án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.” Như vậy, đối với bản án sơ th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BẠCH NAM CHU LAI
HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BẠCH NAM CHU LAI
HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan nội dung của luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tác giả dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung Nội dung luận văn chưa được tác giả hoặc chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
NGƯỜI CAM ĐOAN
BẠCH NAM CHU LAI
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ 4
1.1 Khái niệm hủy bản án dân sự 4
1.2 Đặc điểm của hủy bản án dân sự 5
1.3 Thẩm quyền hủy bản án dân sự 8
1.3.1 Thẩm quyền hủy bản án dân sự theo Hội đồng xét xử 8
1.3.2 Thẩm quyền hủy bản án dân sự theo cơ cấu tổ chức của TAND 8
1.3.2.1 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND cấp tỉnh 9
1.3.2.2 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND cấp cao 10
1.3.2.3 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND tối cao 12
1.4 Hậu quả pháp lý 12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14 CHƯƠNG 2 CÁC TRƯỜNG HỢP HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ, BẤT CẬP VÀ
Trang 6KIẾN NGHỊ 15
2.1 Hủy bản án dân sự do có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh 15
2.2 Hủy bản án dân sự do có vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử 19
2.3 Hủy bản án dân sự do vụ án thuộc trường hợp phải đình chỉ giải quyết 22
2.4 Hủy bản án dân sự do kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật 25 2.4.1 Hủy bản án dân sự do kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án 25
2.4.2 Hủy bản án dân sự do sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật 29
2.5 Hủy bản án dân sự vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án đã có hiệu lực pháp luật 29
2.6 Hủy bản án dân sự do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khác 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm qua, cùng với sự đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch và tranh chấp dân sự trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng có chiều hướng gia tăng, diễn biến ngày càng đa dạng với tính chất phức tạp hơn Theo báo cáo nhiệm kỳ 2011 – 2016 của Chánh án TAND tối cao, toàn ngành Tòa án đã thụ lý giải quyết 1.809.080 vụ việc, trong đó, số lượng các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Tòa án đã thụ lý lên đến 1.370.506 vụ việc Số liệu trên cho thấy, số lượng vụ việc dân sự mà Tòa án các cấp đã thụ lý giải quyết là rất lớn và có xu hướng gia tăng so với nhiệm kỳ trước, để giải quyết tốt khối lượng công việc này, đòi hỏi TAND các cấp phải rất nỗ lực thì mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ
Khoản 1 Điều 21 BLTTDS 2015 quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật” Với quy định trên, Viện kiểm sát nhân dân phải kiểm sát 100% các vụ việc dân sự của Tòa án, khối lượng công việc của ngành Tòa án tăng kéo theo khối lượng công việc của ngành Kiểm sát tăng
Cùng lượng án thụ lý ngày càng tăng, số lượng vụ việc bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hủy cũng nhiều hơn Với trách nhiệm là một Kiểm sát viên, băn khoăn lớn nhất của tác giả khi kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự là phải hạn chế đến mức thấp nhất trường hợp các vụ việc được lãnh đạo đơn vị phân công kiểm sát bị hủy vì nếu xảy ra, không chỉ gây tốn kém thời gian, tiền bạc, thiệt hại quyền, lợi ích của đương sự mà bản thân tác giả, tập thể đơn vị sẽ bị ảnh hưởng trong công tác thi đua, đánh giá năng lực khi xem xét bổ nhiệm lại Kiểm sát viên Với mong
muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, tác giả mạnh dạn đăng ký đề tài: “Hủy bản án
dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật
Dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Kinh tế - Luật
Trang 82 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về đề tài “Hủy bản án dân sự theo
pháp luật Việt Nam”, tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đó do các cơ
