1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm hồi ký của anh thơ luận văn thạc sỹ ngữ văn

125 1,3K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm hồi ký của anh thơ
Tác giả Lê Thị Nguyên
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng cảm với những gian khổ của Anh Thơ khi sáng tác Bức tranh quê, tác phẩm ghi nhận sự có mặt của nữ sĩ trên thi đàn, Trinh Đường có nhữngsuy nghĩ: “Trong nghề ai cũng biết rằng, viết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

LÊ THỊ NGUYÊN

ĐẶC ĐIỂM HỒI KÝ CỦA ANH THƠ

Chuyên ngành: Lý luận Văn học

Mã số : 60.22.32

Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Dương

Vinh - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nữ sĩ Anh Thơ (1919-2005) là một gương mặt thơ nữ xuất sắc trongnền thơ Việt Nam hiện đại Bà bước vào văn đàn và tạo ngay được dấu ấn,chỗ đứng vững chắc cho mình bằng giải thưởng khuyến khích của Tự lực văn

đoàn với tập thơ Bức tranh quê năm 1939 Bức tranh quê là một đốm sáng của phong trào Thơ mới, góp phần khơi dậy trong lòng mỗi người tình cảm yêu

mến, gắn bó với làng xóm, quê hương, đồng thời có ý thức bảo vệ những giátrị văn hóa tốt đẹp từ bao đời Sau Cách mạng, Anh Thơ dễ dàng chuyểnhướng, hòa nhập gần gũi với đời sống dân tộc những năm kháng chiến chốngPháp, chống Mỹ cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội Anh Thơ được traotặng và truy tặng nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng Nhà nước về Vănhọc nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

với hai tác phẩm Bức tranh quê và Từ bến sông Thương.

1.2 Hơn sáu mươi năm cầm bút, đóng góp của Anh Thơ cho nền vănhọc hiện đại Việt Nam không chỉ được khẳng định ở thể loại thơ mà còn ởnhiều thể loại khác: tiểu thuyết, kịch, hồi ký, phóng sự, báo chí… Trong đóhồi ký là một mảng quan trọng Ấp ủ tái hiện lại những bước đường hoạtđộng văn học, hoạt động cách mạng của mình, Anh Thơ đã lần lượt cho ra

đời ba tập hồi ký: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt.

Đây được xem là những cuốn hồi ký có giá trị, giàu tính nghệ thuật góp thêmvào văn đàn Việt Nam tiếng nói đầy “nữ tính”, trữ tình, ấm áp và làm rõ thêmđặc điểm hồi ký, một thể loại văn học lý thú

1.3 Thơ của Anh Thơ đã từng được tìm hiểu và nghiên cứu Thế nhưngmảng văn xuôi, trong đó hồi ký là một điểm nhấn lại chưa được nghiên cứunhiều Để góp thêm tiếng nói tìm hiểu, nghiên cứu sự nghiệp văn chương Anh

Thơ nói chung, hồi ký Anh Thơ nói riêng, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm hồi

ký của Anh Thơ

Trang 4

1.4 Từ những năm 80 của thế kỷ XX hồi ký nở rộ trong đời sống vănhọc và ngày càng thu hút sự quan tâm của độc giả hiện đại Với sự phong phú

về nội dung, sự đột phá trong cảm quan hiện thực, thể loại hồi ký thời kỳ này

đã mang đến những cách tân quan trọng trong nghệ thuật và thi pháp thể loại

Bộ ba hồi kí Anh Thơ: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia

cắt là những tác phẩm góp phần làm nên sự thành công và có tầm ảnh hưởng

sâu rộng đối với đời sống văn học đương đại Đấy là những lý do giải thích vì

sao chúng tôi chọn Đặc điểm hồi ký của Anh Thơ làm đề tài nghiên cứu.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Anh Thơ nói chung

Trong số những gương mặt nữ làm thơ từ trước Cách mạng tháng Tám,Anh Thơ là người có sức bền bỉ và dồi dào hơn cả Anh Thơ bước vào làngthơ từ khá sớm bằng tâm hồn trong trẻo của một cô gái hồi đầu thế kỷ XX

Cô gái trẻ yêu thơ đến nỗi dám bước qua sự ngăn cấm của gia đình và mạnhdạn bước lên văn đàn bằng việc có thơ đăng báo năm 16 tuổi Năm 1939, khi

vừa 18 tuổi, với tập thơ Bức tranh quê với giải thưởng của Tự lực văn đoàn,

Anh Thơ đã ghi dấu ấn quan trọng trong hành trình nghệ thuật và lừng lữngghi tên mình vào hàng nữ sĩ của phong trào Thơ mới đang lên với một phongcách riêng, gần gũi quen thuộc với cảnh và người của làng quê Việt Nam

Năm 1942, cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân ra

đời Ngoài việc tổng kết phong trào Thơ mới 1932 - 1945, cuốn sách cònchọn lọc và tìm ra được những phong cách độc đáo của phong trào thơ, trong

đó có nữ sĩ Anh Thơ “Một hôm tôi nhận được bức thư đề: M Hoài Thanhprofesseur, L’intitteur Thuận Hoá Tôi đã không dám khinh thường người viếtthư mà lại còn kính phục thêm nữa Vì tôi biết người viết thư là một thi sĩ códanh: Anh Thơ…Cứ xem văn của Anh Thơ ai cũng phải bảo là người có học.Thế mà cái lối viết rõ ràng chắc chắn ấy, Anh Thơ không từng được học trongtiếng Pháp Càng kính phục người ta càng mừng cho nền quốc văn Quốc văn

ta ngày một thêm phong phú và hiện nay đã có thể làm lợi khí đào luyện tinh

Trang 5

thần cho một người như Anh Thơ” [63, 188] Hoài Thanh không chỉ dừng lại

ở những nhận định khái quát về mặt nội dung, nghệ thuật thơ Anh Thơ, mà

qua Thi nhân Việt Nam, ông còn có một sự so sánh khá tinh tế giữa các nhà

thơ viết về làng quê: “Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ.Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng Nguyễn Bính là nhà quê hơn cảnên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê Anh Thơ không nhàquê một tí nào Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnhquê Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính Thơ Bàng Bá Lân và

Bức tranh quê đều là những bông hoa khả ái từ xa mới đưa về” [63, 165]

Bàng Bá Lân, một cây bút cùng quê hương Bắc Giang có sự nhận xét vềAnh Thơ như sau: “Nói năng hoạt bát, viết văn sáng sủa, gãy gọn nhờ cókhiếu về văn chương Thơ của cô cũng vậy, rất sáng sủa và đúng văn phạm”.Tuy nhiên, Bàng Bá Lân cũng nhận thấy: “Đó là ưu điểm và khuyết điểm của

tác giả Bức tranh quê… vì thơ cô rõ ràng quá nên thiếu cô đọng” [48, 14-15] Năm 1942, trong lần xuất bản đầu tiên cuốn tiểu thuyết Răng đen, ông đã

dành tặng những lời giới thiệu đẹp cho tác phẩm của người em, người bạnthơ Trong đó lời tựa là những nhận xét đan cài giữa nhân vật trong tiểuthuyết và nữ tác giả như sau: “Tôi được cái may mắn được gặp nàng là nhờ

có người giới thiệu (Nàng ở đây là Hương - nhân vật chính trong Răng đen).

Người giới thiệu tuy là một nữ thi sĩ nhưng dễ dãi và giản dị lắm, vì tính tình

người cũng đơn sơ, mộc mạc như những Bức tranh quê” [48, 28]

Tiếp theo đó, trong Văn thi nhân tiền chiến, Nguyễn Vỹ nhớ rất rõ kỷ

niệm những ngày đầu Anh Thơ chập chững bước vào thi đàn: “Một cô nữsinh mới có 15, 16 tuổi, học trường sơ đẳng Tiểu học Pháp Việt Thái Bìnhgửi cho nhà văn Lan Khai một bài thơ mới tập làm, kí tên là Tuyết Anh Bàithơ đó Lan Khai sửa chữa vài ba chữ, rồi đăng lên một tờ báo để khuyếnkhích cô em Một thời gian sau, người ta lại đọc trên một vài tờ báo một vàibài thơ ký tên là Hồng Anh Thơ còn hơi vụng về, tỏ ra là người học thức cònkém, ý tứ không dồi dào, tình cảm không sâu đậm, nhưng có những nhận xét

Trang 6

đặc biệt, phô diễn một trí óc tưởng tượng tuy giản dị nhưng rất tế nhị và rất dễthương” [84, 271]

Khi viết Phong trào Thơ mới, năm 1966, Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Nếu

đem Thơ mới hồi ấy gạn đục khơi trong đây đó người ta cũng còn bắt gặpmột vài nét trong sáng, gần gũi với dân tộc (Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ,Anh Thơ), một lòng yêu cuộc sống” [16, 42] Ông còn nhấn mạnh thêm:

“Những bức tranh của Anh Thơ là một sự hoà hợp giữa những màu sắc vàđường nét trong hội hoạ” [16, 168]

Tác giả Trương Chính nhận định: “Trước đây, khi người ta còn cho “thơmới” là lãng mạn tiêu cực, thoát ly, thì thơ chị vẫn được công nhận là cónhững “nhân tố tích cực”, “lành mạnh” [48, 95]

Năm 1987, trong bài viết Nhà thơ Anh Thơ, đánh giá về những đặc điểm

trong phong cách Anh Thơ, Vũ Quần Phương phát biểu: “Cảm hứng thơ AnhThơ thường cất lên trực tiếp, theo thế thuận Thơ chị không đi vào nhữngtrầm tư day dứt, những cái không vừa lòng, những hiện thực không ưng ý Âucũng là cái tạng cảm xúc của từng người Cũng đừng nghĩ như thế mà thơkhông sâu Chính thơ Anh Thơ có những bài thơ mà khi đọc thấy cấu tứ rấtcheo leo, thậm chí biểu tượng nữa nhưng thực tế chị viết nó rất thoải mái, hồnnhiên, có vẻ nữa, vì nó là đời sống Bản thân hiện thực ấy ở ngoài đời đãmang tính biểu tượng, không phải tác giả cố tạo ra Cống hiến của tác giả là ởchỗ nhìn thấy nó và diễn tả đầy tính thơ để ai đọc cũng thấy” [48, 100] VũQuần Phương còn có những ghi nhận cho những hy sinh và đóng góp củaAnh Thơ như sau: “Những thi sĩ lớp 1930-1945 đã có những cống hiến đặcbiệt vào thơ hiện đại Việt Nam Và cũng chính họ đã từng là chủ lực trongnền thơ Cách mạng sau tháng 8 - 1945 Anh Thơ thuộc vào lớp người đó, tuychị là người đến sau Khi chị đến phong trào Thơ mới đã ổn định với các têntuổi tiêu biểu của nó, nhưng chị vẫn có đóng góp riêng, những bức tranh thônquê xứ Bắc Cùng với Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… Anh Thơlàm giàu thêm lòng yêu quê hương làng nước của người Việt Nam mình Hơn

Trang 7

bốn mươi năm theo cách mạng, ngòi bút Anh Thơ cũng nếm đủ mọi thăngtrầm, gánh chịu mọi hay dở chung của cả nền thơ Chăm chỉ đi, chăm chỉ viết.Tầm xã hội của chị đã vượt lên nhiều Điều đó rất đáng trân trọng nếu ta biếtchị đã phải cố gắng thế nào để từ cô gái tỉnh lẻ, trong một gia đình khuônphép chật hẹp trở thành một nhà thơ cách mạng” [48, 103].

