1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm địa danh đông sơn thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn

103 576 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Địa Danh Đông Sơn – Thanh Hóa
Tác giả Bùi Thị Hằng
Người hướng dẫn TS. Đoàn Hoài Nguyên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 643 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu tr 6

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu tr 7

5 Đóng góp của luận văn tr 7

6 Bố cục của luận văn tr 8

Chương 1 Cơ sở lí thuyết về địa danh và địa danh Đông Sơn

1.1 Một số cơ sở lí thuyết tr 91.1.1 Địa danh và địa danh học tr 91.1.1.1 Khái niệm địa danh tr 91.1.1.2 Vấn đề phân loại địa danh tr.101.1.1.3 Về nhiệm vụ và chức năng của địa danh học tr 121.1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học tr 131.2 Những vấn đề về điạ bàn, địa danh Đông Sơn tr 131.2.1 Địa bàn Đông Sơn tr 131.2.1.1 Vị trí địa lí tr 131.2.1.2 Về thành phần dân cư tr 141.2.1.3 Về lịch sử - văn hóa tr 151.2.1.4 Về kinh tế - xã hội tr 171.2.2 Địa danh Đông Sơn tr 181.2.2.1 Lần theo dấu vết lịch sử tr 181.2.2.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh Đông Sơn tr 311.3 Tiểu kết chương 1 tr 35

Trang 3

Chương 2 Đặc điểm cấu tạo địa danh Đông Sơn

2.1 Phương thức định danh và cấu tạo địa danh tr 362.1.1 Vấn đề phương thức định danh tr 362.1.2 Cấu tạo địa danh tr 382.1.2.1 Giới thuyết chung tr 382.1.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể đia danh Đông Sơn tr 402.1.2.3 Quan hệ giữa thành tố chung (A) với thành tố riêng (B) tr 402.2 Đặc điểm cấu tạo địa danh Đông Sơn tr 412.2.1 Thành tố chung (A) tr 412.2.1.1 Khái quát về thành tố chung tr 412.2.1.2 Thành tố chung trong địa danh Đông Sơn tr 412.2.2 Thành tố riêng (B) tr 522.2.2.1 Khái quát về thành tố riêng tr 522.2.2.2 Đặc điểm cấu tạo của thành tố riêng tr 532.2.3 Nhận xét tr 652.3 Tiểu kết chương 2 tr 66

Chương 3 Đặc điểm ý nghĩa của địa danh Đông Sơn

3.1 Vấn đề ý nghĩa và cách phản ánh thực tại của địa danh tr 683.1.1 Vấn đề ý nghĩa và cách xác định ý nghĩa của địa danh tr 683.1.1.1 Vấn đề ý nghĩa của địa danh tr 683.1.1.2 Phương pháp xác định ý nghĩa của các địa danh tr 703.2 Đặc điểm ý nghĩa của địa danh Đông Sơn tr 713.2.1 Phạm vi hiện thực mà địa danh Đông Sơn phản ánh tr 713.2.2 Các nhóm ý nghĩa trong địa danh Đông Sơn tr 733.2.2.1 Nhận xét chung tr 733.2.2.2 Các nhóm ý nghĩa của địa danh Đông Sơn tr 743.3 Về sự biến đổi và vấn đề văn hóa trong địa danh Đông Sơn tr 93

Trang 4

3.3.1 Địa danh là những tài liệu ngôn ngữ xưa nhất tr 933.3.2 Vấn đề văn hóa trong địa danh Đông Sơn tr 943.4 Tiểu kết chương 3 tr 95KẾT LUẬN tr 97TÀI LIỆU THAM KHẢO tr 100PHỤ LỤC (Bảng kê địa danh Đông Sơn)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1 Địa danh bao giờ cũng có những mối quan hệ gắn bó, những tác động qualại với văn hóa, lịch sử, địa lí và dân cư, ngôn ngữ nơi nó tồn tại Nghiên cứuđịa danh trong những mối quan hệ với các mặt có liên quan đó sẽ giúp ngườinghiên cứu phác thảo được bức tranh toàn cảnh về cơ cấu và sự giao thoa giữacác yếu tố có ảnh hưởng lẫn nhau trên một vùng đất từ quá khứ đến hiện tại.Đặc biệt, nghiên cứu địa danh cũng là đối tượng và nhiệm vụ của một phân mônngôn ngữ học, đó là danh học

1.2 Địa danh cũng là đơn vị cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, hoạt động và chịutác động theo cơ chế ngôn ngữ, vậy nên cũng góp phần phản ánh đời sống ngônngữ So với vốn từ chung có sự tồn tại lâu dài, địa danh có ưu thế ngay cả khiđối tượng được gọi tên đã biến mất hay đã thay đổi đặc tính cơ bản quyết địnhtên gọi Còn nữa, địa danh hình thành, tồn tại và biến đổi không chỉ do các tácđộng của ngôn ngữ mà còn do các tác động ngoài ngôn ngữ (đặc điểm văn hoá,

sự tiếp xúc, hoà trộn các tộc người) Do đó, sự tồn tại của một địa danh, đôikhi, chứa đựng rất nhiều những biến đổi văn hoá, phong tục, tập quán, liên quanđến cách nghĩ, cách cảm, cách tư duy của một vùng địa lí - dân cư hay của mộtquốc gia thống nhất

1.3 Do tiếng Việt có sự tiếp xúc với tiếng Hán hàng ngàn năm, tiếp xúc vớitiếng Pháp gần một trăm năm, cho nên, những địa danh có nguyên lai từ nhữngngôn ngữ có phổ hệ khác nhau có thể cung cấp tư liệu quý để nghiên cứu lịch sửtiếng Việt nói chung, nghiên cứu diễn trình ngữ âm tiếng Việt trong lịch sử nóiriêng

Trang 6

1.4 Đông Sơn Thanh Hoá là một vùng đất có lịch sử lâu đời, nơi có trốngđồng Đông Sơn - biểu tượng của văn minh Đại Việt Đông Sơn lại là huyện có

sự đa dạng về địa hình; diện mạo, cảnh quan và những dấu tích lịch sử - văn hoákhá đậm nét Do đó, cứ liệu địa danh Đông Sơn có thể xem như những ví dụtương đối điển hình về địa danh Thanh Hoá nói riêng, địa danh Việt Nam nói

chung Vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn khảo sát Đặc điểm của địa danh

Đông Sơn làm luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về địa danh nói chung

Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu tất cảnhững vấn đề liên quan đến địa danh: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặttên, sự biến đổi của địa danh, Trên thế giới và ở Việt Nam đã có những côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về địa danh Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh

đã được quan tâm từ lâu, được thể hiện qua các công trình sưu tầm, thu thập,

tìm hiểu nguồn gốc như: Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Lịch triều hiến chương loại

chí và Hoàng Việt dư địa chí (Phan Huy Chú), Phương Đình dư địa chí (Nguyễn

Văn Siêu),

Nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ chỉ xuất hiện ở thời hiện đại Với bài

báo Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, Hoàng

Thị Châu (1998) được xem là người đầu tiên nghiên cứu địa danh từ góc nhìnngôn ngữ Những công trình tiếp sau của bà cũng nghiên cứu địa danh theohướng này nhưng chủ yếu gắn liền với phương ngữ Từ đó, dưới góc nhìn ngônngữ học, có nhiều luận án, luận văn khảo sát địa danh gắn với một địa bàn cụ

thể như Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (Nguyễn Kiên Trường),

Địa danh ở Thành Phố Hồ Chí Minh (Lê Trung Hoa), Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (Từ Thu Mai), Các địa danh ở Nghệ An nhìn từ góc độ ngôn ngữ học

(Nguyễn Văn Đạm), Về địa danh Cửa Lò (Trần Trí Dõi), Địa danh Hội An dưới

góc độ ngôn ngữ (Trịnh Thị Như Thuỳ), Tác giả Nguyễn Văn Âu với hai công

Trang 7

trình Địa danh Việt Nam (1993) và Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam

(1993) đã hệ thống hóa một cách ngắn gọn lí thuyết địa danh và một số vấn đềđịa danh học Việt Nam Các tác giả Bùi Thiết (1997, 1999), Trần Thanh Tâm vàHuỳnh Đình Kết (2001), Đinh Xuân Vịnh (2002) đã lần lượt cho ra đời cáccông trình từ điển địa danh một số địa phương, sổ tay địa danh, địa danh lịch sửvăn hóa…

2.2 Những nghiên cứu về địa danh Thanh Hoá

Địa danh thuộc tỉnh Thanh Hoá được nói đến trong các tài liệu như Lịch sử

Thanh Hoá, 2 tập (Nxb KHXH, H 2000), Lịch sử thành phố Thanh Hoá (Đinh

Xuân Lâm, Vũ Đức Nghi, Nxb Giáo dục, H 1998), Địa chí thành phố Thanh

Hoá (Nxb VHTT, H 2000), Trong các tài liệu trên, một số địa danh thuộc

tỉnh Thanh Hoá được xem xét dưới góc nhìn lịch sử hình thành, sự biến đổi Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay mới chỉ có một công trình nghiên cứu

làm luận văn tốt nghiệp Khảo sát các địa danh ở thành phố Thanh Hoá từ góc

độ ngôn ngữ học của anh Nguyễn Văn Dũng (Luận văn thạc sĩ, Trường đại họcVinh, Vinh, 2006)

Về địa bàn Đông Sơn, trong công trình Địa chí huyện Đông Sơn (2006), phần

viết về địa lí hành chính có nói đến tên huyện và sở lị huyện Đông Sơn, địadanh làng xã trước năm 1945 và những thay đổi từ 1945 đến nay nhưng đượcnhìn nhận từ góc độ lịch sử Do đó, khảo sát địa danh Đông Sơn (Thanh Hoá)nhìn từ góc độ ngôn ngữ học là một đề tài mới, có tính cấp thiết

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh ở khu vực huyệnĐông Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hoá

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Thống kê, phân loại, xác lập hệ thống địa danh Đông Sơn

Trang 8

- Phân tích, miêu tả các phương thức định danh về cấu tạo và ý nghĩa của cácđơn vị địa danh Đông Sơn.