quan tiến hành tố tụng dựa trên tình hình thực tiễn tại từng địa phương để chỉ ra một vài nguyên nhân, kiến nghị, giải pháp hạn chế án dân sự bị hủy nhưng chưa khái quát được hết về cơ sở pháp lý, chưa nêu được hết những nguyên nhân dẫn đến án dân sự
bị hủy, các kiến nghị, giải pháp chưa rõ ràng, cụ thể
Về các công trình nghiên cứu luận văn Thạc sĩ Luật học cùng đề tài khác, tác giả nhận thấy những nội dung phát hiện bất cập và kiến nghị trong luận văn này không trùng lặp với các luận văn trước đây
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ quy định của pháp luật và thực tiễn các vụ án dân sự bị hủy trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng, luận văn tập trung giải quyết các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, làm rõ quy định của pháp luật liên quan đến hủy bản án dân sự Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng nguyên nhân, các trường hợp hủy bản
án dân sự và hậu quả pháp lý, từ đó tìm ra những tồn tại trong giải quyết vụ án, đưa
ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng này và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật và thực tiễn hủy bản án dân sự xảy ra trong thời gian từ năm 2015 đến năm
2020
Về phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ Luật học, trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu, chuyên
đề, bài viết có liên quan trước đây, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài trong phạm vi
là các bản án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động bị hủy
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, liệt kê trong chương 1 và chương 2 Ngoài ra, trong chương 2, tác giả còn dùng phương pháp so sánh kết hợp với thực tiễn
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về hủy bản án dân sự
Chương 2: Các trường hợp hủy bản án dân sự, bất cập và kiến nghị
Trang 10CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm hủy bản án dân sự
Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm “hủy bản
án dân sự của Tòa án” Trong cụm từ trên, phần quan trọng nhất chúng ta cần tìm hiểu là từ “hủy”, để hiểu cụm từ pháp lý này, tác giả tra nghĩa tiếng Việt của nó Theo
Từ điển mở Wiktionary, “hủy” có nghĩa là “Làm cho không còn tồn tại hoặc không còn có giá trị nữa”1
Theo Từ điển Luật học, các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm như sau:
“Việc Tòa án có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản nhằm chấm dứt hiệu lực thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án cấp dưới khi phát hiện bản án, quyết định đó có sai sót
Bản án hoặc quyết định của Tòa án khi phát hiện là đã phạm phải những sai sót sẽ bị kháng cáo, kháng nghị theo luật định và được Tòa án có thẩm quyền xem xét lại Bản án hoặc quyết định có thể bị hủy căn cứ vào tính chất bản án, quyết định
đó và hậu quả của bản án, quyết định đó gây ra đối với các đương sự…”2
Phân tích quan điểm trên, tác giả không đồng ý ở nội dung “nhằm chấm dứt
hiệu lực thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án cấp
dưới”, nội dung không đúng với bản án dân sự sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm, bởi lẽ khoản 1 Điều 282 BLTTDS năm 2015 quy định rất rõ:
“Điều 282 Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
1 Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản
1 https://vi.wiktionary.org/wiki/hủy#Tiếng_Việt
bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp
Trang 11án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa
được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.”
Như vậy, đối với bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, cần phải chờ kết quả xét xử phúc thẩm, nếu Tòa án phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm thì rõ ràng, trong trường hợp này, bản án phúc thẩm
đã hủy một bản án “chưa có hiệu lực pháp luật” chứ không phải “đã có hiệu lực thi hành” như quan điểm mà các nhà nghiên cứu đã nêu trong Từ điển Luật học
Tổng hợp các phân tích ở trên, tác giả tự đưa ra khái niệm hủy bản án dân sự như sau:
“Hủy bản án dân sự của Tòa án là việc Toà án có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản làm cho một phần hoặc toàn bộ bản án dân sự của Tòa án cấp dưới không còn giá trị khi phát hiện bản án hoặc quá trình giải quyết của vụ án đó có sai sót.”