Đồng cảm với những gian khổ của Anh Thơ khi sáng tác Bức tranh quê,

tác phẩm ghi nhận sự có mặt của nữ sĩ trên thi đàn, Trinh Đường có nhữngsuy nghĩ: “Trong nghề ai cũng biết rằng, viết bài trước đã khó, viết bài saukhông giống bài trước càng khó, đằng này chỉ viết tranh thủ lúc ông bố ngủ,trong vòng một tháng, chị đã sáng tác luôn một hơi những ba mươi bài, mà bamươi bài đều khác nhau về nội dung, về cấu tứ, lập ý…Vệc này chỉ có thểthực hiện được đối với một người đã có một bản lĩnh nghệ thuật nhất định…

và tác giả đã tỏ ra một vị trí chững chạc hương sắc một thời trong vườn hoa,vườn thơ đất nước” [48, 82] Theo Trinh Đường, sự “xuất hiện của Anh Thơthời điểm này là một sự bùng nổ” [48, 80] Ông còn khẳng định thêm: “Hơn

nửa thế kỷ qua…Bức tranh quê vẫn còn giá trị nguyên vẹn và bút pháp vẫn là

vầng hào quang toả sáng suốt con đường văn nghiệp của chị” [48, 83]

Bài viết Bài thơ Chiều xuân của Văn Tâm, 1991, cảm nhận: “Khi bắt đầu

bước chân lên thi đàn, có lẽ Anh Thơ là người có học vấn trình độ nhà trườngthấp nhất trong làng Thơ mới… Cái nghịch lý giữa “lớp ba” với “nữ thi sĩ códanh” cũng không lớn lắm, nếu liên hệ đến thơ dân gian (cũng như kho tàng

folklore Việt Nam nói chung)… Tác giả Bức tranh quê, ngoài tố chất bẩm

sinh, vẫn là người “có học” - cái học không dưới mái trường chính qui mà “tựhọc” ở nhiều nơi chốn theo cách thức đa dạng…” [48, 55] Khen ngợi AnhThơ, Văn Tâm còn viết: “Viết quá nhanh và theo giờ giấc cố định, thậm chísáng tác theo chỉ tiêu… Không biết ở Việt Nam hay cả trên thế giới có nhàthơ trữ tình nào mang dáng dấp công nghiệp như thế không?” [48, 57]

Trong cuốn Tác giả văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, 1992,

Nguyễn Đăng Mạnh giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp Anh Thơ như

Trang 8

sau: “Trong cảnh sống có nhiều phần tù túng và đơn điệu của một gia đìnhviên chức tại một tỉnh nhỏ, dù không được học hành nhiều, cô thiếu nữVương Kiều Ân vẫn ấp ủ một khát vọng văn chương… Người ta nhận thấy ởAnh Thơ một tâm hồn nhạy cảm, có nhiều xao động, và một năng khiếu quansát tinh tường, khá sắc sảo, đặc biệt là đối với những cảnh vật giản dị ở nôngthôn… Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, từ nguồn mạchban đầu là một tiếng thơ về làng quê bình yên với những nét tâm trạng bângkhuâng, thoáng chút “buồn mà không sa vào mềm yếu”, tiếng thơ của AnhThơ đã có phần tươi tắn, khỏe khoắn hơn” [40, 10-11].

Năm 1995, cuốn Chân dung nữ văn nghệ sĩ Việt Nam ra đời, giới thiệu

hơn 300 nữ nghệ sĩ Việt Nam Nhà thơ Anh Thơ vinh dự được tuyển chọn và

giới thiệu trang trọng Cuốn sách đặc biệt đề cao vị trí thi phẩm Bức tranh

quê: “Với tập thơ này, Anh Thơ xuất hiện và hoà nhập vào phong trào Thơ

mới như một cây bút nữ có bản sắc riêng và đi vào một đề tài riêng: đề tàinông thôn với nghệ thuật tả chân tài tình” [45, 437]

Cùng quan điểm như thế, Lê Quang Hưng trong Tinh hoa thơ mới- thẩm

bình và suy ngẫm, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998, viết: “Chúng ta hãy

tưởng tượng: sẽ ra sao gương mặt Thơ mới 1932 - 1945 nếu thiếu vắng Bức

tranh quê của Anh Thơ…? Chắc hẳn sẽ mất đi một mảng sắc màu thú vị…

Bên cạnh bao bậc đàn anh đang tạo nên sự đa thanh, đa giọng điệu cho Thơmới hồi bấy giờ Anh Thơ đã đem đến một tiếng thơ hồn nhiên, có phần dửngdưng, bình tĩnh Nữ sĩ đã làm dịu tâm hồn người đọc bằng cách đưa họ về vớinhững bức tranh quê yên bình, trong đó như ngưng đọng nhịp sống thong thảngàn đời của người nông dân Việt Nam Cái nóng nguội bớt nhờ cái lạnh Thúmộng ảo, nỗi thương vay nhớ hờ giảm đi chút nào nhờ cái thực, nhờ sự gần gũixung quanh” [21, 181] Khi Anh Thơ gia nhập phong trào Thơ mới, thi đàn đã

có những chỗ đứng uy nghi của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, XuânDiệu, Huy Cận… Thế nhưng dấu ấn của nữ sĩ vẫn không thể trộn lẫn và phai

mờ trong lòng độc giả, dù sự thành công ấy, đối với Anh Thơ là điều không

Trang 9

tưởng Nghĩ lại thời làm thơ trước Cách mạng, Anh Thơ khiêm tốn nhận mình

“chỉ là người em út của phong trào Thơ mới” Tác giả Bức tranh quê ví tập

thơ này của mình chỉ là bông hoa đồng nội bé nhỏ và khiêm nhường trướcnhững sắc hương rực rỡ và thơm ngát “Nhưng biết đâu, vì đã nhìn lắm thứhoa rực rỡ sắc hương nên người ta lại để ý đến bông hoa đồng nội Biết đâu,lẫn vào giữa nhịp sống bon chen, hối hả ở chốn thị thành người ta lại thèmmuốn trở về với “con người nhà quê” vốn ẩn sâu trong mình, lại có nhu cầu

để tâm hồn thăng bằng, thư giãn Phải chăng, đó cũng là một lý do để Tự lực

văn đoàn trao giải thưởng về thơ năm 1939 cho Bức tranh quê” [21, 185] Tác giả Lê Bảo, trong Thơ Việt Nam- tác giả, tác phẩm lời bình, viết:

“Trong nền thơ 1930-1945, giữa chót vót những buồn vui, với bao cung bậcrộn ràng gấp vội, Anh Thơ như một thoáng chốc nhạt nhoà, tươi tắn Trên bảngiao hưởng nhiều bè ấy, nữ sĩ tạo ra một phút lặng ngân nga, một nốt trầmxao xuyến So sánh chiều dọc với những nhà thơ cùng giới, Anh Thơ gần BàHuyện Thanh Quan hơn Hồ nữ sĩ… Nhưng khác với thơ Bà Huyện ThanhQuan giữa lúc chới với không cầm giữ được cái đẹp trong tay, Anh Thơ vẫntạo tìm được một khoảng đất dưới chân để đứng Điều này thật quý Đó là cáicốt cách chân thành mộc mạc, hồn hậu xanh tươi Dường như cánh cửa tâmhồn - người bạn đồng hành với cuộc sống ở nhà thơ lúc nào cũng mở ra, cũngđón nhận Có lẽ Anh Thơ không đi tới ngõ cụt của sự cùng đường so với cácbạn thơ đương thời là vì thế hay chăng?” [7, 439]

Về Bức tranh quê, từ trước đến nay đã không ít những lời bình luận Ghi

nhận những cống hiến và thành công ban đầu này, Phạm Tú Châu viết: “Giải

thưởng cho Bức tranh quê đã khiến chị từ một cô gái nghèo, tỉnh lẻ trở thành

nhà thơ nổi tiếng trong cả nước Anh Thơ hồi hộp ký vào tác phẩm đầu taycũng là ký với đời rằng là từ đây chị nguyện lấy thơ văn làm nghiệp củamình Thời bấy giờ một cô gái như Anh Thơ là rất hiếm Chị đã chọn chomình con đường khó khăn nếm đủ mùi cay đắng nhưng đã giữ được tên gọingọt ngào: Nữ sĩ Anh Thơ” [48, 110] Thư Trai đã ca ngợi không tiếc lời thi

Trang 10

phẩm như sau: “30 bài trong Bức tranh quê như 30 bức tranh khắc đồng với

những nét thật sắc, thật tinh tế của một bàn tay điêu luyện, một đôi mắt hómhỉnh và một trái tim đôn hậu với một tình yêu thật kín đáo nhưng cũng thậtsâu sắc” [48, 173] Còn theo Lê Huy Bắc: “Mỗi bài thơ của nữ sĩ là một giantrưng bày mĩ thuật độc đáo về làng quê [13, 195] Sự thật thì cũng đã từng

như thế, Bức tranh quê của Anh Thơ đã từng được nhiều tờ báo từ Bắc tới

Nam có bài viết về sự kiện này Ở Thái Bình, Sài Gòn… đã có triển làm thơthêu trên nền sa - tanh trắng Sự thành công ấy, có thể bởi Anh Thơ “am hiểunông thôn Bắc Bộ từ cây cỏ, thời tiết, phong tục đến cách ngưng đọng buồn tẻ

của nó” [48, 168] Và Anh Thơ đã “khéo miêu tả những Bức tranh quê với tâm hồn thơ nữ” [64, 171] Cho nên “Bức tranh quê có thể được xếp vào hàng

những bài thơ hay viết về nông thôn từ trước đến nay Đã có khá nhiều “thi sĩ

của đồng quê”, nhưng với Bức tranh quê của Anh Thơ, ta vẫn thấy một cái gì

đó rất riêng Bởi hơn hết, tập thơ dù viết vội vàng, chưa nắm kỹ thuật nhưng

bà đã viết nó bằng cảm xúc trung thực, hồn nhiên như cảnh vật nơi mình đã

sống Tác giả Anh Phương cho rằng: “Hãy đọc lại Bức tranh quê để bắt gặp

những chi tiết phải nhận là lạ Thiên nhiên trong thơ bà là những thứ rất mộcmạc, dân dã và quê mùa, nó là tất cả những gì như máu thịt gắn liền với tuổithơ của bất kỳ một cô bé, hay cậu bé chăn trâu nào” [54]

Theo Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến toàn tập,

nguyên nhân của sự thành công đó, chính là: “Anh Thơ không giống như hầuhết nhà thơ đương thời lấy tình yêu làm động lực chính, lấy sự uỷ mị của tìnhcảm, sự gào thét của dục vọng làm yếu tố, ngược lại Anh Thơ đã tạo thơ mìnhbằng một sắc thái riêng biệt, độc đáo: lấy thiên nhiên làm bối cảnh, lấy nếpsống nông thôn làm đề tài chính và lấy phong tục miền nông thôn làm nguồnsáng tác Chính vì những điểm dị biệt này mà Anh Thơ đã chiếm một chỗ khávững trên thi đàn” Có thể coi, tập thơ là một đốm sáng tích cực của phongtrào Thơ mới Nên tác giả thừa nhận, sau này khi có khối lượng đồ sộ cácsáng tác, nữ sĩ vẫn cảm thấy đây là tác phẩm yêu thích nhất của mình Hơn

Trang 11

nữa: “Bức tranh quê với lối thơ tả chân đã đem lại sự mới lạ vào làng thơ Việt

Nam thời đó còn mang nặng tính lãng mạn” [77, 624] Vậy nên “Thi nhânViệt Nam có 6 nữ thi sĩ được tôn vinh, và Anh Thơ là người được nói nhiềunhất Cùng với Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính…, Anh Thơ đã tạo nên vẻ đẹpchân quê Việt Nam mà Hoài Thanh, Hoài Chân tâm đắc nhất trong thơ mới

Đó là một cách nhìn nhận vừa dân tộc truyền thống vừa hiện đại Điều đóngày nay càng được xem trọng và cần thiết [76]

Khác với những tác giả nêu trên, Ngô Văn Phú có cảm nhận riêng: “Kể racái lối thơ cứ nhìn cảnh mà tả, không phả hồn thơ, tình người vào cho bài thơ

cũng dễ gây cho người đọc thấy thiếu thiếu một chút gì đó Nhưng Bức tranh

quê có lối riêng độc đáo [86].

Ngoài làm thơ, Anh Thơ còn viết văn Tiểu thuyết Răng đen là sự nỗ lực đầy cố gắng và sự tìm tòi đầy sáng tạo của bà Bài viết Tiểu thuyết Răng đen

của Anh Thơ, http://ovnews.vn, ngày 22/3/2006 đã nhận định: “Theo tôi, về

tiểu thuyết, Anh Thơ không thể bằng những Nhất Linh, Khái Hưng… song

với Răng đen, Anh Thơ xứng đáng ghi tên mình vào hàng ngũ những cây bút

của thời kỳ tiểu thuyết mới Việt Nam” [85]

Năm 1957, tập Kể chuyện Vũ Lăng được Nxb Phụ nữ ấn hành Tác phẩm

tổng hợp quá trình sáng tác của nữ thi sĩ từ năm 1947 đến năm 1957, với lờigiới thiệu: “Trong kháng chiến gian khổ, và trong kiến thiết hòa bình, nhữngbài thơ của Anh Thơ đã cảm thông với tinh thần hi sinh, phục vụ vô điều kiệncủa người nữ cán bộ, người giáo viên, người chiến sĩ cách mạng… Anh Thơ

đã làm cho ta thấy cái ấm cúng của đôi tri kỷ bên bếp lửa nhà sàn; niềm phấnkhởi của đồng lúa chiêm gặp mưa, guồng tơ quay trên bờ sông Nhuệ, vànhnón nhè nhẹ trên các khuôn mặt yêu kiều… Tất cả đã nói lên phần nào nhữngthiêng liêng, và đẹp đẽ của đất nước” Tác giả Trương Chính nhận xét: “Đitheo cách mạng, thơ chị cũng đổi phong cách… Chị không đứng ngoài màquan sát nữa Chị làm được cho chị một cảm hứng mới, dồi dào, thích hợpvới ngòi bút nữ” [48, 96]

