạn mức tín dụng tuần hoàn trong đó bên cho vay sẽ tài trợ cho bên vay trong giới hạn của một hạn mức đã duyệt trước dựa trên giá trị của hàng hóa luân chuyển của bên vay

- Thứ hai: các khoản tài trợ để bên vay mua toàn bộ hoặc một phần hàng hóa luân chuyển

Trang 22

Tuy nhiên, điểm chung của hai loại tài trợ này là bên cho vay sẽ chỉ cho vay khi họ xác định được rằng nếu bên vay không có khả năng trả nợ thì bên cho vay có thể xử lý tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển

Theo pháp luật Việt Nam, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một

số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân8

Tổ chức tín dụng cho vay là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm: Ngân hàng thương mại; Ngân hàng hợp tác xã; Tổ chức tín dụng phi ngân hàng; Tổ chức tài chính vi mô; Quỹ tín dụng nhân dân; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài9

Vì mục đích nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về thế chấp hàng hóa luân chuyển để đảm bảo cho khoản vay tại tổ chức tín dụng nên thuật ngữ “tổ chức tín dụng” trong phạm vi đề tài này chủ yếu đề cập đến ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi10

Việc tổ chức tín dụng cân nhắc, quyết định cho khách hàng vay phải dựa trên nhiều yếu tố như năng lực pháp luật dân sự của khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp, có phương án kinh doanh, sử dụng vốn vay hiệu quả và đặc biệt

là phải có khả năng tài chính để trả nợ Vấn đề xác định được khả năng tài chính để trả nợ của doanh nghiệp là không đơn giản Tổ chức tín dụng phải rất am hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp, nắm được diễn biến nhu cầu thị trường, tình hình liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng doanh nghiệp Do đó, tại các ngân hàng lớn trên thế giới, việc cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng được quản lý chặt chẽ, trong đó có quản lý theo ngành,

8 Khoản 1 Điều 4 Luật Các Tổ chức Tín dụng

9 Khoản 2 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

10 Khoản 1 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Trang 23

lĩnh vực cấp tín dụng Các chuyên gia kinh tế (của ngân hàng) về từng lĩnh vực, ngành hàng cụ thể có các nghiên cứu về đặc thù của từng ngành hàng đó, bao gồm diễn biến thị trường thế giới cũng như từng địa phương để từ đó ngân hàng có thể xác định lĩnh vực ưu tiên tài trợ và ít rủi ro trong từng thời kỳ Qua đó, ngân hàng có thể xác định

rõ hơn khả năng tài chính để trả nợ dựa trên năng lực tài chính, thực tế sản xuất, kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp cùng với việc cân nhắc tình hình chung về ngành hàng của khách hàng vay

Mặc dù tổ chức tín dụng đã tiến hành thẩm định kỹ càng, tuân thủ các quy định, quy trình khắt khe để chắc chắn bên vay có khả năng trả nợ, nhưng thực tế, không phải bất kỳ khi nào bên vay cũng có thể trả nợ đầy đủ và/hoặc đúng hạn Do

đó, các tổ chức tín dụng cần thỏa thuận với bên vay xác lập giao dịch bảo đảm nhằm hạn chế rủi ro Nguồn thu thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được coi là nguồn

dự phòng để tổ chức tín dụng có thể thu hồi gốc, lãi của khoản vay

Việc bảo đảm tiền vay bằng biện pháp thế chấp được coi là phổ biến nhất hiện nay, bởi có nhiều khách hàng dùng tài sản để bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng nhưng vẫn có nhu cầu sử dụng tài sản hoặc luân chuyển tài sản đó (đối với tài sản là hàng hóa luân chuyển) Nếu đưa các tài sản này vào cầm cố để bảo đảm tiền vay thì khách hàng vay sẽ không đáp ứng được các nhu cầu nói trên11

Khách hàng vay của tổ chức tín dụng thế chấp hàng hóa luân chuyển phải là doanh nghiệp và mục đích vay khi thế chấp hàng hóa luân chuyển là để bổ sung vốn lưu động cho chính chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Như vậy, thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng là việc bên thế chấp dùng tài sản của chính mình là hàng hóa luân chuyển để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng

1.2.2 Đặc điểm của thế chấp hàng hóa luân chuyển

Trước hết, thế chấp hàng hóa luân chuyển có những đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có thế chấp nói chung

11 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2012), Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, NXB Tư pháp,

trang 200

Trang 24

Thứ nhất, đối tượng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là tài sản

Đối tượng của biện pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển chính là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh của bên thế chấp Điều này được thể hiện trên các khía cạnh như sau:

- Bên nhận thế chấp có quyền trực tiếp đối với một hoặc một số tài sản cụ thể

Đó là quyền đeo đuổi và quyền ưu tiên Thật vậy, quyền đeo đuổi cho phép người có quyền đối vật được phép thực hiện quyền của mình trên vật bất kể vật đang nằm trong tay ai Ví dụ: Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu người mua, người nhận tặng cho tài sản thế chấp… phải giao tài sản cho mình để xử lý thu hồi nợ12 Trong thế chấp hàng hóa luân chuyển, nguyên tắc này đặc biệt có ý nghĩa hơn cả vì không chỉ bảo vệ người có quyền đối vật, mà còn khuyến khích tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, cũng như xác định cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của bên thứ ba, ví dụ, người mua hàng hóa luân chuyển Ngoài ra, vật quyền bảo đảm cho phép người có quyền thực hiện quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm trước những chủ thể khác đã xác lập vật quyền bảo đảm sau mình Điều này

có nghĩa, trong trường hợp nhiều người có quyền đối vật cùng loại trên cùng một tài sản, thì người có quyền đối vật được xác lập trước có quyền ưu tiên so với những người có quyền đối vật được xác lập sau13 Do đó, để chắc chắn có được quyền ưu tiên, bên nhận bảo đảm nên công bố quyền của mình thông qua việc đăng ký biện pháp bảo đảm

- Quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm luôn hướng tới giá trị tiền tệ của tài sản đó Đối với bên nhận thế chấp với tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển, tính thanh khoản của hàng hóa trên thị trường có ý nghĩa rất lớn, góp phần đảm bảo giá trị tiền tệ của hàng hóa

12 Hồ Quang Huy (2011), Vật quyền bảo đảm - Những vấn đề lý luận đặt ra trong quá trình cải cách pháp luật

dân sự ở nước ta, tại http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1472 truy cập ngày

7/6/2018

13 Hồ Quang Huy (2011), Vật quyền bảo đảm - Những vấn đề lý luận đặt ra trong quá trình cải cách pháp luật

dân sự ở nước ta, tại http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1472 truy cập ngày

7/6/2018

Trang 25

- Bên bảo đảm được thực thi các quyền của mình đối với tài sản bảo đảm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: (1) hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực pháp luật; (2) bên bảo đảm đã có quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm và (3) nghĩa vụ được bảo đảm

đã xác lập và chưa chấm dứt

Thứ hai, thế chấp hàng hóa luân chuyển chỉ phát sinh sau khi có một giao dịch

có nghĩa vụ được bảo đảm Do đó, cũng như các biện pháp bảo đảm khác, có một mối quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (hợp đồng vay/ hợp đồng tín dụng) Nếu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt

Vì có quan hệ là hợp đồng chính – hợp đồng phụ nên khi giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro, trong đó phải kể đến rủi ro tín dụng – rủi ro khi bên đi vay không trả toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi và các khoản phải trả khác Chính vì thế, cũng như mục đích nói chung của thế chấp, việc tổ chức tín dụng xác lập hợp đồng thế chấp hàng hóa luân chuyển nhằm làm cơ sở đảm bảo

an toàn hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả

nợ

Thứ ba, việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không vượt phạm vi nghĩa vụ được

bảo đảm được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính (nghĩa vụ trả nợ)

Thật vậy, “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”14 Trên thực tế, khi nhận thế chấp nói chung, tổ chức tín dụng đều tiến hành thẩm định tài sản bảo đảm, trong đó có việc xác định, định giá tài sản bảo đảm Tổ chức tín dụng có thể thành lập một phòng ban, bộ phận thẩm định giá trị tài sản bảo đảm hoặc thuê tổ chức định giá độc lập để xác định giá