1.2 Đặc điểm của hủy bản án dân sự
Phân tích khái niệm hủy bản án dân sự nêu trên, tác giả nhận thấy hủy bản án dân sự có các đặc điểm chính:
- Để hủy bản án dân sự của Tòa án cấp dưới, Tòa án cấp trên phải ban hành quyết định bằng văn bản thể hiện việc hủy bản án đó
- Bản án của Tòa án cấp dưới chỉ bị có thể hủy bởi Tòa án có thẩm quyền cấp trên, Tòa án đã ra bản án không thể tự hủy bản án của chính mình
- Sau khi Tòa án cấp trên ra quyết định hủy, bản án hoặc phần bản án bị hủy
sẽ không còn giá trị
- Việc hủy bản án dân sự chỉ xảy ra khi bản án đó có sai sót
Trong các đặc điểm của hủy bản án dân sự thì bốn đặc điểm đầu không có gì khó hiểu, nhưng riêng đặc điểm “hủy bản án dân sự chỉ xảy ra khi bản án đó có sai sót, vi phạm” cần luận giải sâu hơn bởi tác giả tự đặt ra nghi vấn: có trường hợp nào,
Trang 12Tòa án cấp trên hủy bản án cấp dưới nhưng bản án của Tòa án cấp dưới không có sai sót không?
Đối với trường hợp Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm thì đều có nguyên nhân do bản
án có vi phạm, sai sót, nhưng riêng đối với trường hợp Hội đồng xét xử tái thẩm hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm thì cần phân tích sâu hơn
Điều 351 BLTTDS năm 2015 quy định về tính chất của tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.”
Điều 352 BLTTDS năm 2015 quy định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, gồm:
- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án
Ví dụ 1: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự “tranh chấp chia di sản thừa kế” có nguyên đơn A và bị đơn B đều là con của ông C, tranh chấp thừa kế di sản do ông C để lại, sau khi xét xử hai cấp, Tòa án ban hành bản án sơ thẩm, phúc thẩm Thời gian sau, bị đơn B vô tình biết nguyên đơn A không phải là con ruột ông C Sau
đó, Tòa án cấp cao tuyên hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại
- Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ
Ví dụ 2: Tương tự nội dung ví dụ 1, chỉ khác, trong quá trình giải quyết sơ thẩm, có tiến hành giám định AND để xác định cha con giữa ông C với A, B, do nhầm lẫn trong khi giám định nên kết quả A không phải con ruột ông C Sau này, A giám định AND lại thì cho kết quả đúng sự thật A là con ruột ông C Sau đó, Tòa án cấp cao tuyên hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại
- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án
Trang 13hoặc cố ý kết luận trái pháp luật
Ví dụ 3: Tương tự nội dung ví dụ 2, chỉ khác, sau khi có kết quả giám định AND, do nhận tiền từ A nên Thẩm phán đã bỏ kết quả giám định của A ra ngoài hồ
sơ vụ án và nói dối với B là không giám định được, sau đó bản án sơ thẩm tuyên A thắng kiện Sau đó, Tòa án cấp cao tuyên hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để xét xử
sơ thẩm lại
- Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ
Ví dụ 4: Tương tự nội dung ví dụ 1, chỉ khác, bản án sơ thẩm, phúc thẩm giải quyết tranh chấp giữa A và B dựa vào bản án khác để giải quyết Thời gian sau, bản
án mà Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ vào đó để giải quyết bị hủy Sau đó, Tòa án cấp cao tuyên hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại
Trong bốn ví dụ trên, xét đến cùng, các bản án này đưa ra phán quyết không đúng với sự thật khách quan, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nên bản thân chúng cũng có sai sót, mặc dù có thể nguyên nhân dẫn đến sai sót là vì nguyên nhân khách quan
Trang 141.3 Thẩm quyền hủy bản án dân sự
1.3.1 Thẩm quyền hủy bản án dân sự theo Hội đồng xét xử
Tiêu chí
so sánh
Hội đồng xét xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm
Điều 343 BLTTDS năm 2015
Điều 356 BLTTDS năm 2015
sơ thẩm và chuyển hồ
sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục
án sơ thẩm đúng pháp luật bị Hội đồng xét
xử phúc thẩm tuyên hủy hoặc sửa;
- Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục
do Bộ luật này quy định;
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án
1.3.2 Thẩm quyền hủy bản án dân sự theo cơ cấu tổ chức của TAND
Điều 3 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định tổ chức của TAND gồm:
TAND tối cao; TAND cấp cao; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt
Trang 15là TAND cấp tỉnh); TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt là TAND cấp huyện); Tòa án quân sự
Trong các Tòa án nêu trên thì Tòa án quân sự không có nhiệm vụ giải quyết các vụ việc dân sự, các Tòa án còn lại đều có nhiệm vụ giải quyết các vụ việc dân sự
ở cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm hoặc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Điều 44 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TAND cấp huyện: Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật Điều 35 BLTTDS năm 2015 quy định thẩm quyền của TAND cấp huyện:
“1 TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều
28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của
Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.”
