CHƯƠNG 1: Sự hỡnh thành đội ngũ cỏc nhà thơ "thế hệ chống Mỹ" 1.1 Vấn đề nhận diện dòng chảy của thơ theo đóng góp 1.1.1 Phõn kỡ quỏ trỡnh phỏt triển của thơ theo cỏc mốc lịch sử 10 1.1.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NGỮ VĂN
******************
ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH THƠ 'THẾ HỆ CHỐNG MỸ" QUA SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Văn học hiện đạiKhoá học: 2001 - 2005
Giáo viên hướng dẫn: TS Phan Huy Dũng
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Vân
Năm 2005
Trang 2CHƯƠNG 1:
Sự hỡnh thành đội ngũ cỏc nhà thơ "thế hệ chống Mỹ"
1.1 Vấn đề nhận diện dòng chảy của thơ theo đóng góp
1.1.1 Phõn kỡ quỏ trỡnh phỏt triển của thơ theo cỏc mốc lịch sử 10
1.1.2 Phõn kỡ quỏ trỡnh phỏt triển của thơ dựa vào đặc trưng
1.1.3 Phõn kỡ dựa vào đặc điểm từng thế hệ tỏc giả 12
1.2 Cỏc thế hệ nhà thơ trong văn học Việt Nam hiện đại 13
Một số đặc điểm mang tớnh chất loại hỡnh của thơ "thế hệ chống Mỹ"
2.1 Một số giới thuyết chung về khỏi niệm loại hỡnh 22
2.2 Những cảm hứng sỏng tạo và những hỡnh tượng lớn trong
Trang 32.2.2.1 Hình tượng Tổ quốc, Đất nước 36
Một số phong cách th¬ tiêu biểu của "thế hệ chống Mỹ" 54
3.1.1 Một tấm lòng đối với quê hương 55
3.2.1 Tình yêu thế hệ trong thơ Xuân Quỳnh 58
3.2.2 Vẻ đẹp của cuộc sống gia đình 59
3.3.1 Giọng thơ tinh nghịch hóm hỉnh của người lính
Trường Sơn 613.3.2 Cách sử dụng từ ngữ độc đáo 62
3.3.3 Chất văn xuôi trong thơ Phạm Tiến Duật 64
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và bạn bè trong khoa Ngữ văn - Đại học Vinh, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Phan Huy Dũng Vì vậy, người làm khóa luận này xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến thầy cô và các bạn.
Mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn trong một dịp khác.
Sinh viên: Đặng Thị Vân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ở thế kỷ XXI này, khi những cuộc chiến tranh đã rời xa, chúng
ta có điều kiện nhìn nhận lại thơ ca kháng chiến một cách đúng đắn hơn,công bằng hơn Trước đó, đã có nhiều ý kiến đánh giá về thơ ca thời kì này,trong đó có ý kiến cho rằng: nên loại bỏ thơ ca kháng chiến ra khỏi tiếntrình thơ Việt Nam vì nó chỉ thuần túy phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên khinhiệm vụ kết thúc thì nó không còn tác dụng nữa Đó là một ý kiến hết sứcphiến diện nếu không muốn nói là sai lầm Phiến diện vì đã không nhìnnhận đóng góp của nền thơ ca này trên cả hai phương diện chính trị và thẩm
mỹ, đặc biệt là phương diện thẩm mỹ Tuy rằng, thơ ca thời kì này còn cóphần thô mộc, câu thơ chưa được trau chuốt còn gần với tiếng nói tự nhiênhằng ngày của quần chúng, và có phần còn nặng về chính trị, song không cónghĩa nó không có vẻ đẹp riêng Chính đứng trên phương diện thẩm mỹ này
mà Vũ Duy Thông đã có bài nghiên cứu về "Cái đẹp trong thơ kháng chiếnViệt Nam 1945- 1975" rất thành công Cũng không cần chứng minh đâu xa,
chúng ta hãy nhìn vào những bài thơ để đời như: Bác ơi (Tố Hữu), Tây Tiến (Quang Dũng), Quê hương (Giang Nam), Cuộc chia ly mầu đỏ (Nguyễn Mỹ), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân),
Tre Việt Nam (Nguyễn Duy), Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây (Phạm
Tiến Duật), Sóng (Xuân Quỳnh), và rất nhiều rất nhiều những bài thơ khác
sẽ còn lại mãi với thời gian mà chúng tôi không thể kể hết được Chúng tôitin chắc rằng khi đọc những bài thơ đó có ai lại nghĩ đến việc loại bỏ chúng
ra nền thơ ca Việt Nam? Nếu thế, đó là một thiếu sót lớn tạo một chỗ hổnglớn trong nền thơ ca Và đó là một sai lầm lớn mà chúng ta cần xem xét lại
1.2 Trong nền thơ ca đó, chúng ta không thể không nhắc tới nhữngđóng góp của thế hệ các nhà thơ, trong đó có "thế hệ chống Mỹ" Thế hệnhà thơ này "tuổi đời và đặc biệt là tuổi nghề còn trẻ xuất hiện trong thời kỳchống Mỹ" Họ "những nhà thơ người lính, đã đem đến cho thơ chất sốnghiện thực phong phú, tươi nguyên cùng với sự nhạy cảm, trẻ trung trongtâm hồn của một thế hệ sẵn sàng gánh vác sứ mệnh lịch sử trước tiếng gọicủa Tổ quốc" Họ có cách nhìn riêng, giọng điệu riêng, tạo vẻ đẹp riêngtrong nền thơ ca kháng chiến Đặc biệt trong các nhà thơ "thế hệ chống Mỹ"
đó đã xuất hiện nhiều nhà thơ có phong cách riêng không lẫn với ai được
Đó là những nhà thơ như: Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Bằng Việt,Nguyễn Khoa Điềm
1.3 Trong chương trình giảng văn ở trường phổ thông có nhiều bài
thơ của "thế hệ chống Mỹ" được giảng dạy như: Bếp lửa (Bằng Việt), Tre
Trang 6Việt Nam (Nguyễn Duy), Bài thơ về tiểu đội xe khụng kớnh (Phạm Tiến
Duật), Súng (Xuõn Quỳnh), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) Vỡ vậy, việc
nghiờn cứu đề tài này gúp một phần nào đú trong việc giảng dạy những bàithơ trờn theo hướng thẩm mỹ mà sau đõy chỳng tụi sẽ đi sõu tỡm hiểu
2 Lịch sử vấn đề
Thơ ca khỏng chiến là một đề tài thực sự hấp dẫn thu hỳt nhiều nhànghiờn cứu Trờn một phương diện chung, tức là nghiờn cứu về nền thơ củahai cuộc khỏng chiến đó cú nhiều bài viết như:
a Hà Minh Đức với "Chất thơ của một thời đại mới" (Trớch trong
"Khảo luận văn chương"), Nxb KHXH, HN, 1997
b Vũ Tuấn Anh với "Bản sắc dõn tộc trong thơ ca Việt Nam hiệnđại 1945- 1975", Nxb VHDT, HN, 1998
c Vũ Duy Thụng với "Vẻ đẹp trong thơ ca khỏng chiến ViệtNam 1945- 1975", Nxb GD, HN, 2001
d Nguyễn Văn Long với "Thơ 1945- 1975" in trong " Lịch sửvăn học Việt Nam tập III" do Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biờn),Nxb ĐHSP, HN, 2002
Trong những bài viết chung về nền thơ ca khỏng chiến từ 1946 đến
1975, cỏc nhà nghiờn cứu đó cú điểm qua chỳt ớt về cỏc nhà thơ "thế hệchống Mỹ" nhưng chưa nờu được cỏi riờng của họ Cỏc bài viết riờng về thơthời kỡ chống Mỹ đó núi nhiều hơn về thế hệ này Cỏc nhà nghiờn cứu đó đềcập đến ba thế hệ: thế hệ lớp trước cỏch mạng như Tố Hữu, Chế Lan Viờn,Huy Cận, ; thế hệ trưởng thành từ trong cuộc khỏng chiến chống Phỏpnhư Hoàng Trung Thụng, Chớnh Hữu, Nguyờn Hồng, ; và cú cả thờm mộtthế hệ mới ra đời được gọi là "cỏc nhà thơ trẻ" Ở những bài viết đú, cỏcnhà nghiờn cứu đó đề cập đến đúng gúp của "thế hệ chống Mỹ", núi đến nộtriờng, sự khỏc biệt của thế hệ này trong thơ ca khỏng chiến chống Mỹ song
đề cập chưa nhiều, do phải dành sự chú ý cho các tờn tuổi lớn như TốHữu, Chế Lan Viờn Đú là những bài như:
- Phần thơ in trong cuốn "Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước"của Vũ Tuấn Anh, Hoàng Trung Thụng (chủ biờn), Nxb KHXH, HN, 1979
- "Thơ những năm 1964- 1975" của Mó Giang Lõn in trong cuốn
"Tiến trỡnh thơ hiện đại Việt Nam", Nxb GD, 2002
Những bài viết trờn mở ra cho chỳng tụi ớt nhiều định hướng để đisõu tỡm hiểu thờm về thế hệ này Ngoài ra chúng tôi cũng hết sức quan tâmtới các bài viết riờng về từng tỏc giả như Phạm Tiến Duật, Xuõn Quỳnh,Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Bằng Việt Phải nói rằng những bài viết riờng
về các nhà thơ "thế hệ chống Mỹ" dưới gúc nhỡn loại hỡnh vẫn cũn quỏ ớt
ỏi Đây chính là điểm mà chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu với đề tài "Đặcđiểm loại hỡnh thơ "thế hệ chống Mỹ" qua sáng tác của một số tỏc giả tiờu
Trang 7Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Xuõn Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Hữu Thỉnh.Nguyễn Duy, Thanh Thảo,
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chung, cỏi đớch hớng tới của đề tài là đặc điểm loại hìnhthơ "thế hệ chống Mỹ" Để đạt được nhiệm vụ chung đú, người nghiờn cứuphải thực hiện được các nhiệm vụ cụ thể sau:
3.1.Tỡm hiểu sự hỡnh thành đội ngũ cỏc nhà thơ "thế hệ chống Mỹ",trong đú nờu lờn vấn đề cỏch chia cỏc thế hệ nhà thơ và điểm qua cỏc thế hệnhà thơ trong văn học Việt Nam hiện đại Đặc biệt cần núi qua về điều kiện
xó hội và điều kiện thẩm mĩ gúp phần hỡnh thành thế hệ cỏc nhà thơ này 3.2 Làm rừ một số đặc điểm mang tớnh chất loại hỡnh của thơ "thế hệchống Mỹ" qua sáng tác của một số tỏc giả tiờu biểu Trước hết phải hiểu vànờu lờn khỏi niệm loại hỡnh, sau đi vào cỏc đặc điểm chớnh như cảm hứngsỏng tạo, những hỡnh tượng lớn, đặc điểm về nghệ thuật
3.3 Điểm qua một vài phong cỏch thơ tiờu biểu của "thế hệ chốngMỹ" như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Xuõn Quỳnh
4 Phương phỏp nghiờn cứu
Mỏc đó từng núi: "cỏi nào thỡ cỏch ấy" Điều đú cú nghĩa là mỗi vấn
đề, mỗi đối tượng đều đòi hỏi một phương phỏp, một nguyờn tắc tiếp cậnnhất định Với đề tài này, chỳng tụi xỏc định nguyờn tắc sau:
Thứ nhất : do thơ chống Mỹ viết trong điều kiện cuộc chiến tranh xảy
ra ỏc liệt và chịu sự chia phối quan điểm văn nghệ phục vụ chớnh trị nờn nú