- So sánh đối chiếu với một số địa danh ngoài khu vực, bước đầu tìm hiểunguồn gốc, đặc trưng văn hóa nhằm góp thêm tư liệu vào nghiên cứu phươngngữ và lịch sử tiếng Việt

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn tư liệu

Tư liệu khảo sát là hệ thống địa danh trong 19 xã và 2 thị trấn Tư liệu đượcthu thập từ hai nguồn:

- Do chúng tôi thu thập qua các đợt điều tra điền dã Phương pháp điều tragồm điều tra trực tiếp trên thực địa và điều tra trong các văn bản hành chính có

ở huyện và các xã, thị trấn trong huyện

- Từ trong các tài liệu, các công trình của những người đi trước

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để xử lí vấn đề theo mục đích và nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi sử dụng cácphương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp

5 Đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên, hệ thống địa danh Đông Sơn được khảo sát một cách đầy đủ,

có hệ thống, qua đó làm nổi rõ các mặt địa lí, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội,

dân cư của một vùng đất địa linh nhân kiệt.

- Hệ thống địa danh Đông Sơn được xem xét từ đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa và

sự biến đổi, từ việc đối sánh với một số địa danh ngoài khu vực, luận văn làmsáng rõ đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá của địa danh Các kết quả của luận văn cóthể là những gợi ý vài điều cần thiết trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt

Trang 9

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luậnvăn triển khai thành ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí thuyết về địa danh và địa danh Đông Sơn

Chương 2 Đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa địa danh Đông Sơn

Chương 3 Vài nét về nguồn gốc và sự biến đổi địa danh Đông Sơn

Trang 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH

VÀ ĐỊA DANH ĐÔNG SƠN

1.1 Một số cơ sở lí thuyết

1.1.1 Địa danh và địa danh học

1.1.1.1 Khái niệm địa danh

Địa danh là một loại đơn vị nằm trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ Cũngnhư các tên riêng nói chung, mỗi địa danh ra đời đều gắn liền với lịch sử, vănhóa, phong tục, tập quán của một cộng đồng Địa danh cũng như các sản phẩmngôn ngữ khác chịu sự tác động, chi phối của các quy luật ngôn ngữ về mặt ngữ

âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp Thuật ngữ địa danh xuất phát từ tiếng Hi

Lạp gồm topos (vị trí) và omoma/ onyma (tên, gọi) Đó là những tên gọi địa lí

tạo thành một hệ thống riêng, tồn tại trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ trênthế giới Hiện tại, chưa có một định nghĩa có tính phổ quát về địa danh, bởi vì,

mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm này với những sắc thái riêng Theo A.V.Xuperanxkaja, địa danh là Toàn bộ những tên gọi địa lí, đôi khi còn có

những tên gọi khác: danh mục (danh sách), bắt nguồn từ tiếng la tinh nomencratura (ghi tên), và những địa điểm, mục tiêu địa lí, đó là những vật thể

tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị, xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ đều có tên gọi /Dẫn theo Nguyễn Văn Âu,

[6]/ Còn theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh [1] thì địa danh là tên gọi

các miền đất Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [41], địa danh

được hình dung rất đơn giản: tên đất, tên địa phương Các tác giả Nguyễn Văn

Âu (1993), Lê Trung Hoa (1991), Nguyễn Kiên Trường (1996)… cũng có cách

hiểu khác nhau về địa danh Tác giả Nguyễn Văn Âu cho rằng: địa danh là tên

đất gồm: tên sông, núi, làng mạc… hay là tên các địa phương, các dân tộc [6,5].

Trang 11

Còn tác giả Lê Trung Hoa, từ góc độ ngôn ngữ học cho rằng: Địa danh là

những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ Trước địa danh

ta có thể đặt một danh từ chỉ loại địa danh đó: sông Sài Gòn, đường Ba Tơ, ấp Bàu Trăm, sông Bà Quẹo [24,21] Tác giả Nguyễn Kiên Trường lại cho rằng: Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất [59,16] Từ những kiến giải của các nhà nghiên cứu

trong và ngoài nước, chúng tôi xác lập cách hiểu về địa danh như sau: Địa danh

là tên riêng tương ứng với từ hoặc ngữ cố định dùng để chỉ các đối tượng địa líkhác nhau tồn tại trên bề mặt trái đất, chiếm một vị trí nhất định trong khônggian vật lí

Tên riêng nói chung, địa danh nói riêng đều thực hiện chức năng xã hội Cácđịa danh lúc đầu chỉ có chức năng định danh cho một địa điểm trong không gian

nhưng khi đã thành tên gọi thì chúng lại gắn bó với xã hội: Với chức năng xã

hội của nó, tên riêng không phải là một con số, một cái nhản chỉ có tác dụng để phân biệt mà là một biểu trưng Ngay cả trong trường hợp cái nhãn thật như nhãn rượu, nhãn thuốc lá, nhãn máy thu hình… thì khi sản phẩm đã có tên trên thị trường nó cũng có một giá trị biểu trưng, giá trị mà người ta phải phấn đấu

để xây dựng và bảo vệ nó [63,124].

1.1.1.2 Vấn đề phân loại địa danh

Có một vấn đề khá phức tạp khi nghiên cứu địa danh, đó là cách phân loại Sựphức tạp trong vấn đề phân loại địa danh xuất phát từ nguyên nhân khách quannằm ngay trong bản thân địa danh Các địa danh có số lượng vô cùng lớn, cónhiều loại hình địa danh khác nhau tồn tại trong thực tế là một thách thức đốivới người nghiên cứu muốn sắp xếp chúng vào từng bộ phận, từng chủng loại

Ở đây, trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi không trình bày các cách phân loạiđịa danh của các tác giả nước ngoài mà chỉ trình bày một số cách phân loại củacác tác giả trong nước Tác giả Nguyễn Văn Âu [6] tiến hành phân chia địa

Trang 12

danh thành những kiểu khác nhau theo đối tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã

hội Địa danh tự nhiên như sông Hồng, Trường Sơn, Côn Đảo…; địa danh kinh

tế - xã hội như làng Thượng Cát, huyện Sa Pa… Các kiểu địa danh như sơn

danh, lâm danh, làng, xã, huyện, thị, thành phố và quốc gia Các dạng địa danhnhư sông, hồ, đầm, đồi núi, hải đảo, rừng, xã, huyện, quận, thị trấn, tỉnh, thànhphố, quốc gia [6] Kết quả, theo Nguyễn Văn Âu, địa danh chia thành 2 loại, 7kiểu, 12 dạng Tác giả Trần Thanh Tâm [45] lại chia các loại hình địa danh ViệtNam và thế giới thành 6 loại: a/ loại đặt theo địa hình và đặc điểm, b/ loại đặttheo vị trí không gian và thời gian, c/ loại đặt theo tên người, tôn giáo và lịch

sử, d/ loại đặt theo hình thái, chất đất và khí hậu, e/ loại đặt theo đặc sản, nghềnghiệp và tổ chức kinh tế, g/ loại đặt theo sinh hoạt xã hội Tác giả Lê TrungHoa [24] căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, chia địa danh ra: địadanh chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên như núi, đồi, sông rạch… Địa danh chỉcác đối tượng địa lí nhân tạo gồm ba loại: địa danh chỉ các công trình xây dựng(phố danh, viên danh, đạo danh); địa danh chỉ các đơn vị hành chính (ấp, xã,phường…); địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng Từhướng khác, căn cứ vào nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh ThànhPhố Hồ Chí Minh thành hai nhóm lớn: địa danh thuần Việt và địa danh khôngthuần Việt (gốc Hán, gốc Môn-Khơme, gốc Pháp) Còn tác giả Nguyễn KiênTrường [59] đưa ra ba tiêu chí dể phân chia địa danh, dựa vào thuộc tính đốitượng, tác giả chia địa danh Hải Phòng thành hai nhóm: địa danh chỉ đối tượngđịa lí tự nhiên (gồm nhóm dải đất liền và vùng biển giáp ranh); địa danh chỉ đốitượng địa lí nhân văn gồm hai nhóm: địa danh cư trú hành chính và địa danhgắn với hoạt động của con người: ấp, bộ, châu, di chỉ, khu tập thể, trại, trấn, xứđạo…; địa danh đường phố (đường, ngã tư, ngõ) và địa danh chỉ những côngtrình xây dựng (bể bơi, bến cảng, chợ, chùa, nhà thờ, khách sạn, khu du lịch, xínghiệm…) Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòngthành các loại: địa danh có nguồn gốc Hán Việt, địa danh có nguồn gốc thuần

Trang 13

Việt; địa danh có nguồn gốc Pháp, địa danh có nguồn gốc Tày, Thái, Việt-Mường, Khơme, Chăm, Mã Lai; địa danh có nguồn gốc hỗn hợp; địa danhchưa xác định được nguồn gốc Căn cứ vào đặc điểm giao tiếp, Nguyễn KiênTrường chia địa danh ra: tên gọi chính thức (do nhà nước đặt và có tên trongcác văn bản hành chính); tên gọi dân gian (tên quen gọi trong dân gian); tên cổ,

tên cũ, tên khác Tác giả Từ Thu Mai trong luận án Nghiên cứu địa danh Quảng

Trị [38], dựa vào tiêu chí tự nhiên chia ra địa hình tự nhiên gồm: sơn danh, thủy

danh, vùng đất nhỏ Dựa vào tiêu chí không tự nhiên, chia địa danh thành hailoại hình: loại hình địa danh đơn vị dân cư và loại hình địa danh các công trìnhnhân tạo Loại hình địa danh dân cư gồm địa danh do chính quyền hành chínhđặt và địa danh có từ thời phong kiến Loại hình địa danh các công trình nhântạo gồm: công trình giao thông, công trình xây dựng Theo nguồn gốc ngôn ngữcủa các yếu tố, tác giả phân chia địa danh thành địa danh thuần Việt, địa danhHán Việt, địa danh kết hợp, địa danh thuộc các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Vậy là, vấn đề phân loại địa danh thực sự phức tạp Mỗi tác giả, tùy theo mụcđích và phương pháp nghiên cứu mà xác lập tiêu chí phân loại, cho ra các kếtquả khác nhau