Trang 12

Năm 1987, Tuyển tập Anh Thơ ra đời Đây là cuốn hợp tuyển những tác

phẩm thơ - văn xuôi và những bài viết tiêu biểu của nữ sĩ Hoàng TrungThông viết lời giới thiệu Đồng cảm với những khó khăn của một người phụ

nữ làm thơ, ông ghi nhận: “Rõ ràng Anh Thơ có tài quan sát, nhưng chịkhông chỉ quan sát bằng mắt, mà quan sát từ tấm lòng, một tấm lòng yêunước, một tấm lòng kiên trung theo Đảng, theo cách mạng… quyết tâm theoĐảng và theo cách mạng đến cùng làm cho tâm hồn thơ chị luôn trẻ, thơ văncủa chị chân thành và dào dạt sức sống, nhất là những vần thơ của chị vềĐảng, về Bác Hồ là những vần thơ đặc sắc” [68, 28]

Trong bài viết Bảy mươi xuân một nhà thơ nữ, 1991, Hoàng Minh Châu

đã có những nhận xét về Anh Thơ như sau: “Trước đây, Anh Thơ ngồi trongcửa sổ tìm thơ (có lẽ tìm vụng, vì sợ bố chưa hiểu lòng con) hoặc là dạoquanh một vùng để cảm tác, thì giờ đây, chị vào hẳn cuộc đời và mỗi chặngđường sau đã đem tới cho chị một cách nhìn toàn vẹn sâu lắng” [48, 63] Ôngcòn nhận thấy: “Anh Thơ đến được mọi miền là nhờ mối tình lớn thúc đẩy

Và rồi chính cuộc dấn thân của chị đã bù đắp cho chị những thiệt thòi… Tìnhriêng, tình chung trong thơ chị hoà quyện vào nhau, ngày càng đằm thắm”[48, 65] Theo Lưu Khánh Thơ: “Tình cảm yêu thương, gắn bó với nông thôn,làng nước là một trong những yếu tố giúp Anh Thơ nhanh chóng có sự hoànhập và chuyển hướng dễ dàng hơn với một số nhà thơ “tiền chiến” khác khiđến với cách mạng Anh Thơ tham gia cách mạng với một sự hăng hái mê sayngay từ những ngày đầu tiên Cuộc sống gắn bó với quần chúng nhân dân đãtạo cho nhà thơ một nguồn lực mới, sớm trở thành một cán bộ cách mạng”[48, 179]

Riêng trong Nữ sĩ Anh Thơ từ Thơ mới đến thơ cách mạng và kháng

chiến, Mai Quốc Liên đã đem đến cho người đọc những xúc cảm mới lạ trong

việc cảm nhận thơ văn của nữ sĩ theo hướng một nhà thơ chiến sĩ “Đảng đếnvới Anh Thơ không những cho chị “bút màu tô vẽ non sông”, cho chị “ánhsáng tươi hồng” với cả “những vần thơ đẹp”, mà còn làm đẹp chính cuộc đời

Trang 13

và tâm hồn của nhà thơ Đến với Đảng, với cách mạng, Anh Thơ vừa say mêđắm mình, vừa lao động nghệ thuật, vừa quên mình đóng góp cho quê hươngcho đất nước với tư cách một cán bộ cách mạng, một chiến sĩ…” [48, 73].Tác giả đánh giá: “Liên tục làm thơ, cần cù bền bỉ, chị Anh Thơ không gâychấn động trong làng thơ, nhưng chị có lẽ là người duy nhất của Thơ mới

đã đạt được những thành tựu xuyên suốt 50 năm văn học, để lại cho đờinhững bài thơ duyên dáng, thương mến như con sông Thương quê nhà củachị [48, 78] Và, dù “chọn cho mình con đường khó khăn nếm đủ mùi cayđắng nhưng đã giữ được tên gọi ngọt ngào: Nữ sĩ Anh Thơ” [48, 110]

Ngày 14/03/2005, nữ sĩ Anh Thơ đã trút hơi thở cuối cùng, để lại niềmthương tiếc trong lòng độc giả yêu thơ Nhiều báo đài đưa tin và có nhiều bài

viết về sự kiện này như: Vĩnh biệt nữ sĩ Anh Thơ; Tưởng người từ bến sông

Thương; Chiều xuân sông Thương nhớ nữ sĩ Anh Thơ; Vương Kiều Ân - Anh Thơ: Tu hú kêu chi…khắc khoải một đời; Vĩnh biệt nữ sĩ Anh Thơ: chuồn chuồn thôi nhớ nắng; Nhớ nữ sĩ Anh Thơ; Mây đà đi vắng, sông đã im dòng…

“Chưa đầy một năm trời, Đoàn Văn Cừ, Huy Cận, và bây giờ là AnhThơ, ba thi sĩ khởi nghiệp thơ từ phong trào Thơ mới, không còn nữa Khôngcòn các anh các chị trong các cuộc họp thơ, phong trào Thơ mới nổi tiếng củathế kỷ XX, nơi khai sinh nền thơ hiện đại, với chúng tôi trở nên xã lắc RiêngAnh Thơ chị còn là người lưu giữ hồn vía phong cảnh làng quê cố cữu mộtthời xưa Những phong cảnh ấy bấy lâu không còn Nay chị ra đi những cảnh

ấy lại xa thêm một chặng Cảnh xa, người xa May sao chúng ta còn có nhữngcâu thơ của chị, những câu thơ còn hiện lên tâm hồn chị và cảnh cũ quê xưa.Những câu thơ thay mặt chị ở lại với đời Đọc thơ chị hôm nay bỗng như dậylên hương vị nồng nàn của chất men quá khứ Ánh thanh thiên bạch nhật rất đờisống thường nhật trong thơ chị như nhuốm thêm chút hồi quang hư ảo trong cácviện bảo tàng” [48, 167] “Giờ đây vắng bóng tác giả, nhưng câu thơ, trangvăn chị để lại vẫn còn sức sống góp vào vẻ đẹp của văn học Việt Nam, tâmhồn Việt Nam” [48, 178]

Trang 14

Điếu văn của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã khái quát cuộcđời và những đóng góp, cống hiến của nữ sĩ: “Ham sống, ham đi, ham viết,Anh Thơ đã chứng tỏ một nghị lực sống mạnh mẽ vượt lên gánh nặng của sốphận, trở thành một Đảng viên ưu tú, một cán bộ phụ nữ đầy tâm huyết, nhàthơ nữ xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại Trong cuộc sống thườngngày, Anh Thơ là một người mẹ mẫu mực, người chị bao dung, một ngườibạn thơ trung thực Sức sống tâm hồn tài năng của chị là một điển hình về

sự vươn lên của một phụ nữ trong chế độ mới Do những cống hiến tronghoạt động cách mạng và hoạt động văn học, nhà thơ Anh Thơ đã đượcĐảng, Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật(đợt I), huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân huy chương vinh dự khác”[48, 15] Điếu văn còn khẳng định: “Lúc còn sống, hạnh phúc lớn nhất làđược hoạt động, được sáng tạo, thì khi chị mất đi, những trang sách của chịđang tiếp tục sống với bạn đọc, kể lại với hậu thế về một người phụ nữ tàinăng, giàu nghị lực, một hồn thơ nồng ấm và sâu nặng với quê hương, đấtnước” [48, 156]

Trong bài viết Hồn quê còn mãi với Anh Thơ, nhà thơ Hữu Thỉnh đã viết:

“Chị Anh Thơ ơi! Ở một nơi nào đó rất xa, mà cũng rất gần, chị hoàn toàn cóquyền được nghĩ, bởi không có lời nào nói về chị đầy đủ hơn và chính xác

bằng lời của những người yêu thơ chị: “Bức tranh quê sống mãi” [48, 160].

Phan Thị Thanh Nhàn không khỏi tiếc nuối: “Nữ sĩ Anh Thơ, người chịyêu quý và thân thiết, người đã khiến tôi trân trọng, khiến tôi mơ ước đượclàm quen từ khi chưa gặp bởi những vần thơ bình dị mà trong trẻo mà buồn

buồn mà sâu lắng trong tập Bức tranh quê nay đã ra đi…” [46, 117] “Liên tục

làm thơ, cần cù bền bỉ, chị Anh Thơ không gây chấn động trong làng thơ,nhưng chị có lẽ là người duy nhất của Thơ mới đã đạt được những thành tựuxuyên suốt 50 năm văn học, để lại cho đời những bài thơ duyên dáng, thươngmến như con sông Thương quê nhà của chị [48, 78]

Trang 15

Một năm sau ngày mất của nữ sĩ, tập sách Đẹp mãi Bức tranh quê ra đời,

tập hợp, giới thiệu một số bài viết tiêu biểu về tác giả cũng như các sáng táccủa Anh Thơ và những bài tưởng niệm bà Trong đó có một số bài đáng chú ý

như: Anh Thơ của Bàng Bá Lân, Vài lời giới thiệu về nữ sĩ Anh Thơ của Hoàng Trung Thông, Nữ sĩ Anh Thơ từ Thơ mới đến thơ cách mạng và kháng

chiến của Mai Quốc Liên, Hồn quê còn mãi với Anh Thơ của nhà thơ Hữu

Thỉnh; Số phận nhà thơ chìm nổi của Xuân Cang; Nhà thơ Anh Thơ của Vũ Quần Phương; Lưu bút của nhà thơ Xuân Quỳnh; Vĩnh biệt nữ sĩ Anh Thơ của Lưu Khánh Thơ; Góc bể chân trời tìm lại bạn thơ của Mộng Tuyết… Đây là

tư liệu quý, có giá trị đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu cuộc đời Anh Thơ vànhững kỷ niệm, dấu ấn trên bước đường văn chương của bà

Qua một số bài viết, các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã khẳng định

vị trí vững vàng của Anh Thơ trong nền văn học dân tộc Các công trình trên,nhìn chung đã giúp độc giả hiểu về con người, cuộc đời cũng như sự nghiệpvăn chương của Anh Thơ

2.2 Nghiên cứu về hồi ký của Anh Thơ

Phần nghiên cứu về hồi ký Anh Thơ cho đến nay chỉ có một vài ý kiếnnằm rải rác trong các công trình mang tính khái quát Có thể điểm qua một sốnhận xét như sau

Trong bài Nhà thơ Anh Thơ, năm 1987, Vũ Quần Phương viết: “Vừa rồi tôi có đọc tập hồi ký Từ bến sông Thương của chị Cách kể thật thà của tác giả

có thể làm phật lòng vài người trong cuộc (sự đời, nói thật dễ mất lòng, nhất

là những chuyện riêng tư) nhưng đã cung cấp được khá nhiều chi tiết về mộtthời kỳ mà không phải ai cũng dám thẳng thắn nhận xét Chị Anh Thơ cứ lấycái thật lòng mình mà kể, yêu ghét thế nào cứ xin nói thật ra Đã là chuyệnyêu ghét thì không thể ai cũng giống ai Huống chi một nửa thế kỷ qua cáchđánh giá của người đời đã bao lần thay đổi” [48, 102]

Cùng quan điểm với Vũ Quần Phương, tác giả Phạm Tú Châu cho rằng:

“Tin tưởng bạn đọc, Anh Thơ cũng không ngại thổ lộ những điều thầm kín

Trang 16

nhất trong đời, những điều ít khi được kể lại Đó là những mối tình gắn bóvới đời thơ, đời văn của chị, song có lẽ đều là mối tình tan vỡ lúc không ngờ

nhất…Từ bến sông Thương có nhiều trang khiến người đọc cảm động xót xa,

nhiều trang có giá trị như là phong tục, tư liệu tham khảo cho văn học sử,nhiều trang làm bạn đọc bất ngờ, chưng hửng, nhiều dòng tả cảnh giàu nhịpđiệu như thơ văn xuôi…Nghệ thuật viết văn, nghệ thuật kể chuyện đó đãđược Anh Thơ tập rèn, tích luỹ từ thời chị còn rất trẻ” [48, 111]

Tiếp đó, trong bài Số phận nhà thơ chìm nổi, tác giả Xuân Cang nhận xét:

“Anh Thơ vừa cho ra đời bộ hồi kí văn học 1111 trang, ba tập Từ bến sông

Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội,

2002) Gọi là hồi kí văn học vì từ đầu đến cuối bà chỉ kể chuyện viết văn, làmthơ và những gì liên quan đến sự nghiệp ấy của đời bà Có lẽ đây là lần đầutiên trong văn học nước ta có một bộ sách dày dặn như thế kể chuyện một đờivăn chương gắn với từng bước đi của lịch sử, mà lại là cuộc đời của một nhàvăn nữ, đã bảy nổi ba chìm với nước non” [48, 86]

Xuân Cang còn có những nhận định sơ khởi như sau: “Hồn hậu và chânthật là hai đặc điểm nổi bật của ba tập hồi ký liên hoàn này… Đan xen vào đó

là những trang đời kể chuyện một thân phận một nhà thơ nữ chìm nổi, trôidạt, quẫy cựa tìm mình, khám phá mình và đấu tranh cho thân phận nhữngngười phụ nữ trên đời… Anh Thơ có một sức nhớ kỳ diệu… viết một cách tựnhiên, giản dị, thành thực, có chỗ còn thật thà như đếm, các cảnh đời nguyênvẹn xù xì, cứ như thế đi ra từ cõi nhớ, không dàn dựng lớp lang, chau chuốt.Chính vì thế hồi ký của bà có một sức hấp dẫn riêng” [48, 91]

Xưa nay khi nhắc đến Anh Thơ, người ta nghĩ ngay đó là một nhà thơcủa những vần thơ thôn dã, vì thế tâm lý e ngại khi đọc các tác phẩm văn xuôicủa bà như tác giả Trần Cư là điều dễ hiểu, thông cảm được: “Hồi ký ư?, sao

mà dày thế? Đó là ý nghĩ thoạt đầu của tôi khi nhác thấy cuốn Từ bến sông

Thương của Anh Thơ Nghĩa là có hơi ngại… Nhưng khi đọc được vài chục

trang thì tôi bỗng bị tập hồi kí này lôi cuốn, gần như một thứ tiểu thuyết, buộc

Trang 17

tôi đọc một mạch cho đến hết Gấp sách lại thấy ngân nga niềm vui có đượccuốn sách có thể nói là hay” [48, 123] “Tập hồi ký đã bổ sung thêm một bứctranh rất đẹp vào bộ chân dung lớn của phụ nữ Việt Nam Cầm liềm cầm súnglại cầm bút nuôi con, nuôi mẹ già đánh giặc, khi hoà bình lại cầm liềm, cầmkìm, soi gương chải tóc và làm thơ Ôi phụ nữ Việt Nam anh hùng và đẹp biếtbao!” [48, 128] Thiết nghĩ, đây là tâm lý chung của không ít bạn đọc.