cú những nột đặc thự Vỡ vậy khi nghiờn cứu thơ chống Mỹ nói chung, thơcủa "thế hệ chống Mỹ" nói riêng, chỳng ta nờn đặt chúng trong hoàn cảnh
đú mà đỏnh giỏ, nhỡn nhận cho thật khỏch quan
Thứ hai: khóa luận của chúng tôi đợc triển khai từ góc độ loại hỡnh
Vỡ vậy, chỳng tụi chỉ nhỡn nhận cỏc tỏc phẩm của thế hệ này ở mặt đúnggúp, ở những nột riờng, hơn nữa khi tỡm hiểu phõn tớch chỳng tụi cũn chỳ ý
so sỏnh với thế hệ cỏc nhà thơ trong khỏc, nhất cỏc nhà thơ trong khỏngchiến để làm nổi rừ những nột riờng đú
Trờn những nguyờn tắc đú chỳng tụi vận dụng những biện phỏp như:biện phỏp so sỏnh - đối chiếu; biện phỏp thống kờ - phõn loại; biện phỏpphõn tớch - tổng hợp; biện phỏp cấu trỳc - phõn loại
Ngoài ra, người nghiờn cứu cũn làm rừ cỏc khỏi niệm lý luận liờnquan đến đề tài để đề tài cú một cơ sở lý luận vững chắc, khoa học
5 Cấu trỳc khóa luận
Cấu trỳc luận văn của chỳng tụi, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài
liệu tham khảo ra cũn cú phần Nội dung bao gồm cỏc chương, mục lớn sau:
Chương 1: Sự hỡnh thành đội ngũ cỏc nhà thơ "thế hệ chống Mỹ"
Trang 81.1 Vấn đề nhận diện dòng chảy của thơ theo đóng góp của cácthế hệ tác giả
1.2 Cỏc thế hệ nhà thơ trong văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Những điều kiện đặc thự gúp phần hỡnh thành đội ngũ cácnhà thơ "thế hệ chống Mỹ"
Chương 2: Một số đặc điểm mang tớnh chất loại hỡnh của thơ "thế hệ
chống Mỹ"
2.1 Một số giới thuyết chung về khỏi niệm loại hỡnh
2.2 Những cảm hứng sỏng tạo và những hỡnh tượng lớn trong thơ
Trang 9Lịch sử văn học là một dòng chảy liên tục qua thời gian Tuy nhiên,
để hiểu cả một dòng chảy đó như thế nào cần có sự phân chia theo từng giaiđoạn, phân kú chúng để tìm hiểu sâu hơn, từ đó có một cái nhìn khái quáthơn Việc phân chia này có nhiều cách, mỗi cách dựa vào những tiêu chíkhác nhau, trong đó nổi lên ba cách theo ba tiêu chí sau:
1.1.1.Phân kì quá trình phát triển của thơ theo các mốc lịch sử
Tuy dựa trên sự kiện lịch sử song không có nghĩa nó không liên quan
gì tới sự kiện văn học trong giai đoạn đó Cách phân chia này về mặt thờigian trùng hợp nhau Dựa vào tiêu chí như vậy, các nhà nghiên cứu chialịch sử văn học ra thành các giai đoạn sau:
b Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Ở thế kỷ XVI, nhà Lê dần đi vào suy yếu, từ đó nổi lên cuộc tranhgiành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Lê- Mạc- Trịnh - Nguyễn donội bộ phong kiến ngày càng mâu thuẫn Từ đó các cuộc khởi nghĩa nôngdân diễn ra khá sôi động vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XVIII, tiêu biểucuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã quét sạch thù trong giặc ngoài, thống nhất đấtnước, nhưng không lâu sau Nguyễn Ánh lật đổ được Nhà Lê, lên nắmquyền Kết thúc giai đoạn này là lúc thực dân Pháp chuẩn bị xâm chiếmnước ta
c Giai đoạn cuối thế kỷ XIX
Giai đoạn này được tính từ lúc thực dân Pháp chính thức xâm lượcViệt Nam vào 31-8-1885 Phần lớn do sự nhu nhược của vua quan nhàNguyễn mà nước ta rơi vào tay giặc Kết thúc là lúc phong trào Cần vương
do văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp lãnh đạo đi đến giai đoạn kết thúc
Trang 10của nó, chấm dứt ngay sau cái chết của Phan Đình Phùng (1896), lúc thựcdân Pháp rảnh tay trong hoạt động quân sự.
d Giai đoạn 1900 - 1930
Đây là giai đoạn thực dân Pháp bắt đầu đi sâu vào tiến hành khai thácthuộc địa về mặt kinh tế Kết thúc giai đoạn lúc Đảng cộng sản Việt Nam rađời (3-2-1930)
e Giai đoạn 1930- 1945
Kết thúc giai đoạn này là lúc đất nước ta bước vào giai đoạn mới,đồng thời với kỷ nguyên mới của dân tộc là bước ngoặt mới khi một loạtnghệ sĩ trong phong trào Thơ mới, trong văn học hợp pháp đã đi theo cáchmạng, một lòng vì sự nghiệp chung
g Giai đoạn 1945- 1975
Là giai đoạn kháng chiến của dân tộc chống lại đế quốc Pháp, Mỹ, làgiai đoạn đất nước ta đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất nướcnhà
h Giai đoạn 1975 đến nay
Giai đoạn đất nước ta đã kết thúc chiến tranh, con người trở về vớicuộc sống đời thường trong hòa bình, trong sự thống nhất Bắc Nam Nhưngđằng sau nó là bao mất mát đau thương mà chúng ta không kể xiết Và đây
là đoạn đất nước có rất nhiều sự đổi thay, đặc biệt xây dựng đất nước theo
cơ chế thị trường kéo theo sự đổi thay về mặt văn hóa văn học
1.1.2 Phân kì quá trình phát triển của thơ dựa vào đặc trưng thi
pháp
Thi pháp là hệ thống hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học đượctạo thành từ những cách thức, phương thức chiếm lĩnh nghệ thuật của conngười đối với cuộc sống Vì thế, căn cứ vào đặc trưng này có thể chia vănhọc viết ra làm ba giai đoạn: trung đại, giao thời, hiện đại
a.Giai đoạn trung đại
Giai đoạn này được tính từ thế kỷ X, lúc bắt đầu của nhà nước phongkiến Việt Nam độc lập đến hết thế kỷ XIX, khi nhà nước phong kiến đó mấtdần vai trò thống trị của mình, kể cả trong lĩnh vực văn học
Văn học thời kỳ này mang tính quy phạm rất cao Tính quy phạm nàynhìn một cách tổng quát được thể hiện ở các phương diện cơ bản sau:
+ Về quan niệm: văn học trung đại đề cao mục đích giáo huấn, tônthờ tư tưởng trung quân ái quốc
+ Về tư duy nghệ thuật: văn học trung đại ưa tìm đến những khuônmẫu nghệ thuật được coi là vàng ngọc
+ Về mặt thể loại: văn học trung đại chủ trương niêm luật chặt chẽ,đúng quy cách
+ Về mặt ngôn ngữ: văn học trung đại ưa tìm đến cách nói trang nhã,
ưa dùng điển tích điển cố [6, 140]
Trang 11Và thơ trung đại có hai đặc điểm chính mà giáo sư Trần Đình Sử đãkết luận:
Thứ nhất: có sự thống nhất hài hòa giữa cái khách quan và cái chủquan
Thơ ca cổ điển không thiên về miêu tả khách quan, cũng không thiên
về miêu tả, biểu hiện cảm xúc chủ quan Các nhà thơ trung đại chưa có ýthức tách bạch giữa cái khách thể và chủ thể, mà chỉ nhìn từ một trong haiphía Vì con người trong thơ trung đại là con người siêu cá thể Họ quanniệm cái tôi càng ẩn kín thì càng hàm súc, càng gợi cảm Cách biểu hiệnmình là biểu hiện gián tiếp, vì họ chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, bịràng buộc bởi những luật lệ khắc khe của xã hội phong kiến
Thứ hai: xây dựng những quy tắc tổ chức tác phẩm trên cơ sở đặctính chất liệu với mô hình tác phẩm lấy sự hài hòa cân đối làm nền tảng Nhưng cuối giai đoạn này khi nền ý thức phong kiến có nguy cơ bịlung lay trong một giai đoạn nhà nước phong kiến rơi vào khủng hoảng thì
có nhiều nhà thơ đã tự muốn khẳng định cái tôi ý thức về con người cá nhânmình, cố thoát ra khỏi tính quy phạm của văn học trung đại Họ phần nào đãbứt phá ra khỏi rào cản của ý thức hệ phong kiến và làm nên những kiệt tác
để đời cho dân tộc Việt Nam như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thơ Nômcủa Hồ Xuân Hương
b.Giai đoạn có tính chất giao thời ( 1900- 1930)
Đây là giai đoạn có tính chất như một cái bản lề khép lại một nền vănhọc trung đại mở ra một nền văn học mới gọi là văn học hiện đại, là giaiđoạn diễn ra sự tranh chấp giữa hai nền văn học cũ và mới, và là giai đoạnhướng văn học Việt Nam vào con đường hiện đại hóa
Đây là giai đoạn mà những dấu ấn tư duy nghệ thuật trung đại ngàycàng nhạt dần, và những dấu hiệu mới của văn học hiện đại xuất hiện đãđóng vai trò chi phối Sự chuyển hóa này có mặt trên hầu hết các phươngdiện của đời sống văn học, từ ngôn ngữ đến thể loại, từ kiểu tác giả đếnkiểu công chúng, từ thế giới quan nhà văn đến ý thức chính trị của tác giả,
từ phương diện hình thức đến phương diện nội dung Tất cả đều đang trongquá trình biến chuyển dần và chưa có gì ổn định Vì thế, khi nghiên cứu vềgiai đoạn này ta không nên có nhận định gì tuyệt đối
Đây là giai đoạn bước đầu hình thành những điều kiện để đổi mớivăn học Đó là giai đoạn dần đần hình thành một kiểu công chúng mới đôngđảo, da dạng, có nhiều đòi hỏi, một kiểu tác giả được mở rộng (không bóhẹp ở tầng lớp nho sĩ) cũng đa dạng Rồi phương tiện truyền bá đã xuất hiện
và đang phát triển (năm 1865 xuất hiện tờ "Gia Định báo" do Trương Vĩnh
Ký làm tổng biên tập) Từ đó văn học dần dần trở thành một thứ hàng hóa.Chính nhà thơ Tản Đà đã phải kêu lên rằng: "văn chương hạ dưới rẻ nhưbèo"
Trang 12Ở giai đoạn này, lực lượng tham gia đổi mới chưa nhiều và xét vềmặt hình thức chưa có sự đổi mới vượt bậc đáng ghi nhận Các nhà nhocách mạng có tư tưởng đổi mới nhưng không có thời gian, hơn nữa tư duy
họ còn hạn chế, chưa thoát ra khỏi tư duy trung đại Còn các nhà thơ gầntầng lớp mới, sống ở thành thị gần với tư tưởng đổi mới hơn, như Á NamTrần Tuấn Khải, Tản Đà, Họ đã góp phần giải phóng cái tôi cá nhân rakhỏi hệ thống ước lệ cũ Tuy nhiên, họ chưa sáng tạo được một hình thứchoàn toàn mới cho thơ Nhưng những nhà thơ như Tản Đà đã tạo cầu nốicho hai thế kỷ, "đã dạo những bản đàn mở đầu cho cuộc hòa nhạc tân kỳđương sắp sửa"
