1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự (luận văn thạc sỹ luật)

71 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thiện quy định pháp luật và các giải pháp để áp dụng thống nhất pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là thật sự cần thiết nên tôi chọn đề tài “Hoạt động ủy thác thu thập chứ

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 3

trong Tố tụng Dân sự" là công trình nghiên cứu cá nhân của tác giả trong thời gian qua Toàn bộ nội dung, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu

và phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này."

Trang 4

MỤC LỤC Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 6

1.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ và ủy thác thu thập chứng cứ 6

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 8

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 10

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 12

1.2.1 Cơ sở lý luận 12

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 13

1.3 Sơ lược các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ 15

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 22

Trang 5

2.1 Căn cứ ủy thác thu thập chứng cứ 23

2.2 Thời hạn ủy thác thu thập chứng cứ 35

2.3 Chủ thể trong ủy thác thu thập chứng cứ 42

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3 THỦ TỤC ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ 47

3.1 Hồ sơ yêu cầu ủy thác thu thập chứng cứ 47

3.2 Trình tự, thủ tục Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện quyết định ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 60

KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, pháp luật tố tụng là một nhu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự đang ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp của từng loại

vụ việc Thu thập chứng cứ là hoạt động đặc biệt quan trọng của tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ đầy đủ sẽ là cơ sở để có kết luận khách quan, toàn diện các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự; căn cứ vào đó Tòa án có thể ra những bản án, quyết định đúng đắn phù hợp với hiện thực khách quan của vụ việc dân sự xảy ra trên thực tế, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự Để thu thập chứng cứ, Tòa án thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, một trong các cách đó là ủy thác thu thập chứng cứ

Chế định về ủy thác thu thập chứng cứ trước đây đã được quy định tại Điều

93 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2011, Từ ngày 01/7/2016, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thì việc ủy thác thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng các quy định pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ chưa thực

sự cụ thể, trình tự thủ tục chưa đầy đủ, chưa có trách nhiệm ràng buộc các bên tham gia vào hoạt động ủy thác nên thực tiễn áp dụng hoạt động này của các Tòa án còn nhiều vướng mắc dẫn đến việc ủy thác thu thập chứng cứ không hiệu quả và tốn nhiều thời gian ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ việc dân sự Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 hiện hành đã có những quy định cụ thể hơn về vấn đề này nhưng vẫn chưa giải quyết được những vướng mắc tồn tại trong thực tiễn

Do đó, làm rõ những bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn

Trang 7

thiện quy định pháp luật và các giải pháp để áp dụng thống nhất pháp luật về hoạt

động ủy thác thu thập chứng cứ là thật sự cần thiết nên tôi chọn đề tài “Hoạt động

ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.” làm luận văn cao học luật của

tôi

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự với các bước từ cung cấp, thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá chứng cứ là mảng đề tài thường được chọn để nghiên cứu khoa học pháp lý với nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào vấn đề, nội dung mà các tác giả quan tâm Tuy nhiên, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự dưới góc độ là một cách thức, biện pháp thu thập chứng cứ thì chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp Vấn đề ủy thác thu thập chứng cứ là một đề tài có rất nhiều khía cạnh để cho những nhà nghiên cứu pháp luật và những

cá nhân có quan tâm có thể nghiên cứu và khai thác nhưng hiện nay vẫn chưa thấy tác phẩm chuyên sâu về vấn đề này được phát hành Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu chung có một số tác giả đề cập vấn đề này trong tác phẩm của mình dưới dạng giáo trình, bình luận khoa học, luận văn Thạc sĩ luật học, khóa luận cử nhân, các tạp chí chuyên ngành Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ như:

- Sách “Giáo trình Bộ luật Tố tụng dân sự” do PGS.TS Nguyễn Thị Hồng

Nhung chủ biên do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2019;

- Sách “Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, (tái bản lần thứ nhất) do PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương làm chủ biên được Nhà

xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2016;

- Sách “Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam” của Trường Đại học

Kiểm sát Hà Nội do PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2019

Trang 8

Nội dung các công trình nói trên đã cung cấp cho người đọc hệ thống lý luận

cơ bản nhất về ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự dựa trên các quy định của pháp luật Công trình chỉ tiếp cận dưới góc độ là một trong các hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự, mang tính khái quát Tính chuyên sâu còn phần nào có sự hạn chế

Ngoài các công trình nêu trên, một số tác giả có các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

- Bài viết “Một số khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có yếu

tố nước ngoài theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn

Xuân Bình được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, số 03/2018,…

Các nghiên cứu ít nhiều có nội dung liên quan tới hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án và là nguồn tư liệu quý để tác giả tham khảo nhằm hoàn thiện luận văn của mình Tuy nhiên đa phần nghiên cứu trên đều tiếp cận vấn đề trên cơ

sở quy định pháp luật mà chưa đi tìm hiểu quy định pháp luật có đáp ứng hoạt động

ủy thác thu thập chứng cứ trong thực tiễn hay không, có bất cập, vướng mắc gì hay không Do đó, những nghiên cứu trên vẫn chưa có giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ

Trên tinh thần cầu thị, trong phạm vi luận văn này, tác giả bên cạnh việc đi sâu vào việc nghiên cứu các quy định về ủy thác thu thập chứng cứ theo pháp luật hiện hành, sẽ đánh giá vị trí, vai trò, những ưu điểm, nhược điểm của quá trình vận dụng các quy định nói trên trong thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án Trên cơ sở đó, sẽ đề xuất những giải pháp phù hợp

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật và thực tiễn hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ tại các Tòa án nhân dân

Trang 9

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam nhìn từ lý luận và thực tiễn thực hiện Cụ thể, tác giả sẽ phân tích một số khái niệm, đặc điểm, vai trò, căn cứ, trình tự, thủ tục của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể như:

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tác giả tiến hành phân tích những vấn

đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò, căn cứ, trình tự, thủ tục và thời hạn thực hiện hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Đồng thời, tác giả cũng tổng hợp các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành có liên quan đến hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ và từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến biện pháp này Phương pháp này được tác giả vận dụng trong Chương 1 và Chương 2 của đề tài

Phương pháp so sánh: Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, từ đó đánh giá, chọn lọc những điểm phù hợp nhằm đưa ra kiến nghị, giải pháp thích hợp, có thể áp dụng vào thực tiễn Phương pháp này được tác giả sử dụng tại Chương 1 và Chương 3 của đề tài

Phương pháp suy luận: Phương pháp này được tác giả sử dụng để đánh giá mức độ phù hợp các quy định của pháp luật đối với thực tiễn áp dụng hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.Phương pháp này được tác giả vận dụng chủ yếu tại Chương 3 của đề tài

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần Danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần

mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Lý luận chung về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chương 2: Căn cứ, thời hạn, chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự

Chương 3: Thủ tục ủy thác thu thập chứng cứ

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động ủy thác thu thập chứng

cứ

1.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ và ủy thác thu thập chứng cứ

Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định Do đó, để giải quyết vụ việc dân sự, trước hết, phải làm rõ được tất cả những vấn đề có liên quan đến vụ việc, sau đó, Tòa án mới có thể áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung giải quyết vụ việc dân sự Vấn đề đặt ra là muốn làm rõ được tất cả những vấn đề liên quan đó thì các chủ thể trong quá trình tố tụng từ đương sự, Tòa án, Viện Kiểm sát và các chủ thể có liên quan khác phải chứng minh cho những vấn đề đó thông qua việc thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự

Theo Từ điển Tiếng Việt “Chứng cứ là những cái cụ thể như lời nói, việc

làm, vật làm chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì có thật” 1 Chứng cứ được hiểu là cái được dẫn ra để dựa vào đó mà xác định điều gì đó là đúng hay sai, là thật hay giả Cơ sở

lý luận về chứng cứ xuất phát từ quy luật vật chất, rằng vật chất sinh ra cũng không

tự mất đi mà có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác và chịu sự chi phối của nguyên lý sự phổ biến, mọi sự vật hiện tượng có mối liên hệ phổ biến Một quan hệ pháp luật hình thành được thể hiện dưới những hình thức khác nhau của vật chất mà chúng ta có thể cầm nắm được như tài liệu, hiện vật, hoặc cả trí nhớ của con người Trong ngôn từ của Việt Nam, chứng cứ có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, là những thông tin (mang tính trừu tượng, phi vật chất) mà dựa vào đó, Tòa án suy đoán hoặc rút ra kết luận một sự kiện pháp lý khách quan có tồn tại hay không tồn

1 Từ điển Tiếng Việt (1996), Nxb Đà Nẵng

Trang 12

tại, ví dụ như cái chết, thời điểm giao dịch dân sự Nghĩa thứ hai mang tính vật chất

là những văn bản, vật chứng chứa đựng thông tin nói trên 2

Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Chứng cứ trong vụ việc

dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ

để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”

Có thể thấy rằng vấn đề chứng cứ là vấn đề trung tâm trong tố tụng dân sự và trong hoạt động xét xử Chứng cứ là cơ sở duy nhất để chứng minh trong các vụ việc dân sự

Chứng minh là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng

lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng”3 Các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự nên được gọi là chứng minh Trên thực tế, hoạt động chứng minh diễn

ra dưới dạng cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và hoạt động chỉ ra các căn cứ pháp lý làm cho mọi người nhận thức đúng vụ việc Chủ thể tham gia vào quá trình chứng minh không chỉ là đương sự mà còn bao gồm nhiều chủ thể khác như Tòa án, Viện Kiểm sát, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người giám định, người làm chứng Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm có cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ, đánh giá chứng cứ Hoạt động thu thập chứng cứ bao gồm lấy lời khai đương sự, người làm chứng, đối chất, xem xét, thẩm định tại chỗ, trưng cầu giám định, yêu cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức

Trang 13

cung cấp chứng cứ và ủy thác thu thập chứng cứ Hoạt động chứng minh, bản chất chính là hoạt động sử dụng chứng cứ trên cơ sở các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

Theo Từ điển tiếng Việt, thu thập có nghĩa là "góp nhặt và tập hợp lại” 4

Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào

hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự 5

Tác giả cho rằng thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự là việc các chủ thể chứng minh được quyền sử dụng các phương tiện, công cụ do pháp luật quy định để tìm ra chứng cứ và tập hợp lại nhằm làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự để giải quyết vụ việc dân sự

Ủy thác thu thập chứng cứ là biện pháp thu thập chứng cứ giúp Tòa án ủy thác có được tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà hoạt động thu thập phải thực hiện bên ngoài phạm vi lãnh thổ của Tòa án ủy thác thông qua Tòa

án, cơ quan có thẩm quyền được ủy thác

Trong trường hợp việc thu nhập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ

Hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là một trong những hoạt động thu thập chứng cứ, nó mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ và cả những đặc điểm đặc thù cho loại hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ:

Thứ nhất, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ chỉ do Tòa án tiến hành

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội

Trang 14

Lý do của điều này là bởi hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ được tiến hành khi việc thu thập chứng cứ gặp trở ngại do phải được tiến hành tại địa phương khác hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam, do đó, pháp luật dành riêng cơ chế ủy thác thu thập chứng cứ cho các Tòa án, theo đó, có quyền yêu cầu Tòa án khác hoặc cơ quan

có thẩm quyền tại nước ngoài trong trường hợp phải thu thập chứng cứ tại nước ngoài

Thứ hai, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và phải tiến hành nhanh chóng, kịp thời, trong một thời hạn nhất định