Đọc hồi ký của Anh Thơ, Phạm Tú Châu nhận xét: “Niềm tự hào vàvinh dự hôm nay đã thôi thúc chị kể lại cuộc đời mình, cuộc đời có nhiều néttiêu biểu cho những phụ nữ muốn đạt tới tài năng và cống hiến tài năng đócho dân tộc Trong vô vàn sự kiện của cuộc đời ngoài sáu mươi xuân, AnhThơ đã chọn được nhiều câu chuyện cảm động và lý thú, từ đó dựng lại đượcbức tranh về niềm vui nỗi buồn, chị không ngại kể lại nếp sống cũ kĩ, phongkiến của gia đình, họ hàng, bạn bè, không ngại nêu một số nhận xét thẳngthắn của mình lúc đó về người và việc, dù đúng hay sai, dù hay dù dở, dù

người đó còn sống hay đã khuất Cho nên Từ bến sông Thương còn giúp bạn

đọc ngày nay có dịp hiểu thêm về hoạt động văn chương đương thời, qua đóthấp thoáng một số gương mặt nhà văn, nhà báo hồi đó…” [48, 110]

Trong Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2004, mục Anh

Thơ, Nguyễn Văn Long có giới thiệu như sau: “Bà là tác giả tập văn xuôi bộ

ba: Từ bến sông Thương (Nxb Văn học, 1985), Tiếng chim tu hú (Nxb Văn học, 1995), Bên dòng chia cắt (in trong bộ hồi ký Anh Thơ, Nxb Văn học,

gộp chung cả ba tập), một bộ sách nửa hồi ký, nửa tự truyện, ghi lại những kỷniệm về hoạt động văn học từ thuở thiếu thời đến khi tự khẳng định mình qua

tập Bức tranh quê những hoạt động cách mạng và văn học từ sát trước Cách

mạng tháng Tám cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX Cuốn sách chothấy giọng văn lôi cuốn của Anh Thơ và khả năng dựng lại các hồi ức tỉ mỉ, sinhđộng của bà” [34, 47]

Nguyễn Ngọc Hiền trong cuốn Nữ sĩ Việt Nam, Tiểu sử và giai thoại

cổ - cận hiện đại, Nxb Văn học, 2006, cho rằng: “Từ bến sông Thương là

Trang 18

một tập hồi ký, đôi chỗ được tiểu thuyết hóa… nữ sĩ Anh Thơ viết rất

giản dị, trung thực, khá hấp dẫn… Mặt khác, Từ bến sông Thương còn cho

ta thấy mục đích của tác giả muốn nêu cao tinh thần tự lực, đấu tranh vàđoàn kết [22, 965]

Tác giả Lý Thị Trung cho rằng: “Tập hồi ký Từ bến sông Thương xuất

bản năm 1990 của bà có giá trị như một tư liệu quý về một giai đoạn văn họcsôi động Ở tuổi 80, nữ sĩ vẫn nỗ lực viết hồi ký Bà coi việc viết hồi ký làmột cơ hội cuối cùng để trả nốt món nợ đời đã trót đa mang” [78] Cho nên

“Tác giả Bức tranh quê trong những ngày trên giường bệnh vẫn luôn tỉnh táo

và bày tỏ niềm khao khát được hoàn thành phần bốn cuốn hồi ký văn học của

mình Ba phần đầu của Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia

cắt - với hơn một nghìn trang sách có sức hấp dẫn của một cuốn tự truyện

chân thật và sinh động Đó là những trang đời vượt khó khăn, tự rèn luyện vàlăn lộn vào thực tế đời sống để có vốn sáng tác, bồi đắp những tình cảm caođẹp để viết những trang có ích cho đời” [48, 177] “Sức nghĩ và cách làm ấythật đáng nể trọng Phải có một nghị lực và tình yêu tha thiết với cuộc sốngmạnh mẽ lắm thì mới có thể vượt qua được của gánh nặng của tuổi tác, bệnhtật, nỗi cô đơn… để thực hiện một khối lượng công việc lớn như vậy” [48,181]

Bài Đẹp mãi Bức tranh quê, http:// www.vietbao.vn, 16/03/2005, có

nhắc đến lời nhà văn Tô Hoài nhận xét hồi ký Anh Thơ như sau: “Bộ hồi

ký khiến sự nghiệp của bà trở nên phong phú hơn, mặc dù chỉ riêng với

Bức tranh quê bà đã có vị trí xứng đáng và không thể thay thế trên thi

đàn” [55, 62]

Nhìn chung, các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một cáchkhái quát với những nhận định mang tính sơ khởi ban đầu, chưa có công trình

nào đi sâu nghiên cứu bộ ba hồi ký: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu

hú,Bên dòng chia cắt của nữ sĩ Anh Thơ Nhưng đây là những gợi ý để chúng

tôi nghiên cứu đề tài Đặc điểm hồi ký của Anh Thơ.

Trang 19

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát

Lấy đặc điểm hồi ký của Anh Thơ làm đối tượng nghiên cứu, luận văn

tập trung khảo sát, tìm hiểu bộ ba hồi ký của Anh Thơ gồm: Từ bến sông

Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2002

(gộp chung 3 tập) Ngoài ra, luận văn còn tham khảo mảng sáng tác của AnhThơ, các bài nghiên cứu và phê bình văn học về Anh Thơ để hiểu hơn hồi kýcủa nhà thơ này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nhằm:

4.1 Tìm hiểu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hồi ký Anh Thơ4.2 Xác định vị trí của thể tài hồi ký trong sự nghiệp văn học của AnhThơ đồng thời xác định sự đóng góp của hồi ký Anh Thơ vào sự phát triểncủa thể tài hồi ký trong văn học Việt Nam đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: Phương phápthống kê- miêu tả; Phương pháp phân tích- tổng hợp; Phương pháp so sánh đốichiếu; Phương pháp cấu trúc- hệ thống

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai qua ba chương:

Chương 1 Hồi ký Anh Thơ trong sự phát triển thể tài hồi ký văn họcViệt Nam đương đại

Chương 2 Đặc điểm hồi ký Anh Thơ nhìn từ bình diện nội dung

Chương 3 Đặc điểm hồi kí Anh Thơ nhìn từ bình diện nghệ thuật

Trang 20

Chương 1 HỒI KÝ ANH THƠ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ TÀI

HỒI KÝ VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Tổng quan về sự phát triển của thể tài hồi ký trong văn học Việt Nam đương đại

1.1.1 Một số vấn đề lý thuyết chung về thể tài hồi ký

1 1.1.1 Khái niệm hồi ký

Hồi ký ra đời rất sớm từ thời cổ đại Hi Lạp vào thế kỷ V, TCN Tácphẩm đầu tiên là ghi chép những hồi ức của Kxênôphon và Xocrat về cáccuộc hành quân của người Hi Lạp Riêng ở Việt Nam, hồi ký phát triển kháchậm và mới trở thành một thể loại được chú ý trong thời gian gần đây Cùngvới sự phát triển của thể tài, đã có nhiều ý kiến bàn đến khái niệm hồi ký

Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Hồi ký (tiếng Pháp:

mémoires) là một thể loại thuộc loại hình ký kể lại những biến cố xảy ra trongquá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Xét về phương diệnquan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, vềgóc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ giống với nhật ký Còn

về phương diện tư liệu, về tính xác thực không có hư cấu thì hồi ký lại gầnvới văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học Khác với sử gia và nhà viết sử, ngườiviết hồi ký chỉ tiếp nhận ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cảdựa trên những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, bảnthân người viết hồi ký luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất Hồi kýthường khó tránh khỏi tính phiến diện và ít nhiều chủ quan về thông tin, tínhkhông đầy đủ của sự kiện, song sự không đầy đủ của nó do sự diễn đạt sinhđộng trực tiếp của tác giả lại có giá trị như một tài liệu xác thực đáng tin cậy.”[20, 127]

Cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân cho rằng: “Tác phẩm

hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi”

Trang 21

hư cấu ở một số tiểu thuyết, truyện ngắn) kể về những sự kiện có thực xảy ratrong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến [3, 153] Quan điểm như

thế, cuốn Lý luận văn học (do Hà Minh Đức chủ biên) xác định: “hồi ký ghi

lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gianqua hồi tưởng” [19, 284]

Từ điển văn học bộ mới (do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn

Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên) quan niệm: “Hồi ký gần nhật ký ở hình thức giãibày, ở chỗ không dùng thủ pháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thờigian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử Xét về chất liệu, về tínhxác thực, không hư cấu, thì phần lớn hồi ký gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sửkhoa học, ký sự tư liệu lịch sử Tuy vậy, khác với sử gia và các nhà nghiêncứu tiểu sử, người viết hồi ký thường chỉ tái hiện phần hiện thực thường nằmtrong tầm nhìn của mình, chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ứccủa bản thân mình… Hồi ký do vậy thường mang đậm tính chủ quan; các sựkiện được kể lại không khỏi chịu tác động bởi các qui luật “quên lãng” và

“làm méo lệch” của cơ chế hồi ức Tính xác thực sự kiện của hồi ký khôngthể so đọ với các tư liệu gốc, các chứng tích thực Nhưng sự thiếu hụt về sựkiện, sự phiến diện hầu như không thể tránh khỏi của thông tin trong hồi kýlại được bù đắp bằng sự diễn đạt sinh động những ấn tượng, cảm tưởng trựctiếp của cá nhân tác giả, điều này cũng có giá trị như một “tư liệu” của đươngthời Giống như các thể loại văn xuôi nghệ thuật khác, hồi ký rất đa dạng vềkiểu loại; nó cũng tương đối ít định hình về cấu trúc và định hướng thẩmmĩ…” [34, 646 - 647]

Từ những ý kiến nêu trên, ta có thể đi đến nhận định khái quát về hồi ký,

đó là những ghi chép dựa trên sự hồi tưởng về người thật việc thật về cuộcđời của chính tác giả hoặc con người và cuộc sống cùng thời với tác giả nay

đã lùi vào trong quá khứ Chính điều này đã được nhóm tác giả Phương

Lựu-Trần Đình Sử - Nguyễn Xuân Nam đề cập đến trong cuốn Lý luận văn học:

“Hồi ký với đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại

Trang 22

những việc trong quá khứ Hồi ký có thể nặng về người hay việc, có thể theodạng kết cấu - cốt truyện hoặc dạng kết cấu - liên tưởng” [37, 436].