1.1.1.3 Về nhiệm vụ và chức năng của địa danh học

Mỗi bộ môn khoa học và phân môn của nó đều có một chức năng và nhiệm

vụ nghiên cứu riêng Về nhiệm vụ và chức năng của địa danh học, các nhànghiên cứu đã có một cách nhìn khá thống nhất Theo đó, địa danh học là phânmôn đặc biệt của khoa học về ngôn ngữ nghiên cứu tên riêng của các đối tượngđịa lí, lịch sử hình thành và phát triển, sự hành chức và đặc điểm cấu tạo ngônngữ của chúng và là một trong những khu vực hấp dẫn và hứng thú của ngôn

ngữ học Trong công trình Địa danh học là gì? A.V.Xuperanxkaja viết: Địa

danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu các tên gọi địa lí, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các cấu tạo nên địa danh /Dẫn theo Nguyễn Kiên Trường [59]/ Từ cách hiểu

Trang 14

trên, chúng ta có thể xác định được nhiệm vụ của phân môn địa danh học gồm:nghiên cứu về sự hình thành của các địa danh và sự biến đổi lịch sử của nó;nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và các phương thức đặt tên của địa danh;nghiên cứu về nội dung mà địa danh phản ánh (tức là ý nghĩa); nghiên cứu địadanh trong mối quan hệ với các đặc trưng văn hóa của từng khu vực, từng dântộc.

1.1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học

Ngành ngôn ngữ học có ba bộ môn chính là ngữ âm học, từ vựng học và ngữpháp học Mỗi bộ môn lại có những phân môn nhỏ khác nhau Từ vựng học

cũng có nhiều phân môn, trong đó có phân môn Danh xưng học (Danh học)

chuyên nghiên cứu tên riêng Danh học lại có hai lĩnh vực nghiên cứu là nhândanh học và địa danh học Nhân danh học chuyên nghiên cứu về tên người, cònđịa danh học chuyên nghiên cứu tên gọi địa lí gồm các mặt: lịch sử hình thành

và biến đổi, cấu tạo và chức năng phản ánh hiện thực… Trên lí thuyết, phânmôn Danh học còn có một lĩnh vực nghiên cứu nữa là hiệu danh học, chuyênnghiên cứu tên riêng các thiên thể, các nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa, các bảnghiệu… Về địa danh học, ta lại có thể phân chia các lĩnh vực nghiên cứu nhỏ hơnnhư thủy danh học (sông, suối…), sơn danh học (núi, đồi, gò…), phương danhhọc (các điểm quần cư), phố danh học (các thành phố) Như vậy, địa danh học

có một vị trí rất quan trọng trong ngành ngôn ngữ học

1.2 Những vấn đề về địa bàn, địa danh Đông Sơn (Thanh Hóa)

1.2.1 Địa bàn Đông Sơn

1.2.1.1 Vị trí địa lí

Huyện Đông Sơn nằm ở vĩ độ Bắc từ 19043’ (xã Đông Nam) đến 19051’ (xãĐông Thanh); kinh độ Đông từ 105033’ (xã Đông Lĩnh) đến 105045’ (xã ĐôngHoàng) Diện tính huyện Đông Sơn là 7.065,42 ha (số liệu thống kê năm 2009),trong đó: đất chuyên dùng là 1.882,26 ha, chiếm 17,69%, đất ở là 517,41 ha,chiếm 4,8% Phía Bắc giáp huyện Thiệu Hóa (gồm các xã Đông Lĩnh, Đông

Trang 15

Tiến, Đông Thanh, Đông Khê, Đông Hoàng), phía Nam giáp huyện QuảngXương và Nông Cống (gồm các xã Đông Nam, Đông Vĩnh), phía Đông giápthành phố Thanh Hóa (gồm các xã Đông Hưng, Đông Tân, Đông Lĩnh và thịtrấn Rừng Thông), phía Tây giáp huyện Triệu Sơn (gồm các xã Đông Hoàng,Đông Ninh, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Văn, Đông Phú).

Đông Sơn là huyện nằm trong vùng đồng bằng châu thổ của tỉnh Thanh Hóa,địa hình tương đối bằng phẳng và phụ thuộc đặc điểm chung của địa hình toàntỉnh, nghiêng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam và dốc hơn đồng bằng Bắc Bộ

và Nam Bộ Đồng bằng dốc có sự thuận lợi trong việc xây dựng các công trìnhthủy nông tự chảy; nước dễ tiêu trong mùa mưa lũ nhưng vì độ dốc lớn nên độrửa trôi, độ xói mòn đất lớn, làm cho đất đai kém màu mỡ Đồng bằng ĐôngSơn có nhiều vùng trũng thấp; đất đai ở đây được hình thành qua thời gian dàibằng lượng phù sa của sông Mã, sông Chu Qua thời gian, sông Mã, sông Chu

đã bồi đắp cho Đông Sơn một dải đồng bằng châu thổ, thoải dần về phía ĐôngNam Đông Sơn còn có nhiều núi đất xen lẫn đá và các núi đá vôi

1.2.1.2 Về thành phần dân cư

Những di chỉ khảo cổ học được phát hiện ở Đông Khối, Bái Man, Đông Cấu

và nhiều điểm khảo cổ khác chứng minh rằng, cách đây hàng vạn năm trênvùng Đông Sơn ngày nay đã có con người cư trú Trên lưu vực sông Mã, khảo

cổ học đã phát hiện được nhiều di tích văn hóa Đông Sơn với đủ các hình: ditích cư trú, mộ táng, các công xưởng chuyên chế tác các công cụ sản xuất, vũkhí, đồ trang sức… Các kết quả khảo cổ học này cho phép ta khẳng định vùngđất này không những là địa bàn gốc, mà còn là một trung tâm kinh tế - chính trịquan trọng của cư dân Việt cổ ở Đông Sơn trong buổi đầu dựng nước

Hiện nay, dân số Đông Sơn là 109.797 người, bao gồm 24.880 hộ Trong đó,dân số nông thôn là 106.927 người, chiếm 97,35%; thành thị 2.870 người,chiếm 2,65% Mật độ dân số trung bình là 1.030 người/ km2 (số liệu thống kênăm 2009) Do địa bàn và các điều kiện khách quan khác, mức độ phân chia lao

Trang 16

động theo các ngành nghề trong các xã là khác nhau Có xã, lao động nôngnghiệp chiếm đến trên 90% như Đông Hoàng, Đông Nam, Đông Thanh, ĐôngHòa… Số lao động công nghiệp có từ 100 người trở lên có 8 xã Các ngànhnghề thủ công, đông nhất là Đông Hưng, với 146 lao động, thị trấn Rừng Thông

có 190 lao động Theo số liệu thống kê năm 2009, thu nhập bình quân đầungười là 425 USD, số hộ nghèo là 18%; đời sống dân cư ổn định, có nhiều mặtđược cải thiện đáng kể

1.2.1.3 Về lịch sử - văn hóa

Cách đây vào khoảng 6000 - 7000 năm, sau những thay đổi về địa hình, điềukiện tự nhiên và khí hậu của trái đất, vùng đồng bằng Thanh Hóa nói chung,vùng Đông Sơn nói riêng đã hình thành tương đối ổn định và trở thành nơi thuhút con người rời khỏi các hang động, tiến xuống khai phá vùng đồng bằng.Mảnh đất này dần dần trở thành một trong những điểm tụ cư quan trọng củangười Việt cổ Năm 1960, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện các dichỉ như Đông Khối (Đông Cương), Bái Man, Cồn Cấu (Đông Lĩnh), ĐồngNgầm (Đông Tiến)… thuộc trung kì thời đại đồng thau Với những thành tựucủa ngành khảo cổ học, trong nhiều thập kỉ của thế kỉ XX, các nhà khoa học đã

chứng minh được sự xuất hiện của nghề trồng lúa nước trong các giai đoạn Tiền

Đông Sơn Trong các di chỉ, ngoài việc tìm thấy các dấu vết thóc lúa còn phát

hiện các công cụ như những chiếc chõ đồ xôi, những bộ nông cụ bằng đồnghoặc sắt Đặc biệt, nghề đúc đồng ở Đông Sơn đã phát triển khá sớm Nhữngngười thợ đúc đồng đã nắm vững kĩ thuật pha trộn hợp kim đồng phù hợp vớitừng loại công cụ như rìu đồng, lưỡi cày, mũi giáo hay các vật dụng như bìnhhương, ấm đồng, trống đồng… Từ cuối thời đại Hùng Vương, nghề sắt ở đâycũng đã phát triển Đặc biệt, nghề gốm đã phát triển rực rỡ Việc phát hiện ra

những lò nung ở hai bên bờ kênh Đô, Tam Thọ (Đông Vinh, Đông Sơn) đã

chứng minh sự phát triển mạnh mẽ của nghề gốm Đông Sơn Trong thời kì này,nghề chế tác đá thủ công cũng rất phát triển Rất nhiều địa danh trên đất Đông

