Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 BLTTDS 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 trên cơ sở kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và thể chế hóa chiến lược cải cách tư ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện với
sự hướng dẫn khoa học của PGS - TS Nguyễn Ngọc Điện Mọi tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn đầy đủ Tôi xin chịu trách nhiệm danh dự về công trình nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ
TRẦN CHÍ TRUNG
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03
tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục
giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”
của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ
sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự
Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP
- Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13
tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu
mẫu trong tố tụng dân sự
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái quát về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 7
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 9
1.1.3 Phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự sơ thẩm 12
1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 14
1.2 Quy định pháp luật về hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 15 1.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử 15
1.2.2 Một số công việc Thẩm phán tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 17
1.2.2.1 Xác định tư cách đương sự 17
1.2.2.2 Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự 18
1.2.2.3 Thông báo thụ lý vụ án 18
1.2.2.4 Xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án 19
Trang 61.2.2.5 Họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 27 1.2.2.6 Ban hành các quyết định tố tụng làm kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 37 2.1 Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự của tand cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh bình định 37 2.2 Những tồn tại, hạn chế của thẩm phán trong áp dụng pháp luật chuận bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 40
2.2.1 Ban hành văn bản áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng hình thức quy định 40 2.2.2 Ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không đúng thẩm quyền, trái pháp luật 42 2.2.3 Ban hành quyết định tạm đình chỉ trái pháp luật 44 2.2.4 Không ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn 45 2.2.5 Không xem xét giải quyết khiếu nại của đương sự 46
2.3 Những bất cập, vướng mắc của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 46
2.3.1 Bất cập về thời hạn chuẩn bị xét xử 46 2.3.2 Bất cập về tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án 48 2.3.3 Bất cập về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị của những người tiến hành tố tụng 50
Trang 72.3.4 Bất cập trong việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động TTDS 50
2.3.5 Bất cập về biên bản hòa giải 51
2.3.6 Vướng mắc về xác định thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong khoảng thời gian từ sau khi Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm 51
2.3.7 Bất cập về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án 54
2.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 55 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng muốn bản thân, gia đình và mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, không mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, xã hội luôn vận động, phát triển không ngừng, làm nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa con người với nhau cần phải giải quyết Khi tranh chấp dân sự xảy
ra, các bên tự thỏa thuận giải quyết; trường hợp không tự giải quyết được thì họ tìm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết và mong muốn lớn nhất của họ là được giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 “Tòa án nhân dân (TAND)
là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền
tư pháp; Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015)
được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 trên cơ sở kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và thể chế hóa chiến lược cải cách tư pháp, Hiến pháp năm
2013, theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, trong đó quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự (TTDS) cũng như trình tự, thủ tục yêu cầu, khởi kiện,… để TAND giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Để bảo đảm cho việc xét xử vụ án dân sự được diễn ra suôn sẻ, kịp thời theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật thì công tác chuẩn bị xét xử phải luôn được coi trọng Chính vì vậy mà trình tự, thủ tục, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự phải được quy định chặt chẽ trong luật Theo đó, Điều 203 BLTTDS
2015 quy định: “Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:
Trang 9a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm
b khoản này
Trong thời hạn nêu trên, Thẩm phán phải thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật, như: lập hồ sơ vụ án; xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ; … và tùy trường hợp mà Thẩm phán ra một trong các quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đưa vụ án ra xét xử Trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa để xét xử; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng
Quá trình triển khai thi hành BLTTDS 2015 thời gian qua nhìn chung khá thuận lợi Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng vẫn còn một số quy định bất cập, trong đó có các quy định về thời hạn, thủ tục chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy, để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử thì phải tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để phát hiện những vướng mắc, bất cập, đưa ra giải pháp hoàn thiện và thực hiện chúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự theo pháp luật tố tụng” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, người viết nhận thấy trước và sau khi BLTTDS 2015 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, như:
Dưới hình thức luận văn, có một số công trình khi nghiên cứu đề cập đến công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như:
- Đoàn Đức Lương (1998), Thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Công trình viết theo định hướng nghiên cứu, nghiên cứu các thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự
và thực tiễn áp dụng, kiến nghị hoàn thiện luật
- Nguyễn Thị Tuyết Thanh (2015), Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Công
trình nghiên cứu các quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự qua các thời
kỳ ở Việt Nam và một số nước, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật, như: tạm đình chỉ theo yêu cầu hoặc theo thỏa thuận của đương sự; tạm đình chỉ vụ án do người thực hiện trợ giúp pháp lý không thể tham gia tố tụng mà không
Dưới hình thức tạp chí chuyên ngành luật có các bài viết có nội dung liên quan đến đề tài như:
Trang 11- Bùi Thị Huyền (2016), “Thời hạn sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí luật học, số 03/2016, tr.31-37 Bài viết
đưa ra đề xuất hướng dẫn các quy định của Bộ luật TTDS về thời hạn sơ thẩm vụ án dân sự, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật tố tụng
- Trần Anh Tuấn (2016), “Tính hợp lý của thời hạn TTDS”, Tạp chí luật học, số 10/2016, tr.73-85 Bài viết luận giải về tính hợp lí của thời hạn tố tụng thông
qua bản chất và cách xác định thời hạn tố tụng; mối liên hệ giữa chất lượng, hiệu quả của thủ tục và thời hạn tố tụng; giải pháp kiểm soát tính hợp lí của thời hạn tố tụng trong lập pháp nhằm bảo đảm quyền được xét xử trong một thời hạn hợp lí của đương sự
Có thể nói, cho đến nay chưa thấy công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng hiện hành Mặt khác với quy định của BLTTDS 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm
2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, có thể khẳng định công trình nghiên cứu hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
BLTTDS 2015 chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên toà của đương sự, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật TTDS tuân thủ đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, khắc phục được một số bất cập lớn của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Tuy nhiên, quy định về thời hạn, thủ tục chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự hiện chưa có hướng dẫn rõ nên vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trên cơ sở đó làm rõ những hạn chế, vướng mắc và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, đáp ứng yêu cầu cải
Trang 12cách tư pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nội dung chủ yếu sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng hiện hành
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên địa bàn tỉnh Bình Định, tìm ra những hạn chế, bất cập, vướng mắc để từ
đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuẩn bị xét xử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng
Phạm vi nghiên cứu: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng là một vấn đề cơ bản và quan trọng của TTDS, đề tài có nội dung nghiên cứu rộng Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Thẩm phán TAND cấp huyện, như: Thời hạn chuẩn bị xét xử; xác định tư cách đương sự; xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự; xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ những tình tiết khách quan của
vụ án; họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ban hành các văn bản tố tụng làm kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử Những vấn đề khác như: lập hồ sơ vụ án và một số nhiệm vụ khác của Thẩm phán tuy có ý nghĩa
và tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án nhưng không ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nên không được nghiên cứu trong đề tài này
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quan điểm
Trang 13của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng để hoàn thành mục tiêu của đề tài Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu tại tiểu mục 1.1.1 chương 1 để thể hiện quá trình phát triển, quy định của pháp luật trong từng thời kỳ đối với thuật ngữ vụ án dân sự Phương pháp thống kê được sử dụng tại mục 2.1 chương 2 để thống kê số liệu các vụ, việc dân sự được Tòa án cấp
sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Bình Định thụ lý và giải quyết từng năm Phương pháp so sánh được sử dụng ở tiểu mục 1.1.2 chương 1 và mục 2.1, 2.3 chương 2 để so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định pháp luật, thực tiễn thụ lý
và giải quyết án của Tòa án cấp sơ thẩm Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở các mục 2.3, 2.4 chương 2 và phần kết luận của từng chương để phân tích, tổng hợp các vấn đề, đưa ra quan điểm cá nhân về từng vấn đề
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự và kiến nghị hoàn thiện
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái quát về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Theo pháp luật TTDS Việt Nam, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm Vậy, chuẩn bị xét xử, vụ án dân sự, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là gì?
Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2006, các thuật ngữ
“chuẩn bị”, “xét xử”, “sơ thẩm” và “dân sự” được định nghĩa như sau: Chuẩn bị là làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì; xét xử là xem xét và xử các vụ án; sơ thẩm là xét xử một vụ án ở cấp xử thấp nhất; dân sự là việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình,… do Tòa án xét xử1
Theo từ điển Luật học của nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội năm
1999, thuật ngữ “chuẩn bị xét xử” được định nghĩa như sau: Chuẩn bị xét xử là tiến hành những công việc cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử2
Thời kỳ Pháp thuộc đến những năm đầu thập niên 50 thế kỷ XX, những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được chia làm 02 loại là việc hình và việc hộ Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 24 tháng 01 năm
1946 Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 13-SL về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán quy định việc dân sự và thương sự (Điều 3, Điều 17) Ngày 22 tháng 5 năm
1950 Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật
tố tụng sử dụng thuật ngữ “vụ kiện về dân sự” (Điều 9); theo quy định này, thuật
Trang 15ngữ “vụ kiện về dân sự” cũng có thể được gọi là “việc kiện về dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu Tòa án giải quyết; từ “vụ” và “việc” trong trường hợp này là tương đồng, có thể dùng “vụ kiện” hoặc “việc kiện” Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức TAND năm 1960 quy định: “TAND xét xử những vụ án hình sự và dân sự để trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân”3 Như vậy, thuật ngữ “vụ án dân sự” được bắt đầu
sử dụng chính thức trong văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1960 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988, các thuật ngữ “vụ án dân sự”, “việc kiện dân sự” hay
“tranh chấp dân sự” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng để chỉ những loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của TAND Khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 được ban hành thì các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa án mới sử dụng thống nhất thuật ngữ “vụ
án dân sự”; vụ án dân sự được hiểu là những tranh chấp hay yêu cầu liên quan đến tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động (Điều 10) Sau khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 được ban hành thì khái niệm vụ án dân sự được loại trừ những tranh chấp về kinh tế, lao động, chỉ còn những vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình
Khái niệm vụ việc dân sự được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Nội dung của khái niệm vụ việc dân sự bao gồm hai vấn đề: Vụ
án dân sự và việc dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là văn bản đầu tiên có
sự phân biệt rõ ràng về bản chất pháp lý của khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự
để làm cơ sở cho việc định ra quy trình tố tụng phù hợp cho Tòa án áp dụng giải quyết tranh chấp, yêu cầu Trên cơ sở kế thừa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014, BLTTDS 2015 xây dựng hoàn chỉnh nội hàm của khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự Theo đó, các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đều được gọi chung là vụ án dân sự4
; còn việc dân sự là việc
Trang 16cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động5
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm, bắt đầu từ khi Thẩm phán thụ lý vụ án và kết thúc bằng một trong những quyết định của Thẩm phán: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ
án ra xét xử Trong giai đoạn này, Thẩm phán và những người tham gia tố tụng tiến hành những công việc cần thiết để làm rõ sự thật khách quan, đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét
xử thì trong thời gian chuẩn bị mở phiên tòa, Tòa án chỉ làm các thủ tục tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi giấy báo tham gia phiên toà, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát trong trường hợp Viện kiểm sát phải tham dự phiên toà
Như vậy, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa
án cấp sơ thẩm tiến hành từ thời điểm Thẩm phán thụ lý vụ án và thường kết thúc khi Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử tại phiên tòa được suôn sẻ
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
* Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng được bắt đầu từ khi Thẩm phán thụ lý vụ án và kết thúc khi Thẩm phán ra một trong bốn quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ án ra xét xử
Từ khi Thẩm phán ra quyết định thụ lý vụ án dân sự, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự Sau
5
Điều 361 Bộ luật TTDS năm 2015
Trang 17khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành các thủ tục: Thông báo việc thụ lý; phân công Thẩm phán giải quyết vụ án; lập hồ sơ vụ án; xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ; ra các quyết định tố tụng quan trọng; nghiên cứu hồ sơ vụ án; triệu tập người tham gia tố tụng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác để mở phiên tòa sơ thẩm Những vụ án pháp luật quy định không được tiến hành hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc hòa giải không thành, Tòa án phải hoàn thiện hồ sơ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; tuy nhiên, công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cũng có thể kết thúc khi trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ra các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