c Giai đoạn văn học hiện đại
Bước sang giai đoạn hiện đại này trong văn học không còn chịu sựràng buộc của tính quy phạm như trong văn học trung đại nữa Thơ ca giaiđoạn này đã chuyển từ "thời đại chữ Ta" sang "thời đại chữ Tôi", tuy nhiêntrong những điều kiện lịch sử khác nhau chữ Tôi đó có sự thay đổi nhấtđịnh Như trong thời kỳ kháng chiến, từ cái tôi cá nhân cá thể trong thơ mới
đã chuyển sang cái tôi cộng đồng, nhưng khi cuộc chiến tranh kết thúc thìcái tôi cá nhân cá tính đó được quay trở lại, cái tôi trữ tình công dân nhườngchỗ cho nó phát triển Cái tôi đó bộc lộ trong thơ một cách trực tiếp nhữngcảm xúc, suy nghĩ của chính họ Ở đây không có sự hài hòa, thống nhấtgiữa khách quan và chủ quan, giữa khách thể và chủ thể Các niêm luật khắtkhe, những quy ước quy phạm trong thơ bị phá vỡ dần thay vào là nhữngnhịp điệu biến tấu theo cảm xúc, những câu thơ tự do, chuẩn mực thay đổi
Sự thay đổi thể hiện ở chỗ đã lấy con người làm trung tâm để do các giá trịkhác ("Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"), chứ không chỉ lấy thiênnhiên (với " làn thu thủy, nét xuân sơn") làm thước đo duy nhất như trongvăn học trung đại Đặc biệt văn học hiện đại đã chuyển thơ điệu ngâm củatrung đại sang điệu nói mới mẻ của hiện đại Chính sự chuyển đổi này đãtạo điều kiện mở rộng nội dung thơ sang lĩnh vực ý nghĩ, suy ngẫm và tạođường cho chất văn xuôi và nhiều khái quát táo bạo về cuộc sống được xuấthiện
Khác với thời trung đại, văn học hiện đại có những biến động lớntrong tư tưởng, cộng với con người cá nhân phát triển dễ tạo ra hàng loạt xuhướng, nhóm khác nhau Nhưng những trào lưu, khuynh hướng ấy nhanhchóng bị thay thế bởi những trào lưu, khuynh hướng khác Tuy nhiên sựthay đổi ấy không phải diễn ra liên miên, mà thường nó diễn ra giai đoạnđầu của văn học hiện đại khi xã hội chưa có gì ổn định Nhưng từ khi Đảng
ra đời, khi có một giai cấp tiên tiến lãnh đạo thì đã tập hợp mọi lực lượngcùng chung lý tưởng thì khuynh hướng văn học ổn định hơn, thống nhấthơn, nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
1.1.3 Phân kì dừa vào đặc điểm từng thế hệ tác giả
Trang 13Ở cuốn Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phờ (chủ biờn), Nxb Đà Nẵng,
2001 trang 934 đó viết: "thế hệ là lớp người hoặc sinh vật đại khỏi cựng mộtlứa tuổi, phõn biệt với lớp trước đó sinh ra mỡnh và lớp sau do mỡnh (sẽ)sinh ra"
Theo đú, chỳng ta cú thể hiểu thế hệ là lớp người cựng lứa tuổi, họcựng chung sống trong một điều kiện xó hội, trong một giai đoạn lịch sử, vàđặc biệt họ cựng chịu ảnh hưởng của một nền giỏo dục trong xó hội đú Vỡthế, trong mỗi con người cỏ thể bờn cạnh cỏi riờng của chớnh mỡnh, họ cúđiểm chung thế hệ, nhất là thị hiếu thẩm mỹ Vớ như trong õm nhạc hiện nay
ta thấy giữa cỏc thế hệ sẽ cú sở thớch khỏc nhau Ở thế hệ trước, tức thế hệkhỏng chiến thường thớch một cỏi gỡ ổn định, trong õm nhạc họ thớch nhạcthời chiến dự chiến tranh đó lựi khỏ xa, cũn thế hệ sau, tức thế hệ trẻ, thế hệcon chỏu sống trong cơ chế thị trường lại thớch một cỏi gỡ ồn ào sụi động,hay thay đổi Họ thớch nhạc sụi nổi trẻ trung, và cũng nhiều nỗi buồn sõulắng, nhưng chủ đề chủ yếu là tỡnh yờu, những cuộc tỡnh dang dở Vỡ vậy,việc phõn chia theo thế hệ này là rất phự hợp, đã đợc nhà nghiờn cứu ThanhLóng ở Miền Nam vận dụng Tất nhiên, cách chia này chỉ phù hợp với đối t-ợng là văn học Việt Nam hiện đại, cũn với văn học trung đại (từ thế kỷ Xđến thế kỷ XIX) thỡ rất khú vận dụng Thực ra với văn học thời gian đú ta cúthể tỏch cỏc nhà thơ từ cuối thế kỷ XVIII thành một thế hệ riờng Đú là lớpthế hệ đó bắt đầu cú sự khẳng cỏi tụi cỏ nhõn, và sỏng tỏc phần nào thoỏtkhỏi tớnh quy phạm của thời đại Tuy nhiờn, tư tưởng đú chỉ cú ở nhà thơnhư Nguyễn Du, Hồ Xuõn Hương, Phạm Thỏi, Nguyễn Cụng Trứ , hơnnữa họ vẫn cũn chịu sự giỏo dục của xó hội phong kiến, cũn ảnh hưởng của
tư tưởng nho gia Vỡ thế, việc tỏch ra cỏc thế hệ trong văn học trung đại làkhụng nờn, mà chỳng ta nờn gọi tờn gọi chung của cả giai đoạn văn học đú
là thế hệ cỏc nhà thơ trung đại
Cỏch phõn chia theo thế hệ cỏc nhà thơ như Thanh Lóng trước chưathấy, tuy trong cỏch gọi thế hệ nhà thơ này thế hệ nhà thơ kia đó cú khụng ớtcỏc nhà nghiờn cứu dựng, nhất là trong thời kỳ khỏng chiến Vỡ vậy cỏchphõn chia này cũng cú cơ sở mà trước đú đó thành cỏch gọi tự nhiờn
1.2 Cỏc thế hệ nhà thơ trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.1 Thế hệ "Thơ mới"
"Thế hệ Thơ mới" là thế hệ đầu tiờn trong văn học Việt Nam hiệnđại Họ cựng sống trong xó hội thực dõn nửa phong kiến, lỳc đú ảnh hưởngphương Tõy vào Việt Nam rất lớn, đặc biệt ở cỏc đụ thị Thời kỳ này, tầnglớp trớ thức đó tiếp thu văn học phương Tõy, nhất là Phỏp Sự ảnh hưởngcủa Nho giỏo với họ giảm dần Lỳc này, văn học đó trở thành một thứ hànghúa, cú một lớp cụng chỳng mới Thế hệ này đó cú đúng gúp rất lớn trongnền thơ ca Việt Nam gúp phần chuyển văn học Việt Nam từ phạm trự vănhọc trung đại sang phạm trự văn học hiện đại Họ - những nhà thơ thuộc thế
Trang 14hệ này đã đóng góp tiếng nói mới, đã tháo củi sổ lồng cho nền thơ chịu ràngbuộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của niêm luật chặt chẽ, đã "tạo nênmột hệ thống thi liệu mới thoát khỏi những quy phạm, ước lệ quen thuộctrong kho thi liệu thơ cổ Trung Hoa Thơ mới giải phóng tình cảm, cảmxúc, đưa các trạng thái phức tạp, tinh vi hoặc mơ hồ của nội cảm thành chấtliệu quan trọng bậc nhất trong thơ ca" [15, 98]
Thế hệ các nhà Thơ mới này "đã làm một cuộc cách mạng trong thipháp và tư duy thơ, đã đưa ra một cái nhìn cá thể hóa về thiên nhiên, tạo vậtthông qua cái Tôi chủ thể - trữ tình, không có hiện tượng đối lập giữaphương Tây và phương Đông, giữa truyền thống và hiện đại Thơ mới làmột sự tổng hợp tài tình giữa Đông và Tây, dân tộc và hiện đại, từ đó mở ra
"một thời đại mới trong thi ca" (Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam
1900-1945, Nxb GD, 2000, trang 578) Đó là một thời đại mà như Hoài Thanh
trong Thi nhân Việt Nam đã viết: "Chưa bao giờ ta thấy xuất hiện cùng một
lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùngtráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não nhưHuy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha,rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu " Tuy mỗi người đều có giọng thơriêng, một phong cách riêng nhưng sống trong cùng một "thời đại chữ Tôi"
đó, trong xã hội đó âm điệu chung là buồn và cô đơn Và như Hoài Thanh
đã nói là cho dù họ có tìm cách thoát khỏi xã hội này để đi tìm bề sâu
"Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưutrong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàm Mặc Tử, ChếLan Viên, ta say đắm cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêukhông bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở
về hồn ta cùng Huy Cận" Cho dù ta "thoát lên tiên", có "phiêu lưu trongtrường tình", có "điên cuồng" hay "say đắm" trong tình yêu đi nữa rồi taphải trở về nỗi buồn, nỗi sầu từ vạn kỷ cùng Huy Cận Đó là một thực tế
Trong thế hệ thơ mới đó có nhiều nhà thơ thành danh từ rất sớm,nhiều người tuổi mới đôi mươi mà có tên tuổi nổi trội trên văn đàn NhưChế Lan Viên - một cậu bé mới mười lăm, mười sáu tuổi mà đã khiến baongười ngạc nhiên khi "đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như
một niền kinh dị" qua tập Điêu tàn viết về dân tộc Chiêm Thành Hay Huy
Cận, một chàng trai trẻ mà đã có được sự già dặn trong thơ khi viết bài
Tràng giang Như một Nguyễn Bính, 13 tuổi đã làm thơ, 18 tuổi được nhận
giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn Như Xuân Diệu, xuất hiện là một
"nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", và quần tụ bên mình bao nhiêungôi sao của thơ mới hồi đó, đã góp phần "đốt cảnh Bồng lai và xua ai nấy
về hạ giới"
Đóng góp lớn nhất của thế hệ này là các nhà thơ đã giải phóng cáiTôi - cá nhân, nhìn cuộc sống bằng con mắt của chính mình, và đặt bước đi
Trang 15đại sang câu thơ điệu nói, mà sau này trong thơ kháng chiến có bước pháttriển thêm Họ đã tạo ra "một hiện tượng lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ,bừng sáng rực rỡ vào những năm 30 của thế kỷ sau hiện tượng thứ hai, quantrọng hơn, đó là bước tổng hợp giữa lãng mạn và hiện thực, trữ tình và anhhùng ca, cảm xúc và trí tuệ, dân tộc và hiện đại trong thơ ca kháng chiếnchống đế quốc Pháp, Mỹ từ năm 1945 đến 1975" (Phan Cự Đệ, sách đã dẫn,trang 578).