Trang 17

Sơn như Bái Tê, Cồn Cấu, Đồng Vưng, Mã Chùa… còn lưu lại nhiều phế liệu,

các bán thành phẩm như khuyên tai, vòng đá…

Đất Đông Sơn không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện các di vật văn hóa ĐôngSơn mà còn phát hiện được nhiều những di tích cư trú, những dấu vết về hoạtđộng vật chất của chủ nhân văn hóa Đông Sơn trên lưu vực sông Mã Đông Sơnđược biết đến không chỉ là tên gọi của một huyện như bao huyện khác trên đấtViệt mà nó còn được cả nước biết đến với tên gọi của một nền văn hóa, một nềnvăn minh tiêu biểu của người Việt cổ ở buổi đầu dựng nước và giữ nước, đó là

nền văn hóa Đông Sơn

Nằm trên một địa bàn có điều kiện địa lí - tự nhiên thuận lợi, lại là một mốigiao thông quan trọng tỏa đi khắp tỉnh và cả nước, từ thời thuộc Hán đến nay,trải qua hơn 2000 năm, mặc dù có nhiều thay đổi, di chuyển tách nhập nhiềulần, song đất Đông Sơn luôn luôn được chọn làm quận trị, trấn lị, tỉnh lị của tỉnhThanh Hóa Trước hết phải kể đến Tư Phố, đó là trụ sở sớm nhất và tồn tạitương đối lâu của tỉnh Thanh Hóa từ thuộc Hán đến thời Tiền Tống Quận trị TưPhố thuộc cả vùng Dương Xá, trên sườn núi phía Tây núi Vồm hiện còn mang

danh Tây trấn thành Vùng Dương Xá xưa là miền đất nằm trên bờ sông Mã,

sông Chu, nơi hợp lưu của hai con sông lớn nhất xứ Thanh, còn gọi là Ngã BaĐầu Đời Tiền Tống (420-479), quận trị Tư Phố dời về Đông Phố (nay là làngĐồng Pho, xã Đông Hòa) Đông Phố vào thời Tùy là một vùng rộng lớn gồmcác xã ngày nay là Đông Hòa, Đông Ninh Khi Nhà Đường diệt nhà Tùy, LêCốc, thái thú quận Cửu Chân, tự xưng hoàng đế dựng kinh đô Trường Xuân(nay là xã Đông Ninh) Ngày nay, trên vùng đất Đồng Pho, Trường Xuân (thuộcĐông Hòa và Đông Ninh) người ta vẫn tìm thấy dấu vết của Đông Phố, đó làvết tích của những đường phố thẳng, các giếng đá nằm trong thành

Đông Sơn là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục Từ buổi đầudựng nước cho đến thời kì đấu tranh giữ nước, Đông Sơn luôn luôn là trung tâmchính trị của xứ Thanh Địa danh Đông Sơn có từ đời Trần Cũng như các vùng

Trang 18

đất khác của Thanh Hóa, Đông Sơn từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XX vẫn có nhiềuđóng góp vào thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa giành giữ độc lập cho dân tộc.Các thế hệ người Đông Sơn vẫn đem tài trí của mình góp phần xây dựng đấtnước mạnh giàu.

1.2.1.4 Về kinh tế - xã hội

Phát huy lợi thế của một huyện ven thành phố Thanh Hóa, giao thông thuậnlợi do có quốc lộ 45, quốc lộ 47 và tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua, huyệnĐông Sơn có nhiều ưu thế trong giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế và xã hội.Thêm nữa, Đông Sơn còn có hai đô thị vệ tinh của thành phố Thanh Hóa là thịtrấn Rừng Thông và đô thị Nhồi nên mở ra nhiều triển vọng trong việc hìnhthành các tụ điểm kinh tế Trong những năm qua, do sự nổ lực phấn đấu củanhân dân, kinh tế - xã hội Đông Sơn đạt nhiều thành tích đáng khích lệ Các chỉtiêu quan trọng trong phát triển kinh tế đều đạt và vượt kế hoạch năm, góp phầnhoàn thành thắng lợi mục tiêu mà Đảng bộ và nhân dân Đông Sơn đề ra ỞĐông Sơn, các ngành công nghiệp - thủ công nghiệp đều phát triển, trong đó,ngành sản xuất vật liệu xây dựng, các làng nghề thủ công như gốm sứ, chế tác

đá, đồ mộc… có mức tăng trưởng cao Phát huy thế mạnh của vùng đất có bềdày truyền thống, nơi có nền văn minh Đông Sơn nên ngành thương mại - dulịch - dịch vụ cũng rất phát triển Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânđang từng bước được nâng cao Bên cạnh việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa

cổ, việc xây dựng một nền văn hóa hiện đại nhưng đậm đà bản sắc dân tộc cũngđược đặc biệt quan tâm Đến nay, toàn huyện đã khai trương được 124 làng và

cơ quan văn hóa Đồng thời, đời sống dân trí cũng được chú ý đúng mức Vớinhững thành tích về các mặt kinh tế - xã hội đã đạt được, Đông Sơn đã đượctặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1995 Các xã ĐôngHưng, Đông Văn, Đông Nam cũng được tặng thưởng danh hiệu cao quý đó

Trang 19

Bước sang thế kỉ XXI, Đảng bộ và nhân dân Đông Sơn một lòng đi theoĐảng, cùng với nhân dân cả nước tham gia xây dựng và đổi mới đất nước theohướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

1.2.2 Địa danh Đông Sơn

1.2.2.1 Lần theo dấu vết lịch sử

a Tên huyện và lị sở Đông Sơn

a1 Tên huyện

- Trước công nguyên và thời thuộc Hán

Trước khi bị nhà Hán đô hộ, nước ta gồm hai quận là Giao Chỉ và Cửu

Chân Đông Sơn thuộc quận Cửu Chân Sách Thủy kinh chú chép: Quận Cửu

Chân mở năm Nguyên Đỉnh thứ 6, thờ Hán Vũ đế (năm thứ 3 TCN), trụ sở là huyện Tư Phố Còn sách Tiền Hán thư chép: Quận Cửu Chân gồm bảy huyện là

Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Vô Thiết, Vô Biên, Hàm Hoan Còn sách Hậu Hán thư chép: Quận Cửu Chân gồm năm huyện là Tư Phố, Cư Phong, Vô Công, Vô Biên, Hàm Hoan.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: Thời thuộc Hán-Tam Quốc-Lưỡng Tấn,

Đông Sơn là miền đất thuộc huyện Tư Phố và một phần thuộc huyện Cư Phong.

Như vậy, vào thời kì này, vùng đất của huyện Đông Sơn ngày nay thuộc haihuyện Tư Phố và một phần Cư Phong, quận Cửu Chân

- Thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều

Dựa vào Tấn thư, học giả Đào Duy Anh cho rằng: Cuối đời Ngô (Tam quốc Đông Ngô, năm Nguyên Hưng thứ 1) Đào Hoàng xin tách đất Cửu Chân mà

-đặt huyện Cửu Đức Quận Cửu Đức tách ra là huyện Hàm Hoan đời Hán (tương

đương với vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) Quận Cửu Chân thời Tam Quốc

-Lưỡng tấn - Nam Bắc Triều gồm bảy huyện: Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến

Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc, Trùng Nguyên Huyện Đông Sơn bao gồm phần đất ở huyện Tư Phố và huyện Di Phong.

- Thời thuộc Tùy - Đường

Trang 20

Nhà Tùy (581-617) đặt vùng đất Thanh Hóa ngày nay là quận Cửu Chân và

có bảy huyện: Cửu Chân, Di Phong, Tư Phố, Long An, Quân An, An Thuận,Nhật Nam Phần đất của huyện Đông Sơn nằm trên đất của huyện Cửu Chân và

Tư Phố

Nhà Đường (618-905) xặp xếp lại toàn bộ chế độ hành chính và phân chiachâu, quận Năm Vũ Đức thứ 5 (622) nhà Đường đặt Giao châu đại tổng quảnphủ lĩnh 10 châu trong đó Ái Châu Cửu Chân quận (tức Thanh Hóa) Lúc này,

Ái Châu có 4 huyện, đó là: Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn và AnThuận Đất Đông Sơn thuộc huyện Cửu Chân Đến khoảng năm 860 - 870, ÁiChâu gồm 7 huyện: Cửu Chân, Tư Phố, An Thuận, Di Phong, Quân Ninh, NhậtNam, Long An Huyện Đông Sơn nằm trên đất của huyện Cửu Chân thời bấygiờ

- Thời Đinh - Lê

Thời Đinh - Lê, Thanh Hóa vẫn là Ái Châu Sách Đất nước Việt nam qua các

đời của Đào Duy Anh viết: Đinh Tiên Hoàng chia nước ta làm 10 đạo, hiện nay không rõ danh hiệu và vị trí các đạo đó như thế nào Duy thấy sử cũ vẫn chép tên các châu đời Đường như Ái Châu, Hoan Châu, Phong Châu… thì biết rằng danh hiệu các châu đời Đường bây giờ vẫn được dùng Các huyện thuộc Ái

Châu, trong đó có phần đất Đông Sơn vẫn giữ nguyên như cũ

- Thời Lí

Sau khi thay nhà Tiền Lê trị vì đất nước, nhà Lí có những thay đổi về quản líhành chính, đổi 10 đạo thành 20 lộ, trong đó có lộ Thanh Hóa Đất Đông Sơnvẫn thuộc huyện Cửu Chân như thời Tùy Đường Bia chùa Báo Ân (Thuộc làng

Đống, xã Đông Tân) có ghi: Chu Văn Thường giữ chức Thự mẫn thư lang, Quản

câu ngự phủ, đồng Trung thự, kiêm Biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cửu Chân, trại Thanh Hóa soạn thuật Bia dựng năm 1100.