Điều này xuất phát từ lý luận chứng cứ được rút ra từ các nguồn chứng cứ trên cơ sở các chủ thể chứng minh sử dụng phương tiện chứng minh là các công cụ

do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết,

sự kiện của vụ việc dân sự.6 Các phương tiện chứng minh có thể được liệt kê cụ thể

là lấy lời khai đương sự, lời khai người làm chứng, tài liệu, giấy tờ, vật chứng

Các chủ thể chứng minh chỉ được sử dụng các phương tiện chứng minh do pháp luật quy định mà không thể sử dụng bất kỳ phương tiện nào khác để chứng minh Đồng thời, đối với mỗi phương tiện chứng minh thì cũng chỉ được sử dụng để chứng minh khi đáp ứng được những điều kiện nhất định do pháp luật quy định Ví dụ: Lời khai của đương sự, người làm chứng phải được ghi lại dưới một hình thức nhất định theo quy định của pháp luật, hoặc các tài liệu nghe được, nhìn được phải

có văn bản xác nhận xuất xứ của nó, hoặc tài liệu đọc được thì phải là bản chính hoặc là bản sao đã được công chứng, chứng thực theo quy định

Việc quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục thu thập chứng cứ cũng như ủy thác thu thập chứng cứ sẽ giúp cho chứng cứ có giá trị pháp lý, có giá trị chứng

2015, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội

Trang 15

minh bởi đã được thu thập theo đúng quy định của pháp luật, từ đó, việc giải quyết

vụ việc dân sự của Tòa án sẽ đảm bảo vững chắc về cơ sở pháp lý

Mặt khác, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là một thủ tục tố tụng dân sự,

để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự đúng thời hạn mà Bộ luật Tố tụng dân

sự thì các thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án đó cũng phải được tiến hành theo đúng thời hạn, việc thực hiện thủ tục này một cách chậm trễ sẽ kéo theo việc chậm trễ các thủ tục tiếp theo và việc giải quyết vụ án cũng sẽ vi phạm các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử

Thứ ba, nội dung hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ rất phong phú và tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án ủy thác có thể ra quyết định ủy thác phù hợp

Tòa án thụ lý vụ việc có thể ủy thác yêu cầu Tòa án có thẩm quyền/cơ quan

có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng như lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc ủy thác các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ

Hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và hoạt động ủy thác thu thập chứng

cứ nói riêng là một trong các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhằm mục đích làm rõ các sự kiện, tình tiết, nhằm giải quyết vụ việc dân sự,

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo vệ quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác và lợi ích nhà nước Do đó, có thể khái quát lên một số ý nghĩa của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ như sau:

Thứ nhất, xác định, làm rõ được các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự

để phục vụ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án

Thông qua hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ nói riêng và hoạt động thu thập chứng cứ nói chung, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân biết rõ được các tình tiết,

sự kiện của vụ việc dân sự Tất nhiên cũng có trường hợp biết do ngẫu nhiên (trừ

Trang 16

các tình tiết, sự kiện không cần chứng minh) Tuy nhiên, Thẩm phán không thể sử dụng sự hiểu biết ngẫu nhiên này để làm căn cứ giải quyết vụ việc mà phải tiến hành các hoạt động chứng minh trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ, hoạt động

ủy thác thu thập chứng cứ Dưới góc độ lý luận hay thực tiễn thì hoạt động chứng minh là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự

Thứ hai, bảo đảm cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự

Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, Tòa án sẽ giải quyết các vụ việc trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các chứng cứ mà đương sự tự mình thu thập và cung cấp cho Tòa án Tuy nhiên, với thực tiễn hiện nay, tố tụng dân sự Việt Nam là sự pha trộn giữa mô hình tố tụng xét hỏi và tranh tụng theo hướng mở rộng dần tính tranh tụng Do đó, Tòa án vẫn còn là một chủ thể chứng minh, tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nhằm mục tiêu giải quyết

vụ việc dân sự do chính mình thụ lý và vai trò này còn quan trọng ở mức độ không

có sự thu thập chứng cứ của đương sự thì không thể giải quyết được vụ án Bên cạnh đó, việc chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án giúp Tòa án nhanh chóng sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ việc Với trình độ hiểu biết pháp luật của người dân Việt Nam hiện nay chưa đồng đều, không phải các bên trong một vụ việc đều

có khả năng hiểu biết và khả năng thu thập chứng cứ để bảo vệ chính quyền và lợi ích hợp pháp của mình Và việc giải quyết mỗi vụ việc của Tòa án đều chịu sự chi phối bởi một thời hạn mà pháp luật quy định Tính chủ động thu thập chứng cứ hoặc ủy thác thu thập chứng cứ thay vì chờ đợi đến khi đương sự có khả năng tự mình cung cấp chứng cứ đã giúp cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn các vụ việc dân sự

Thứ ba, là hoạt động chứng minh có tính chất mở đầu, là tiền đề cho các hoạt động chứng minh khác

Hoạt động chứng minh trong vụ việc dân sự bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ Hoạt

Trang 17

động thu thập chứng cứ đúng đắn, toàn diện, đầy đủ là cơ sở để Tòa án nghiên cứu, phát hiện, đánh giá được các chứng cứ, từ đó, sẽ có nhận thức đúng đắn về vụ việc dân sự và đưa ra các quyết định/bản án hợp lý, hợp tình trên cơ sở các quy định của

Hiến pháp năm 2013 đã trao cho Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền

tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân7 Do đó, mỗi hoạt tố tụng của Tòa án trong đó có hoạt động ủy thác

tư pháp cũng phải được xây dựng, thực hiện dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền con người Các hoạt động tố tụng trở thành phương tiện để đương sự bảo vệ cho chính quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời, thông qua các hoạt động tố tụng, nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội đã đang và sẽ phát sinh Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền cơ bản của công dân, quyền con người,

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định nhằm bảo đảm cho các đương sự được thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình Pháp luật đã

dự liệu được các trường hợp đương sự không thể thực hiện được các hoạt động thu thập chứng cứ của mình, Tòa án sẽ hỗ trợ việc thu thập chứng cứ, một trong những

sự hỗ trợ đắc lực đó là thực hiện cơ chế ủy thác thu thập chứng cứ

Thứ hai, hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và vận hành theo truyền thống pháp luật lục địa Mô hình tố tụng dân sự của Việt Nam là sự pha