* Chuẩn bị xét xử là hoạt động tố tụng rất đa dạng, phức tạp do Tòa án cấp
sơ thẩm tiến hành
Tính đa dạng của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thể hiện là hoạt động phục vụ cho việc xét xử được diễn ra suôn sẻ, nên trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án phải tiến hành rất nhiều hoạt động để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành các công việc cần thiết để lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, như: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu; hòa giải, ra các quyết định tố tụng
Tính phức tạp của hoạt động chuẩn bị xét xử thể hiện ở bản chất của vụ án dân sự là tranh chấp, phạm vi giải quyết thường không ổn định, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện Các công việc mà Thẩm phán phải tiến hành ở
Trang 18giai đoạn này rất phức tạp như: Xác minh, thu thập chứng cứ, định giá tài sản, thẩm định tại chỗ
* Hòa giải là hoạt động tố tụng thông thường Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự Theo đó, Tòa án với vai trò là người trung gian, có trách nhiệm hòa giải, giúp đỡ các bên tranh chấp tìm kiếm giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt tranh chấp, bất hòa
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên đương
sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS 2015 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Việc hòa giải phải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội6
án sau này Nếu việc chuẩn bị được thực hiện tốt thì phiên tòa sơ thẩm diễn ra suôn
sẻ, thuận lợi, hạn chế được tình trạng hoãn phiên tòa do các nguyên nhân chủ quan cũng như hạn chế được việc đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị Ngoài
6
Điều 205 Bộ luật TTDS
Trang 19ra, việc chuẩn bị xét xử thực hiện tốt cũng sẽ giúp cho Tòa án cấp phúc thẩm xét lại kháng cáo, kháng nghị được nhanh chóng, thuận lợi hơn
1.1.3 Phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự sơ thẩm
Về khái niệm: Các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đều được gọi chung là vụ án dân sự Còn việc dân sự
là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động7 Để phân biệt vụ việc nào là vụ án dân sự hay việc dân sự, thông thường người ta dựa vào các tiêu chí về: tranh chấp xảy ra, hình thức đơn, mức nộp án phí, lệ phí, tư cách đương
sự tham gia tố tụng, cách thức giải quyết, thời hạn giải quyết, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất để phân biệt vụ án dân sự và việc dân
sự là có yếu tố tranh chấp hay không Vụ án dân sự phát sinh trên cơ sở có tranh chấp và một bên đã khởi kiện tại Tòa án Còn việc dân sự không có yếu tố tranh chấp, phát sinh trên cơ sở một bên chủ thể có yêu cầu Tòa án xem xét để công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự khác; tuy nhiên, yếu tố này (tranh chấp) cũng mang tính chất tương đối, chẳng hạn như yêu cầu thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn, bản chất là có tranh chấp, mâu thuẫn vợ chồng nên mới dẫn đến việc hai bên cùng yêu cầu ly hôn
Thứ hai, về hình thức đơn: Đối với vụ án dân sự, người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện8
gửi đến Tòa án Còn việc dân sự, người yêu cầu làm đơn yêu cầu
Trang 20giải quyết việc dân sự9 gửi đến Tòa án để yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự
Thứ ba, về mức nộp án phí, lệ phí: Đối với vụ án dân sự, án phí được tính theo vụ án tranh chấp có giá ngạch và không có giá ngạch, với nhiều mức án phí khác nhau Còn việc dân sự nộp lệ phí theo mức cố định10
Thứ bốn, về tư cách đương sự tham gia tố tụng: Đương sự trong vụ án dân sự
là cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Còn đương sự trong việc dân sự cũng là cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan
Thứ năm, về áp dụng các nguyên tắc cơ bản trong TTDS: Khi giải quyết vụ
án dân sự, Tòa án áp dụng hầu hết các nguyên tắc cơ bản trong TTDS Tuy nhiên, khi giải quyết việc dân sự, một số nguyên tắc cơ bản của BLTTDS 2015 không được Tòa án áp dụng như: nguyên tắc sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, nguyên tắc xét xử tập thể (Điều 11 và Điều 14); ngoài ra, còn có một số nguyên tắc áp dụng hạn chế trong TTDS (Điều 10) Đối với hoạt động hòa giải, về nguyên tắc chỉ đặt ra khi giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự mà việc dân sự cơ bản lại không phát tranh chấp; tuy nhiên, có một việc dân sự mang tính đặc thù như đối với việc giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn Đối với loại việc này, dù hai bên vợ, chồng đã hoàn toàn thống nhất các vấn đề cần giải quyết, tuy nhiên xuất phát từ quan điểm có tranh chấp mâu thuẫn vợ chồng nên mới dẫn đến việc hai bên cùng yêu cầu ly hôn, vì vậy khi giải quyết loại việc đặc biệt này Tòa án vẫn tiến hành hòa giải đoàn tụ11