- Thời Trần - Hồ

Trang 21

Năm 1242, Trần Thái tông đổi 24 lộ thời Lí thành 12 lộ, trong đó có ThanhHóa phủ lộ Phủ lộ Thanh Hóa gồm có 7 huyện và 3 châu: Cổ Đằng, CổHoàng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Định, Lương Giang, châu ThanhHóa, châu Ái, châu Cửu Chân Như vậy, từ tên cũ là Cửu Chân, đến thời điểmnày, địa danh Đông Sơn lại xuất hiện Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuậntông, 1397) đổi Thanh Hóa thành trấn Thanh Đô.

- Thời thuộc Minh

Thời thuộc Minh, trấn Thanh Đô đổi thành phủ Thanh Hoa, lãnh 4 châu và 11huyện, trong đó có Đông Sơn

- Thời Lê - Nguyễn

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), đặt Thanh Hóa là Thừa Tuyên NămQuang Thuận thứ 10 (1469), lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa Năm Hồng

Đức thứ 21 (1490), đổi thành Thanh Hoa xứ Thanh Hoa theo Thiên Nam dư hạ

tập lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu Huyện Đông Sơn lúc này thuộc vào phủ

Thiệu Thiên Năm Gia Long thứ 14 (1815) đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ

Thiệu Hóa Đến đời Nguyễn, sách Đại Nam nhất thống chí chép: Huyện Đông

Sơn ở liền tỉnh thành, cách phủ lị 26 dặm về phía Nam, Đông Tây cách nhau 25 dặm, phía Đông đến địa giới hai huyện Hoằng Hóa và Quảng Xương 22 dặm, phía Tây đến địa giới hai huyện là Lôi Dương (ngày nay là Nông Cống và Triệu

Sơn) và Nông Cống 28 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Nông Cống và Ngọc

Sơn (nay là huyện Quảng Xương) 3 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Thụy Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa) 26 dặm Xưa gọi là huyện Đông Dương, lại gọi là huyện Đông Cương, đời Trần mới gọi là Đông Sơn Thời thuộc Minh cũng gọi như thế, lệ vào phủ Thanh Hóa Đời Lê Quang Thuận đổi lệ vào phủ Thiệu Hóa Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi gọi là phủ Đông Sơn.

a2 Sở lị của huyện

Lị sở của huyện Đông Sơn, thời trước nhà Nguyễn đóng tại xã Cổ Đô (làngVạc), tức xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa ngày nay Năm Gia Long thứ 7

Trang 22

(1808), dời về xã Thạch Khê (tức Kẻ Rùn) Thạch Khê nay là xã Đông Khê.Đến năm Minh Mệnh thứ 14 (1823), lị sở huyện dời đến làng Thọ Hạc (địađiểm nhà ga Thanh Hóa ngày nay) Sau 1945, lị sở huyện dời về xã Đồng Xuân.

Từ năm 1992, trụ sở của huyện đặt tại địa bàn thị trấn Rừng Thông

b Địa danh làng xã trước năm 1945

Dưới thời các vua Hùng, Đông Sơn là một trong những vùng trung tâm củahuyện Tư Phố, nơi đặt trấn trị của quận Cửu Chân Sau khi nước ta bị phongkiến phương Bắc đô hộ, đây là nơi được chép nhiều trong các sử sách không chỉ

là nơi đặt lị sở của quận Cửu Chân mà còn có sản vật quý là đá núi An Hoạch.Cho dù đến nay, chúng ta chưa khảo cứu được tên gọi và cương vực của ĐôngSơn trong thời gian này nhưng với vị trí là nơi đặt lị sở của quận Cửu Chân, lại

có mỏ đá quý thì rõ ràng Đông Sơn là một đơn vị hành chính hết sức quan trọngcủa huyện Tư Phố lúc bấy giờ

Với kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhất là khảo cổ học và sửhọc cho thấy Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ của tỉnh Thanh Hóa và

cương vực lúc đó rộng gấp nhiều lần hiện nay Kẻ, một từ cổ chỉ địa danh cổ nhất của nước ta, còn lưu danh ở nhiều vùng ở Đông Sơn như Kẻ Trổ, Kẻ Dậu,

Kẻ Môi, Kẻ Thìa, Kẻ Trầu, Kẻ chiếu, Kẻ Chăn, Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, Kẻ Dừa, Kẻ Rủn, Kẻ Bụt, Kẻ Đa, Kẻ Mơ, Kẻ Giàng… Những từ chỉ danh như xá, trang, ấp, phường, vạn… cũng cũng xuất hiện và có không ít ở vùng đất này như: Thiều

Xá, Mao Xá, Y Xá, Nguyên xá, Lê Xá, Ngô Xá, Triệu Xá, Quảng Xá, Cốt Xá, Bồ

Lồ trang, phường Vạn Viên…

Theo tiến trình phát triển của xã hội, những từ chỉ địa danh hành chính đócũng thay đổi Nhưng nó vẫn được lưu truyền và in đậm trong trí nhớ của nhiều

người Chẳng hạn: Kẻ Bôn chuyển thành Cổ Bôn, Bồ Lồ trang sau đó đổi thành

Ngọc Tích, Quỳnh Bôi, Kim Bôi (nay là Đông Thanh); Kẻ Tràn chuyển thành

thôn Toàn Tân; Kẻ Rủn chuyển thành làng Rủn (nay là Đông Khê); Kẻ Bụt chuyển thành thôn Cửa Bụt, Kẻ Lậu chuyển thành thôn Ngọc Lậu, Kẻ Môi

Trang 23

chuyển thành thôn Mai Xuyên (nay là Đông Thịnh); Kẻ Chía chuyển thành thôn

Phúc Hậu; Kẻ Trầu chuyển thành thôn Xuân Lưu; Kẻ Sâm chuyển thành thôn Nhuệ Sâm (nay thuộc Đông Xuân); làng Đông Phố chuyển thành Đồng Pho, Đông Thành (nay là Đông Hòa)… Các địa danh làng, xã của Đông Sơn tuy có

sự thay đổi qua thời gian với nhiều lí do khác nhau, tuy lưu lại không nhiềutrong trí nhớ hoặc văn bản nhưng vẫn là những bằng chứng sinh động về sựphong phú và đa dạng của một vùng đất cổ nổi tiếng của Thanh Hóa

Qua ca dao, các câu phương ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ ở Đông Sơn, chúng ta

có thể nhận thấy như đầy đủ các tên đất, tên làng, tên núi tên sông nổi tiếng của

Hay: Quan Vân Liễu

Kiệu Vân Nhưng

Nhất bông làng Đọ

Nhất lọ (lúa) làng Tràn.

Bồ Bất Căng, năng Kẻ Chè

Chè, Rị đúc nồi, núi Nhồi đục đá.

Buôn bông là xã làng Đà (tức Đà Linh)

Dệt cửu trong nhà là xã Bến Quan

Nấu rượu là xã làng Chan

Cử nhân, tiến sĩ thì sang Phúc Triền

Bánh đúc đổ lẫn cháo chiên

Củ từ, khoai nướng đưa viền (về) Quỳnh Bôi.

Y Xá tốt đất cao nền

Trang 24

Nếu ai đi đến thì quên cửa nhà

Muốn cho một quán đôi quê

Khi ở Y Xá, khi về Phù Nguyên

Y xá vốn đất quê nhà

Phù Nguyên vốn đất quê bà quê ông.

Vào đầu thế kỉ XIX, trong các phủ, huyện, châu của tỉnh Thanh Hóa, sốlượng làng xã của huyện Đông Sơn đứng thứ tư sau các huyện Nông Cống,Hoằng Hóa, Ngọc Sơn (Tĩnh gia) Trong phủ Thiệu Hóa có 8 huyện với số

lượng 634 làng, xã, thôn thì Đông Sơn có 145, chiếm gần 23% Theo sách Tên

làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX, thời kì này Đông Sơn có 6 tổng, 145 xã, thôn,

trang, vạn, giáp sở, phường Sáu tổng đó là:

- Tổng Thọ Hạc có 29 xã, thôn, vạn, giáp

- Tổng Thạc Khê có 24 xã, thôn, phường

- Tổng Đại Bối gồm 16 xã, thôn, trang

- Tổng Vận Quy có 19 xã, thôn

- Tổng Quang Chiếu có 33 xã, thôn

- Tổng Lê - Nguyễn có 24 xã, thôn, sở…

Cụ thể: tổng Thọ Hạc có 29 xã, thôn, vạn, giáp: thôn Đông, thôn Đông Sơn (thuộc xã Đông Sơn), thôn Đồng Cầu, thôn Thổ Sơn, thôn Đại Côi (thuộc xã Đồng Côi), thôn Định Hướng, thôn Bái Thượng (thuộc xã Vân Nhưng Thượng),

thôn Hồ, thôn Sơn Viện (thuộc xã Thôn Viện), giáp Vĩnh Quần, thuộc xã Phong

Mĩ, giáp Ngọc Huyền, giáp Mân Trung, Nam Ngạn, thuộc xã Vân Nhưng Thái,

thôn Lễ Xá (thuộc xã Đông Hương), thôn Đồng Lễ, thôn Quốc Thích, Thọ Hạc,

Ái Sơn, vạn Ái Sơn, thôn An Biên thuộc xã Bố Vệ, thôn Vệ Yên, thôn Kiều Đại, thôn Hương Bào Ngoại, thôn Hương Bào Nội, thôn Dương Xá, thôn Mật Sơn, thôn Quảng xá, thôn Phú Cốc, thôn Phú Cốc Hạ.