1.2.2 Thế hệ chống Pháp
Vào những năm 40 của thế kỷ XX các nhà Thơ mới rơi vào bế tắc, họđang cố gắng thoát ra và tìm con đường đi, một hướng đi khác Nhưng đó làcon đường gì, hướng đi đâu họ chưa tìm được và càng ngày càng rơi vào bếtắc Trong thời giai này họ đã gặp cách mạng Cách mạng tới đã tạo bướcngoặt, bước chuyển mới cho thế hệ này Sống trong không khí cách mạng
đó họ tìm cho mình một niềm vui mới, một sức sống mới, và một sự khẳngđịnh mới trong thơ Tuy nhiên, những sáng tác của họ còn mờ nhạt chưa bắtkịp với cuộc sống kháng chiến, nên thơ họ còn có ít thành tựu Trong giaiđoạn kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) này có thế hệ nhà thơ mới rađời như Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi,Hồng Nguyên, Trần Hữu Thung, Hoàng Cầm Có thể nói lớp nhà thơ này
do cách mạng mà có, từ cách mạng mà ra, vì cách mạng mà làm
Họ, những nhà thơ "thế hệ chống Pháp" lớn lên trong hoàn cảnh đấtnước vừa giành được độc lập lại phải bước ngay vào cuộc kháng chiếnchống Pháp Họ không được học tập nhiều, nhưng chính không khí khángchiến đã tạo nguồn cảm xúc lớn cho thơ ca cất cánh,và họ sáng tác ra những
bài thơ hay, như: Tây Tiến (Quang Dũng), Đồng chí (Chính Hữu), Đất
nước (Nguyễn Đình Thi), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Thăm lúa
(Trần Hữu Thung), Nhớ (Hồng Nguyên)
Thơ ca thế hệ này nói riêng, thơ ca kháng chiến chống Pháp nóichung đã có sự chuyển biến so với Thơ mới Thơ ca thời kỳ này phát triểntrên nền tảng ý thức cộng đồng, biểu hiện tình cảm cộng đồng, tinh thầncông dân Ở đây không còn là cái tôi trữ tình của cá nhân cá thể trong Thơmới, mà là các tôi trữ tình quần chúng mà ra, sống gần gũi, sống trong lòngquần chúng nên nguồn thơ của họ từ đó mà ra Họ viết về cuộc sống ngườidân trong kháng chiến, hình ảnh cuộc kháng chiến, với ngôn ngữ gần ngônngữ đời sống, cũng mộc mạc tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày củaquần chúng Tuy ngôn ngữ mộc mạc, lời thơ dung dị nhưng nó mang vẻ đẹpgân guốc và đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về những con ngườichiến đấu và lao động sản xuất giàu lòng yêu nước Đó là những con ngườianh hùng nhưng rất gần gũi bình dị Đó là những anh vệ quốc quân, nhữnganh chiến sĩ, những người mẹ, người vợ giàu đức hi sinh, những em bé gandạ Thơ đã đi vào cuộc sống thực, gần với cuộc sống kháng chiến Chính
sự gần gũi này mà thơ ca kháng chiến chống Pháp sử dụng rất tài tình các
Trang 16thể thơ có nguồn gốc dân gian, xây dựng nhiều tứ thơ như tứ thơ dân gian.
Như bài Đi, về của Trần Hữu Thung:
Lúc đi giáo nỏ cầm tay Lúc về súng lục cối xay đem về Lúc sang đại bác moóc chê Lúc về tàn rách mũ mê thẹn thùng
Trong thơ thế hệ này, nỗi buồn, cô đơn của thế hệ Thơ mới rơi rớtdần nhường chỗ cho tinh thần lạc quan, niềm tin vào ngày mai Ngày mai,ngày mai là ngày độc lập, hòa bình trên khắp đất nước Việt Nam thân yêunày
Lớp nhà thơ "thế hệ chống Mỹ" này cũng đi vào cuộc kháng chiến,
họ tham gia trên các mặt trận ác liệt như Trường Sơn, Bình Trị Thiên,Đường số 9 Nam Lào , và họ trưởng thành trong cuộc kháng chiến đó Đó
là lớp nhà thơ như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm,Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, còn có cả những nhà thơnhư Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lưu Quang Vũ, Phan Thị ThanhNhàn cũng đi thực tế ở những vùng ác liệt nhất
Thực ra cách gọi của các nhà nghiên cứu khi nói về lớp thế hệ này là
"thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước" như cách gọi của MaiHương, Hoàng Kim Ngọc Theo chúng tôi cách gọi đó chưa được thỏađáng lắm, chưa chính xác lắm Bởi vì, trong kháng chiến chống Pháp có haithế hệ nhà thơ cùng tồn tại Đó là thế hệ lớp trước cách mạng như Tố Hữu,Sóng Hồng (trong thơ cách mạng), Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên (trong Thơ mới); và thế hệ lớp sau như đã nói gọi là "thế hệ chống Pháp".Song các nhà nghiên cứu cũng gọi "thế hệ các nhà thơ trẻ trong thời kỳchống Pháp" Như vậy cách gọi "thơ trẻ" có thể dùng chung cho nhiều thế
hệ vừa mới ra đời trong một thời kỳ nào đó, như thế nó không đặc trưng choriêng thế hệ đó Vì vậy theo chúng tôi chọn cách gọi "thế hệ chống Mỹ" vừangắn gọn, mà có thể dễ phân biệt với các thế hệ khác trong thế hệ các nhàthơ văn học hiện đại
1.2.4 Thế hệ ”sau 75"
Trang 17Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 nước ta thực sự giành độc lập trêntoàn đất nước Việt Nam Lúc này đây dân tộc Việt Nam là một, hòa bình, tự
do đã trọn vẹn, đã trọn vẹn niềm vui "Trong không khí tưng bừng phấnkhởi, nền văn học tưởng như cứ thế thừa thắng xông lên" giành nhữngthành tựu rực rỡ hơn nữa Nhưng người cầm bút bỗng thấy có sự hụt hẫng,một sự lệch pha giữa người sáng tác và công chúng của mình [15,54] Sựhụt hẫng này chủ yếu ở thế hệ trước, những thế hệ trong cuộc kháng chiến.Bởi người đọc, lớp công chúng đông đảo của thơ không còn "mặn mà" vớithơ, với chất liệu được chắt lọc từ cuộc kháng chiến nữa Trong giai đoạnnày có một lớp công chúng mới ra đời, và cùng với họ là lớp thế hệ nhà thơmới ra đời Lớp thế hệ này sinh ra trong thời kỳ chống Mỹ, lớn lên trongđiều kiện đất nước hòa bình, thống nhất, và cũng có thể thế hệ trẻ này xuấthiện sau nhưng khác với " thế hệ chống Mỹ" Họ, lớp thế hệ trẻ này đượchưởng hòa bình độc lập một cách trọn vẹn, có điều kiện học tập, điều kiệntiếp thu văn hóa tốt hơn Đội ngũ nhà thơ này rất đông đảo Có nhà nghiêncứu đã nói: "chưa bao giờ có nhiều thi sĩ đến vậy" Những gương mặt đángchú ý có thể kể như Nguyễn Nhật Ánh, Lê Thị Mây, Lê Thị Kim, NguyễnThị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Quang Thiều,Trương Nam Hương, Đỗ Trung Quân, Phùng Khắc Bắc, Phạm Công Trứ,
Thế hệ "sau 75" này xuất hiện gần cuối hoặc khi cuộc kháng chiến
đã kết thúc, họ được sống trong không khí hòa bình, độc lập nên lúc nàycảm hứng công dân đã giảm dần và nhường chỗ cho cảm hứng đời tư thế
sự Cảm hứng công dân thì chất sử thi theo đó cũng giảm đi Và trong cái đadạng phong phú của cảm hứng đời tư thế sự đó có một nguồn cảm hứng bí
ẩn và kì diệu nhất là cảm hứng về tình yêu và hạnh phúc Trước đây, trongcuộc kháng chiến cả dân tộc đang "gồng mình" để chiến đấu, các nhà thơ tựmình cố gắng dẹp bỏ tình cảm riêng tư cá nhân để đến cảm hứng lớn hơnlấy từ những con người bình thường bé nhỏ mà rất anh hùng, thì nay thế hệnày họ viết về thơ tình rất nhiều Họ đi sâu vào tình yêu đôi lứa, hạnh phúcgia đình với những buồn vui và cả những mất mát đau thương trong nhiềucung bậc sắc thái khác nhau Đặc biệt, thế hệ này đã có những tìm tòi theohướng hiện đại chủ nghĩa đã có trong Thơ mới giúp "thơ hiện đại Việt Nam
có thêm phẩm chất mới, diện mạo mới Thơ cần có nhiều tìm tòi để nóiđược những điều sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ hồ nhất của tâm hồncon người " [11,394] Tuy nhiên, số nhà thơ trẻ đông đảo là thế, đã viết rahàng nghìn bài thơ nhưng loại thơ kém phẩm chất còn nhiều, nhất là thơtình, có những tìm tòi, những thử nghiệm táo bạo "nhưng thành tựu khôngđược bao nhiêu" [15,57] Bởi thơ thời kỳ này "không có những phát hiện và
lý giải mới về những vấn đề của cuộc sống hiện tại Đối tượng miêu tả chưaminh xác ngay cả với nhà thơ và cảm xúc chưa mạnh, chưa đến độ"[11,371] Dù sao thế hệ này là thế hệ trong giai đoạn giao thời đang trênbước đường đổi mới thơ ca theo hướng ngày càng hiện đại hóa, trong giai
Trang 18đoạn nước Việt Nam trên con đường cải tổ, đổi mới theo hướng hội nhậpnên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót bước đầu.
Ở trong thơ thế hệ trẻ này chúng tôi muốn nói thêm một điểm nhỏnữa đó là cách gọi, thuật ngữ "thế hệ trẻ" Theo chúng tôi cách gọi đó chưachính xác lắm, chưa thỏa đáng lắm Bởi như chúng tôi đã nói, gọi thế hệ trẻchỉ để phân biệt với thế hệ già, thế hệ trước đó trong một giai đoạn, mộtthời kỳ nào đó Vì vậy, chúng tôi nghĩ các nhà nghiên cứu nên suy nghĩ, tìmhiểu xem nên gọi thế hệ này như thế nào cho hợp lý
1.2.5 Thế hệ @
Đây là cách gọi khá phổ biến trong thế kỷ XX này Nhà văn PhanHuyền Thư đã từng viết kịch bản phim về thế hệ này Đây là thế hệ lớn lêntrong thời kỳ đổi mới, gồm những người sinh khoảng những năm 1970-
1980 Sống trong thời kỳ đổi mới họ thực sự được giải phóng khỏi quanniệm cũ, được mở rộng tầm nhìn ra thế giới, được giao lưu học hỏi vớinhiều nền văn hóa khác nhau, đặc biệt có điều kiện học tập, có điều kiện đểthử nghiệm, để tự khẳng định mình Ở thế hệ này nổi lên những cây bút trẻ
có nhiều triển vọng và đã tạo cho mình một phong cách rất riêng như:Nguyễn Hữu Hồng Minh, Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư
Thế hệ @ này sống xa cuộc kháng chiến, nên dường như những ảnhhưởng của cuộc kháng chiến rất ít Ở họ có tiếng nói mới không vướng víu
gì với thế hệ trước nên họ dễ tiếp thu cái mới, nhất là tiếp thu tư tưởngphương Tây Họ tự tin, ngổ ngáo và sẵn sàng tung hê mọi giá trị mà thế hệcha anh đã nâng niu gìn giữ, đã cố gắng đấu tranh vì nó Họ đi tìm tòi theohướng mới, theo hướng hạnh phúc cho riêng mình, theo xu thế chung củalớp trẻ ngày nay Đó là hạnh phúc rất riêng tư trong tình yêu đôi lứa Tìnhyêu là chủ đề chính trong thơ của thế hệ này Thứ tình yêu gần tình yêutrong thơ Xuân Diệu, có khi còn hơn thế nữa - thứ tình yêu nhục thể Vì thế,nếu thế hệ trước mà đọc thơ họ sẽ có những phản ứng nhất định, đặc biệtnhững người ít có tư tưởng đổi mới Ở thế hệ này cái tôi cá nhân phát triểnmạnh mẽ đến cực đoan, thậm chí trắng trợn, và họ cố gắng thử nghiệm đủmọi thể thơ
Thế hệ @ hay còn gọi là thế hệ đời mới Đây là cách gọi mới, mộtthuật ngữ mới ra đời trong thời gian đất nước ta đang trên đà phát triển vàhội nhập cùng nền kinh tế thế giới Từ cách gọi đó phần nào ta cũng hiểu vềnhững nhà thơ trong thế hệ Không biết ở thế kỷ XXI , sau thế hệ @ sẽ rađời thế hệ gì, nhưng hiện nay thế hệ này vẫn đang còn ngự trị trên văn đànViệt Nam
1.3 Những điều kiện đặc thù góp phần hình thành các nhà thơ
"thế hệ chống Mỹ"
1.3.1 Điều kiện xã hội
Trang 19Qua 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954), chúng ta chỉ giànhlại được hòa bình và độc lập trên một nửa đất nước Miền Bắc bước vàothời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng chỉ được trong 10 năm (1954-1964), cả nước lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ càng gay go
ác liệt hơn nhiều
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ cho máy bay bắn phá một số điểm ởmiền Bắc Và từ đầu năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân
và hải quân Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam trực tiếp đương đầu với cuộc chiếntranh nhân dân giải phóng miền Nam của dân tộc ta
Để chống lại những cuộc oanh kích, phá hoại và ý đồ muốn biến ViệtNam thành thuộc địa kiểu mới của bọn đế quốc Mỹ, và vì chân lý dân tộcViệt Nam là một, cả nước đồng lòng ra trận với khí thế với niềm lạc quan
như Phạm Tiến Duật đã viết trong Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây:
Đường ra trận mùa này đẹp lắm.