Như vậy, việc nắm chắc định nghĩa, khái niệm hồi ký là điểm tựa căn bảngiúp chúng tôi tiếp cận khảo sát nghiên cứu đặc điểm hồi ký Anh Thơ

1.1.1.2 Đặc trưng thi pháp của thể tài hồi ký

Hồi ký là một tiểu loại trong loại hình ký - một loại hình văn học đặcbiệt và phức tạp với “sự lý giải mĩ học về khái niệm ký là chưa có hoặc khôngđầy đủ, hoặc không đúng” Xuất phát từ những định nghĩa về thể tài hồi kýcho thấy một trong những đặc trưng cơ bản nhất của hồi ký là trần thuậtngười thật việc thật nếu không muốn nói trần thuật một cách chính xác, xácthực Mặt khác, hồi ký không những không trần thuật những cái không cótrong thực tế, mà còn không trần thuật một cách chân thực những cái có thể

có trong thực tế Mặc dù, những vấn đề được phản ánh trong hồi ký thuộcbình diện quá khứ mà người viết kể lại dựa trên cơ sở những ấn tượng và hồi

ức trực tiếp của mình

Chính yêu cầu cao về tính chân thực - trung thực trong hồi ký nên chúng

ta thấy người viết hồi ký hay người trần thuật phải là người trong cuộc, kể lạinhững việc đã xảy ra trong quá khứ mà bản thân đã tham dự hoặc chứng kiến,thậm chí có thể lấy chất liệu từ chính cuộc đời mình Và vì tác giả là ngườitham dự hoặc chứng kiến nên xét về bản chất, thông tin trong hồi ký đềumang tính sự thật

Tác giả Minh Luận trong bài viết Sự thật có ích và sự thật phi văn hoá

trên nguồn Vietnam.net đã khẳng định tiêu chí đầu tiên của hồi kí, tự truyện

là sự thật và khi tác giả của những cuốn sách đó tôn trọng sự thật, nhìn sự thậtvới một con mắt khoa học và nhân văn thì những cuốn sách đó sẽ rất có íchcho xã hội

Một đặc điểm quan trọng của hồi ký chính là sự hiện diện của cái tôi tácgiả trong tác phẩm Đó là cái tôi tác giả hoặc nhân vật có vai trò là nhânchứng góp phần xác minh sự thật và tính chính xác của việc miêu tả, phản

Trang 23

ánh Hơn nữa, ý thức trách nhiệm của người viết còn được thể hiện ở chỗ,luôn luôn chú ý tâm thế cảm thụ của người đọc Bởi đối với người đọcthường họ luôn luôn tin và do đó yêu cầu những điều viết ra, những điềuđược phản ánh trong hồi ký phải là sự thật.

Nói về điều này, nhà văn Tô Hoài - một nhà văn có nhiều cuốn hồi ký,

tự truyện thành công, đã phát biểu: “Đối với tôi hồi ký là một cuộc đấu tranh

tư tưởng để viết” Theo ông, cái khó nhất trong viết hồi ký là nói ra sự thật và

nó không dừng lại ở sự hồi tưởng nữa mà là một cuộc hành trình đấu tranh tưtưởng để viết ra về chính bản thân mình, về những người xung quanh mình vàrộng hơn nữa, về thời đại mình đã đi qua

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường, trong một cuộc trao đổi với phóng viêntuần báo Văn nghệ về vấn đề sự thật trong hồi ký đã nhấn mạnh: “Riêng hồi

ký đòi hỏi rất khắt khe về sự thật, sự trung thực, công minh, không được yêughét cá nhân, không được nhân đó để thanh minh, đề cao mình Nếu làmđược như vậy, hồi ký có sức mạnh chống lại sự xuyên tạc về một sự kiện, mộtnhân vật nào đó mà trước đây còn lờ mờ chưa rõ” [80]

Xét cho cùng, suy nghĩ, cảm nhận, đặc biệt là những tình cảm riêng vớicuộc sống, với mỗi khoảng thời gian mà mình đã trải qua là quyền của mỗi cánhân Song khi công khai nói ra những điều đó, đặc biệt là những chuyện cóliên quan đến người khác, thì đó không còn là câu chuyện của cá nhân nữa.Những cuốn hồi ký, tự truyện viết ra với mục đích để cho người thứ hai đọc,chứa đầy ẩn ý, toan tính của người viết chắc chắn sẽ không có giá trị bền lâu,tất yếu sẽ bị qui luật văn học đào thải Bởi người ta tìm đọc hồi ký khônggiống như tìm đọc một sáng tác hư cấu, cho nên nếu không đúng sự thật, lạinặng về cá nhân thì người đọc chán ngay, không tin, không đọc nữa

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong cuộc trò chuyện với Lê Thiếu Nhơncũng có chung quan điểm: “Dù tài năng khác nhau, nhưng khi sự thật đượcphơi bày thì đều có sức lay động kinh khủng Tôi ngại nhất là đọc nhữngtrang tự sự tô vẽ bản thân hoặc che chắn tứ bề” [62]

Trang 24

Ngay cả trong giới nghiên cứu cũng có nhiều ý kiến đồng nhất Tác giả

Lý Hoài Thu trong bài viết Hồi ký và bút kí thời kì đổi mới đề nghị: “Hồi kí

phải hết sức tôn trọng tính chân thật của câu chuyện: sự việc, số liệu, thờigian, địa điểm phải chính xác” [75]

Những ý kiến nêu trên đều rất hợp lý, bởi nếu xét gốc gác bản chất, hồi

ký không nhằm thông tin thẩm mỹ, mà chủ yếu là thông tin sự thật Nói điềunày không đồng nghĩa, hồi ký không cần có yếu tố nghệ thuật Và không vìtrung thực với sự kiện mà các tác phẩm hồi ký mất đi giá trị nghệ thuật, giá trịthẩm mĩ, ngược lại ngày nay nó đã trở thành một thể loại văn học phổ biến.Bởi xét cho cùng, “trong sự thực cũng đã có cái thẩm mĩ” [37, 424] và “cuộcsống chúng ta muôn hình muôn vẻ như thế, lí thú như thế, biết bao nhiêu sựviệc xảy ra, thực ra cũng không cần thiết phải hư cấu thêm thắt tô vẽ gì hơnnữa” [37, 429] Mặt khác, đối với con người nói chung luôn luôn khao kháthiểu biết sự thật, hồi ký có thể xem là một thể loại văn học đáp ứng và thoảmãn lòng khao khát hiểu biết đó Do đặc trưng phản ánh người thật việc thật,nên các tác phẩm hồi ký thường có giá trị rất lớn và quý giá về mặt tư liệulịch sử Đồng thời, có tác dung đóng góp rất lớn đối với sự sáng tạo nghệthuật về sau Đối với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì đọc hồi ký tự truyện cácnhà văn là một cách để ông “ thấy rõ hơn chân dung và quan niệm nghệ thuậtlẫn thái độ sống của họ” [62]

Dầu vậy, hồi ký nói riêng và các tác phẩm ký nói chung, dù phản ánh sựthực nhưng không thể nào viết được sự thật xảy ra một cách tuyệt đối Bởi sựthật đã xảy ra, như thế cũng có nghĩa ít nhiều đã biến thành lịch sử Cho nên

dù là người chứng kiến cũng không thể nhớ lại tường tận mọi diễn biến sựviệc, không thể bao quát hết, nhất là khi sự việc đó xảy ra khá lâu Khác vớicác sử gia và nhà viết tiểu sử, người viết hồi ký chỉ tiếp nhận và ghi chépphần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng vàhồi ức riêng trực tiếp của mình Bản thân người viết hồi ký luôn luôn đượctrình bày mô tả ở bình diện thứ nhất Vì thế, hồi ký thường khó tránh khỏi

Trang 25

tính chủ quan của thông tin, tính phiến diện, tính không đầy đủ của sự kiện.Tuy nhiên, bù lại, hồi ký có sự diễn đạt sinh động trực tiếp của cá nhân tácgiả, điều này cũng có giá trị như một “tư liệu” của đương thời.

Vì những lý do trên, người viết hồi ký không thể tránh khỏi trường hợpphải sử dụng thêm sự tưởng tượng, hư cấu Tuy nhiên, sự hư cấu tưởng tượng

đó đều không nhằm ngoài mục đích tái hiện một cách xác thực người thật,việc thật Hơn nữa suy cho cùng nếu hồi ký muốn vươn đến chỗ có giá trị vănhọc thì không thể nằm ngoài qui luật của nghệ thuật Mà đã là nghệ thuật thìkhông nên đặt ra vấn đề chính xác một cách tuyệt đối, và đã là nghệ thuật thìphải mang tính hư cấu Bởi mọi chân lý nếu bị đẩy đến chỗ cực đoan đều cóthể sai lầm

Sự thật, đối với bất kỳ tác giả nào khi đặt bút xuống trang sơ thảo đầutiên cũng chỉ mới tập hợp được một số tư liệu còn nhiều lỗ hổng lộn xộn,chưa móc nối được những móc xích hữu cơ, đó là chưa kể các nhà văn hầunhư viết hồi ký khi tuổi đã cao, sức nhớ giảm sút Vì thế, nhà văn buộc phảidùng thêm các giác quan gián cách và tổng hợp, đó là sự tưởng tượng và hưcấu Hơn nữa, trong hồi kí, dù thêm hay bớt cũng đều ý hướng là tái hiệnđúng người thật việc thật Mức độ hư cấu trong hồi ký nói chung là ít vàthường ở những thành phần không xác định và với mục đích góp phần táihiện lại một cách xác thực người thật việc thật

Vì tính xác thực của nội dung, cho nên người viết không được sử dụng

hư cấu một cách tuỳ tiện mà phải đảm bảo khuôn khổ của sự thật lịch sử, qua

đó làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Theo các nhà nghiên cứu châu Âu, người ta đã phân tác phẩm hồi kýthành nhiều dạng như: hồi ký của các nhà văn (hồi ký văn học); hồi ký chínhkhách kể về cuộc đời hoạt động chính trị; hồi ký của tác giả là chứng nhâncho một sự kiện chính trị xã hội quan trọng Trong đó, hồi ký của các nhà văn(hồi ký văn học) được chia thành hai tiểu loại như: hồi ký chân dung và hồi

ký tự truyện Đây là một trong những thể loại mà những năm gần đây phát

Trang 26

triển một cách mạnh mẽ ở nước ta Bởi nó có ưu thế cung cấp cho bạn đọcnhững tư liệu quí giá về đời tư của nhà văn, về bộ mặt tinh thần của xã hội ởmột thời kỳ nhất định về các lĩnh vực văn hoá, tư tưởng Đồng thời cung cấpthông tin về quá trình sáng tạo cũng như cuộc đời sự nghiệp của nhà văn, cátính và phong cách mỗi tác giả Điều này được thể hiện qua hàng loạt hồi ký

xuất sắc như: Bước đường viết văn của tôi (Nguyên Hồng), Đời viết văn của

tôi (Nguyễn Công Hoan), Hồi ký (Đặng Thai Mai), Nhớ lại một thời (Tố

Hữu), Cỏ dại, Tự truyện, Sổ tay viết văn, Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài), Những kiếp hoa dại, Cây bút đời người (Vương Trí Nhàn), Từ bến

sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (Anh Thơ)…

Thể loại hồi ký mặc dù không có quy định, giới hạn người viết, songngười ta hiểu ngầm với nhau “đó là một thể loại hết sức cao quí, một cái gìchỉ những nhân vật nổi tiếng trong xã hội mới có quyền viết” Vì thế, bêncạnh các hồi ký văn học, còn có hồi ký của các nhà cách mạng nổi tiếng như:hồi ký Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Nguyễn Thị Định, Trần Đăng Ninhnhững nghệ sỹ danh tiếng như: Nguyễn Văn Tý, Lưu Hữu Phước, GS TrầnVăn Khê, Trần Văn Giàu…

Hồi ký kết hợp sự tường thuật và những suy nghĩ, tâm tư của tác giả cóthể nâng cao nhận thức và gây xúc động cho người đọc Những trang hồi ký

cách mạng Hai lần vượt ngục, Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không

thể nào quên, Không còn đường nào khác, Đạp lên đầu thù, Nhân dân ta rất anh hùng… vừa giúp người đọc hiểu rõ những sự kiện lịch sử, vừa có tác

dụng giáo dục những truyền thống cách mạng Đó là những trang hồi ký cógiá trị trong văn học Việt Nam hiện đại Xét về phương diện quan hệ giữa tácgiả với các sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ vàphương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí Còn về phươngdiện tư liệu, về tính xác thực và không hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôilịch sử, tiểu sử khoa học Hồi ký gần với truyện, nhưng nếu viết về nhữngnhân vật tiêu biểu hay sự kiện tiêu biểu, hồi ký lại gắn liền với văn và sử Hồi

Trang 27

ký là một thể loại văn xuôi nghệ thuật vì thế nó cũng giống như các thể loạikhác, rất ít định hình về cấu trúc và định hướng thẩm mỹ Có những tác phẩmhồi ký gần với văn xuôi lịch sử, có những tác phẩm gần với tiểu thuyết Suycho cùng, sự giao thoa giữa các thể loại văn học là một điều tất yếu của quiluật phát triển văn học.