Tổng Thạch Khê có 24 xã, thôn, phường là:

Trang 25

Thôn Phù Chẩn, thôn Hoàng Hộc (thuộc xã Hoàng Hộc), thôn Hộc Thượng,

thôn Trường Hồng (thuộc xã Phù Liễn), thôn Mĩ Xứng, thôn Trung (thuộc xã

Mao Xá), thôn Thượng Phúc, thôn Tiền Lộc, Đồng Phố, Vạn Lộc, thôn Thanh

Huy, Ngọc Đôi, Phúc Thọ, Quỳnh Bôi, Ngọc Bôi, thôn Thượng (thuộc xã Thạch

Khê), thôn Đăng, thôn Đồng Chùy, giáp Bắc, Tam Tuyền, Hoa Đường, Hữu

Phúc, Hoa Đường, Hữu Phúc, Thọ Phật, phường Vạn Viên.

Tổng Đại Bối có 16 xã, thôn, trang gồm Đại Bối, Đại Khánh, thôn Chuyên,

Bái Giao, Bái Trung, Phú Lâm, Doanh Xá, Thanh Dương, Văn Liễu, Đông Xá, Dương Xá, giáp Đông Phố, Đại Lý, Trang Cổ Định, Phúc Lâm.

Tổng Vận Quy có 19 xã, thôn gồm Vận Quy, Viên Quang, Cổ Đô, Hồng Đô,

Lạc Đô, thôn Thượng (thuộc xã Trà Sơn), thôn Đông, Kim Hoạch, Nguyên Xá, thôn Nguyệt Lãng (thuộc xã Lí Nhân), thôn Hổ Đàm, Mĩ Lí, Nguyệt Quang, thôn Vân Đại, thôn Thọ Sơn (thuộc xã Cố Đô), thôn Hộ, thôn Bến, Phủ Lí, thôn An Nhân.

Tổng Quang Chiếu có 33 xã, thôn, cụ thể như sau:

Thôn Vinh Hoa (thuộc xã Quang Chiếu), thôn Ngòi giáp, thôn Văn Ba, thôn

Đa Sĩ, thôn Chiếu Thượng, thôn Chiếu Trung, thôn Thọ Lộc, thôn Thạch Đường, thôn Đội Trung (huộc xã Quảng Chiếu), thôn Phú Bật, Quảng Xuyên, thôn Xuân Đài, thôn Văn Vật, thôn Miếu (thuộc xã Trường Hựu), thôn Thiếu Sơn, thôn Phú

Xá (thuộc xã Xích Lạc), thôn Mai, thôn đồng đức, thôn Sơn Lương, thôn Hoàng Sơn, thôn Bái Vượng (thuộc Quang Chiếu thượng), thôn Đăng Khôi, thôn Hoàng Lạp, thôn Phù Lưu (thuộc xã Phù Lưu), thôn Viện Giang, thôn Viện Giang, thôn Vạn Giang., thôn Phù Lưu Đông (thuộc xã hoạch), Quảng Nạp, thôn Thọ Vực, thôn Thượng, thôn Đồng Duệ, thôn Nhuệ, thôn Đóng, thôn Văn

Tổng Lê - Nguyễn có 24 xã, thôn, sở, gồm: Lê Nguyễn, thôn Cửa Bụt, thôn

Ngọc Lậu, thôn Đà Ninh, thôn Duệ Thám, thôn Mộc Nhuận, Phúc Ấm, Triệu Xá, Triệu xá Tiền, thôn Mọc Nầm, Cốt Xá, thôn Liệu, Viên Khê, thôn Nậm Bái

Trang 26

(thuộc xã Phúc Lí), thôn Bến Quan, thôn Lị (thuộc xã Phúc Khê), thôn Cáo, thôn

Phù Lưu, thôn Thọ Sơn, Vân Đô, Thanh Oai, Thị Hà, sở Tĩnh Gia, Mai Xuyên.

Đến năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), một số tên tổng, làng, xã của huyện

Đông Sơn được đổi tên, đó là: tổng Lê Nguyên lúc này đổi thành tổng Thanh

Hoa, thôn Quế Thích (thuộc tổng Thọ Hạc) đổi thành thôn Lai Thành Xã Nguyên Xá (thuộc tổng Vận Quy) đổi thành xã Quy Xá; thôn Bến (thuộc tổng

Vận Quy) đổi thành thôn An Tân; xã Hồng Đô (thuộc tổng Vận Quy) đổi thành

Mĩ Đô; xã Lê Nguyễn (thuộc tổng Thanh Hoa) đổi thành xã Thanh Hoa; thôn Cửa Bụt (thuộc tổng Thanh Hoa) đổi thành thôn Đại Từ; thôn Bến Quan ( thuộc

tổng Thanh Hoa) đổi thành thôn Mĩ Tân; xã Ngọc Đôi (thuộc tổng Thạch Khê)

đổi thành xã Ngọc Tích; thôn Ngòi Giáp (thuộc tổng Quang Chiếu) đổi thành

thôn Văn Khê; xã Phúc Thọ (thuộc tổng Thạch Khê) đổi thành xã Phúc Triền; thôn Trường Hồng (thuộc tổng Thạch Khê) đổi thành thôn Trường Xuân; xã Ngọc Bôi (thuộc tổng Thạch Khê) đổi thành xã Kim Bôi; xã Tam Tuyền (thuộc

tổng Thạch Khê) đổi thành xã Tam Xuyên; xã Thì Hạ (thuộc tổng Thanh Hoa)

đổi thành Thời Hạ và thành Hàm Hạ; thôn Nẫm Bái (thuộc tổng Thanh Hoa) đổi thành thôn Thái Nẫm; xã Triệu Xá Tiền (thuộc tổng Thanh Hoa) đổi thành xã

Triệu Tiền; làng Sắn năm 1785 được đổi thành Phù Luân và đến năm 1826 lại

đổi thành Phù Chẩn thuộc xã Đông Ninh; phường Cổ Đam đổi thành thôn Dục

Đức, nay là làng Thịnh Trị, xã Đông Quang… Đến năm Minh Mạng thứ 19

(1838), cùng với việc đổi tên các xã thôn một số nơi, Minh Mạng còn chia tổng

Thọ Hạc thành hai tổng Quang Chiếu và Quảng Chiếu Huyện Đông Sơn lúc

này gồm 9 tổng là Đại Bối, Quang Chiếu, Thanh Hoa, Thạch Khê, Thọ Hạc, Vận

Quy, Bố Đức Dưới thời Tự Đức, tên gọi một số làng thay đổi như sau: làng Hồng Đô, tổng Vận Quy, đến năm 1848 đổi là Trường Xuân; làng Vân Nhưng Thái, tổng Thọ Hạc, đến năm 1861 đổi thành Vân Nhưng Thịnh Như vậy, từ 6

tổng đầu thế kỉ XIX đến nửa sau thế kỉ XIX (vào thời Tự Đức), huyện Đông

Sơn có 9 tổng: Thọ Hạc, Bố Đức, Quang Chiếu, Quảng Chiếu, Tuyên Hóa,

Trang 27

Thanh Khê, Thạch Khê Theo Đồng Khánh dư địa chí, cuối thế kỉ XIX, Đông

Sơn có 9 tổng, gồm 147 xã, phường, giáp, vạn như sau:

Tổng Thọ Hạc có 19 xã, thôn, phường, giáp, vạn gồm: xã Thọ Hạc, thôn Viện

Sơn (thuộc xã Viện Sơn); thôn Ngọc Huyền (thuộc xã Viện Sơn); giáp Mân Trung (thuộc xã Viện Sơn); thôn Vĩnh Quần (thuộc xã Sơn Viện); thôn Hồ,

thuộc xã Vân Nhưng Thượng; thôn Bái Thượng thuộc xã Vân Nhung Thượng;

thôn Đại Khối thuộc xã Đông Khối; thôn Định Hướng thuộc xã Đông Khố; xã

Nam Ngạn, xã Vân Nhưng Thịnh; thôn Đông Sơn thuộc xã Đông Sơn; thôn

Phúc Sơn thuộc xã Đông Sơn; thôn Thổ Sơn xã Đông Sơn; thôn Đông Tác thuộc

xã Đông Sơn; phường Thổ Oa thuộc xã Đông Sơn; giáp Đông Phố; giáp Nam

Phố; bang Quảng Đông, vạn Tân Hà…

Tổng Đại Bối có 14 xã, thôn, trang: xã Đại Bối, Đại Khánh, thôn Chuyên (thuộc Đại Khánh), Thanh Dương, Dương Xá, Doanh Xá, Phúc Lâm, Bái Trung,

Văn tập, bái Giao, Đông xá, Phú Lâm, Đại Lí, trang Cổ Định.

Tổng Bố Đức có 13 xã, thôn, vạn: thôn Đồng Lễ (xã Đông Hương), thôn Lai

Thành (Đông Hương), thôn Lễ Xá (Đông Hương), xã Ái Sơn, thôn Kiều Đại (xã

Bố Vệ), thôn Quảng Xá (xã Bố Vệ), thôn Phú Cốc (xã Bố Vệ), thôn Hương Bào

nội (xã Bố Vệ), thôn Hương Bào ngoại (xã Bố Vệ), thôn Mật Sơn (xã Bố Vệ), thôn Tĩnh Xá (xã Bố Vệ), thôn Cốc Hạ (xã Bố Vệ), vạn Ái Sơn.

Tổng Vận Quy có 18 xã, thôn Đó là: Vận Quy, Viên Quang, Phủ Lí, Mĩ Lí,

Ngọc Hoạch, Mĩ Đô, Cổ Đô thượng, Nhật Quang, Lạc Đô, Quy xá, thôn An Tân

(xã Cổ Đô), thôn Hộ (xã Cổ Đô), thôn Thọ Sơn (xã Cổ Đô), thôn Trà Đông (xã Trà Sơn), thôn Trà Thượng (xã Trà Sơn), Phủ Lí, Mĩ Lí, thôn Hộ Đàm (xã Nhân Lí), thôn Nguyệt Lãng (xã Nhân Lí), Ngọc Hoạch, Mĩ Đô, Cổ Đô thượng, Nhật

Quang, thôn Vân Đài (xã Nhật Quang), Lạc Đô, Quy Xá.