Trang 18

trộn giữa mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng xét hỏi, và phần nhiều vẫn thiên về yếu tố xét hỏi

Sau khi được Chánh án phân công thụ lý, giải quyết hồ sơ vụ việc dân sự thì Thẩm phán là người trực tiếp xây dựng nên hồ sơ vụ án, quá trình thu thập chứng cứ nói chung và ủy thác việc thu thập chứng cứ nói riêng nằm trong quá trình xây dựng

hồ sơ vụ việc dân sự Để có cơ sở Thẩm phán giải quyết vụ án đúng pháp luật, công bằng, khách quan và đúng thời hạn thì việc đánh giá chứng cứ phải thực sự đúng đắn, toàn diện, khách quan Điều này phụ thuộc phần lớn vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không Mặc dù Bộ luật

Tố tụng dân sự đã quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, các đương sự

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ án Tuy nhiên, nếu trao toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự và giải phóng hoàn toàn nghĩa

vụ chứng minh của Tòa án, thì sẽ không thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta Mặc khác, việc giải quyết vụ án có thể thiếu khách quan, có lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của đương sự khác Do đó, trách nhiệm của người Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và ủy thác thu thập chứng cứ nói riêng xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam

Thứ nhất, trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, các nguồn chứng cứ

là các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất nhà ở được công khai ở mức độ hạn chế và được lưu giữ tại một số cơ quan nhà nước

Điều này hạn chế khả năng tiếp cận của đương sự đối với các nguồn chứng

cứ nói trên Hoặc trường hợp đương sự đã có yêu cầu tiếp cận các tài liệu chứng cứ nhưng bị từ chối với nhiều lý do hoặc không được cung cấp một cách đầy đủ, chính xác và đúng thời hạn hồ sơ thủ tục hành chính còn quan liêu, rườm rà Do đó,

Trang 19

đương sự thực sự cần đến vai trò thu thập chứng cứ nói chung hay hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ nói riêng của Tòa án với vai trò là cơ quan giải quyết tranh chấp

Thứ hai, sự hiểu biết của các đương sự trong các vụ việc dân sự còn nhiều hạn chế, không đồng đều giữa các địa phương

Trong thực tiễn, khả năng chứng minh hay tự bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình còn nhiều hạn chế Mặt khác, các tranh chấp dân sự đã và đang ngày càng đa dạng, phức tạp Việc xác định vấn đề nào cần chứng minh và các chứng cứ nào liên quan cần thiết phải thu thập dựa trên các quy định pháp luật, điều này đòi hỏi đương sự phải có trình độ hiểu biết pháp luật nhất định mới có thể làm tốt được Trong điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc và nhiều trường hợp đương sự không có khả năng mời Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính họ Chính vì vậy, quy định Tòa án phải hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ thông qua trách nhiệm của Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật là hoàn toàn phù hợp

Thứ ba, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực khi giải quyết vụ việc dân sự

Trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, tranh chấp về các vụ việc dân sự ngày càng gia tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp Việc thu thập tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án gặp trở ngại do phải tiến hành ở địa phương khác hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Trong nhiều trường hợp khác nhau, Tòa án đang thụ lý và giải quyết không thể tự mình trực tiếp tống đạt giấy tờ đến đương sự ở một địa phương khác hoặc ở một quốc gia khác, cũng không thể cử cán bộ đi thu thập chứng cứ, lấy lời khai, giám định, đối với các tổ chức, cá nhân ở địa phương khác, hoặc ở một quốc gia khác bởi phát sinh nhiều vấn đề về thời gian, nhân sự, tài chính Do đó, để giải quyết trở ngại về mặt địa giới hành chính và vấn đề phát sinh nhiều về thời gian,

Trang 20

nhân sự, tài chính, pháp luật tố tụng dân sự quy định cơ chế ủy thác thu thập chứng

cứ là thực sự cần thiết Theo đó, Tòa án đã thụ lý vụ việc có quyền ủy thác cho Tòa

án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan tiến hành tố tụng dân sự ở nước ngoài mà nước đó và Việt Nam đã ký kết điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này tiến hành các hoạt động tố tụng như lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc ủy thác các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự

1.3 Sơ lược các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động

ủy thác thu thập chứng cứ

Có thể thấy rằng, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam và có nhiều biến động trong những giai đoạn khác nhau trong lịch sử Việt Nam

Thứ nhất, giai đoạn xã hội phong kiến, nghiên cứu các vấn đề pháp luật dưới các triều đại phong kiến Việt Nam

Có thể thấy rằng, trước thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, không phân biệt giữa cơ quan tài phán và cơ quan quản lý nhà nước Các tranh chấp dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp Các quy định được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật (năm 1483), Quốc triều khám tụng điều lệ (năm 1777) dưới thời Lê (từ năm 1428 – năm 1788) hoặc được ghi nhận trong bộ Hoàng Việt Luật lệ (năm 1812) dưới thời Nguyễn (từ năm 1802 – năm 1858 và từ năm 1858 – năm 1945) Do các thời kỳ này ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo, việc kiện tụng phải phù hợp với quy tắc ứng xử và đạo đức người phương đông nên pháp luật tố tụng đã hạn chế quyền đi kiện của một số thành viên trong gia đình, làm hạn chế quyền con người

Ví dụ Điều 511 Quốc triều Hình luật quy định con cháu đi kiện ông bà, cha mẹ là

một điều cấm, quy định đã nói “con cháu kiện nhau với ông bà, cha mẹ, ông bà

Trang 21

ngoại cùng là vợ kiện ông bà, cha mẹ chồng, đều phải biếm một tư ; nếu lý lẽ trái thì xử thêm tội một bậc” 8