Tất cả những nhận định trên cho thấy, hồi ký là một thiên trần thuật vềdiễn biến các sự kiện theo dòng hồi tưởng, vừa chịu sự chi phối của loại hình

ký, hồi ký đồng thời vừa có những nét đặc thù

Thứ nhất, người viết hồi ký - người trần thuật phải là người trong cuộc,

kể lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ mà bản thân đã tham dự haychứng kiến, thậm chí có thể lấy chất liệu từ chính cuộc đời mình

Thứ hai, hồi ký đòi hỏi phải có tính xác thực và không hư cấu

Một điểm quan trọng của hồi ký là sự hiện diện của cái tôi tác giảtrong tác phẩm Đó là cái tôi tác giả hoặc nhân vật có vai trò là nhânchứng góp phần xác minh sự thật và tính chính xác của sự việc miêu tả,phản ánh

Như vậy, sự phát triển của thể hồi ký ngoài việc xác lập một vị tríxứng đáng của nó trên văn đàn còn có ý nghĩa đem đến cho văn học ViệtNam đương đại một sắc diện mới Hồi ký chỉ là một tiểu loại trong loạihình ký bên cạnh nhật ký, bút ký, tạp ký, du ký, ký sự, phóng sự, tuỳbút… “trong mỗi thể loại còn có nhiều thể nhỏ nữa” và “ranh giới giữacác thể cũng không tuyệt đối, luôn luôn có tình trạng chuyển hoá thâmnhập lẫn nhau” [37, 436] Chính sự giao thoa thể loại đó càng chắp thêmđôi cánh cho các tác phẩm hồi ký vươn ra những chân trời mới của việctái hiện hiện thực Nó, đồng thời, cũng thể hiện tính hiện đại, năng động,linh hoạt của thể loại ký nói chung trong thời kỳ mở rộng và đổi mới tưduy nghệ thuật này.Vì vậy, nắm được đặc trưng thi pháp thể loại hồi ký

có ý nghĩa trong việc tiếp cận, nhận diện một cách tương đối về đặc điểmhồi ký Anh Thơ

Trang 28

1.1.2 Sự phát triển vượt trội của thể tài hồi ký trong văn học Việt Nam

đương đại từ những năm 80 thế kỷ XX đến nay

Nền văn học Việt Nam trong mấy chục năm đầu thế kỷ XX, các thể loạivăn học không những chỉ tiếp tục phát triển hệ thống đã có mà nó còn tạo ramột hệ thống mới Cơ sở của hệ thống thể loại này, xét cho cùng là do vị trímới của nền văn học trong đời sống xã hội Những điều kiện xã hội cho sựtồn tại và phát triển của nền văn học mới chẳng những đòi hỏi văn học phải

có một hệ thống thể loại phù hợp mà còn tạo tiền đề cho hệ thống đó

Ở Việt Nam, hồi ký là một thể tài xuất hiện muộn hơn và còn khá mới

mẻ so với các thể loại văn học khác Hồi ký chỉ ra đời trên cơ sở ý thức xã hộinhất định, khi lịch sử chuyển sang thời kì cận đại Đây là thời kỳ mà việc viếtvăn, sáng tạo nghệ thuật trở thành một loại hình lao động nghề nghiệp Nghềvăn được coi trọng, được chuyên môn hóa, văn nghệ sĩ trở thành tầng lớp có

vị trí nhất định trong xã hội và chính họ đã trở thành đối tượng miêu tả củavăn học nghệ thuật

Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặctrưng thể loại, hồi ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song chỉ làmột tiểu loại trong loại hình ký Vì thế, phải sang thập kỉ 30 của thế kỷ XX,thể tài hồi ký mới có bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất, cơ bảnđịnh hình phong cách nghệ thuật Và nếu như các thể loại khác còn in đậmdấu ấn giao lưu, ảnh hưởng văn học phương Tây thì bản thân thể tài hồi ký lạimang tính nội sinh rõ nét

Từ những năm 30 thế kỷ XX, trong nền văn học Việt Nam hiện đại xuấthiện hàng loạt nhà văn, nhà báo với những tác phẩm phong phú về thể loại,

đa dạng về phong cách tạo nên sự đa hương, đa sắc Những đại biểu xuất sắc,tiêu biểu, những cây bút chủ lực sáng giá là nguồn cung cấp đối tượng chocác tác phẩm hồi ký, đồng thời cũng là người viết hồi ký văn học, góp phầnđưa lại một phong cách mới mẻ cho thể tài Càng về sau, đối tượng thể hiệncủa hồi ký càng được mở rộng Đối tượng thể hiện của hồi ký có thể là những

Trang 29

con người tiêu biểu trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như nhữngnhà khoa học, những nhà cách mạng, những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng.Chính họ đã góp phần tạo nên diện mạo chủ yếu của lịch sử thể tài hồi kýViệt Nam trước những năm 80 thế kỷ XX Chúng ta có thể kể đến các tác

phẩm như: Những ngày thơ ấu, Bước đường viết văn của tôi, Một tuổi thơ văn,

Những nhân vật ấy đã sống với tôi (Nguyên Hồng); Đời viết văn của tôi

(Nguyễn Công Hoan); Cỏ dại, Tự truyện (Tô Hoài); Nhớ nghĩ chiều hôm (Đào Duy Anh); Thời kỳ thanh thiếu niên (Đặng Thai Mai); Ngục Kontum (Lê Văn Hiến); Hai lần vượt ngục (Trần Đăng Ninh); Từ nhân dân mà ra (Võ Nguyên Giáp); Không còn con đường nào khác (Nguyễn Thị Định); Đạp lên đầu thù

(Hoàng Quốc Việt)… Như vậy, kể từ khi xuất hiện, cùng với quá trình vậnđộng và phát triển cho đến nay, hiện tượng văn học này ngày càng có sức hấpdẫn riêng của nó và được coi là một thể văn thực thụ

Hồi ký là thể loại ít phát triển ở thời kỳ đầu của nền văn học mới, nhưnglại rất phát triển ở thời kỳ sau, bao gồm một phạm vi rất rộng, cả trong lẫnngoài văn học Trong những năm cuối thập niên 80 thế kỷ XX, trên văn đànxuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của các nhà văn, tạo nên một mảng sinhđộng của đời sống văn học mà có thể nói rằng, trước đó chưa có Đó cũngchính là hệ quả của quá trình đổi mới nhất quán trên mọi lĩnh vực của đờisống xã hội, đồng thời cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị cũ.Nhiều sự kiện văn học quá khứ, nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đềphức tạp của quá khứ gần xa… đã được tái dựng theo một cách nhìn mới,không đơn giản một chiều Chúng ta có thể kể đến những tác phẩm hồi ký tạo

được ấn tượng mạnh như: Những năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan), Cát bụi

chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài), Núi Mộng gương Hồ (Mộng Tuyết),Nhớ lại một thời (Tố Hữu), Nửa đêm sự tỉnh (Lưu Trọng Lư), Bốn mươi năm nói láo

(Vũ Bằng), Hồi ký (Đặng Thai Mai), Hồi ký Song đôi (Huy Cận), Hồi ký (Nguyễn Hiến Lê), Nhớ lại (Đào Xuân Quý), Nằm giữa lòng đô thị (Sơn

Trang 30

Nam), Tình bạn tình thơ (Cẩm Lai), Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương (Ma Văn Kháng)…

Sự ra đời và để lại nhiều dư âm, giá trị cho thấy sự thành công vang dội

và sức hấp dẫn đặc biệt của thể tài này Điều này càng cho thấy niềm tin củangười đọc vào tính trung thực của nhà văn, vấn đề căn cốt của thể loại hồi ký.Trong tiến trình văn học, sự biến đổi tư duy giữa các thế hệ người cầmbút luôn luôn diễn ra như một tất yếu lịch sử Vào thời điểm này, đi đôi vớiviệc mở rộng nhận thức về con người cả bề rộng lẫn chiều sâu là nhu cầu hồitưởng lại quá khứ trong văn học Đó có thể là quá trình nhận thức lại chínhmình cùng với những suy tư chiêm nghiệm về nghề văn, về nghiệp văn, về

“người văn” Đó có thể là cái nhìn công bằng thoả đáng hơn về lịch sử thờiđại, những yếu tố làm nên khuôn mặt tinh thần văn hoá Việt Nam đã tạo điềukiện cho thể loại hồi ký ra đời và phát triển mạnh

Sự nở rộ của hồi ký trong những năm cuối thế kỷ XX ngày càng thu hút

sự quan tâm của độc giả Bên cạnh sự thể hiện cái tôi, sự khẳng định mình,hồi ký cũng là một cách thể hiện nhu cầu khám phá đời sống Các tác giả đãphác họa không chỉ chân dung diện mạo những con người cùng thời mà còn

là chân dung hiện thực của đất nước, dân tộc qua chiều dài thế kỷ - những vấn

đề tưởng như đã thuộc về quá khứ Nói cách khác, từ những trang viết có nộidung xã hội phong phú, tác phẩm hồi ký góp phần soi sáng hiện tại, đáp ứngđược nhu cầu nhận thức thực tại Chính vì thế, nhà thơ Huy Cận đã từng suynghĩ: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, cũng là san sẻ chongười trong thiên hạ vui buồn của mình và phần nào những trải nghiệm dọcđời đã sống”

Sự xuất hiện như một dòng chảy liên tục của những tác phẩm hồi ký từnhững năm 80 thế kỷ XX cho đến nay đã khẳng định sự tồn tại của một thểloại văn học, dù ra đời từ thời cổ đại Hi Lạp nhưng chỉ mới xuất hiện ởViệt Nam từ thế kỷ XX đang ngày càng trở nên phổ biến, trở nên gần gũi

và được dư luận quan tâm chú ý Đồng thời với sự xuất hiện của thể loại

Trang 31

văn học mới cũng là sự đổi mới quá trình tư duy nghệ thuật Với thể loạihồi ký, con người và cuộc sống được khám phá và nhìn nhận trong cự lygần với nhiều góc cạnh Các vấn đề thuộc quá khứ được nhìn nhận lại vàphân tích lý giải mới Người ta dám soi chiếu, nhìn thẳng vào ngay cảnhững góc khuất mà trước đây người ta không muốn nhắc đến hoặc cố tìnhche đậy Cho nên, với cái nhìn hướng nội, người viết hồi ký - người trầnthuật - “tôi” kể lại chuyện mình, chuyện người… chiêm nghiệm lại những

gì mình đã trải qua mà đương thời chưa có cơ hội để nói hoặc chưa có điềukiện để công bố

Sự góp mặt của dòng tác phẩm hồi ký đã chứng tỏ sự vận động khôngngừng của xu hướng dân chủ hoá trong văn học Bên cạnh sự hiện diện rõ nétcủa con người cá nhân trong các mối quan hệ đan xen phức tạp là sự đa dạngcủa thành phần tác giả Giờ đây, hồi ký không còn là tiếng nói của các vănnhân, chính khách, mà còn là lời giãi bày, chia sẻ của giới trí thức (các họcgiả văn học, lịch sử, âm nhạc, giáo sư, bác sĩ, luật sư…) về bao suy tư, trăntrở, thậm chí cả những uẩn khúc của bản thân trước những biến chuyển của

xã hội và thời đại…ngay cả những lời tâm sự của những người hết sức bình

thường với nhu cầu được bày tỏ, cảm thông như: Lê Vân - yêu và sống, Hành

trình xương thuỷ tinh, Lời hứa ngày mai, Không lạc loài, Cô bé nhìn mưa…

Chính sự xuất hiện liên tục và đa dạng ấy đã mang một luồng sinh khí mớicho nghệ thuật văn xuôi tự sự Việt Nam hiện đại

Giá trị đích thực của một tập hồi ký vượt lên trên cả nhu cầu tự nói vềmình và sự hấp dẫn nghệ thuật là vẻ đẹp nhân cách của người cầm bút Điềunày lý giải vì sao những hồi ký thật sự có giá trị thường là những sáng tác củanhững con người chân chính Đương nhiên đó sẽ là những tác phẩm văn họcluôn nhận được sự quan tâm, trân trọng của độc giả Bởi “hồi ký là một bứctranh về một thời đại, bên cạnh câu chuyện của mình, tác giả đi tìm hiểunhững mảnh đời khác” và “trong khi đi tìm hiểu cái tôi, tác giả viết tặngchúng ta một tác phẩm văn học” [66]

Trang 32

Viết hồi ký không phải là một việc dễ dàng, phải đảm bảo yêu cầu trungthực khách quan, khiêm tốn mà vẫn tạo được sự thu hút, gợi được thi vị chongười đọc Dù không thể không có cái tôi của mình nhưng tác giả vẫn tránhđược sự tự đề cao đáng trách Đó chính là nét đẹp bình dị mà cao thượng củangười cầm bút.