14 Khoản 1 Điều 293 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 26

trị của tài sản bảo đảm Ngoài việc căn cứ vào nhu cầu và mục đích vay của khách hàng, nếu xác lập giao dịch bảo đảm để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, các

tổ chức tín dụng còn chú ý đến giá trị của tài sản bảo đảm vì đây là nguồn trả nợ thứ cấp, dự phòng trong trường hợp khách hàng vay không thể trả được nợ Thông thường, tổ chức tín dụng sẽ chỉ cho vay một số tiền thấp hơn số tiền định giá tài sản thế chấp (khoảng 70%) nhằm loại trừ các rủi ro biến động thị trường và các khoản lãi

và các nghĩa vụ tài chính còn tồn đọng khác của khách hàng vay

Thứ tư, thế chấp hàng hóa luân chuyển cũng giống như thế chấp và các biện

pháp bảo đảm khác là tạo cơ sở để tránh rủi ro cho tổ chức tín dụng Mối quan tâm lớn nhất của tổ chức tín dụng khi cho vay là khách hàng vay phải trả được nợ gốc và lãi khi đến hạn Do đó, các tổ chức tín dụng phải đánh giá, xếp hạng tín dụng khách hàng và xác định các biện pháp bảo đảm kèm theo Đối với khách hàng có hoạt động kinh doanh tốt, phương án sản xuất kinh doanh và mục đích sử dụng vốn hiệu quả, thì tổ chức tín dụng có thể lựa chọn không cần biện pháp bảo đảm hoặc chỉ cần áp dụng biện pháp bảo đảm không bằng tài sản Đối với các khách hàng vay không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để tổ chức tín dụng cân nhắc lựa chọn không cần biện pháp bảo đảm hoặc chỉ cần áp dụng biện pháp bảo đảm không bằng tài sản, các tổ chức tín dụng luôn đặt ra các giao dịch bảo đảm tiền vay bên cạnh các hợp đồng tín dụng15 Trong trường hợp rủi ro xảy ra ngoài ý muốn, nếu bên vay không thể trả được nợ gốc

và lãi thì tổ chức tín dụng có thể xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay thay vì nhờ đến sự can thiệp của cơ quan tố tụng Bằng con đường này, bên cho vay mất rất nhiều thời gian, công sức trong việc thu hồi nợ vay Thậm chí, có nhiều trường hợp kể cả khi Tòa án đã ra một bản án và bản án đã có hiệu lực thi hành nhưng bên cho vay vẫn không thu hồi được khoản tiền đã cho vay vì bên vay không còn tài sản để bảo đảm thi hành án16

Trang 27

Ngoài các đặc điểm của thế chấp nói chung, thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng có các đặc trưng như sau:

Thứ nhất, mục đích của khoản vay bảo đảm bằng hàng hóa luân chuyển là để

bổ sung vốn lưu động cho chu kỳ sản xuất kinh doanh mà bên vay (đồng thời là bên thế chấp) thế chấp hàng hóa luân chuyển của chu kỳ sản xuất kinh doanh được tài trợ

đó Do đó sẽ không có thế chấp hàng hóa luân chuyển của bên thứ ba Đây là đặc điểm nổi bật của thế chấp hàng hóa luân chuyển, tạo nên sự khác biệt so với việc tổ chức tín dụng nhận thế chấp tài sản bảo đảm là các tài sản khác Chẳng hạn, nếu tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở và các công trình xây dựng khác gắn liền với quyền sử dụng đất thì tổ chức có thể cân nhắc nhận tài sản bảo đảm thuộc sở hữu hợp pháp của bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay của bên vay trong quan hệ tín dụng

Thứ hai, hàng hóa luân chuyển dùng làm tài sản bảo đảm phải gắn liền với

ngành nghề sản xuất, kinh doanh của bên thế chấp Đặc thù của hàng hóa luân chuyển phải tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của bên bảo đảm Do đó, không phải mọi động sản hay hàng hóa, bao gồm hàng hóa luân chuyển đều trở thành tài sản bảo đảm Xuất phát từ đặc thù này, khi quyết định nhận thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức tín dụng phải hiểu biết hoạt động của doanh nghiệp là khách hàng vay đồng thời là bên thế chấp và xác định đúng hàng hóa luân chuyển là tài sản bảo đảm