Trang 21Thứ sáu, về kiểm sát tuân theo pháp luật: Đối với vụ án dân sự, luật quy định Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc các trường hợp quy định tại Khoản
2 Điều 4 BLTTDS 2015 Còn đối với việc dân sự, luật quy định bắt buộc Viện kiểm sát phải tham gia các phiên họp sơ thẩm12
Thứ bảy, về cách thức giải quyết: Khi giải quyết vụ án dân sự, tùy theo diễn biến vụ án mà Tòa án có thể mở phiên tòa hoặc không mở phiên tòa và kết quả giải quyết Tòa án ban hành văn bản giải quyết vụ án dưới hình thức bản án, quyết định Còn việc dân sự, Tòa án chỉ mở phiên họp giải quyết việc dân sự và ban hành quyết định giải quyết mà không mở phiên tòa và không tuyên bằng bản án như khi giải quyết vụ án dân sự
Thứ tám, về thời hạn tố tụng: Thời hạn giải quyết vụ án dân sự dài hơn so với thời hạn giải quyết việc dân sự
1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp cho Thẩm phán chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử tại phiên tòa được suôn sẻ Vì vậy, hoạt động này có các ý nghĩa sau:
Giúp cho Thẩm phán Tòa án cấp sơ thẩm có thời gian để thu thập, đánh giá chứng cứ, xác định đúng các căn cứ pháp lý để áp dụng giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, tạo được sự đồng thuận của các bên đương sự
Giúp cho các bên đương sự có thời gian để thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác là có căn cứ và hợp pháp Mặt khác, tạo điều kiện cho các bên đương sự có cơ hội và thời gian ngồi
12
Điều 21 Bộ luật TTDS năm 2015
Trang 22lại thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án, giúp họ hiểu nhau hơn, có mối quan hệ tốt đẹp hơn
1.2 Quy định pháp luật về hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là khoảng thời gian bắt đầu từ thời điểm Thẩm phán thụ lý vụ án và kết thúc khi Thẩm phán ban hành một trong các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ án ra xét xử Trong khoảng thời gian này, Tòa
án và các chủ thể tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Mục đích của việc quy định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ tố tụng, làm cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự
Theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành, tùy theo từng loại án (trừ vụ
án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài) mà thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định dài hay ngắn Đối với các loại vụ án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình13 thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng, kể
từ ngày thụ lý vụ án; nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng Đối với các loại vụ án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động14
thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng
Trang 23Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan mà thời hạn gần hết (thời hạn chuẩn bị xét xử còn lại không quá 05 ngày) mà Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án chưa thể ra được một trong các quyết định để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đưa vụ án ra xét xử thì phải báo cáo ngay với Chánh án Tòa án để ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử Hết thời hạn được gia hạn, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra một trong những quyết định quy định tại Khoản 3 Điều 203 BLTTDS 201515 Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải: Lập hồ sơ vụ án; xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật TTDS; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật TTDS và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Bộ luật TTDS
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tùy trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đưa vụ án ra xét xử Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa để xét xử; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng
15
Khoản 3 Điều 203 Bộ luật TTDS năm 2015: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Trang 241.2.2 Một số công việc Thẩm phán tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.2.1 Xác định tư cách đương sự
Việc xác định đúng tư cách đương sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự, giúp cho các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa
vụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình và giúp cho Tòa án tránh được trường hợp
vụ án bị hủy do vi phạm tố tụng Theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 68 BLTTDS 2015 thì đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện vụ án dân sự
để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
bị người đó xâm phạm
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 251.2.2.2 Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự
Để giải quyết vụ án dân sự được chính xác, triệt để, tránh trường hợp phải giải quyết lại nhiều lần, tốn thời gian, tiền bạc, gây mệt mỏi cho các đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng thì việc xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết
và tính thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự BLTTDS 2015 quy định khái quát một số quan hệ pháp luật tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động để Tòa án làm cơ sở thụ lý giải quyết vụ án16