Tiếng nói của dư luận, của số đông độc giả là tiếng nói của những nhàphê bình trung thực nhất góp phần làm sáng tỏ chân giá trị của những tranghồi kí mang nét đẹp nhân cách cao thượng, tư duy khoa học, trung thực vàtrong sáng Chính cái nhìn khách quan của dư luận và thời gian sẽ đào thảinhững hồi ký được viết ra với dụng tâm đề cao cá nhân, quyền lực hoặc hàmchứa sự oán hận, trả thù

Mặc dù sự xuất hiện của thể tài hồi ký trong đời sống văn học Việt Namnhững thập kỷ qua vẫn chưa nhận được những phản hồi tích cực và xứngđáng Tuy nhiên, những cuộc phỏng vấn, trao đổi với các nhà văn, nhà nghiêncứu nhằm đi sâu tìm hiểu thể loại hồi ký, tự truyện đó cũng là một sự quantâm đúng mức và thể hiện nhu cầu khám phá giá trị đích thực của thể tài hồi

ký của tất cả mọi người

Sự xuất hiện của hồi ký trong văn học Việt Nam thời gian qua không chỉphản ánh nhu cầu của cái tôi cá nhân với khát vọng tự biểu hiện, mà còn đặt

ra một yêu cầu mới cho đời sống văn học - yêu cầu sàng lọc, nhận diện nhữnghồi ký đúng nghĩa của những con người chân chính

Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khám phá, cách tân về nội dung ý nghĩacũng như nghệ thuật biểu hiện và quan trọng nhất là với sự tự khẳng địnhkhông ngừng phong cách cá nhân của các tác giả hồi ký thời kỳ đổi mới,chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định sự thành công và chín muồi của thể loại

ký ở giai đoạn này

Làm nên độ “chín” của từng thể loại trong từng giai đoạn nào đó, ngoàiyếu tố tâm huyết và tài năng của mỗi tác giả còn cần đến sự mở cửa sự giảiphóng về mặt đời sống chính trị, tư tưởng trong xã hội và cả sự phù hợp ăn ý

Trang 33

của thể loại đó với tinh thần chung của thời đại Với tất cả những ưu thế và sựvững vàng đó, thể loại ký nói chung và thể tài hồi ký nói riêng sẽ còn cónhững bước tiến hơn nữa trong thế kỷ XXI Điều này đã được minh chứngtrong thời gian qua, công chúng đã nồng nhiệt đón nhận hàng loạt các tác

phẩm hồi ký, tự truyện: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia

cắt (Anh Thơ), Hồi ký Trần Văn Khê (Trần Văn Khê), Hồi ký Quách Tấn

(Quách Tấn), Hồi ức về cha tôi: Ưng Bình Thúc Gia Thị (Tôn Nữ Hỉ Khương), Viết về bè bạn, Rừng xưa xanh lá, Một thời để mất (Bùi Ngọc Tấn),

Những năm tháng quân ngũ (Hồ Bắc), Lưu Hữu Phước: Lên đàng (Lưu Hữu

Phước), Mất để mà còn (Hoàng Minh Châu), Hơn nửa đời hư (Vương Hồng Sến), Trọn đời vì nghĩa cả (Trần Tử Bình), Hồi ký (Trần Văn Giàu), Hồi ký

điện ảnh (Đặng Nhật Minh)…

1.2 Hồi ký Anh Thơ - một hiện tượng độc đáo trong văn học Việt Nam đương đại

1.2.1 Vài nét tiểu sử Anh Thơ

Anh Thơ (1919-2005) tên thật là Vương Kiều Ân, sinh ngày25/01/1919 tại thị trấn Ninh Giang, Hải Dương, quê ở thị xã Bắc Giang, tỉnhBắc Giang Bà vốn là một nhà thơ, nhà báo Việt Nam nổi danh từ thời tiềnchiến Ngay từ khi mới bắt đầu làm thơ, Anh Thơ còn có các bút danh khác:Tuyết Anh (thơ đăng trên báo Phương Đông của Lan Khai, 1936), HồngAnh Anh Thơ cũng là thành viên của tao đàn Anh Hoa, tao đàn thơ của cácthi sĩ sông Thương nức tiếng một thời cùng với Bàng Bá Lân, Mai Hương,Đào Dương…

Anh Thơ xuất thân trong một gia đình công chức nhỏ, có truyền thốngvăn thơ Nho học Ông ngoại bà là cụ phó bảng Kiều Oánh Mậu, nhà khảo cứu

văn học Việt Nam - người hiệu đính Truyện Kiều của Nguyễn Du rất nổi

tiếng, cũng là một phó bảng gốc Sơn Tây, được bổ làm đốc học Bắc Giang

Vì ghét Tây, cụ xin về hưu, đi lập ấp ở làng Lát thuộc huyện Việt Yên, tỉnhBắc Giang Bề ngoài mộ dân lập ấp khai hoang, nhưng bên trong mưu đồ làm

Trang 34

hậu cần cho nghĩa quân Đề Thám Cụ có làm thơ an ủi Đề Thám khi bị thấtthế và làm nhiều thơ bày tỏ nỗi lòng của mình trước vận nước, thơ về đạo làmngười Còn bà ngoại là người đánh đàn tì bà rất giỏi, từng được vua nhàNguyễn mời vào cung dạy đàn cho cung nữ Một nguồn ảnh hưởng nữa để bàquyết chí theo nghiệp văn chương đó là người cô ruột của mình Cô bà đẹpngười, học hết lớp nhì, biết tiếng Pháp, thích đàn và làm thơ Anh Thơ đếnvới văn học bằng những tác phẩm trong tủ sách của người cô rất giỏi thơ phú,cầm kỳ này.

Thân phụ của nữ sĩ là cụ Vương Đan Lộc, đỗ tú tài, có ra làm thừa pháisong cụ là một nhân sĩ yêu nước Ông phải thuyên chuyển nhiều nơi nên bảnthân Anh Thơ cũng phải đổi trường học từ Hải Dương sang Thái Bình rồi vềlại Bắc Giang mà chưa qua bậc tiểu học Theo cụ tú Lộc, họ Vương trước kia

là họ Đặng, con cháu của trạng nguyên Đặng Công Chất, gốc Phù Đổng Đếnthời Trịnh Tông, phái Tuyên phi Đặng Thị Huệ (dòng dõi của Đặng CôngChất) bị thanh trừng, các cụ họ Đặng mới đổi sang họ Vương Thuở nhỏ, AnhThơ không được đi học nhiều ở nhà trường Nhưng với lòng say mê, ham thíchvăn học, được tiếp nhận những nguồn ảnh hưởng văn học dân tộc và truyềnthống gia đình, Anh Thơ sớm làm thơ và có được nhiều tác phẩm để đời

Quê nội của Anh Thơ ở thị xã Phủ Lạng Thương, bên bờ con sôngThương hiền hoà, thơ mộng Đây cũng là một trong những hình ảnh xuất hiệnnhiều trong sáng tác của bà, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng đến conđường thi ca của nữ sĩ

Anh Thơ bắt đầu làm thơ năm mười hai tuổi Sau khi nghỉ học, bà ở nhàphụ giúp mẹ chăm sóc đàn em Là chị lớn trong nhà, Anh Thơ phải lo mọiviệc Nhưng có lẽ công việc mà bà yêu thích nhất là mỗi sáng đi chợ quađường cái quan rải đá có hoa phù dung nở trắng tường gạch, rồi những hàngtre và cánh đồng thẳng tắp trước khi dẫn đến chợ Những hình ảnh trữ tình vàthơ mộng chân chất thôn quê ấy luôn ám ảnh trong tâm trí của bà Trongnhiều tự sự bà nói rằng, tuổi thơ của mình đã được may mắn gắn liền với

Trang 35

ruộng đồng, sông nước quê hương, lại được nuôi dưỡng trong một gia đìnhyêu thi phú, âm nhạc.

Dù rất mê làm thơ nhưng bà bị thân phụ cấm một cách gắt gao, quyết liệt.Bước qua sự ngăn cấm của gia đình, vào năm 16 tuổi, Anh Thơ đã lén cha làm

thơ đăng trên các báo: Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ năm, Ngày nay, Phụ nữ… Từ

đó Anh Thơ đã dấn bước chính thức vào ngôi nhà chung của Thơ mới với niềm

háo hức của tuổi thanh xuân Đặc biệt năm 1939, Anh Thơ được Giải thưởng

của Tự lực văn đoàn với thi phẩm Bức tranh quê và bắt đầu nổi danh Anh Thơ

được thi sĩ và công chúng khắp nơi ngưỡng mộ bởi bà là nữ sĩ đầu tiên nhậnđược vinh dự này Sau đó, Anh Thơ đã cùng với thi sĩ Quỳnh Dao làm biên tập

cho tờ báo Đông Tây Mặc dù chịu trách nhiệm biên tập mảng thơ nhưng vì báo

hiếm người, Anh Thơ đã kiêm luôn viết văn, làm phóng sự Với tôn chỉ phục vụcho văn học, tờ báo đã sớm bị kiểm duyệt Sau thời điểm đó, Anh Thơ đã phảibuôn đay, buôn muối vất vả, viết một số bài đăng rải rác trên các tờ báo… Năm

1943, Anh Thơ xuất bản cuốn tiểu thuyết Răng đen viết về thân phận người phụ

nữ, in chung tập thơ Xưa với thi sĩ Bàng Bá Lân Năm 1944, nữ sĩ có tên trong tập thơ Hương xuân, tập thơ của các nữ sĩ Việt Nam đầu tiên gồm bốn nhà thơ

Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết

Gần đến Cách mạng tháng Tám, Anh Thơ tìm đến Mặt trận Việt Minh,tham gia khởi nghĩa ở Bắc Giang và sau đó tham gia kháng chiến chốngPháp Bà từng là bí thư Huyện hội Phụ nữ bốn huyện: Việt Yên, Lục Ngạn,Bắc Sơn, Hữu Lũng Sau đó bà làm Thường vụ Tỉnh hội Phụ nữ hai tỉnh BắcGiang, Lạng Sơn, từng làm báo, làm cứu thương, dạy bình dân học vụ, làmcông tác văn hoá thông tin, văn công Từ năm 1975, bà là uỷ viên Ban Chấphành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I, khoá II) Từ 1971-1975, Anh Thơ công

tác tại tạp chí Tác phẩm mới và là uỷ viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học

Nghệ thuật Việt Nam Những điều kiện, hoàn cảnh sống và sáng tác ấy đãảnh hưởng nhiều đến công tác văn học của Anh Thơ Tình yêu quê hương đấtnước đậm sâu tạo nên nét riêng trong thơ Anh Thơ

Trang 36

Thuở sinh thời, với tài thơ của mình, thi sĩ Nguyễn Bính đã thầm yêu vàmạnh dạn tìm gặp, nhưng theo bà, giữa thơ và người có một khoảng cách vìthế mối lương duyên giữa hai nhà thơ lối “chân quê” thời bấy giờ mãi mãi chỉ

là giai thoại Đặc biệt, nữ sĩ đã có những giây phút đẹp nhất với thi sĩ CẩmVăn, chủ Nhà xuất bản Nguyễn Du, hai người đã từng làm lễ đính ước vớinhau Nhưng số phận trớ trêu, hạnh phúc không thành Tiếp sau đó là nhữngcuộc tình đầy trắc trở, oái oăm Mãi đến năm 36 tuổi, bà mới kết hôn với ôngBùi Viên Dinh, một bác sĩ miền Nam tập kết ra Bắc Anh Thơ rất phục cái tài,trọng cái tâm, thương cái nết của chồng Hai người đã sống với nhau rất hạnhphúc Mặc dù ông không có tâm hồn của một nhà thơ nhưng chính ông làngười rất đồng cảm với tâm hồn thơ của bà và giúp bà rất nhiều trong sựnghiệp văn học Anh Thơ đã ghi nhớ mãi hình ảnh cảm động: khi ông quađời, trên băng máy chữ còn găm bản thảo bài thơ của bà mà chính ông đánh

dở dang, còn vương hơi ấm của ông

Thời gian sau khi người chồng qua đời, Anh Thơ dù tuổi cao, sức yếunhưng vẫn không ngừng sáng tác và xuất bản nhiều cuốn sách dày dặn như

tập Lệ sương, tập thơ khóc chồng Đặc biệt là cuốn hồi kí Anh Thơ, hơn một nghìn trang gồm ba tập Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia

cắt với tâm sự: “Còn sống thêm ngày nào thì còn viết ngày đó”.