Thứ ba, bên thế chấp được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp là hàng hóa

luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh mà không cần phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp17 Quyền năng này của bên thế chấp đã được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và tiếp tục được kế thừa và ghi nhận tại Bộ luật dân sự 2015 Quy định này nhằm bảo vệ quyền sở hữu của người mua hàng hóa khi người mua tiến hành giao dịch mua bán trong điều kiện thương mại thông thường18 Trong trường hợp này,

17 Khoản 4 Điều 321 Bộ luật Dân sự 2015

18 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2012), Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, NXB Tư pháp,

trang 207

Trang 28

dù hàng hóa đang được thế chấp nhưng người mua vẫn trở thành chủ sở hữu của tài sản đó mà không chịu bất cứ ràng buộc nào của thỏa thuận giữa bên nhận thế chấp và bên thế chấp cũng như hiệu lực pháp lý mà việc đăng ký giao dịch bảo đảm mang lại Còn bên nhận thế chấp sẽ được bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng các khoản tiền thu được, quyền yêu cầu thanh toán hoặc tài sản khác có được từ việc bán tài sản thế chấp

là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh Đây là sự thay thế đương nhiên về tài sản thế chấp mà không cần thỏa thuận Tuy nhiên, bên thế chấp chỉ được bán tài sản như một hoạt động kinh doanh thông thường Nếu bán tài sản có tính chất bất thường, không đúng với hoạt động kinh doanh như bán với mục đích tẩu tán tài sản, bán có sự thông đồng với người mua,…thì người mua tài sản không trở thành chủ sở hữu Bên thế chấp cũng không được tặng cho hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh19

1.3 Mối liên hệ giữa nghiệp vụ cho vay và nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng

Để làm nổi bật mối liên hệ giữa nghiệp vụ cho vay và việc nhận hàng hóa luân chuyển làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của tổ chức tín dụng, chúng ta cần lưu ý đến đặc điểm nổi bật và quan hệ giữa hoạt động/nghiệp vụ cho vay và xác lập giao dịch bảo đảm (trong đó có thế chấp) Cho vay là một trong những nghiệp vụ cấp tín dụng cơ bản của tổ chức tín dụng Theo đó, tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Trong hoạt động cho vay, một rủi ro luôn luôn hiện hữu đối với tổ chức tín dụng, với tư cách là bên cho vay, đó là rủi ro tín dụng - rủi ro khi bên vay không trả được toàn bộ hoặc một phần tiền gốc, lãi của khoản vay và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản vay, hoặc trả nợ không đúng thời hạn Do đó, tùy theo tính chất của khoản vay, uy tín của bên đi vay, các tổ chức tín dụng thường thỏa thuận với bên đi vay cần phải có nguồn dự phòng để đảm bảo khả năng thu hồi vốn cho vay của tổ chức tín dụng thông

19 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2012), Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, NXB Tư pháp,

trang 208

Trang 29

qua biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Và một trong các biện pháp bảo đảm phổ biến là thế chấp Như vậy, xác lập biện pháp bảo đảm nói chung và thế chấp nói riêng không phải là một điều kiện phổ biến trong các quan hệ cho vay – đi vay giữa tổ chức tín dụng và bên đi vay Cũng tùy vào tính chất của khoản vay, tình hình thực tiễn và khả năng tài chính của bên đi vay, tổ chức tín dụng sẽ thẩm định và lựa chọn biện pháp bảo đảm phù hợp

Khi nghiên cứu về thế chấp hàng hóa luân chuyển, một trong những điều quan trọng là làm nổi bật đặc thù của loại tài sản thế chấp để chỉ ra tính chất đặc trưng của việc thế chấp hàng hóa luân chuyển, qua đó có những điều chỉnh về mặt pháp luật phù hợp và hài hòa với các đặc thù đó

Ngoài ra, nghiên cứu mối liên hệ giữa nghiệp vụ cho vay và việc nhận hàng hóa luân chuyển làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của tổ chức tín dụng sẽ làm tiền