Cả nước lên đường, trong số đó có cả những học sinh, sinh viên vừarời ghế nhà trường, và cả tầng lớp văn nghệ sĩ Họ thực sự đã nhập cuộc vớicuộc kháng chiến bằng cả tấm lòng hướng về Đảng, hướng về Bác, về mộtngày mai tươi sáng - một ngày mai hòa bình, thống nhất nước nhà Và cũng
vì thế, các nhà thơ thời kỳ này nhanh chóng nhập cuộc vào thực tế khángchiến, không mất thời gian chuyển mình như các nhà thơ ở thế hệ trước đó.Đúng như Vũ Tuấn Anh đã nói trong bài viết về thơ kháng chiến chống Mỹ:
"Thơ chống Mỹ như một dòng sông vọt trào ào ạt từ 1964 đã có tiền đề từtrước, đã có nguồn nước tích tụ từ xa"
"Tiền đề từ trước", "nguồn nước tích tụ từ xa" đó là do dân tộc ViệtNam vốn có truyền thống yêu thơ Truyền thống đó được hình thành từtrong ca dao qua thơ mới đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp Truyềnthống đó được nhận thức ở một trình độ cao hơn trong kháng chiến chống
Mỹ (nhờ thời gian học tập trong môi trường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc)trở thành một cao trào Cao trào đó với sự phát triển mới về lượng cũng như
về chất
Vấn đề nâng cao chất lượng do đòi hỏi của quần chúng đang chiếnđấu và sản xuất cũng là do yêu cầu nội tại của thơ ca trong quá trình pháttriển Mười năm xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc, chúng ta có mộtđội ngũ công chúng mới có trình độ văn hóa cấp phổ thông và đại học Lớpcông chúng đó đang trực tiếp sản xuất, chiến đấu, và sống trong thực tếnóng hổi tràn đầy cảm hứng yêu thơ và sáng tác thơ Họ đòi hỏi thơ khôngchỉ mau lẹ, kịp thời mà phải sắc bén hơn, có hiệu quả hơn tức thỏa mãnđược tâm hồn trí tuệ của người đọc, đặc biệt nhu cầu về thẩm mỹ Quầnchúng có trình độ này còn đòi hỏi cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong thơ
Tiền đề đó, nguồn nước đó càng chảy mạnh hơn khi được tắm trongbầu không khí sáng tác và sinh hoạt thơ ca rất rầm rộ, sôi nổi và phong phú.Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, đa dạng Từ các nhà thơ chuyên
Trang 20nghiệp đến các anh bộ đội, cô thanh niên xung phong, từ sáng tác của đồngchí bí thư đến các anh chiến sĩ, đến những bà mẹ trẻ em Sở dĩ có đội ngũsáng tác đông đảo như vậy là do có không khí sinh hoạt thơ ca của quầnchúng sôi nổi, phong phú trong cả nước Thơ xuất hiện trên mọi tờ báo từNam đến Bắc, từ trung ương đến địa phương, từ các quân khu đến các binhchủng , xuất hiện trên làn sóng của Đài tiếng nói Việt Nam, trong cảnhững cuộc bình thơ, nói chuyện thơ rất sôi nổi đông vui và càng đậm đàthêm trong không khí kháng chiến Và trong mỗi trận đánh, mỗi chiến công,mỗi sự kiện quan trọng đều có những bài thơ hay, nhiều tập thơ có ý nghĩa
ra đời đáp ứng kịp thời đòi hỏi của quần chúng yêu thơ
Sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của thơ ca đó phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó có vấn đề chủ trương biện pháp của Đảng và Nhànước đối với việc phát hiện và bồi dưỡng lực lượng sáng sác trẻ Những
cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức đã lôi cuốn hàng nghìn cây bút, hàng
vạn bài dự thi Qua các cuộc thi nhiều cây bút trẻ được phát hiện, khẳngđịnh và từ đó bồi dưỡng những tài năng trẻ Đã có nhiều cây bút trẻ chiếmđược giải cao như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, HoàngNhuận Cầm
Lớp các nhà thơ trẻ đó đã đem đến sự đông vui, ồ ạt cho cả nền thơbằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ và duyên dáng của lứa tuổi họ Lớp trẻ đó có
ưu thế và thuận lợi hơn so với thế hệ trước Họ được đào tạo trong nhàtrường xã hội chủ nghĩa, là con đẻ của chế độ, được hưởng mười năm hòabình nên họ càng thấm thía ý nghĩa của độc lập tự do, hạnh phúc ở chế độ
ưu việt này Phần đông họ vừa tốt nghiệp tại các trường đại học như PhạmTiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm đã tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội,Nguyễn Duy, Thanh Thảo tốt nghiệp đại học Tổng hợp Hà Nội Vì vậy, họ
có vốn kiến thức văn hóa chung, những hiểu biết có hệ thống về văn học vàthơ ca, đặc biệt hiểu thêm cái chân, thiện, mỹ trong kho tàng văn hóa nhânloại Họ đưa vốn kiến thức đó cùng sống trong những chiến trường ác liệtnhất, gian khổ nhất và họ đã toại nguyện khi sáng tác được những bài thơhay phục vụ kịp thời cuộc kháng chiến
Truyền thống yêu thơ cùng với cuộc sống phong phú, sôi nổi chứađựng nhiều tư tưởng, tình cảm và hành động lớn của dân tộc là điều kiện xãhội quan trọng nhất góp phần hình thành đội ngũ các nhà thơ thuộc "thế hệchống Mỹ" Và cũng chính vì thế mà câu nói "khi đại bác gầm thì chim họa
mi im tiếng" xa lạ với thực tế nền thơ chống Mỹ của chúng ta Chiến tranhcàng mở rộng, càng ác liệt thì thơ ca càng mở rộng kích thước và khả năngchiến đấu của mình Thơ nối liền tình cảm suy nghĩ của mỗi người thànhtiếng nói chung, nhịp đập chung của trái tim dân tộc góp phần làm nênchiến thắng mùa xuân năm 1975 Mùa xuân của hòa bình, độc lập, thốngnhất Bắc- Nam
Trang 211.3.2 Điều kiện thẩm mỹ
"Thế hệ chống Mỹ" bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nướckhông chút bỡ ngỡ, không mất thời gian chuyển mình Thơ của họ có mặtngay trên vị trí chiến đấu trong đội quân văn nghệ, thơ nhập vào cuộc khángchiến vĩ đại của dân tộc đang mở ra trên khắp các mặt trận Hơn nữa, bướcvào làng thơ họ đã có những bài thơ hay, và đã chiếm được giải cao trongcác cuộc thi thơ Có được thành quả đó có một phần lớn là nhờ thế hệ này
đã có một nền tảng vững chắc được thế hệ các nhà thơ lớp trước vun đắp.Các thế hệ đó đã đặt những viên gạch vững chắc tạo nền móng cho thế hệtiếp nối xây nên những tòa nhà cao đẹp
Nói về thế hệ lớp trước, trước hết phải kể đến đóng góp của thế hệcác nhà Thơ mới Thế hệ Thơ mới này đã làm một cuộc cách mạng trong thi
ca Chính họ đã giải phóng cái tôi cá nhân cá thể ra khỏi cái ta chung, đãphá bỏ những quy phạm chặt chẽ, tạo ra giọng thơ điệu nói thay thơ điệungâm trung đại Từ đó thơ ca có bước chuyển biến mới, không còn bó hẹptrong phạm vi về lớp công chúng cũng như lớp người sáng tác Từ đây, thơ
ca Việt nam sẽ sáng tác theo tinh thần mới của thời đại, theo khuynh hướngngày càng hiện đại hóa trong thơ ca Cũng chính thế hệ này đã bước đầuxây dựng thể loại thơ tự do mà sau này trong thế hệ chống Pháp, đặc biệtthế hệ chống Mỹ đã tạo bước phát triển vượt bậc, tạo nên xu thể phát triểnchung cả thời đại, nhất là thời đại sau này
Kế tiếp "thế hệ Thơ mới" là thế hệ chống Pháp Thế hệ này sống gầngũi với nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì cách mạng mà làm Vì vậy, ngay từđầu họ xây dựng cho mình ý thức công dân, ý thức cộng đồng, và tinh thầnbám chắc đời sống Ngôn ngữ thơ của họ mộc mạc, tự nhiên như lời ăntiếng nói của quần chúng Thơ họ đi vào cuộc sống của những người dântrong những năm bom đạn
"Thế hệ chống Mỹ" đã hấp thụ tất cả những ý thức, những điều kiện thẩm
mỹ mà thế hệ chống Pháp nói riêng và cả nền thơ kháng chiến nói chung đãxây dựng nên Trên những điều kiện ấy, "thế hệ chống Mỹ" còn có điềukiện được học tập nền văn học Xô Viết qua nhà trường, vốn văn hóa của họngày được nâng cao Mặt khác, thế hệ nhà thơ này đi vào đời sống chiếntrường, sống cùng với nó Vì vậy, họ có những vần thơ hay mà rất hiệnthực, rất sống động về cuộc kháng chiến này
Chính những điều kiện thẩm mỹ trên đã góp phần vào thành công củacác nhà thơ "thế hệ chống Mỹ", tạo điều kiện cho họ có được những bướctiến mới trong sáng tác thơ ca so với các thế hệ đàn anh tạo nên nét mới, nétriêng trong sáng tác của họ
Trang 22Chương 2 một số đặc điểm mang tính chất loại hình của thơ
"thế hệ chống mỹ"
2.1 Một số giới thuyết chung về khỏi niệm loại hỡnh
Phương phỏp loại hỡnh là một phương phỏp hữu hiệu khi tỡm hiểutương quan giữa cỏi chung và cỏi riờng của cỏc hiện tượng văn học Về mộtphương diện nào đú, phương phỏp loại hỡnh cú điểm gần gũi với phương
phỏp so sỏnh lịch sử Nhưng theo Nguyễn Văn Dõn trong Những vấn đề lớ