Trong thực tiễn, các quan hệ pháp luật rất đa dạng, phong phú và tồn tại đan xen nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong các vụ án dân sự không hề
dễ dàng Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác xét xử, khi xác định quan hệ pháp luật tranh chấp chúng ta thường phải dựa vào yêu cầu của đương sự (khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ
có liên quan) và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia để xác định quan hệ tranh chấp Ví dụ: Khi ông A kiện đòi nhà từ ông B vì cho rằng nhà ông B đang ở là do ông A cho ông B thuê (đây là quan hệ dân sự đòi lại tài sản cho thuê), nhưng nếu ông B cho rằng nhà này là của ông B, lúc này quan
hệ dân sự lại khác (quan hệ tranh chấp quyền sở hữu nhà ở)
1.2.2.3 Thông báo thụ lý vụ án
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp
về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa
án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án
16
Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật TTDS năm 2015
Trang 26Văn bản thông báo thụ lý vụ án phải có các nội dung chính như: Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; tên, địa chỉ Tòa án thụ lý vụ án; tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện; những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn; danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện; thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có
ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có); hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản
về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp17
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án tự mình áp dụng một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ do pháp luật quy định Tùy từng yêu cầu cụ thể của vụ án và chứng cứ cần phải thu thập mà Thẩm phán quyết định việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ thích hợp Trong các trường hợp do BLTTDS 2015 quy định Tòa án có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây
Trang 27để thu thập tài liệu, chứng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú và các biện pháp khác theo quy định của BLTTDS 201520
* Lấy lời khai của đương sự:
Pháp luật TTDS Việt Nam quy định trước hết đương sự phải có bản khai về những việc có liên quan đến vụ án mà họ biết để cung cấp cho Tòa án, làm cơ sở giải quyết vụ án Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng có khả năng tự khai một cách đầy đủ, chính xác, đáp ứng yêu cầu của việc chứng minh Do đó, BLTTDS
2015 quy định Tòa án có quyền lấy lời khai của đương sự: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương
sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản”21 Như vậy, việc lấy lời khai của đương sự chỉ được Thẩm phán tiến hành trong 02 trường hợp là: đương sự chưa có bản khai hoặc đương sự đã có bản khai nhưng nội dung trong bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng
Việc lấy lời khai của đương sự phải lập thành biên bản và do Thẩm phán tiến hành Thư ký Tòa án chỉ giúp cho Thẩm phán trong việc ghi lời khai của đương sự vào biên bản Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hoặc nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền ghi những sửa đổi,
bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản phải
có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu
Trang 28biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa
án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản
Việc lấy lời khai của đương sự chưa đủ 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó
* Lấy lời khai của người làm chứng:
Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng22 Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa
án (Điều 99 Bộ luật TTDS) Người làm chứng phải có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ những thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết
vụ án; phải khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án23
Thủ tục, việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành như lấy lời khai của đương sự Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để có cơ sở nhận xét, đánh giá đúng tính khách quan trong lời khai của người làm chứng Đối với người làm chứng chưa
đủ 18 tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó24
Trang 29Người làm chứng được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến
bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc việc khai báo có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan
hệ thân thích họ Người làm chứng có quyền yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩn, tài sản và
có quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; được khiếu nại hành
vi tố tụng của người tiến hành tố tụng25
* Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng:
Đối chất là việc hỏi cùng một lúc nhiều đương sự, người làm chứng để so sánh, đánh giá lời khai của họ khi xét thấy có sự mâu thuẫn Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương
sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau (Khoản 1 Điều
án Việc đối chất phải được ghi thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất26