Tuy nhiên, nhiều quy định tố tụng thời kỳ này đã phản ánh được thực tiễn cuộc sống, thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt, minh bạch, công bằng trong phán xét của quan xử kiện bảo vệ quyền lợi cho dân chúng, như các quy định về sự phân cấp thẩm quyền xét xử, về thời hạn xét xử theo tính chất của vụ việc, quy định về hoà giải nhằm giảm bớt việc kiện tụng, về lệ tạ phạt nếu quan xét xử không đúng,

về việc từ chối xử kiện của quan xét xử nếu không bảo đảm tính khách quan…v.v

Pháp luật thời kỳ này cơ bản đã thiết lập được những quy tắc tố tụng chung

để giải quyết các việc kiện cáo trong dân Đánh giá kỹ thuật lập pháp của các triều đại phong kiến thời kỳ này thì được xem là một trong những thành tựu, có giá trị văn hóa, pháp luật, là nguồn tư liệu nghiên cứu, tham khảo đáng giá đến thời đại hiện nay

Thứ hai, từ năm 1858 đến tháng 9/1945, Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

Trong thời kỳ này, các quy định về tố tụng dân sự trở thành một thủ tục tố tụng riêng biệt, có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự và phân biệt giữa cơ quan tài phán và cơ quan quản lý nhà nước Thủ tục tố tụng dân sự chính thức du nhập vào miền Nam Việt Nam bằng Nghị định 16/3/19109 Sau đó là Bộ dân sự tố tụng Bắc năm 1917, Bộ Hộ sự thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ Đánh giá chung pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thời kỳ này được xây dựng trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, bài viết đăng trên Website của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, link https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/414, truy cập ngày 01/11/2020

Trang 22

1807 và có sự chọn lọc một cách phù hợp với đời sống người dân Việt Nam nhưng nhìn chung vẫn là chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp

Thứ ba, từ tháng 9/1945 (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời) đến năm 1975 (nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời, thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam)

Sau cách mạng tháng thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã quy định rằng cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này Liên quan đến các thủ tục tố tụng dân sự thì tại Sắc lệnh 47 nói trên đã nói rõ: Trước các Tòa án ở Nam bộ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng

và Đà Nẵng sẽ áp dụng thủ tục ấn định trong nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1910 của nguyên Toàn quyền Đông Dương và những nghị định sửa đổi nghị định ấy Bộ luật dân sự tố tụng thủ tục Pháp (Code de Procédure civile franổaise) không thi hành nữa.10

Sau năm 1954, miền Bắc hòa bình và tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam vẫn tiếp tục phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đất nước

bị chia cắt thành hai miền Ở miền Bắc, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1989 thì miền Bắc chưa có một văn bản chính thức về tố tụng dân sự, các vấn đề liên quan đến thủ tục kiện tụng về dân sự chỉ được quy định tản mạn trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Ở miền Nam, chế độ Sài Gòn đã xây dựng

Bộ luật dân sự thương sự tố tụng năm 1972

10 Điều 11 Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 về việc giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành

Trang 23

Thứ tư, giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất hai miền Nam Bắc, các quy định của Bộ luật dân sự thương sự tố tụng năm 1972 không còn được áp dụng nữa Từ năm 1975 -1989, tại miền Nam, các vấn đề liên quan đến thủ tục kiện tụng về dân

sự cũng chỉ được quy định tản mạn trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao

Sau năm 1989, trước yêu cầu đổi mới và hội nhập, pháp luật tố tụng dân sự ngày càng hoàn thiện với sự ra đời của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đang có hiệu lực Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã tiếp thu nhiều thành tựu lập pháp của các quốc gia trên thế giới như Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản…Từ việc quy định ba loại thủ tục tố tụng dân sự riêng biệt cho vụ án kinh

tế, vụ án dân sự, vụ án lao động thì đã hợp nhất thành một loại thủ tục tố tụng duy nhất gọi là thủ tục tố tụng dân sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự

Tại Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Bộ Chính trị đã nêu rõ rằng: Cải cách mạnh

mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… 11

Tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020 tiếp tục khẳng định: "…Xây dựng cơ chế xét xử theo

11 Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội

Trang 24

thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định "; "Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự… "

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay vẫn trên con đường cải cách, hoàn thiện trên tinh thần kế thừa kinh nghiệm lịch sử, quốc tế, và chúng ta có quyền kỳ vọng vào một Bộ luật Tố tụng dân sự hoàn toàn văn minh và tiến bộ trong tương lai

Pháp luật thế giới đã và đang ghi nhận có hai hệ thống pháp luật được xem là chủ yếu đó là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law) và hệ thống pháp luật án lệ (common law) Tương ứng với hai hệ thống pháp luật trên là hai loại hình thủ tục tố tụng chủ yếu là thủ tục tố tụng xét hỏi và thủ tục tố tụng tranh tụng

Trong mô hình tố tụng xét hỏi, Thẩm phán có vị trí trung tâm trong việc chứng minh vụ án, các chủ thể khác chỉ đóng vai trò thứ yếu Bộ luật Tố tụng dân

sự Pháp quy định rằng12: Các bên đương sự có nghĩa vụ viện dẫn các tình tiết cụ thể

làm căn cứ cho các yêu cầu của mình Tương tự, Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang

Nga cũng quy định: Mỗi bên có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở

cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối yêu cầu của bên kia, nếu luật liên bang không quy định khác13 Trong trường hợp lý do khách quan và chủ quan của các đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì Tòa án có thể hỗ trợ họ

Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga quy định14: Trong trường hợp những người

tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ Bộ luật Tố

tụng dân sự Pháp quy định rằng15: Nếu trong quá trình tố tụng, một bên đương sự

gia

gia

Trang 25

dựa vào một công chứng thư hoặc tư chứng thư mà họ không tham gia hoặc một tài liệu do người thứ ba đang giữ, họ có thể yêu cầu thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu và bản sao tài liệu ấy Như vậy thấy rằng truyền thống pháp luật

các nước theo tố tụng xét hỏi có những điểm tương tự như pháp luật tố tụng Việt Nam

Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, là mô hình được áp dụng ở những quốc gia theo truyền thống thông luật (common law), như: Anh, Mỹ, Úc… Trong mô hình này, Thẩm phán chỉ thực hiện việc xét xử, đóng vai trò là người trọng tài trung lập xem xét các vấn đề do các bên đưa ra.16 Các bên trong vụ việc dân sự sẽ quyết định phạm vi các vấn đề để Thẩm phán xem xét, quyết định, có trách nhiệm đưa ra các quan điểm và bảo vệ quan điểm của mình Đối với mô hình tố tụng tranh tụng thì không có giai đoạn điều tra, mọi chứng cứ hoàn toàn do các bên tự thu thập và chỉ được đưa ra tranh luận tại phiên xét xử Thấy rằng trong mô hình này không còn thấy bóng dáng của Tòa án với vai trò điều tra, thu thập chứng cứ, kể cả chỉ là hỗ trợ các bên thu thập chứng cứ

Có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trước đây thủ tục tố tụng dân sự tại Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1807 thuộc loại hình thủ tục tố tụng xét hỏi, coi trọng việc điều tra, thu thập chứng cứ của Thẩm phán và hồ sơ vụ án Đến Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ

quyền lợi cho mình thuộc về đương sự nhưng vẫn khẳng định rằng trong trường hợp

cần thiết, Tòa án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để đảm bảo cho việc giải quyết

vụ án được chính xác

16 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nhin-ra-nuoc-ngoai/to-tung-tranh-tung-va-to-tung-xet-hoi

Trang 26

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về cơ bản cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi Theo đó, vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của đương sự

so với các quy định trước kia Trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa

đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ Tòa án chỉ tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ

Tuy nhiên, ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới, tại Hiến pháp năm 2013 nói trên đã khẳng định một nội dung rằng

“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” 17 Đây là một điểm hoàn toàn mới trong quy định của pháp luật tố tụng Điều này thể hiện, trong xu hướng cải cách tư pháp nói chung và hoạt động xét xử nói riêng sẽ càng mở rộng nguyên tắc tranh tụng Nguyên tắc tranh tụng nói trên được hiểu rằng các bên trong vụ việc dân

sự đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong tố tụng dân sự nói chung và trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Hiện nay, tố tụng dân sự Việt Nam là sự pha trộn giữa mô hình tố tụng xét hỏi và mô hình tranh tụng, và nghiêng nhiều về mô hình tố tụng xét hỏi, điều này có thể giải thích rằng tố tụng dân sự Việt Nam trong lịch sử chịu ảnh hưởng nhiều của

tố tụng dân sự của nước Pháp Tuy nhiên, theo xu hướng đã ghi nhận và dần dần mở rộng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử cũng là một điểm tiến bộ, việc áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng sẽ bảo đảm hơn tính khách quan, dân chủ và minh bạch, hạn chế sự lạm quyền dẫn đến tiêu cực của các cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ủy thác thu thập chứng cứ là một trong những hoạt động thu thập chứng cứ

do Tòa án tiến hành trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự với mục đích phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, trong một thời hạn nhất định Khi Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự xét thấy cần phải thu thập thêm chứng cứ do chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ

án nhưng việc thu thập chứng cứ gặp trở ngại do phải tiến hành ở địa phương khác hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ sẽ được tiến hành Đây là một trong những hoạt động có ý nghĩa xác định, làm rõ được các

sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, có tính chất mở đầu, là tiền đề cho các hoạt động chứng minh khác để phục vụ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự, bảo đảm cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn việc dân sự, là cơ sở để các đương

sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc xây dựng các quy định pháp luật tố tụng về thu thập chứng cứ nói chung và ủy thác nói riêng hiện nay xuất phát

từ đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng dân sự, các lý luận

về quyền con người, sự ảnh hưởng nhiều của mô hình tố tụng xét hỏi của các quốc gia trên thế giới đặt trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam

Trang 28

CHƯƠNG 2 CĂN CỨ, THỜI HẠN, CHỦ THỂ ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2.1 Căn cứ ủy thác thu thập chứng cứ

Sau khi được Chánh án phân công thụ lý, giải quyết hồ sơ vụ việc dân sự thì Thẩm phán là người trực tiếp xây dựng nên hồ sơ vụ án, quá trình thu thập chứng cứ nói chung và ủy thác việc thu thập chứng cứ nói riêng nằm trong quá trình xây dựng

hồ sơ vụ việc dân sự Về nguyên tắc, trên cơ sở các chứng cứ chứng minh mà

đương sự cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu và lập luận của mình, Tòa án phải có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ án, đảm bảo trong hồ sơ vụ

án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau đây: Lấy lời khai đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; Trưng cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương

sự tại nơi cư trú; Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015.18 Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thể ủy thác yêu cầu Tòa án có thẩm quyền/cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng như lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc

ủy thác các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự 19

19 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 29

Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thực hiện biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ khi đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xét thấy cần phải thu thập thêm chứng cứ để xác minh, làm rõ các tình tiết của vụ việc dân sự do chưa

đủ căn cứ để giải quyết vụ án

Thứ hai, việc thu thập chứng cứ gặp trở ngại do phải tiến hành ở địa phương khác hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Nếu thỏa mãn hai điều kiện trên thì Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này để lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự

Việc thu thập chứng cứ làm cơ sở giải quyết vụ án đòi hỏi không những đúng

mà còn cần phải đầy đủ và toàn diện Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm Trong quy trình áp dụng pháp luật khi giải quyết một

vụ việc dân sự cụ thể thì bước thứ nhất của quy trình này đó là Tòa án phải phân tích, đánh giá chính xác các tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của sự kiện thực tế cần