luận của văn học so sỏnh lịch sử đó núi: "thuật ngữ "phương phỏp loại
hỡnh" là một thuật ngữ khỏi quỏt và khỏ mơ hồ" Tuy vậy, chỳng ta cũng cúthể tạm thống nhất xem đú là một phương phỏp được xõy dựng trờn cơ sởmột nguyờn tắc về tớnh cộng đồng của cỏc hiện tượng khỏc nhau í của
Nguyễn Văn Dõn cũng gần gũi với ý kiến của M.B.Khrachenko trong Cỏ
tớnh sỏng tạo của nhà văn và sự phỏt triển của văn học, cho rằng Phương
phỏp loại hỡnh "khụng tỡm hiểu những nguyờn tắc và những cơ sở cho phộpnúi tới tớnh cộng đồng nhất định về mặt văn học - thẩm mỹ, tới một hiệntượng nhất định thuộc về một kiểu loại hỡnh nhất định"
Về mặt khỏi niệm, loại hỡnh chỉ sự tập hợp sự vật hiện tượng cựng cúchung những đặc trưng cơ bản nào đú, khu biệt sự vật hiện tượng này với sựvật hiện tượng khỏc Song việc nghiờn cứu văn học theo phương phỏp loạihỡnh khụng đơn giản dừng lại ở sự giống nhau giữa cỏc đối tượng mà quantrọng hơn, phải chỉ ra được cỏc nguyờn tắc tạo nờn cỏc loại hỡnh đú, quyđịnh cấu trỳc và sự vận động bờn trong của nú" [6,111]
Nhỡn một cỏch tổng quỏt, vấn đề nghiờn cứu văn học theo phươngphỏp loại hỡnh đó được nhiều nhà nghiờn cứu ỏp dụng Vỡ việc nghiờn cứuvăn học theo phương phỏp này cựng lỳc cú thể đạt tới hai mục đớch: a- cắtnghĩa được sự vận động của văn học (vỡ mỗi một loại hỡnh văn học thườngtương ứng với một trỡnh độ tư duy nghệ thuật); b- nhỡn thấy vẻ đẹp và cấutrỳc bờn trong từng loại hỡnh văn học [6,114] Cũn theo Nguyễn Văn Dõn,
về đại thể, trong nghiờn cứu văn học so sỏnh, phương phỏp loại hỡnh cú thể
cú hai phương thức ỏp dụng: Thứ nhất: dựng phương phỏp loại hỡnh đểphõn loại cỏc hiện tượng văn học, trờn cơ sở của việc chứng minh cỏc nhúmhiện tượng giống nhau theo một tiờu chuẩn nào đú Thứ 2: từ những đặcđiểm chung của một loạt hiện tượng văn học, ta cú thể chứng minh sự tồntại của một loại hỡnh văn học nào đú, biện hộ cho quyền tồn tại và hiệu quảthẩm mỹ của nú
Từ những cơ sở của cỏc nhà nghiờn cứu trờn chỳng tụi ỏp dụng vàocho đề tài của mỡnh.Vỡ phương phỏp loại hỡnh cú thể ỏp dụng theo haiphương thức như Nguyễn Văn Dõn đó trỡnh bày nờn chỳng tụi cũng cố ýdựng phương phỏp tuy khụng mới mẻ này để chứng minh cho một sự tồn tạicủa một thế hệ Đú là "thế hệ chống Mỹ" nằm trong văn mạch chung của
Trang 23thơ ca kháng chiến có những điểm tương đồng với thơ ca của các thế hệkhác trong nền thơ đó Tuy nhiên bên cạnh sự giống nhau, ở mỗi thế hệcũng đã tạo cho mình một nét riêng không lẫn, đặc biệt là ở "thế hệ chốngMỹ" này Để thấy được điều đó chúng tôi sẽ trình bày những cảm hứng,những hình tượng chung của nền thơ ca kháng chiến biểu hiện trong thơ
"thế hệ chống Mỹ", và trong mỗi cảm hứng, mỗi hình tượng chúng tôi sẽ cốgắng so sánh với các nhà thơ thế hệ đi trước, nhất là với những nhà thơ lớnnhư: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận Không những vậy, trong đề tài nàychúng tôi cũng cố gắng đi sâu tìm hiểu một số phong cách tiêu biểu của thế
hệ này để làm rõ thêm đặc điểm riêng và những đóng góp riêng của thế hệnày
2.2 Những cảm hứng sáng tạo và những hình tượng lớn trong thơ " thế hệ chống Mỹ"
2.2.1 Cảm hứng sáng tạo
Sách Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2001,
trang 107 có viết: cảm hứng là "trạng thái tâm lý đặc biệt khi có cảm xúc và
sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động
có hiệu quả" Hay trong Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có định nghĩa về cảm hứng chủ đạo như sau: đó
là "trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật,gắn liền với tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đếncảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Theo một nghĩa nào đó, cảmhứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm" [7,39]
Theo những cách định nghĩa đó ta có thể hiểu nôm na cảm hứng rấtquan trọng trong việc sáng tạo nghệ thuật Chính những cảm hứng đó đã tạocảm xúc cho các văn nghệ sĩ sáng tác nên những áng thơ hay, biểu hiệnđược những tư tưởng tưởng chừng như khô khan thành những tứ thơ để đời,thành những hình tượng thơ sống mãi trong lòng mọi độc giả, tạo nênnhững cảm xúc khó tả mà làm mỗi chúng ta nhớ mãi
2.2.1.1 Cảm hứng ngợi ca
Cảm hứng ngợi ca là một cảm hứng đặc trưng trong thơ ca Việt Nam.Con người Việt Nam luôn tự hào về dân tộc mình - đó là một dân tộc cónghìn năm văn hiến, một dân tộc không bao giờ khuất phục trước bất kỳ kẻthù xâm lược nào Trong thơ ca trung đại, ta phấn chấn trước lòng tự hào
của cha ông về một dân tộc anh hùng như trong Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, đặc biệt tác phẩm Bình
Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Nhà thơ, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc
Việt Nam đã rất tự hào về nền văn hiến của dân tộc mình, về lịch sử nghìnnăm của dân tộc cũng không kém nước Trung Hoa rộng lớn:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Trang 24Vốn xưng nền văn hiến đó lõu Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gõy nền độc lậpCựng Hỏn, Đường, Tống, Nguyờn mỗi bờn hựng cứ một
phươngTuy mạnh yếu từng lỳc khỏc nhau
Song hào kiệt đời nào cũng cú
Tiếp nối truyền thống đú, trong thơ ca khỏng chiến cũng tràn đầy cảmhứng ngợi ca nhưng biểu hiện ở mức độ khỏc nhau Mặt khỏc, sự xuất phỏtcủa cảm hứng này cũn ở chỗ miền vui của một đất nước sang một trang sửmới, con người trong đú tin tưởng vào một tương lai tươi sỏng hơn, hạnhphỳc hơn khụng chỉ cho riờng mỡnh
Cảm hứng ngợi ca tràn đầy trong thơ mọi thế hệ khỏng chiến TốHữu một nhà thơ đi theo cỏch mạng ở những chặng đầu tiờn đó viết rấtnhiều bài thơ ca ngợi đất nước, ca ngợi những con người trong giai đoạn
khỏng chiến này Như trong bài Ta đi tới, Tố Hữu ngất ngõy trước vẻ đẹp
của đất nước mỡnh:
Đẹp vụ cựng Tổ quốc ta ơiRừng cọ đồi chố, đồng xanh ngào ngạtHay ca ngợi sự nghiệp cao cả của nhõn dõn, những con người từ nhõndõn mà ra Tỏc giả ca ngợi vẻ đẹp hựng vĩ, vụ tận của đội ngũ những ngườiđứng lờn chống xõm lược Đú là vẻ đẹp của một đội ngũ "rắn như thộp,vững như đồng", ý chớ thỡ "lớn như biển Đụng"
Cả như Chế Lan Viờn, một nhà thơ thuộc thế hệ Thơ mới cũng rất tựhào, ngợi ca đất nước Đú là sự tự hào về lịch sử văn húa, lịch sử chống
giặc ngoại xõm mấy nghỡn năm của dõn tộc trong Tổ quốc bao giờ đẹp thế
này chăng ễng cũng tự hào mà ngợi ca Tổ quốc vượt biờn giới của một
quốc gia, và khẳng định tầm vúc của dõn tộc Việt Nam:
Tờn Tổ quốc vang vang ngoài bờ cừi
Ta đội triệu tấn bom mà hỏi mặt trời hồng
Ta mọc dậy trước mắt nhỡn nhõn loạiHai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với Anh hựng
Cỏi đẹp lồng trong cỏi kỳ vĩ, tuyệt vời của sụng nỳi Việt Nam Lầnđầu tiờn trong thơ nước ta non sụng gấm vúc hiện lờn bao la, hựng vĩ nhưtrong thơ Nguyễn Đỡnh Thi:
Việt Nam đất nước ta ơiMờnh mụng biển lỳa đõu trời đẹp hơnCỏnh cũ bay lả rập rờn
Mõy mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiềuTiếp nối cảm hứng truyền thống đú "thế hệ chống Mỹ" biểu hiện cảmhứng ngợi ca vừa trong văn mạch chung thơ khỏng chiến, vừa cú nhữngbiểu hiện riờng Nếu ở thế hệ trước cảm hứng ngợi ca chỉ sự ca ngợi đất
Trang 25vừa có cụ thể Cái cụ thể ở đây biểu hiện ở việc gắn với thực tế của dân tộcđang trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, với cuộc sống của người dân,hơn nữa thế hệ này còn chú ý ca ngợi con người Việt nam, những người dânbình dị.
Đó là Bằng Việt ca ngợi con đường niềm vui Con đường mở ra hòacùng trăm con đường khác của đất nước đón những niềm vui:
Con đường quê hương, con đường yêu thươngNối với vạn nẻo đường đất nước
Náo nức ngày đêm xe xuôi xe ngược
Đi ra tiền tuyến xa gần
(Những con đường) Bằng Việt trong Thư gửi bạn xa đất nước cũng rất tự hào về con
người Hà Nội Đó là những con người "bận rộn nhưng mà vững chải", và
"hiểu việc mình làm, hiểu miếng mình ăn" Chính vì thế mà ngày càng
"nhích lại gần cái ngọt bùi ngày thống nhất" Và cũng rất tự hào ngợi camiền Nam Đó là nơi:
Nửa nước yêu thương, nửa nước bạc vàng
Ai đã chẳng từng mơ đến đó?