đề để xác định đúng phạm vi điều chỉnh để có định hướng đúng trong việc tận dụng

ưu thế của thế chấp hàng hóa luân chuyển trong việc tạo đòn bẩy và hỗ trợ hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Thứ nhất, thế chấp hàng hóa luân chuyển gắn liền với các khoản cho vay ngắn

hạn Đặc trưng này biểu hiện ở việc các tổ chức tín dụng sẽ tài trợ các khoản vay ngắn hạn cho mục đích bổ sung vốn lưu động của khách hàng và không vượt quá một chu

kỳ hoạt động kinh doanh Để đảm bảo cho các khoản vay ngắn hạn này, khách hàng vay (đồng thời là bên thế chấp) sẽ dùng hàng hóa luân chuyển gắn với chu kỳ hoạt động kinh doanh để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ Điều này thể hiện rõ tại các nước theo hệ thống thông luật, việc xác lập giao dịch bảo đảm gắn liền với mục đích vay Thông thường, khi khách hàng vay có nhu cầu bổ sung vốn lưu động ngắn hạn phục

vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh thì hàng hóa luân chuyển của chu kỳ sản xuất kinh doanh đó sẽ được đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ Do đó, tổ chức tín dụng không nhận thế chấp loại tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển đối với các khoản vay trung, dài hạn phục vụ nhu cầu vốn cho các mục đích lâu dài như xây nhà xưởng, đầu

tư máy móc Điều này trái với thực tế về nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển hiện nay tại nhiều tổ chức tín dụng ở Việt Nam Hàng hóa luân chuyển được thế chấp để

Trang 30

bảo đảm cho các khoản vay trung, dài hạn.Nhìn lại các doanh nghiệp thời gian qua lâm vào khủng hoảng, phá sản thì hầu như đều có chung đặc điểm là có sự lệch nguồn

về cơ cấu vay nợ từ ngân hàng, trong đó rất nhiều doanh nghiệp dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn như bất động sản, đầu tư tăng trưởng máy móc thiết bị nhà xưởng của lĩnh vực ngành nghề khác20 Chính vì không nắm rõ mối liên hệ này nên nhiều tổ chức tín dụng đã dùng tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển để đảm bảo cho các khoản vay trung, dài hạn mà không thể xử lý khi bên vay không có khả năng trả nợ gốc và lãi

Thứ hai, quản lý, giám sát tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển gắn với

hoạt động giám sát, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay sau cho vay của tổ chức tín dụng Với tư cách là bên nhận thế chấp, tổ chức tín dụng có quyền (1) Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp; (2) Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp; và (3) Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng21

Đứng ở góc độ quan hệ cho vay – đi vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, việc kiểm tra sử dụng tiền vay hay kiểm tra sau cho vay là một trong các quyền của ngân hàng và khách hàng có trách nhiệm sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thỏa thuận22 Mục đích vay của các khoản vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh được tài trợ đó Như vậy, việc kiểm tra mục đích vay (sử dụng vốn vay để bổ sung vào hoạt động kinh doanh) cũng trùng với việc giám sát, quản lý tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển Việc tổ chức tín dụng làm tốt khâu kiểm tra,

20 Trần Minh Hải (2014), Điểm nóng pháp lý ngành ngân hàng - bài 1: bại trận vì "khiên thủng", tại

thung-89363.html, truy cập ngày 10/6/2018

https://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/diem-nong-phap-ly-nganh-ngan-hang-bai-1-bai-tran-vi-khien-21 Điều 323 Bộ luật Dân sự 2015

22 Điều 24 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Trang 31

giảm sát không những góp phần đảm bảo khách hàng vay sử dụng vốn vay đúng mục đích mà còn kịp thời nắm bắt hiện trạng hàng hóa luân chuyển được thế chấp

Thứ ba, việc nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển gắn liền với quản lý dòng

tiền liên quan đến hàng hóa luân chuyển, hay nói cách khác, tổ chức tín dụng phải được đảm bảo bằng các khoản phải thu liên quan đến hàng hóa luân chuyển đã thế chấp Việc quản lý dòng tiền của khách hàng vay được thể hiện trên hai khía cạnh Trước hết, tổ chức tín dụng nắm được dòng tiền của khách hàng vay thông qua việc thẩm định bằng cách phân tích tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đi vay Khi nắm được hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, tổ chức tín dụng có thể hiểu được chu kỳ nhập nguyên liệu thô, sản xuất, bán hàng thành phẩm Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh (kể cả trong trường hợp được thế chấp để bảo đảm cho khoản vay) khi kết thúc một chu kỳ sẽ được chuyển hóa thành tiền Từ khía cạnh kỹ thuật, thông thường, để quản lý khoản phải thu hay dòng tiền của khách hàng vay, tổ chức tín dụng cho vay thường yêu cầu khách hàng mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng mình Nhờ