Tổng Thanh Khê có 16 xã, thôn, phường, giáp sau đây:

Thôn Thượng, thôn Đăng, giáp Bắc, thôn Đông Trung (xã Thạch Khê), Đồng

Phố, Phù Chẩn, Vạn Lộc, Cẩm Đường, thôn Trường Xuân, thôn Mĩ Lộc (xã Phú

Trang 28

Liễn), thôn Hộc Thượng (xã Hoàng Hộc), thôn Hộc Xã (xã Hoàng Hộc), Thọ

Phật, Hữu Bộc, thôn Thanh Huy (xã Hữu Bộc), phường Bình Đán (xã Vạn Lộc).

Tổng Thanh Khê có 16 xã, thôn sau đây:

Vân Đô, Quỳnh Bôi, Triệu Xá tiến, thôn Nẫm Bái, thôn Mĩ Tân (xã Phúc Lí),

Triệu xá, thôn Đại Nẫm (xã Triệu xá), Thọ Sơn, Phúc Thọ, Tam Xuyên, Hàm Hạ, Ngọc Tích, Ngọc Bôi, thôn Tiến Lộc, thôn Trung, thôn Thượng Phúc (xã Dự

Mao)

Tổng Tuyên Hóa có 16 xã, thôn, sở sau đây:

Thanh Oai, Phúc Ấm, Y Xá, thôn Liệu (xã Y Xá), Tuân Hóa, thôn Cáo, thôn Phúc Hậu, thôn Phù Lưu (xã Phúc Khê), Mai Xuyên, thôn Đà Ninh, thôn Đại Từ, thôn Ngọc Lậu, thôn Nhuệ Thâm (xã Doãn Xá), Mộc Nhuận, Viên Khê, sở Tĩnh Gia.

Tổng Quang Chiếu có 19 xã, thôn sau đây:

Thôn Mai, thôn Hoàng Sơn, thôn Đồng Đức, thôn Phù Xá, thôn Lương Sơn (xã Xích Lạc), thôn Đội Trung, thôn Phù Bật, thôn Mai Quang, thôn Vinh Quang,

thôn Chiếu Trung, thôn Văn Ba, thôn Chiếu Thượng, thôn Văn Khê, thôn Đa Sĩ, thôn Thạch Đường, thôn Thọ Lộc (xã Quang Chiếu), thôn Văn Vật, thôn Xuân Đài, thôn Ngọc Lâu (xã Quảng Xuyên).

Tổng Quảng Chiếu có 16 xã, thôn sau đây:

Thôn Bái Thượng, thôn Hoàng Lập, thôn Đăng Khôi (xã Quảng Chiếu thượng), thôn Thiếu Sơn, thôn Đồng Duệ, thôn Trường Tuế, thôn Miếu, thôn Văn (xã Trường Vĩ), thôn Thượng, thôn Đống, thôn Nhuệ, thôn Thọ Vực, thôn Quảng

Nạp (xã An Hoạch), thôn Viện Giang, thôn Phù Lưu, thôn Lộc Giang (xã Phù

Lưu)

Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900), nhà Nguyễn cắt hai tổng Vận Quy và ĐạiBối nhập vào huyện Thụy Nguyên (nay thuộc huyện Thiệu Hóa) Huyện Đông

Sơn lúc này bao gồm 7 tổng là Thọ Hạc, Bố Đức, Quang Chiếu, Quảng Chiếu,

Tuyên Hóa, Thanh Khê, Thạch Khê Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), huyện

Trang 29

Đông Sơn đổi thành phủ Đông Sơn, bao gồm 7 phủ là Thọ Hạc, Bố Đức, Viễn

Chiếu (Quang Chiếu), Quảng Chiếu, Tuyên Hóa, Kim Khê (Thanh Khê), Thạch Khê với 115 làng và 5794 suất đinh.

c Sở lị của tỉnh trên đất Đông Sơn

Nằm trên một địa bàn có điều kiện địa lí tự nhiên thuận lợi, có đầu mối giaothông quan trọng tỏa đi khắp tỉnh và cả nước, đất Đông Sơn từ thời Bắc thuộcđến thế kỉ XIX luôn là nơi được nhiều lần chọn làm nơi đặt quận trị, trấn lị, tỉnh

lị của tỉnh Thanh Hóa Trước hết, phải kể đến Tư Phố, đó là trụ sở sớm nhất vàlâu năm của tỉnh Thanh Hóa từ thời thuộc Hán cho đến đàu thời Tiền Tống (520

năm) Quận trị Tư Phố thuộc cả vùng Dương Xá, trên sườn phía Tây núi Vồm

hiện còn địa danh mang tên Tây trấn thành, dưới chân núi có địa điểm xưa gọi

là Trạm Trung Đồ Vùng Dương Xá xưa là miền đất nằm trên bờ sông Mã, sông Chu, nơi hợp lưu của hai con sông lớn nhất xứ Thanh (Đinh Xuân Lâm, Thành phố Thanh Hóa từ 1804-1947, Nxb Thanh Hóa, 1990).

Trong khoảng thời gian thuộc thời Tùy, quận Cửu Chân từ Tư Phố dời vềĐông Phố (tức Đồng Pho) Đây là vùng đất thuộc huyện Di Phong, sau đổi

thành huyện Cửu Chân Căn cứ vào bia Trường Xuân làm năm Đại nghiệp thứ

14 và truyền thuyết địa phương thì Địa điểm Đồng Pho là quận trị Cửu Chân ở

trong huyện Cửu Chân của nhà Tùy Như thế thì có thể nói rằng huyện Cửu Chân đời Tùy là tương đương với miền nam huyện Đông Sơn và Nông Cống

(Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, 1996) Sách

Thành phố Thanh Hóa [35] cũng viết: Quận trị Cửu Chân từ đời Tùy đã dời từ

Tư Phố về Đông Phố (tức làng Đồng Pho, xã Đông Hòa, huyện Đông Sơn) và trong suốt thời kì đô hộ của nhà Đường thì Đông Phố vẫn là quận trị của Cửu Chân Thật ra, Đông Phố vào thời Tùy là một vùng rộng lớn gồm các xã ngày

nay là Đông Hòa, Đông Minh, Đông Ninh thuộc huyện Đông Sơn Lê Ngọc(tức Lê Cốc) là thái thú quận Cửu Chân, khi nhà Đường diệt nhà Tùy, ôngkhông theo nhà Đường mà tự xưng Hoàng đế, cùng các con của mình xây dựng

Trang 30

Cung Trường Xuân (thuộc huyện Đông Sơn) để chống lại nhà Đường Ông cùng

các con đã hi sinh và được nhân dân các vùng Đông Sơn, Nông Cống, TriệuSơn thờ làm thành hoàng làng Ngày nay, trên vùng đất Đồng Pho, TrườngXuân (thuộc hai xã Đông Hòa và Đông Ninh, huyện Đông Sơn) người ta vẫntìm thấy dấu vết của Đông Phố - một trị sở cũ của quận Cửu Chân xưa, đó là vếttích của những con đường thẳng và các giếng đá Sau cuộc chống Tống lần thứnhất, dưới triều Lê, các khu vực hành chính trong nước được sắp xếp lại, chiathành các lộ, phủ, châu Châu Ái (Thanh Hóa) với trị sở Đông Phố đóng ở đấtĐông Sơn của các thế kỉ trước không thấy được nhắc đến

Trong vòng mười thế kỉ, đất Đông Sơn luôn là trung tâm kinh tế - chính trị,

xã hội của Cửu Chân Đến năm 1009, nhà Lí lên thay nhà Tiền Lê cũng đã cómột số thay đổi trong cơ cấu hành chính; trị sở Thanh Hóa lúc này không nằmtrên đất Đông Sơn mà dời về Duy Tinh (xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc ngày nay).Đến thời Lê thì lại đặt địa điểm cũ là làng Dương Xá, xã Thiệu Dương, huyện

Đông Sơn Sách Đại nam nhất thống chí chép: Từ đời Lê về trước, tỉnh thành ở

địa phận các xã Yên Trung, và Yên lãnh, huyện Thụy Nguyên, sau dời đến bờ sông xã Dương Xá, huyện Đông Sơn Bản triều năm Gia Long thứ 3 dời đến địa phận xã Thợ Hạc.

Như vậy, qua một thời gian di chuyển, đầu thế kỉ XVII, trấn lị Thanh Hóalại quay về đặt trên đất Dương Xá (làng Ràng/ Giàng, xã Thiệu Dương, huyệnĐông Sơn, nay thuộc huyện Thiệu Hóa) Đến đời Nguyễn, năm Gia Long thứ 3

(1804), chuyển thành Thanh Hóa từ Dương Xá về xã Thọ Hạc, tổng Thọ Hạc,

huyện Đông Sơn với tên gọi Hạc Thành Làng Thọ Hạc, Phú Cốc, Mật Sơnđược lệ vào trấn trị lập thành hai giáp là Đông phố và Nam phố Ngày12/7/1899, vua Thành Thái ra đạo dụ thành lập thị xã Thanh Hóa Cùng với việc

đó là một số làng xã thuộc tổng Thọ Hạc và Bố Đức của huyện Đông Sơn làĐức Vạn thọ, Cẩm Bào nội, Cốc Hạ sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa Vậy là, saumột quá trình di chuyển, từ buổi đầu là thành Tư Phố trên đất Dương Xá đến

Trang 31

Hạc Thành, thì thời gian lị sở của tỉnh Thanh Hóa đóng trên đất Đông Sơn làlâu dài nhất.

d Những thay đổi từ cách mạng tháng Tám đến nay

Từ cuối năm 1945 đên 1946, huyện Đông Sơn chia 7 tổng cũ thành 22 xã là:

Liên Khê, Đồng Minh, Điện Bàn, Cổ Bôn, Đại Đồng, Hưng Yên, Long Giang, Tuyên Hóa, Hoàng Khê, Vạn Thắng, Tràng An, Quang Chiếu, Minh Đức, Nam Sơn, Vân Sơn, Long Lĩnh, Long Cương, Nam Sơn Thọ, Ái Sơn, Đồng Lễ, Hương Bào, Bố Vệ.