Phạm Tiến Duật trong cảm hứng chung đó cũng ngợi ca về đất nước
Đó là một đất nước hào hùng kỳ vĩ, một đất nước phi thường Đây là lầnđầu ta có cảm nhận mới về một "Tổ quốc giang sơn hùng vĩ" này:
Kỳ diệu làm sao đất nước mình đâyNhiều việc, nghìn năm xưa không làm xuể
Ta lại hoàn thành giữa những năm đánh Mỹ
Bộ sử in rồi để lại mai sauNhững công việc ngày này sách chưa kịp in đâuChỉ có chăng giữa những trang giấy nõn
In đôi ba vết ngón tayCòn với Lưu Quang Vũ, nhà thơ lại nghiêng về ca ngợi cuộc sống đổithay, vui vẻ và hạnh phúc khi đất nước bước sang trang sử mới đang xâydựng về một đất nước của dân, do dân và vì dân:
Đêm mùa thu tiếng đàn thánh thótCuộc đời biết cười, cuộc đời tập hát Ôi hạnh phúc thấm đầy nước mắtLăn trên má ta những giọt sáng ngời
(Máy nước đầu ngõ)
Riêng với Nguyễn Khoa Điềm, thơ ông có điểm nào đó gần gũi vớithơ của thế hệ trước về cảm hứng ca ngợi này Đó là sự ngợi ca lịch sửnghìn năm của người Việt Tự hào về những con người lao động có tinhthần đánh giặc rất cao Tuy nhiên, đất nước của Nguyễn Khoa Điềm nó gầngũi với người dân lao động hơn, những địa danh ở đây được lấy từ trongnhững câu chuyện cổ tích gần gũi mà thân thuộc, những con người ở đây
Trang 26tuy "không ai nhớ mặt đặt tên" nhưng chính họ mới là những người anhhùng thực sự, họ "đã làm ra Đất nước":
Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớpCon gái con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụngKhi có giặc đến nhà người con trai ra trậnNgười con gái ở nhà nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùngNhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
(Mặt đường khát vọng)
Ca ngợi về con người Việt Nam không thể không nhắc đến thơ
Nguyễn Duy Qua bài Tre Việt Nam, nhà thơ đã nói lên rất đúng đặc tính của
con người Việt Nam mà từ trước tới nay mới hiện trong thơ đầy đủ như vậy
Đó chính là ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm hung dữ, siêng năng, lạcquan, giàu lòng nhân ái, giàu đức hi sinh của nhiều thế hệ người Việt Namtrong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Vì thế, nhắc đến cây tre tấtnhắc đến đất nước Việt Nam, nhắc đến con người Việt Nam Ấy là nhữngcon người không cam chịu trước hoàn cảnh gian khổ thử thách, hiên nganglàm chủ đất nước và cuộc sống của chính dân tộc mình, chống lại mọi thế lựcthù địch của thiên nhiên và giặc ngoại xâm hung dữ Và cũng chính vì thế,tre Việt Nam sẽ luôn luôn tồn tại một màu xanh:
Mai sau Mai sauMai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
Sự lặp lại từ "xanh" trong câu kết như một sự suy ngẫm, khẳng định
về sự trường tồn của cây tre, và cao hơn, khái quát hơn là sự trường tồn của
cả một dân tộc, của cả một đất nước
Bài thơ được viết trong những ngày chống Mỹ cứu nước sôi động,như một tiếng nói bình tĩnh, lạc quan, khẳng định tư thế chiến thắng củacon người Việt nam, dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách của kẻ thù
2.2.1.2 Cảm hứng lãng mạn
Trong văn học dân tộc Việt Nam, cảm hứng lãng mạn này luôn luôntồn tại nhưng biểu hiện của nó trong mỗi thời kỳ khác nhau Nếu biểu hiệncủa cảm hứng này trong thơ trung đại là chất hùng tráng, có phần phóngkhoáng thanh cao, thì trong thơ mới cái lãng mạn lại ở sự trốn tránh hiệnthực, tìm một chốn riêng để trú ẩn, như Chế Lan Viên mong muốn:
Trang 27Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những vui buồn đau khổ với buồn loKhác với trung đại và Thơ mới, thơ ca kháng chiến có sự biểu hiệnkhác Cảm hứng lãng mạn ở đây nó tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng,niềm tin vào tương lai tươi sáng Chính có tinh thần đó, cảm hứng đó màdân tộc Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, bao khó khăn của cuộc chiếntranh để đi đến ngày thắng lợi cuối cùng
Cả dân tộc lên đường với khí thế:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
(Theo chân Bác-Tố Hữu)
Trong thơ Tố Hữu cảm hướng này là cảm hứng nổi trội, nhất là trong
Gió lộng Thơ Tố Hữu hứng vào tương lai, khơi dậy niềm tin, lòng tin
tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng Thơ Tố Hữu có nói đếnkhó khăn gian khổ nhưng không làm cho người đọc bi quan vì thơ ông tràn
đầy lạc quan cách mạng Gió lộng nói đến cảnh nghèo mà vẫn vui vì tác giả
nắm được tương lai rộng lớn của đất nước:
Đã nghe gió ngày mai thổi lại
Đã nghe hồn thời đại bay caoNúi rừng có điện thay saoNông thôn có máy làm trâu thay người
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Cảm hứng lãng mạn cách mạng này cũng đã lan sang các nhà Thơmới đi theo kháng chiến như Huy Cận Huy Cận sau một thời gian sốngcùng với những người lao động ở Quảng Ninh cũng viết lên khúc hát, tiếng
hò reo vui về một đất nước sẽ có "cuộc sống tưng bừng đổi thịt thay da"
Rồi cảm hứng này còn lan trong các cuộc hành quân gian khổ, leođèo lội suối, ngủ dưới mưa; nhưng khi được nghỉ ngơi nói chuyện riêng tưthì lại cùng nhau cười vui rộn rã:
Nằm chung trong thơ kháng chiến đó, cảm hứng lãng mạn của thơ
"thế hệ chống Mỹ" cũng có niềm tin, niềm lạc quan về một ngày mai tốtđẹp hơn Nhưng cái lãng mạn ở thế hệ này còn biểu hiện ở một mức độkhác nữa Đó là cảm hứng xuất phát từ chàng thanh niên trẻ trung, sôi nổi,tươi mát và khỏe khoắn nhìn cuộc sống bằng con mắt của những anh nghệ
Trang 28sĩ hào hoa, lãng mạn, nhưng cũng sống rất thật gần gũi với cuộc sống bình
dị xung quanh
Lưu Quang Vũ trong Đêm hành quân cũng rất vui, lạc quan vào
chiến thắng ngày mai sẽ đến:
Tiếng ai hò? dáng lạ cũng thân quenĐường nào vui bằng đường ra trận tuyến?
Chim cu ơi, mùa đã chín vàngTin chiến thắng bay về muôn xóm ngõĐêm náo nức giục bình minh hớn hởMột khúc quân hành cả nước ngân vang
Và như Hữu Thỉnh cũng đã viết:
Chúng tôi đi với một niềm tinVầng trăng ấy chở chúng tôi cập bếnVầng trăng như là niềm tin, là sự gửi gắm một đức tin, niềm hi vọng.Vầng trăng được nhân hóa như con thuyền chở những thủy thủ vượt qua đạidương mênh mông Và dường như có một điểm chung của thế hệ này làcảm hứng lãng mạn thường đi với những so sánh ví von, với nhân hóa ẩn dụ
hình ảnh rất sinh động, đáng yêu như: Vườn trong phố của Lưu Quang Vũ,
Lửa đèn của Phạm Tiến Duật, Cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh Hữu
Thỉnh cũng đã dùng biện pháp này tạo nên bức tranh tuyệt đẹp như giấc mơnhưng cũng rất thực trong "Giấc ngủ trên đường ra trận:
Suối trong trẻo rung muôn điệp khúcSúng bên cạnh thâu đêm mắt thứcNgõ tâm tình cùng mùi lá cơm xôi
Trăng tủm tỉm như miệng cười sắp hát
Tiếng hát nâng nhẹ bước chân taQua mỗi cung đường chân trời lại mớiĐọc bài thơ ta như được tắm vào không khí của một đêm tuyệt đẹp,bàng bạc, lung linh những sắc màu mà ta tưởng chừng như quá xa đối vớicuộc kháng chiến chống Mỹ đang tồn tại Tiếng hát như đã xóa tan "bom
Mỹ cắn vào đêm mơ mộng" để tiếp sức cho những cuộc hành quân
Bằng Việt, một nhà thơ với tiếng nói tâm tình tế nhị, ấm áp cũng đãhòa vào cuộc sống chung, những buồn vui của đất nước Sự hòa hợp ấycàng làm cho hồn thơ đôn hậu của anh thêm nhạy cảm bao dung, lắng ngheđược những xôn xao thầm thì từ lòng người, từ cây cỏ:
Tôi đi trong sắc thắm trời xuânCây cỏ đung đưa một dáng vui thầmƯớc cây cỏ bỗng làm sao nói được
Trang 29Mà nô đùa rồng rắn đuổi theo nhau
(Lời chào từ Việt Nam 1966)
Cảm hứng lãng mạn còn biểu hiện trong thơ bằng những nụ cười vuitươi, dòn dã trong bom đạn chiến tranh: "Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cườiđáo để", rồi những tiếng hát được cất lên át đi tiếng bom, tiếng máy baygầm rú, và những con người tiếp tục lên đường diệt Mỹ bảo vệ đất nước,quê hương
2.2.1.3 Cảm hứng sử thi
Cảm hứng sử thi thường xuất hiện khi con người đứng trên lậptrường cộng đồng để nói về những sự kiện lớn, chung của dân tộc, của cộngđồng.Trong "cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt này đã đặt mỗi người ViệtNam vào tình huống không thể không trở thành anh hùng Và mỗi cá nhân,một cách tự nhiên, đều cảm thấy hết sức gắn bó với cộng đồng và có ý thứcnhân danh cộng đồng mà suy nghĩ và hành động Lúc này, những gì thuộc
về cái tôi riêng đều bị xem là nhỏ mọn, tầm thường Con người luôn đứngtrước những vấn đề có tầm cỡ lịch sử: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự dohay nô lệ, ngục tù? Câu hỏi ấy khiến mọi công dân biết tự trọng đều phảidẹp đi tất cả lợi ích cá nhân, hy sinh tất cả, kể cả tính mệnh mình" Như ChếLan Viên từng viết:
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịtNhư mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chếtCho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sôngHay như Thanh Thảo cũng đã từng suy nghĩ: "Chỉ riêng cho Ngườichúng tôi dám chết"
Dường như mọi suy nghĩ tình cảm đều có cảm hứng sử thi này chiphối Tình cảm gia đình, tình mẹ con, tình yêu, và nhất là tình cảm đối vớiquê hương, đất nước Đó là tình cảm thiêng liêng nhất, và dường như mỗinhà thơ đều có dành tặng cho Tổ quốc những bài thơ hay, những câu thơvới niềm tự hào sâu sắc
Có lẽ trong thơ ca kháng chiến Tố Hữu là nhà thơ viết nhiều về Tổquốc nhất, và cũng là người có cảm hứng sử thi chi phối nhiều nhất Khi đấtnước đã dành được nhiều chiến công vang dội thì nhà thơ vui mừng khônxiết cất lên những lời ca say sưa:
Tin vui chiến thắng trăm miềnHòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui vềVui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc đèo De núi Hồng"
(Việt Bắc)
Hay như Chế Lan Viên, một nhà thơ thuộc thế hệ thơ mới đã cố gắng
"phá cô đơn ta hòa hợp với người", đã "từ thung lũng đau thương đến cánhđồng vui", cũng chứa chất đầy cảm hứng sử thi:
Trang 30Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặcNguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
"Thế hệ chống Mỹ" cũng vậy Họ chứa chất nhiều cảm hứng sử thi Nhưng
ở họ cảm hứng đó được nhìn dưới con mắt của cá nhân Cá nhân ấy hòachung vào cuộc sống, cuộc chiến đấu của dân tộc, và cũng rất tự hào về dântộc ấy, những con người của thời đại ấy Rồi họ đã nguyện hi sinh, nguyệnđấu tranh cho dân tộc "đến em thơ cũng hóa những anh hùng" này:
Dù mười, hai mươi nămĐất này còn giặc MỹTóc ta dẫu đổi màuTuổi ta không còn trẻ
Ôi chiến hào, chiến hàoVẫn cứ còn mới mẻ Với những người lớp sau Lại lên đường diệt Mỹ
(Chiến hào - Xuân Quỳnh)
Cảm hứng đó như nguồn động viên thôi thúc, niềm tin vào tương laicủa dân tộc, tin vào những gì cha, mẹ ta không uổng công làm lụng vất vả:
Đây chính là ánh sáng Việt NamNgọn đèn dầu mẹ ta thức khuya dậy sớmNgọn đuốc cha ta cày sâu cuốc bẩmNgọn sáp hồng soi máu lệ tổ tông
Sẽ ngọn lửa thắm lên trang sử anh hùng
( Nguyễn Khoa Điềm)
Dù đang đi tìm "chiếc áo hôm nào", để tìm "Người hôm nay" trongtrái tim mình thì Phạm Tiến Duật cũng không quên:
Theo bài ca tôi nhớ đến con đườngCon đường thanh niên nối dài ra tiền tuyến
Có lẽ chẳng cũ đâu những bài ca kháng chiếnKhi em bảo nơi đây là "Mặt trận màu xanh"
( Áo của hôm nào, Người của hôm nay)
Tiếng nói của "thế hệ chống Mỹ" này gần như tiếng nói tâm sự củamột thế hệ trẻ trong chiến tranh, thế hệ của tri thức, của những chàng thanhniên trong lửa đạn chiến tranh Chính vì thế cảm hứng sử thi không dào dạtnhư trong thơ Tố Hữu, nó gần hơn với thế hệ chống Pháp, nhưng xa hơn thế
hệ này bởi chất hiện thực của nó đậm đà hơn:
Cơm miền Bắc nuôi chúng ta từng bữaMong chúng ta sẽ giúp ích cả hai miền
(Trở lại trái tim mình - Bằng Việt)
2.2.1.4 Cảm hứng chính trị - xã hội
Trang 31Trong tiến trình thơ ca Việt Nam, cảm hứng chính trị - xã hội nàythường vẫn tồn tại, nhưng được biểu hiện ở những mức độ khác nhau Ởtrong thời kỳ đất nước có chiến tranh thì cảm hứng này sẽ nổi trội Khángchiến chống Pháp, chống Mỹ cũng vậy Cảm hứng này được gợi từ nhữngcuộc hành quân, từ những chiến trường ác liệt, từ những cuộc sống và cuộcchiến đấu của con người trong kháng chiến Cảm hứng này mang đậm chấttrí tuệ, chất chính luận rõ nét.