đó, tổ chức tín dụng quản lý toàn bộ dòng tiền của chu kỳ sản xuất kinh doanh thông qua tài khoản này và cũng đồng thời, tổ chức tín dụng có thể quản lý được nguồn thu chuyển hóa từ tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển

1.4 Ý nghĩa của thế chấp hàng hóa luân chuyển tại tổ chức tín dụng

Nhiều nền kinh tế đã xem việc cho doanh nghiệp thế chấp hàng hóa luân chuyển để vay vốn là một nghiệp vụ bình thường, và nhờ đó cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng đều cùng có lợi ích và phát triển

Ở hầu hết các nước phát triển như Canada, New Zealand và Mỹ, bên cho vay xem động sản là nguồn tài sản bảo đảm chủ yếu Trong khi ở các nước có mức thu nhập thấp hoặc trung bình, thường chỉ nhận phương tiện giao thông hoặc bất động sản là tài sản thế chấp.23 Tại Việt Nam, mặc dù việc nhận thế chấp hàng hóa luân

23 Heywood Fleisig, Mehnaz Safaavian, Nuria de la Pena (2006), Reforming collateral laws to expand access

to finance, World Bank, trang 7.

Trang 32

chuyển nói riêng, động sản nói chung tại các tổ chức tín dụng chưa phổ biến như trên thế giới

Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng cách thế chấp hàng hóa luân chuyển có thể giải quyết những mâu thuẫn của quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, đó là một giải pháp rất hay của thị trường và cũng là để góp phần hoàn thiện thị trường, bảo đảm tính đa dạng và phù hợp của thị trường

Thứ nhất, đứng ở góc độ của nhà quản lý, nhà làm chính sách, để triển khai

hiệu quả Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Chương trình hành động của ngành Ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ

và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Theo đó, một trong các nhóm giải pháp là tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn tín dụng nhằm nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng

Ngoài ra, chủ trương hiện nay của Chính phủ là hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, trong đó có các chính sách đặc thù để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và có tiềm năng tăng trưởng cao phát triển Thực hiện chủ trương này, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tín dụng như rà soát, đổi mới quy trình cho vay nhưng bảo đảm an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, khuyến khích đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

Như vậy, các tổ chức tín dụng được tự do lựa chọn cách thức phù hợp để đạt được mục tiêu là góp phần tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định pháp luật Xét trong bối cảnh này, việc các tổ chức tín dụng mạnh dạn cấp tín dụng cho doanh nghiệp với tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển sẽ tạo động lực thúc đẩy thực hiện mục tiêu nói trên từ góc độ của nhà quản lý

Trang 33

Thứ hai, đối với tổ chức tín dụng, mặc dù có một số rủi ro về quản lý, giám sát

trong suốt chu kỳ sản xuất kinh doanh, hàng hóa luân chuyển có tính thanh khoản cao hơn bất động sản, và tổ chức tín dụng có thể kiểm soát tài sản thế chấp tốt hơn thông qua việc giám sát các khoản phải thu Bởi vì cơ sở bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ không phải luôn là một khối tài sản hiện hữu mà cơ sở kinh tế của nó là bên vay có khả năng có tài sản (cũng tương tự như có khả năng về tài chính) để đảm bảo trả nợ không Nếu tổ chức tín dụng khẳng định được một điều rằng, trong tương lai, bên vay chắc chắn có tài sản hình thành từ chính khoản vay, đủ để đảm bảo cho chính khoản vay đó và tổ chức tín dụng có thể kiểm soát được khối tài sản hình thành trong tương lai đó, thì giới hạn tài sản hiện hữu tại thời điểm ký kết hợp đồng vay và tài sản hình thành sau thời điểm ký kết hợp đồng sẽ không còn và tổ chức tín dụng có đầy đủ cơ

sở kinh tế để tin tưởng rằng, bên vay có đủ khả năng kinh tế để trả nợ Tuy nhiên, đó chỉ là cái gốc của cơ sở kinh tế bảo đảm cho việc trả nợ Trong thực tiễn, để giảm bớt rủi ro, bảo đảm chắc chắn cho hiệu quả kinh doanh, các tổ chức tín dụng không chỉ căn cứ vào sự chắc chắn của khối tài sản hình thành trong tương lai mà còn cần phải xác định được khả năng tài chính và hiệu quả đầu tư của dự án vay.24