Vì TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm nên cấp Tòa án này không có thẩm quyền để hủy bản án dân sự
1.3.2.1 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND cấp tỉnh
Khoản 2 Điều 37 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TAND cấp tỉnh: “Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.”
Thông qua phiên tòa phúc thẩm, TAND cấp tỉnh có quyền ban hành bản án phúc thẩm để hủy bản án sơ thẩm của TAND cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật
Trang 161.3.2.2 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND cấp cao
Điều 29 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TAND cấp cao:
“1 Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ3 chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng
2 Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.”
Khoản 1 Điều 337 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND cấp cao:
“1 Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ…”
Qua quy định tại khoản 2 Điều 354, có thể xác định TAND cấp cao có quyền tái thẩm “bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ”
Như vậy, thông qua phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, TAND cấp cao có quyền ban hành quyết định để hủy bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
lập 03 TAND cấp cao, bao gồm: TAND cấp cao tại Hà Nội, TAND cấp cao tại Đà Nẵng và TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 181.3.2.3 Thẩm quyền hủy bản án dân sự của TAND tối cao
Khoản 1 Điều 20 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TAND tối cao:
“1 TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TAND tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.”
Khoản 2 Điều 337 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND tối cao:
“2 Hội đồng thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao bị kháng nghị…”
Chương XXI BLTTDS 2015 về thủ tục tái thẩm không quy định rõ thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND tối cao nhưng qua quy định tại khoản 1 Điều 354, có thể xác định TAND tối cao có quyền tái thẩm “bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao”
Tóm lược các quy định trên, TAND tối cao có quyền giám đốc thẩm bản án phúc thẩm của TAND cấp cao bị kháng nghị, có quyền tái thẩm bản án đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, cấp tỉnh, cấp huyện bị kháng nghị Cũng vì vậy, thông qua phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, TAND tối cao có quyền ban hành quyết định
để hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, cấp tỉnh và cấp huyện
1.4 Hậu quả pháp lý
Đương nhiên, khi bản án dân sự bị hủy thì bản án đó hoặc phần bản án bị hủy
sẽ không còn giá trị Tùy từng trường hợp hủy án, sẽ có những hậu quả pháp lý khác nhau:
Trang 19- Theo quy định tại Điều 310 và Điều 345 BLTTDS năm 2015, đối với các trường hợp hủy bản án dân sự do có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh, vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thì Tòa án tuyên hủy án sẽ chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm để giải quyết lại vụ án
- Theo quy định tại Điều 311 và Điều 346 BLTTDS năm 2015, đối với trường hợp hủy bản án dân sự do vụ án thuộc trường hợp phải đình chỉ giải quyết nhưng vẫn Tòa án cấp dưới vẫn xét xử, ban hành bản án thì Tòa án tuyên hủy án ngoài việc tuyên hủy bản án sẽ tuyên đình chỉ giải quyết vụ án Theo khoản 3 Điều 217 BLTTDS năm
2015, Tòa án sẽ xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
- Đối với trường hợp hủy án của Hội đồng xét xử tái thẩm thì sau khi hủy bản
án, sẽ chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm “để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do
Bộ luật này quy định”4
- Đối với trường hợp Tòa án cấp trên tuyên hủy toàn bộ bản án thì toàn bộ bản
án dân sự phải bị chấm dứt thi hành, còn trường hợp Tòa án cấp trên tuyên chỉ hủy một phần bản án thì các phần còn lại của bản án không bị tuyên hủy vẫn có hiệu lực pháp luật và được thi hành án