Trong thơ ca trung đại, Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn sử dụng chấtchính luận này rất nhiều trong bài viết của mình Đó là nhằm để tổng kếtcuộc chiến tranh đã qua, và kêu gọi mọi người dân cùng đồng lòng với vua,
quan nhà Lê xây dựng một đất vững mạnh trong Bình Ngô đại cáo; kêu gọi
tướng sĩ hãy dẹp bỏ mọi lợi ích cá nhân riêng tư trước mắt mà cùng đứng
dậy đấu tranh chống kẻ thù để được cuộc sống tốt đẹp lâu dài trong Hịch
tướng sĩ.
Trong thơ ca cách mạng Việt Nam, Phan Bội Châu cũng đứng trongcảm hứng này mà viết nhiều bài thơ, bài văn đầy nhiệt huyết cổ vũ tinh thầnđấu tranh của quần chúng nhân dân Tố Hữu cũng vậy, thơ ông chủ yếuđược viết trên cảm hứng chính trị - xã hội này, mỗi lúc đất nước có những
sự kiện lớn ông đều có những bài thơ kịp thời phản ánh khí thế đó Tố Hữucũng suy nghĩ nhiều về dân tộc, ở một tầm cao mới đã có khái quát sâu xa
về dân tộc - nhân loại
Thơ Chế Lan Viên mang đậm chất chính luận, nó đã thành một néttrong thơ ông Khi trở thành nhà thơ cách mạng, thơ Chế Lan Viên cũngmang đầy những cảm hứng chính trị này Trên những cảm hứng lớn về đấtnước, lịch sử, con người Việt Nam, nhà thơ đã có những khám phá bất ngờ,mang tầm khái quát, triết lý sâu xa Sức mạnh Việt Nam được hun đúc từtruyền thống lịch sử, từ khí thiêng sông núi:
Tất cả núi hóa Trường Sơn lẫm liệtMỗi sông rạch miền Nam đều đỏ sắc Hồng Hà
Cả dân tộc đều trên mình ngựa thép
Ba mốt triệu cháu con đều có dáng ông cha
(Xuân 68 gửi miền Nam Tổ quốc)
Khát vọng muốn trả lời những câu hỏi lớn của thời đại, khám phá bảnchất của con người và cuộc sống đã tạo nên chất trí tuệ cho cả nền thơ.Trong xu hướng chung ấy, thơ "thế hệ chống Mỹ" cũng cất cao tiếng nói trítuệ mang sắc thái riêng của thế hệ mình Tiếp nối thế hệ trước thế hệ nàyvẫn sống trong cảm hứng chung của mọi thế hệ nhưng trong đó "thế hệchống Mỹ" vẫn có những biểu hiện sắc thái riêng Cảm hứng chính trị - xãhội này, trong "thế hệ chống Mỹ" đậm chất trí tuệ, chất chính luận hơn bất
cứ thế hệ nào Họ luôn có ý thức vận dụng chính luận tạo cho thơ tiếng nóikhỏe khoắn, chững chạc với một độ sâu cần thiết
Trang 32Những nhà thơ trẻ đã rọi vào hiện thực chiến trường những ánh sáng
tư tưởng, bắt chi tiết, hình ảnh hiện thực nói lên ý nghĩa sâu xa của nó
Trong trường ca Những đi tới biển, Thanh Thảo nói tới tính chất bất thường
của chiến tranh:
Những nămChiếc áo dính chặt vào thânbạc màu ngắn nhanh rồi ráchNhững năm
Chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời
Trong trường ca Mặt đường khát vọng, nhất là chương Đất nước,
thông qua cảm hứng chính trị, kết hợp với cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình vàchính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc,tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những nămtháng chống Mỹ Đất nước không phải cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịtcủa con người Vì thế, trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải
là cái gì khác mà cũng là trách nhiệm đối với chính bản thân mình:
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đời
Rồi cảm hứng chính trị - xã hội còn được biểu hiện trong việc tuyêntruyền ra quân, cảm thấy có ích vui sướng khi được phục vụ Tổ quốc, phục
vụ nhân dân:
Vui rất lớn mà vô cùng giản dị
Là buổi đầu em dự lớp quân nhân
(Mừng em tròn mười sáu tuổi - Bằng Việt)
Đó là khi Thanh Thảo cảm thấy:
Ta yêu lắm, khi ta càng đánh giặcCàng thấm tột cùng hạnh phúc Khi ta tột cùng gian truânChính vì thế họ không ngại lên đường chống giặc ngoại xâm:
Giữa mùa chiến đấuChúng con lên đườngCon gái con trai đều đội mũ tai bèoCon gái con trai đều đi dép lốp
Con là con hiếu thảoKhông quay đầu phản bộiCon đường mẹ tiễn điTheo kháng chiến trường kỳCon bay lên bằng cánhCña bµn tay th« nÆng
Trang 33(Thưa mẹ, con đi - Nguyễn Khoa Điềm)
Đó còn là những bài thơ về Trường Sơn rất nóng hổi tính thời sự củaPhạm Tiến Duật Đó là những tuyến đường đầy bom đạn, tuyến đường ácliệt nhất nhưng các chiến sĩ lái xe không vì thế mà chùng bước: "Xe vẫnchạy vì miền Nam phía trước - Chỉ cần trong xe có một trái tim"; cả những
cô thanh niên xung phong vẫn làm việc ngày đêm trong lửa đạn mà vẫn vuitươi, trêu đùa: "Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn" Nhất
trong bài Công việc hôm nay có dáng dấp như một bản tin thời sự vậy Chất
đời sống tràn đầy trong những câu thơ, đó là lúc cảm hứng chính trị - xã hội
rõ nét nhất:
Cục tác báo sang tin cuối cùng
Về số máy bay rơi và tàu chiến cháyNha khí tượng, tin cơn bão tan
Bộ nông nghiệp, tình hình vụ cấy
Trong tờ trình Thủ tướng đọc trong đêmCòn có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiênCảm hứng chính trị này nó cũng đậm chất hiện thực, hiện thực củacuộc chiến tranh khốc liệt này Nói chung, cảm hứng chủ đạo nhất của "thế
hệ chống Mỹ" này có lẽ là cảm hứng hiện thực, cảm hứng này chi phối mọicảm hứng khác trong các sáng tác của họ
có hình tượng "nửa thân mình Tổ quốc" Còn như những nhà thuộc thế hệThơ mới thì họ vẫn còn ảnh hưởng nhiều của phương pháp sáng tác cũ, dù
đã cố gắng vứt bỏ cái cũ Vì thế, sáng tác của họ, chất hiện thực chưa nhiều.Cảm hiện thực có độ của nó phải kể đến những nhà thơ thuộc thế hệ chốngPháp Thế hệ này có nhiều nhà thơ từ quần chúng nhân dân mà ra, họ sốnggần gũi với cuộc sống của người dân kháng chiến, đặc biệt họ là nhữngngười trực tiếp cầm súng, họ hiểu thực tế cuộc kháng chiến ơn ai hết Chính
Hữu là một nhà thơ trong số đó Trong bài Đồng chí, hiện lên hình ảnh
người chiến sĩ rất mộc mạc chân chất, được viết nên từ cảm hứng hiện thực:
Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung lay
Trang 34
Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh váTuy nhiên cảm hứng hiện thực ở thế hệ này vẫn chưa đến độ đậm đặcnhư trong thơ của "thế hệ chống Mỹ" Thế hệ này đã mạnh dạn đưa vào thơnhững chi tiết ngỗn ngang, bề bộn của đời sống chiến trường Họ là nhữngnhà thơ được học tập dưới mái trường của chủ nghĩa xã hội, lại lăn lộn trựctiếp trên chiến trường đối mặt với những gian khổ hi sinh, vì thế càng ngày
họ càng ý thức không thể lý tưởng hóa cuộc chiến đấu Họ không chấp nhậnthơ như một thứ trang trí, trang sức:
Thơ không phải thứ dây bìm trang tríKéo nhèo đi những rễ cây tứa nhựaBão động rừng sao thơ chỉ rung rinh?"
( Đường tới thành phố - Hữu thỉnh)
Hữu Thỉnh cũng nhân danh thế hệ mình mà bộc bạch "Đừng viết vềchúng tôi như cốc chén trên bàn - Xin hãy viết như dòng sông chảy xiết"
Đó cũng là tiếng nói chung của thế hệ, và họ cũng đã làm đúng như vậy.Chất hiện thực đã trở thành chất liệu chính cho thơ ca thế hệ này Nếu chia
"thế hệ chống Mỹ" ra làm ba chặng, thì ta thấy rõ được cảm hứng hiện thựctrong mỗi chặng có khác nhau
Chặng thứ nhất: từ 1964 đến 1968, là sự xuất hiện của những cây búttiêu biểu như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Lê AnhXuân, "Tiếng thơ của họ vừa trẻ trung, tươi tắn, vừa bồng bột sôi nổi Cảmxúc thơ của họ vừa mang đậm màu sắc lý tưởng, ít nhiều còn vương vấndấu vết của sách vở nhà trường" [15,350] Vì thế, họ thường đi tìm chất thơtrong những mảng hiện thực có vẻ nên thơ, trong trẻo" Ở chặng thứ hai: từ
1969 đến 1972, là sự xuất hiện của những nhà thơ như Phạm Tiến Duật,Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị MỹDạ, "Ở chặng đường này, những nhà thơ trẻ đã thực sự khẳng định đượctiếng nói riêng của thế hệ mình qua những vần thơ giàu chi tiết chân thực,sinh động như còn vướng bụi chiến trường và mùi khét lẹt của đạn bom,mang khí thế hừng hực của cuộc chiến đấu." [15,353] Cảm hứng hiện thực
ở chặng này trở nên mãnh liệt và sâu sắc hơn Còn chặng thứ ba: từ 1973,
bổ sung thêm những nhà thơ trực tiếp cầm súng ở chiến trường, như ThanhThảo, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Lực lượng bổ sung này có tầm nhìncùng với nhận thức về hiện thực cuộc sống chiến trường được mở rộng vàsâu sắc hơn Bức tranh hiện thực đời sống chiến trường hiện lên cũng phongphú, đa dạng, phức tạp hơn Thái độ, tình cảm của nhà thơ viết về sự thựccủa đời sống chiến trường, nhất là gian khổ hi sinh cũng chân thực hơn
Vậy là cảm hứng hiện thực ở mỗi chặng được bổ sung thêm, càngđậm đà thêm Ở đây chúng tôi sẽ viết về cảm hứng hiện thực của các nhàthơ trong hai chặng sau Bắt đầu với Phạm Tiến Duật, nhà thơ có nhiều năm