Các khoản cho vay phục vụ kinh doanh là mảng kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng… Ngân hàng thường xem xét, đánh giá nhu cầu về hàng hóa luân chuyển

là một trong những mục đích vay hợp pháp và đáp ứng nhu cầu đó là một trong những hình thức cho vay phù hợp25 Ngoài ra, nhằm đáp ứng mục tiêu đa dạng hóa dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, việc mở rộng cấp tín dụng cho doanh nghiệp với hình thức bảo đảm khoản vay là nhận thế chấp hàng hóa luân chuyển là một trong các giải pháp hữu ích

Thứ ba, đối với doanh nghiệp, thế chấp hàng hóa luân chuyển tạo điều kiện để

dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng Với đặc thù vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/ GDP danh

24 Lê Thị Thu Thủy (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, NXB Tư

pháp, trang 233, 234

25 Fed Res Bull (1962), “Inventory changes and cyclical movements”, 48 Fed Res Bull.809 (1962), page

810, retrieved on April 28 th 2018, from HeinOnline database

Trang 34

nghĩa của Việt Nam khoảng 130% vào cuối năm 2017, dư nợ trung dài hạn chiếm tỷ trọng 50% trong tổng dư nợ)26 Như vậy, một nửa trong tổng số dư nợ tín dụng của toàn xã hội là các khoản cấp tín dụng ngắn hạn, trong đó có nhiều khoản vay phục vụ nhu cầu vốn lưu động cho các doanh nghiệp

Cơ cấu danh mục tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng ở nước ta đang có

sự mất cân đối giữa động sản và bất động sản, vì qua theo dõi cho thấy bất động sản hiện chiếm từ 70 - 80% tổng số tài sản bảo đảm Sự phụ thuộc quá lớn của các tổ chức tín dụng vào bất động sản trong bối cảnh tính thanh khoản của thị trường bất động sản kém là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm thu hồi nợ thời gian vừa qua Đồng thời, đây cũng là “rào cản” đối với cơ hội tiếp cận vốn của các doanh nghiệp do phần lớn doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vửa, không có nhiều tài sản cố định khi mới khởi nghiệp27

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tài sản quan trọng nhất chính là hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm hoặc nguyên liệu Khi tổ chức tín dụng cho vay các doanh nghiệp sản xuất thì tài sản bảo đảm chủ yếu là hàng hóa luân chuyển, và thậm chí các tài sản đó được hình thành từ chính nguồn vốn vay

Điểm quan trọng, xét về mặt kinh tế của thế chấp hàng hóa luân chuyển là một công cụ hỗ trợ việc kinh doanh của doanh nghiệp Điều này giúp các doanh nghiệp không có đủ vốn để khởi nghiệp hoặc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh có khả năng tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng Bản chất hoạt động kinh tế nằm ở chỗ chuyển những gì đang có như nguyên liệu thép, vải thành những tài sản chưa có như quần áo, máy móc Trong quá trình chuyển hóa này thì người sản xuất cần đến vốn lưu động, cụ thể là chi phí nhân công, vận hành… Các chi phí đó phải được chuyển hóa trong sản phẩm đầu ra, chứ không phải nguyên liệu đầu vào.28

26 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm, giải pháp

điều hành 6 tháng cuối năm 2018, trang 16

27 Hồ Quang Huy (2016), Một số vấn đề của pháp luật về giao dịch bảo đảm cần tiếp tục hoàn thiện theo quy

định của BLDS 2015 , tại http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1943, truy cập ngày 24/3/2018

28 Heywood Fleisig, Mehnaz Safaavian, Nuria de la Pena (2006), Reforming collateral laws to expand access

to finance, World Bank, trang 29.

Trang 35

Như vậy, việc nhận hàng hóa luân chuyển làm tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay của doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng không chỉ góp phần giải quyết bài toán vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng của các tổ chức tín dụng Qua đó, góp phần đưa nguồn vốn tín dụng vào nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, tạo đà phát triển kinh tế -

xã hội, tạo động lực thúc đẩy thực hiện mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w