áp dụng pháp luật Trên cơ sở đã xác định được vụ việc thuộc thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp thì Tòa án sẽ xác định bản chất sự việc, làm sáng tỏ những hoàn cảnh, điều kiện, sự kiện có liên quan đến sự việc, xác định phạm vi yêu cầu của đương sự, sự kiện cần phải chứng minh, những vấn đề đã chứng minh được, những vấn đề còn phải chứng minh…Việc thu thập chứng cứ phải bảo đảm tính toàn diện, tránh phiến diện, đòi hỏi người Thẩm phán phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự việc đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại

và phát triển của sự việc Điều này đòi hỏi bản lĩnh của người Thẩm phán giải quyết

vụ việc

Trang 30

Trong trường hợp Thẩm phán giải quyết vụ việc thấy rằng chứng cứ chưa đủ

để giải quyết vụ án thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung Việc yêu cầu giao nộp bổ sung chứng cứ được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết

vụ án và phải bằng văn bản (thông báo giao nộp chứng cứ) 20

Cần nhận thức rằng hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là một trong những hoạt động chứng minh của Tòa án, tuy nhiên hoạt động chứng minh của Tòa án phải chủ yếu dựa trên sự chứng minh của đương sự thông qua các tài liệu chứng cứ do

họ cung cấp Tuy nhiên mục đích thu thập chứng cứ của Tòa án cho mục đích chứng minh có sự khác biệt với quá trình chứng minh của đương sự Bởi, Tòa án với vai trò trung lập, bằng các hoạt động thu thập chứng cứ trong đó có ủy thác thu thập chứng cứ để chứng minh tính khách quan trong việc giải quyết vụ án Từ đó, phán quyết công bằng với cả hai phía đương sự Trong khi đó, đương sự chỉ chứng minh cho chính yêu cầu của mình và hầu như phủ nhận, phản bác toàn bộ yêu cầu của bên kia

Đối với một số vụ án dân sự có quan hệ tranh chấp có liên quan đến bất động sản thì việc định giá tài sản là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành để có cơ sở giải quyết vụ án Có nhiều vụ việc chia tài sản khi ly hôn là nhà đất tọa lạc tại nhiều địa chỉ khác nhau, đương sự không thỏa thuận được giá đối với tài sản đang tranh chấp, không thỏa thuận được vấn đề lựa chọn đơn vị thẩm định giá nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án ra thành lập Hội đồng định giá để định giá tài sản tranh chấp Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 trước đây đã lúng túng khi giải quyết vấn đề phát sinh như trên Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tháo gỡ vướng mắc này bằng cách Tòa án có thể ban hành quyết định định giá tài sản và thành lập hội đồng định giá 21

Trang 31

Mặt khác, biện pháp thu thập chứng cứ được nêu tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ là một trong các biện pháp thu thập chứng cứ được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định chi tiết tại Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán chỉ áp dụng những biện pháp mà pháp luật quy định, không tự mình áp dụng những biện pháp mà pháp luật không quy định Tác giả sẽ điểm qua một số nội dung chi tiết của từng biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án được ủy thác phải thực hiện theo yêu cầu như sau:

(1) Ủy thác lấy lời khai đương sự: 22

Về nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung cấp, tự viết và ký tên Do đó, Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa

có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự

Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/09/2005 trước đây của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì chỉ trong trường hợp đương sự không thể tự viết được, thì Thẩm phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản.23 Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành văn bản nào thay thế Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP nói trên, tuy nhiên, hiện nay, một số Tòa án vẫn tham khảo các quy định tại Nghị quyết 04 trong thực tiễn thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự

Việc lấy lời khai do Thẩm phán tiến hành Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lời khai của đương sự vào biên bản Việc lấy lời khai của đương sự chỉ

22 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về “Chứng minh và chứng cứ”

Trang 32

tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng được đề cập tại yêu cầu của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ Tuy nhiên, quá trình lấy lời khai, Thẩm phán cũng cần có kỹ năng nắm được tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án

để việc lấy lời khai chỉ xoáy sâu vào các tình tiết chính của vụ án, các căn cứ pháp luật liên quan, góp phần làm sáng tỏ vụ án Chẳng hạn: Đương sự là bị đơn có biết

về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng không? Bị đơn có giao kết không? Việc giao kết thực hiện khi nào? Đã thực hiện đến đâu? Đã giao nhận tiền và bàn giao quyền sử dụng đất hay chưa? Việc giao kết

có ai làm chứng không? Trong vụ án này bị đơn có yêu cầu gì không? Bị đơn có đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn không?…

Về địa điểm lấy lời khai, Thẩm phán phải tiến hành lấy khai của đương sự tại trụ sở Tòa án Trong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng như đương

sự đang ốm đau, bệnh tật, đang bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, v.v…thì Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án phải đảm bảo đúng quy định, bảo đảm khách quan, Thẩm phán, Thư ký Tòa án phải tuân thủ các quy định của pháp luật cán bộ công chức, quy chế của ngành Sự khách quan này được bảo đảm bằng một số biện pháp như khi lấy lời khai có sự chứng kiến của địa phương nơi đương sự cư trú…Hoặc trường hợp lấy lời khai của đương sự đang bị tạm giam tại trại giam thì phải theo sự bố trí của Ban giám thị trại tạm giam…Việc lấy lời khai đối với đương

sự không có năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai

Khi ghi biên bản lấy lời khai thì Thẩm phán hoặc Thư ký phải thể hiện rõ ngày, giờ, tháng, năm ghi biên bản, địa điểm lấy lời khai, người tiến hành lấy lời khai, họ tên, tuổi, địa chỉ nghề nghiệp của người được lấy lời khai khai, nội dung khai, người chứng kiến Biên bản phải phải ghi trung thực, đầy đủ chính xác nội dung khai của đương sự, chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu, không dùng từ địa phương

Trang 33

Nhiều trường hợp cần thể hiện thái độ người được lấy lời khai vào biên bản như im lặng, ngập ngừng…Mỗi chữ mỗi câu thêm vào hoặc bỏ đi trong biên bản phải được cả người lấy lời khai và người khai xác nhận Những dòng trống phải gạch đi Biên bản lấy lời khai được người khai tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai Người khai ký vào biên bản xác nhận Nếu người khai không biết chữ thì cho điểm chỉ xác nhận Nếu người khai không ký thì yêu cầu họ phải ghi rõ lý do vì sao không ký Nếu đã giải thích họ vẫn không ký, không ghi lý do vì sao không ký thì Thẩm phán yêu cầu mời người làm chứng đến xác nhận sự việc và ký tên vào biên bản Nếu biên bản lấy lời khai được lập ngoài trụ sở của Tòa án thì có người làm chứng hoặc xác nhận của chính quyền địa phương như ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn Biên bản phải có chữ ký của Thẩm phán lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án theo quy định Nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai

Ví dụ cụ thể (vụ án A)24: Ngày 19/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án số 83/2018/TLST-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa bà Lê Thị L với bị đơn bà Hoàng Thị Ái H Trong quá tình giải quyết vụ án, xét thấy việc ủy thác thu thập chứng cứ là cần thiết, Tòa án nhân dân huyện nhà bè ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 213/2018/QĐ-UTTA, ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tiến hành biện pháp xác minh thu thập chứng cứ: lập biên bản xác minh đối với bà Trần Thị Thúy H – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và tiến hành lấy lời khai bà H Ngày 19/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhận được kết quả

ủy thác tư pháp, theo đó xác minh được địa chỉ của bà H: hiện nay bà đã bị công an tỉnh Bình Định bắt tạm giam ngày 10/7/2017 về tội chiếm đoạt tài sản Ngày 27/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè có thông báo số 286/2019/TAHNB đề

Chí Minh

Trang 34

nghị Tòa án huyện Tuy Phước hỗ trợ thu thập chứng cứ: lấy lời khai của bà Trần Thị Thúy H

Do đó, ngày 22/10/2019, tại trại tạm giam công an tỉnh Bình Định, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã tiến hành lấy lời khai bà Trần Thị Thúy H, Biên lập xong lúc 10h 30 phút cùng ngày, người khai đã đọc và tự đọc lại, xác nhận những nội dung ghi trong biên bản, đồng ý ký tên Ngoài ra biên bản có xác nhận của trại tạm giam công an tỉnh Bình Định

(2) Ủy thác Lấy lời khai người làm chứng:25

Thấy rằng về phương pháp lấy lời khai, cách thức ghi biên bản ghi lời khai đều tương tự như trường hợp lấy lời khai đương sự như tác giả đã phân tích kỹ lưỡng trên

Về điều kiện lấy lời khai người làm chứng Trong thủ tục tố tụng dân sự thì người làm chứng phát sinh trong vụ án trên cơ sở đương sự yêu cầu Tòa án triệu tập hoặc cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết cần triệu tập để người làm chứng khai báo các tình tiết có liên quan đến vụ án mà họ được biết

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Phương pháp, địa điểm lấy lời khai người làm chứng được thực hiện như việc lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó

Việc lấy lời khai của người làm chứng cần bảo đảm tính khách quan Trong thực tế có thể lời khai người làm chứng bị sai lệch, không khách quan do đã bị dụ

dỗ, đe dọa dẫn đến khai báo sai sự thật Hoặc cũng có trường hợp người làm chứng

25 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 35

không nhớ kỹ đúng vụ việc đã chứng kiến Tuy người làm chứng không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án nhưng lời khai của họ lại chứa đựng rất nhiều tình tiết, chứng cứ ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án của vụ án, yêu cầu khởi kiện của đương sự Do vậy, việc lấy lời khai người làm chứng cần phải thực sự cẩn trọng, và Tòa án chỉ nên lấy lời khai người làm chứng trên cơ sở thật sự cần thiết

Sự cần thiết ở đây được định nghĩa rằng việc lấy lời khai của người làm chứng sẽ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật

(3) Ủy thác Đối chất:26

Theo yêu cầu của đương sự hoặc trong trường hợp xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa các đương sự, người làm chứng Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các bên với nhau, có thể là đương sự với đương sự, người làm chứng với người làm chứng hoặc đương sự với người làm chứng

Kết cấu của buổi đối chất có thể đối chất theo từng vấn đề hoặc từng người trình bày theo thứ tự

Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án sẽ ghi biên bản đối chất Cách ghi biên bản đối chất cơ bản cũng được thực hiện như trường hợp biên bản lấy lời khai, cần bảo đảm tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng Biên bản phải được các đương sự tham gia đối chất ký tên, Thẩm phán và người ghi biên bản phải ký tên và đóng dấu Tòa án

(4) Ủy thác xem xét, thẩm định tại chỗ:27

Tòa án thông thường sẽ phải tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ trong những vụ án mà đối tượng tranh chấp là các bất động sản nhà, đất hoặc Thẩm phán xét thấy cần thiết phải khái quát không gian, hiện trường xảy ra tranh chấp Việc

26 Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

27 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng minh và chứng cứ
22. Nguyễn Xuân Bình (2018), Một số khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, số 03/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Năm: 2018
23. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
24. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
25. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về việc chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về việc chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
26. Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga 2002 (2005), Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga 2002
Tác giả: Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga 2002
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
27. Ngô Cường (2018), Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, theo link https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nhin-ra-nuoc-ngoai/to-tung-tranh-tung-va-to-tung-xet-hoi, truy cập ngày 01/10/2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi
Tác giả: Ngô Cường
Năm: 2018
28. Nguyễn Huy Đẩu (1968), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự tố tụng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đẩu
Năm: 1968
29. Nhà pháp luật Việt Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ộ luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
30. Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2016
31. Tòa án nhân dân tối cao (2018), Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 của các Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 của các Tòa án
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2018
32. Tòa án nhân dân tối cao (2020), Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2020 của các Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2020 của các Tòa án
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2020
35. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2019
36. Trường Đại học Kinh tế Luật – Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Bộ luật Tố tụng dân sự, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Luật – Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
37. Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2019
38. Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học
Năm: 2005
2. Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011 3. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Khác
6. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Hunggary được ký kết năm 2018 Khác
7. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào được ký kết năm 1998 8. Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam - Ba Lan được ký kết năm 1993 Khác
13. Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13, Luật tố tụng hành chính 93/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w