Trang 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương này, tác giả đã luận giải và làm rõ những nội dung cơ bản về mặt lý luận của luận văn như khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền và hậu quả pháp lý của hủy bản án dân sự Trên cơ sở của Chương 1, trong Chương 2, tác giả sẽ đối chiếu, so sánh quy định của pháp luật với thực tiễn hủy án xảy ra trong thời gian vừa qua, kể từ khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật
Trang 21CHƯƠNG 2
CÁC TRƯỜNG HỢP HỦY BẢN ÁN DÂN SỰ, BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ
Qua nghiên cứu quy định tại các Điều 310, 311, 345, 346, 352, 356 BLTTDS năm 2015, tác giả phân loại trường hợp hủy bản án dân sự theo nguyên nhân dẫn đến bản án bị hủy, gồm:
2.1 Hủy bản án dân sự do có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh
Điều 93 BLTTDS 2015 định nghĩa chứng cứ: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự
là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương
sự là có căn cứ và hợp pháp”
Các thuộc tính của chứng cứ gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Nếu tài liệu đã thu thập không đảm bảo tính hợp pháp thì tài liệu đó không được xem là chứng cứ Do đó, nếu Tòa án cấp dưới để xảy ra vi phạm trong việc thu thập chứng cứ thì Tòa án cấp trên không có căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án, từ đó đưa ra phán quyết chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự Vì vậy, nếu có vi phạm này xảy ra và chứng cứ đó là chứng cứ quan trọng thì gần như chắc chắn, bản án đó sẽ bị hủy
Qua nghiên cứu các bản án, quyết định của Tòa án cấp trên tuyên hủy đối với bản án của Tòa án cấp dưới, tác giả nhận thấy, các loại vi phạm trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh sau thường dẫn đến hủy bản án dân sự:
- Không thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ
- Kết luận giám định, kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được sử dụng làm chứng cứ nhưng không được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
Trang 22- Tình tiết, sự kiện không thuộc trường hợp không phải chứng minh nhưng Tòa án nhận định, đánh giá tình tiết, sự kiện đó thuộc trường hợp không phải chứng minh
Trong vụ án kinh doanh thương mại này, Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm đã có vi phạm trong thu thập chứng cứ, kết quả cả hai bản án sơ, phúc thẩm đều bị Tòa án cấp trên hủy:
- Nội dung vụ án:
Doanh nghiệp Tân Phượng với Công ty Đồng Tâm đã nhiều năm quan hệ mua bán vật liệu xây dựng Việc mua bán được thực hiện thông qua 03 Hợp đồng kinh tế
do hai bên ký kết trong các năm 2011, 2012, 2013
Biên bản đối chiếu công nợ cuối cùng vào ngày 03/12/2012 xác định, Công ty Đồng Tâm còn nợ Doanh nghiệp Tân Phượng số tiền mua hàng là 928.332.580 đồng
Sau khi có Biên bản đối chiếu công nợ cuối cùng vào ngày 03/12/2012 nêu trên, Công ty Đồng Tâm đã chuyển trả cho Doanh nghiệp Tân Phượng thông qua ngân hàng với tổng số tiền 932.147.612 đồng, thể hiện qua 07 lệnh chi Tính đến ngày 04/11/2013, Công ty Đồng Tâm đã trả dư cho Doanh nghiệp Tân Phượng số tiền mua hàng là 3.815.032 đồng (932.147.612 đồng - 928.332.580 đồng = 3.815.032 đồng) Tuy nhiên, số tiền trả dư này Công ty Đồng Tâm không yêu cầu trả lại
Sau khi Công ty Đồng Tâm thanh toán xong số tiền nợ mua hàng nói trên, ngày 18/11/2014, Doanh nghiệp Tân Phượng khởi kiện Tòa án buộc Công ty Đồng Tâm trả số tiền mua hàng còn nợ trong Hợp đồng kinh tế năm 2011 là 368.542.308 đồng
- Quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 66/2015/KDTM-ST ngày 25/11/2015 của TAND thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tuyên xử: chấp nhận khởi kiện của Doanh nghiệp Tân Phượng, buộc Công ty Đồng Tâm có nghĩa vụ trả Doanh nghiệp Tân Phượng số tiền 368.542.308 đồng Bản án bị Viện KSND thành
Trang 23phố Quy Nhơn kháng nghị yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, Công ty Đồng Tâm kháng cáo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số: 06/2016/KDTM-PT ngày 15/6/2016 của TAND tỉnh Bình Định tuyên xử: chấp nhận một phần kháng nghị, sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm về phần tính lãi suất khi đương sự