Vẫn biết đời người là hữu hạn, nhưng Anh Thơ đã biến cái hữu hạnbằng cái vô hạn, đó chính là để lại cho đời những tác phẩm văn học quý giá,như lời nhà thơ Hữu Thỉnh đọc trong điếu văn đưa tiễn nữ sĩ về nơi thiên cổ:

“Những trang sách của bà đang tiếp tục sống với bạn đọc, kể lại với hậu thế

về một người phụ nữ tài năng, giàu nghị lực, một hồn thơ nồng ấm và sâunặng với quê hương, đất nước”

Đầu năm Ất Dậu, nền thơ ca hiện đại của chúng ta phải dồn dập chịunhững tổn thất quá lớn Vừa chia tay với Huy Cận, Đoàn Văn Cừ, bây giờ lại

là Anh Thơ, những đại biểu cuối cùng của phong trào Thơ mới Ngày

14/03/2005, Anh Thơ đã về cõi vĩnh hằng Sự ra đi của bà để lại bao tiếc nuối

Trang 37

bởi bà là một trong số ít những gương mặt nữ làm thơ từ trước Cách mạngtháng Tám, là người có sức bền bỉ và dồi dào hơn cả Những thi phẩm của bà

có sức khơi gợi trong lòng mỗi người tình cảm yêu mến, gắn bó với làngxóm, quê hương, đồng thời có ý thức bảo vệ những giá trị văn hoá tốt đẹp từbao đời

1.2.2 Sự nghiệp văn học của Anh Thơ

Vốn là một người yêu thích văn thơ, Anh Thơ đến với thơ khoảng năm

1936, giai đoạn Thơ mới đang thời kì vàng son Từ đó bà không ngừng miệtmài, tìm tòi sáng tạo, cống hiến nghệ thuật cho đến khi từ giã cõi đời Sựnghiệp văn chương của Anh Thơ xuyên suốt hai giai đoạn: trước và sau Cáchmạng tháng Tám Sáng tác từ rất sớm và rất bền bỉ, Anh Thơ là một trong số

rất ít nữ sĩ tiền chiến có khối lượng các sáng tác khá đồ sộ như: Bức tranh

quê, (thơ, 1941); Xưa (thơ, in chung, 1942); Răng đen (tiểu thuyết, 1943); Hương Xuân (thơ, in chung 1944), Kể chuyện Vũ Lăng (truyện thơ, 1957); Theo cánh chim câu (thơ, 1960); Đảo ngọc ( thơ, 1964); Hoa dứa trắng (thơ,

1967); Mùa xuân màu xanh (thơ, 1974); Quê chồng (thơ, 1979); Lệ sương

(thơ, 1995), Từ bến sông thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (hồi ký

văn học, in chung 2002)

Trước Cách mạng tháng Tám, Anh Thơ là cộng tác viên và đã có nhiều tác

phẩm đăng trên nhiều tạp chí xuất bản tại Hà Nội như Tiểu thuyết thứ năm,

Ngày nay, Hà Nội báo, Phụ nữ, Bạn đường…

Sau Bức tranh quê, Anh Thơ làm báo Đông Tây, cùng với thi sĩ Quỳnh

Dao Có thể nói, Anh Thơ là một trong số rất ít phụ nữ Việt Nam đầu tiêntham gia làm báo, làm xuất bản Sau chuyến đi làm phóng sự về các bà vợcủa các nhà văn nổi tiếng, Anh Thơ bắt đầu hướng ngòi bút về những thânphận phụ nữ và tìm thấy những cảm hứng sâu xa bắt nguồn từ chính cuộc đờimình Dường như thơ không diễn tả hết những gì đang chứa chất, bà viết văn

xuôi Tiểu thuyết Răng đen lấy mẫu nhân vật chính bà mẹ suốt đời nuôi chồng, nuôi con Đã cùng bạn gái viết chung cuốn tiểu thuyết Bến Ly Giang

Trang 38

kể chuyện những người con gái ở bến sông tìm mọi cách để chia ly với cảnh

bế tắc (vì thế gọi tên bến là Ly Giang) nhưng gặp không ít lúng túng trong

việc tìm được đoạn kết của sách, vì không biết sau khi rời bến cũ các cô gái

sẽ đi đến bến bờ nào Về sau Bến Ly Giang cũng không được in vì bị kiểm duyệt Có lẽ vì thế mà sau này Anh Thơ quyết định ra thiên hồi kí Từ bến

sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt kể lại chính cuộc đời mình

đã làm được những gì mà các nhân vật trong Răng đen và nhất là Bến Ly

Giang chưa làm được

Sau nhiều trải nghiệm, chúng ta thấy, tình yêu lớn nhất và sự nghiệp lớnnhất của bà là thơ Bà là một phụ nữ có thiên bẩm về thơ và là nhà thơ nữxuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại Cùng với Đoàn Văn Cừ, NguyễnBính…Anh Thơ tạo nên vẻ đẹp chân quê Việt Nam mà Hoài Thanh, Hoài

Chân tâm đắc nhất trong Thơ mới Đó là cách nhìn nhận vừa dân tộc vừa hiện

đại Điều đó ngày nay càng được xem trọng và rất cần thiết

Điều đáng quý ở nữ sĩ là bà không tự hào hoặc lớn tiếng tuyên bố về lý

do làm thơ rất sang trọng và cao ngạo như nhiều nhà thơ khác Lý do đến vớithơ của bà rất thật và cũng rất giản dị: “Tôi làm thơ chỉ vì buồn Cha tôi dạycác anh em trai của tôi làm thơ, tôi ngồi trong buồng nghe lỏm được và làmtheo thôi Phận nữ nhi trong một nhà nho truyền thống hiển nhiên phải tậpgương sáng công dung ngôn hạnh, phải thấm nhuần đạo tam cương ngũthường chứ không phải học làm thơ” [86] Thực tế, Anh Thơ đã phải rất canđảm vượt qua sự hà khắc và gia phong để đến với thơ, đến với văn chương.Chính vì lẽ đó, Anh Thơ có quan niệm: “Thơ phải ngắn gọn, không nên rườm

rà, phải nói ít viết ít mà người đọc lại hiểu nhiều Thơ hay phải là những gìtinh tuý, vĩnh cửu nhất từ trong tâm hồn con người Người làm thơ cũng đừngcầu kì câu chữ quá mà khiến cho người đọc khi đọc rồi cứ phải suy luận Thơ

là hào quang soi rọi những bước đường kháng chiến gian khổ nhất Thơ giảiphóng được cuộc đời bình lặng của lớp người con gái dưới thời phong kiến.Tôi yêu thơ như yêu một lẽ sống ý nghĩa nhất trong cuộc đời tôi” [53] Ngay

Trang 39

cả khi Anh Thơ chưa được giác ngộ, trước Cách mạng, bà đã thấy: “Tôi chưa

có ý thức văn nghệ là phục vụ giai cấp, là giáo dục quan điểm, lập trường xâydựng Nhưng tôi không thích những bài thơ tả cảnh ăn chơi truỵ lạc và đưangười ta đến cảnh sống tiêu mòn chí khí” [74, 168] Có lẽ xuất phát từ nhữngsuy nghĩ như vậy mà trước Cách mạng tháng Tám, Anh Thơ không giống nhưnhiều nhà thơ đương thời khác, lấy tình yêu, lấy sự uỷ mị của tình cảm, tiếnggào thét của ái tình làm nguồn sáng tác Ngược lại, Anh Thơ viết về thiênnhiên làng quê, về nếp sống phong tục làng quê Vì thế, với tài năng và cátính sáng tạo của mình, bà đã tạo nên trong thơ mình một nét riêng đặc biệtđộc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân của khuynh hướng “chân quê”, đồng thờichiếm một vị trí khá vững trên thi đàn

Sau Cách mạng tháng Tám, Anh Thơ mở rộng đề tài và nguồn cảmhứng sáng tác Cũng giống như một số nhà thơ tiền chiến khác, bà xoayngược cái nhìn hướng vào nội tâm mình để khám phá thế giới sang cái nhìnhướng ra ngoại cảnh để hân hoan chào đón những con người cụ thể, nhữngđịa danh cụ thể Thơ bà nói nhiều đến những nét đẹp cuộc sống mới, nhữngcon người mới, chủ nghĩa anh hùng của con người Việt Nam Vì thế, sáng táccủa bà đóng góp lớn vào nền văn học nước nhà, và bà đã đạt được nhiều giải

thưởng như: Giải thưởng Tự lực văn đoàn (1939) với tập thơ Bức tranh quê,

Tặng thưởng của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 1956 với

truyện thơ Kể chuyện Vũ lăng, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật

năm 2001 và nhiều huân huy chương khác

1.2.3 Hồi kí trong sự nghiệp văn chương của Anh Thơ

Anh Thơ tham gia trong làng văn từ những năm ba mươi, với một hồnthơ tự nhiên mang đậm nét hương đồng gió nội của một vùng quê thơ mộng,bên bến sông Thương Bên cạnh đó bà còn được biết đến với tư cách của mộtnhà báo viết truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, kịch thơ, phê bình văn học.Những năm tuổi cao, già yếu Anh Thơ vẫn rất tâm huyết, miệt mài viết hồi

ký Bà đã cho ra đời bộ hồi ký văn học 1.111 trang, gồm ba tập Từ bến sông

Trang 40

Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt Bộ hồi ký được manh nha, khởi

thảo từ năm 1970 Có lẽ đây là lần đầu tiên trong văn học nước ta có một bộsách dày dặn như thế kể chuyện một đời văn chương gắn với từng bước đilịch sử Điều đáng trân trọng hơn đây chính là cuộc đời của một nhà văn nữchịu nhiều thăng trầm với lịch sử cách mạng

Đọc hồi ký của Anh Thơ, ta bắt gặp rất nhiều trang kể chuyện thân phậnphụ nữ, những nhân vật phụ nữ, những người chìm đắm trong biển khổ,những người vùng vẫy cố tìm lối thoát mà không tìm ra, đành cam chịu.Những người yêu văn học nghệ thuật cũng sẽ thích thú khi gặp trong hồi kýnày nhiều văn nghệ sĩ tài danh trong cuộc sống thường ngày của họ: từ lớpđàn anh đàn chị như Xuân Diệu, Tú Mỡ, Nguyên Hồng, Thế Lữ, Song Kim,Vân Đài, Hằng Phương, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư nghiêm, Nguyễn XuânKhoát… đến lớp trẻ sau này như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn…

Anh Thơ có một sức nhớ kỳ diệu, các cảnh đời nguyên vẹn, xù xì cứnhư thế đi ra từ cõi nhớ, không dàn dựng lớp lang, không trau chuốt Chính vìthế hồi ký của bà có một sức hấp dẫn riêng

Đọc hồi ký Anh Thơ, bạn đọc sẽ được chia sẻ những gì đã diễn ra khi bà

mới bắt đầu tập làm thơ, khi bà viết 30 bài thơ trong tập Bức tranh quê trong

ba mươi ngày, trong hoàn cảnh bị cha cấm đoán gắt gao Anh Thơ kể lại tỉ mỉnhững ngày đọc truyện, đọc báo nuôi ham muốn văn chương Đi chợ, đi bộ,làm hàng xáo nuôi cái năng khiếu quan sát mà chính ngay tác giả cũng khôngbiết đó là cái kiểu bẩm sinh ấy; Những ngày học luật thơ Đường trong sách

Văn đàn bảo giám lấy trộm của cha, và những bài thơ đầu tiên được bạn bè

khen, được ông chủ báo Đông Tây “bói cho là sẽ thành thi sĩ”… Bà đã trởthành một gương mặt nổi bật của tao đàn Anh Hoa ở thị xã Bắc Giang và têngọi “nàng thơ áo trắng sông Thương” cũng được bạn bè dành tặng riêng cho

bà từ đó

Đọc hồi ký bạn đọc sẽ thấy được những thăng trầm của một nữ sĩ trongphong trào Thơ mới hoà nhập, chuyển hướng như thế nào khi đến với cách

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1994), “Về lý thuyết hiện đại hoá văn học”, Tạp chí Văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lý thuyết hiện đại hoá văn học”, Tạp chí "Vănhọc
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1994
2. Vũ Tuấn Anh (1999), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phươngdiện thể loại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 1999
4. Lại Nguyên Ân (chủ biên, 2005), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồngốc đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Phạm Đình Ân (2001), “Nữ sĩ Anh Thơ làm thơ về tình nghĩa vợ chồng”, http://Baobacgiang.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sĩ Anh Thơ làm thơ về tình nghĩa vợchồng”
Tác giả: Phạm Đình Ân
Năm: 2001
7. Lê Bảo (1999), Thơ Việt Nam tác giả, tác phẩm lời bình, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tác giả, tác phẩm lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Bakhtin.M (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu), Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin.M
Năm: 1992
9. Bakhtin.M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki
Tác giả: Bakhtin.M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
10. Đỗ Chu (2004), Tản mạn trước đèn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn trước đèn
Tác giả: Đỗ Chu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2004
11. Lê Thị Hiếu Dân (2010), “Những nữ sĩ tài danh trong lịch sử, Anh Thơ nữ sĩ Từ bến sông Thương”, http://baocamau.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nữ sĩ tài danh trong lịch sử, Anh Thơnữ sĩ Từ bến sông Thương”
Tác giả: Lê Thị Hiếu Dân
Năm: 2010
12. Đức Dũng (1994), “Thử phân biệt ký văn học và ký báo chí”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử phân biệt ký văn học và ký báo chí”, Tạp chí"Văn học
Tác giả: Đức Dũng
Năm: 1994
13. Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc (2008), Thơ mới trong trường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong trường phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
14. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau 1975”, Nghiên cứu Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau 1975”, "Nghiêncứu Văn học
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
15. Phan Cự Đệ (1961), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1961
16. Phan Cự Đệ (1966), Phong trào Thơ mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1966
17. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: NxbGiáo dục
18. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn, 2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. . Lê Bá Hán, Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng (1998), Tinh hoa Thơ mới- thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới-thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán, Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w