* Trưng cầu giám định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, có những chứng cứ sau khi thu thập vẫn chưa rõ ràng, chưa thể sử dụng để chứng minh được ngay mà cần phải có ý kiến kết
Trang 30luận của các nhà chuyên môn mới có thể tin cậy, có giá trị chứng minh Do đó, cần phải giám định đối với những chứng cứ này Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm
Thủ tục trưng cầu giám định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định và gửi cho các đương sự, tổ chức giám định tư pháp Quyết định trưng cầu giám định theo mẫu số 06-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án TAND tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp
Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa
án có quyền quyết định trưng cầu giám định
* Định giá tài sản:
Việc xác định giá tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết chính xác vụ án dân sự Giá trị của tài sản thường do đương sự kê khai, tuy nhiên có
Trang 31những trường hợp đương sự không biết rõ giá trị tài sản hoặc việc kê khai của đương sự không bảo đảm chính xác Khi đó cần phải xác định chính xác giá trị tài sản để có cơ sở giải quyết đúng vụ án dân sự
Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án Tuy nhiên, Tòa án cũng có quyền ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp: Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản; các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá theo mẫu số 08-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự; quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản27
Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự
Trường hợp có hành vi cản trở Hội đồng định giá tiến hành định giá tài sản thì Chủ tịch Hội đồng định giá yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan công an và các cơ quan chức năng khác có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi cản trở mà người có hành vi vi phạm bị xử lý theo quy định
27
Điều 104 Bộ luật TTDS năm 2015
Trang 32* Xem xét, thẩm định tại chỗ:
Xem xét, thẩm định tại chỗ là biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án mà Thẩm phán thường áp dụng trong những trường hợp tài sản tranh chấp, vật chứng không thể mang đến Tòa án để Thẩm phán xem xét được Việc xem xét, thẩm định tại chỗ giúp cho Tòa án có thể nhận định một cách toàn diện, chính xác hơn về sự việc cần phải giải quyết
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ban hành quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ và gửi trước cho đương sự để biết và chứng kiến Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ theo mẫu số 05-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định,
mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận
Trường hợp nếu có người cản trở Toà án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, thì Thẩm phán đề nghị Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi có đối tượng đượng xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ Trường hợp đã thực hiện đầy đủ các biện pháp mà vẫn không tiến hành được thì Thẩm phán lập biên bản về việc đương
sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ để lưu vào hồ sơ vụ án và gửi cho cơ
Trang 33quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật về hành vi chống người thi hành công vụ của đương sự28
* Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ:
Trong quá trình giải quyết vụ án, có những trường hợp Thẩm phán phải thu thập thêm chứng cứ để giải quyết vụ án Tuy nhiên, việc thu thập chứng cứ lại gặp phải trở ngại do chứng cứ ở ngoài địa bàn lãnh thổ của Tòa án đang thụ lý gải quyết Trong trường hợp này Tòa án có thể ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ để Tòa
án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ theo mẫu số 13-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ
Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác Trường hợp không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án dân sự29
Trang 34là có căn cứ và hợp pháp30 Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp chứng cứ cần thu thập không thuộc quyền quản lý, lưu giữ của đương sự mà đang do người khác quản lý, lưu giữ, do đó đương sự khó khăn trong việc thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng
cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự đúng đắn31
Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ theo mẫu
số 12-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP Cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật32
1.2.2.5 Họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết
vụ án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa
Trang 35giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật TTDS thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải
Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải gồm có: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; đại diện
tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động, trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có) Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu
cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự33
Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự
có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của
33
Điều 209 Bộ luật TTDS năm 2015