có đơn yêu cầu thi hành án; bác đơn kháng cáo của Công ty Đồng Tâm
Ngày 19/9/2016, Viện KSND cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị, đề nghị TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy hai bản án sơ, phúc thẩm nêu trên Ngày 16/12/2016, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng có Quyết định giám đốc thẩm số: 25/2016/KDTM-GĐT, chấp nhận kháng nghị của Viện KSND cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ hai bản án sơ, phúc thẩm của TAND thành phố Quy Nhơn và TAND tỉnh Bình Định
- Nguyên nhân hủy án:
Trong các nguyên nhân hủy án, có nguyên nhân Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm
có thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ khi nhiều tài liệu quan trọng (như Hóa đơn, Biên Bản đối chiếu công nợ…) không phải là bản chính hoặc là bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp mà chỉ là bản photocopy – vi phạm khoản 1 Điều 95 BLTTDS 20155
- Bình luận quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm:
Theo quan điểm của tác giả, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại Đà Nẵng tuyên hủy toàn bộ hai bản án sơ, phúc thẩm do có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ là đúng, bởi lẽ, các tài liệu trên là các tài liệu quan trọng, chúng chỉ có thể được xem là chứng cứ nếu đảm bảo thuộc tính hợp pháp, Tòa án cấp sơ
chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”
Trang 24thẩm, phúc thẩm không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015 nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không có căn cứ để xác định quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm là đúng hay sai nên buộc phải tuyên hủy để Tòa án sơ thẩm tiến hành thu thập lại
* Bất cập:
So sánh quy định tại khoản 1 Điều 310 và khoản 1 Điều 345 BLTTDS năm
2015, tác giả nhận thấy, cùng hủy bản án vì nguyên nhân có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh nhưng quy định hủy án của Hội đồng xét xử phúc thẩm
và Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có sự khác biệt:
Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án trong trường hợp:
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy bản án trong trường hợp: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh
không theo đúng quy định tại Chương
VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực
hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm
không thể thực hiện bổ sung được 6
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của
Bộ luật này7
Điểm khác biệt ở bảng trên khi so sánh giữa hai bên là: Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ hủy bản án sơ thẩm nếu tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được sai sót của Tòa án sơ thẩm, còn Hội đồng xét xử giám đốc thẩm sẽ hủy bản án
sơ thẩm, phúc thẩm mà không cần điều kiện này
* Kiến nghị:
Tác giả cho rằng, để hạn chế hủy bản án do có vi phạm trong việc thu thập
Trang 25
chứng cứ và chứng minh, pháp luật cần quy định tạo điều kiện tối đa cho Tòa án cấp trên có thể khắc phục vi phạm của Tòa án cấp dưới bằng cách sửa đổi khoản 1 Điều
310 BLTTDS năm 2015 và khoản 1 Điều 345 BLTTDS năm 2015 theo hướng:
Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án trong trường hợp:
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy bản án trong trường hợp: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh
không theo đúng quy định tại Chương
VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực
hiện đầy đủ mà trong thời gian chuẩn
bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm không thể thực hiện khắc
phục, bổ sung được
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực
hiện đầy đủ mà trong thời gian chuẩn
bị phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm không thể thực hiện khắc phục, bổ sung được
2.2 Hủy bản án dân sự do có vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử
Điều 63 BLTTDS năm 2015 quy định:
“Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này8 Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân
Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em
một Thẩm phán tiến hành”