Từ năm 1948 đến năm 1953, từ 22 xã được tổ chức lại thành 13 xã là: Đông

Hòa, Đông Khê, Đông Ninh, Đông Yên, Đông Hưng, Đông Anh, Đông Tiến, Đông Lĩnh, Đông Phú, Đông Vệ, Đông Quang, Đông Hương, Đông Thọ.

Từ 1953 đến 1954, từ 13 xã lớn chia thành: Đông Khê chia thành ĐôngHoàng và Đông Khê, Đông Hòa chia thành Đông Hòa và Đông Minh, ĐôngHưng chia thành Đông Hưng và Đông Tân, Đông Anh chia thành Đông Anh,Đông Xuân và Đông Thịnh, Đông Yên chia thành Đông Yên và Đông Văn,Đông Tiến chia thành Đông Tiến và Đông Thanh, Đông Lĩnh chia thành ĐôngLĩnh và Đông Cương, Đông Phú chia thành Đông Phú và Đông Nam, ĐôngQuang chia thành Đông Quang và Đông Vinh Đến cuối năm 1954, Đông Sơn

được tách thành 25 xã, bao gồm: Đông Hòa, Đông Khê, Đông Ninh, Đông Minh,

Đông Anh, Đông Tiến, Đông Lĩnh, Đông Phú, Đông Hưng, Đông Quang, Đông Thịnh, Đông Xuân, Đông Văn, Đông Tân, Đông Nam, Đông Hoàng, Đông Vĩnh, Đông Cương, Đông Vệ, Đông Thọ, Đông Giang, Đông Hải, Đông Hương.

Từ năm 1954 đến nay, địa bàn Đông Sơn có những thay đổi sau đây: Năm

1963, theo quyết định số 30/CP của Hội đồng chính phủ, xã Đông Giang sápnhập vào thị xã Thanh Hóa Năm 1971, theo quyết định số 225/TTg của Phủ thủtướng, sáp nhập 4 xã Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải vào thị xãThanh Hóa Năm 1973, theo quyết định số 72/BT của Bộ trưởng Phủ thủ tướng,xóm Cẩm Tú của xã Đông Ninh sáp nhập vào xã Đông Hoàng Năm 1977, theo

Trang 32

quyết định số 177/CP của Hội đồng chính phủ, 16 xã của huyện Thiệu Hóa sápnhập vào Đông Sơn Huyện Đông Sơn đổi thành Đông Thiệu bao gồm 36 xã.Huyện lị đặt ở khu vự xã Đông Xuân (Rừng Thông) Năm 1982, theo quyếtđịnh số 149/HĐBT củ Hội đồng bộ trưởng, đổi huyện Đông Thiệu thành huyệnĐông Sơn Năm 1992, theo quyết định số 49/TCCP của Tổ chức chính phủ, thịtrấn Rừng Thông được thành lập Năm 1996, Nghị định số 72/CP của chínhphủ, 16 xã của huyện Thiệu Hóa tách khỏi Đông Sơn trở về Thiệu Hóa XãĐông Cương cắt sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa Theo Nghị định số 40/NĐ-CPcủa chính phủ, thị trấn Nhồi được thành lập trên cơ sở diện tích tự nhiên và cắt4.577 nhân khẩu của xã Đông Tân Như vậy, hiện nay Đông Sơn bao gồm 19 xã

và 2 thị trấn: thị trấn huyện lị Rừng Thông, thị trấn Nhồi và các xã: Đông Anh,

Đông Hòa, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên.

1.2.2.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh Đông Sơn

a Kết quả thu thập

Căn cứ vào nguyên tắc, tiêu chí thu thập và phân loại như đã nêu ở phầntrên, chúng tôi thu thập được 1671 địa danh trên địa bàn Đông Sơn Các địadanh này được xác định trên sự phân bố theo không gian ở tất cả 19 xã và 2 thịtrấn Số lượng các đơn vị địa danh trên được thu thập chủ yếu từ hai nguồn: thứnhất, theo văn bản hành chính, các loại văn bản, các bản đồ; thứ hai, kết quả cácđợt điều tra điền dã theo sự tồn tại trên thực tế của các địa danh trong khu vựcđịa lí - hành chính Đông Sơn Trong số các đại danh được thu thập có nhiều địadanh tồn tại nhiều tên gọi khác nhau song chỉ gọi tên một đối tượng Kết quảthu thập địa danh ở Đông Sơn được thể hiện qua bảng sau đây

Bảng 1.1 Kết quả thu thập địa danh Đông Sơn (Thanh Hóa)

TT Loại hình địa danh Số lượng Tỉ lệ %

Trang 33

1 Các đối tượng địa lí tự nhiên 987 59,1%

2 Các đối tượng địa lí cư trú hành chính 402 24,0%

3 Các công trình nhân tạo 282 16,9

∑ 3 loại 1671 100%

b Phân loại địa danh Đông Sơn

b1 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên/ không tự nhiên

- Địa danh tự nhiên

Tổng số địa danh theo địa hình tự nhiên là 987 đơn vị, chiếm 59,1% Trong

đó, các địa danh chỉ các đối tượng nổi trên bề mặt là 721 đơn vị, chiếm 62,9%

Ví dụ: núi Vồm, núi Nấp, bãi Vác, cồn Sùng… Địa danh chỉ các đối tượng lõm xuống so với bề mặt gồm 266 trường hợp, chiếm 37,1% Ví dụ: bàu Tró, đập

Ông Tôn, đầm Ba…

- Địa danh không tự nhiên

* Địa danh chỉ các đối tượng địa lí cư trú hành chính

Trong tổng số 684 địa danh không phải tự nhiên, có 402 địa danh là các đơn

vị dân cư hành chính, chiếm 24,0%, trong đó: tên gọi dân gian có 53 trường

hợp, chiếm 13,1% Ví dụ: làng Bụt (Phú Bật, xã Đông Phú), làng Chói (Văn Khôi, xã Đông Phú), Đồng Pho, Kẻ Giàng (Đông Khê)… Tên gọi hành chính có

167 trường hợp, chiếm 41,5% Ví dụ: thôn Mĩ Lộc, xóm Nghè (xã Đông Khê),

làng Vân Đô (xã Đông Minh), xã Đông Lĩnh… Các tên gọi hành chính hiện nay

là 182 trường hợp, chiếm 45,2% Ví dụ: xã Đông Hoàng, thị trấn Rừng Thông…

* Địa danh các công trình xây dựng

Tổng số địa danh chỉ các công trình xây dựng theo khảo sát là 282 trườnghợp, chiếm 16,9%, trong đó: các địa danh gắn với đời sống vật chất là 111

trường hợp, chiếm 39,3% Ví dụ: đê Vạn Thành, chợ Bưởi, cầu Trăm… Các địa

danh gắn với đời sống tinh thần, văn hóa là 171 trường hợp, chiếm 60,7% Ví

dụ: chùa Đông Giáp, đền Thánh mẫu thượng đẳng tối linh, nghè Tuyên Hóa,

đình Phú Bật (xã Đông Phú), bia Phúc Khê tướng công bi kí…

Trang 34

Kết quả thống kê và phân loại địa danh Đông Sơn theo tiêu chí tự nhiên/không tự nhiên được thể hiện ở bảng sau.

Bảng 1.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên/ không tự nhiên

Cộng 1671 1671 100% 100%

b2 Phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ

So với một số địa phương khác, ở Đông Sơn, các địa danh, xét về mặt ngôn

ngữ tương đối đơn giản Chỉ có một địa danh có nguồn gốc châu Âu (làng

Nôkin, nay là làng Vân Nhưng, xã Đông Lĩnh), phần lớn có nguồn gốc thuần

Việt, còn lại là các yếu tố Hán Việt Trong các địa danh có nguồn gốc thuầnViệt, cũng không có địa danh nào vay mượn ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số.Đây có thể xem là một đặc điểm riêng của địa danh Đông Sơn xét từ nguồn gốcngôn ngữ

- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt

Trong tổng số 1671 địa danh được thu thập, có 1004 địa danh ngồn gốcthuần Việt, chiếm 60,1% Trong đó, địa danh được cấu tạo từ tiếng Việt toàn

Trang 35

dân là 987 đơn vị, chiếm 98,3%; địa danh có nguồn gốc thuần Việt phương ngữ

là 17 trường hợp, chiếm 1,7% Điều đó cho thấy phương ngữ Thanh Hóa cũng

có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo các địa danh ở Đông Sơn Sự phân bốđịa danh có nguồn gốc thuần Việt trong các loại hình địa danh là không đồngđều Loại hình địa danh tự nhiên có nguồn gốc thuần Việt chiếm số lượng lớn

nhất, gồm 530 đơn vị, chiếm 52,7% Ví dụ: núi Nhồi, núi Nấp, hang Dơi… Các

địa danh là công trình xây dựng nguồn gốc thuần Việt cũng có số lượng khá

lớn, với 373 trường hợp, chiếm 37,2% Ví dụ: cầu Rủn, chùa Mơ, đền Bà

Bính… Có 101 đơn vị địa danh thuần Việt là các đơn vị hành chính, chiếm

10,1% Ví dụ: xóm Nghè, làng Nấp…

- Địa danh có nguồn gốc Hán Việt

Địa danh có nguồn gốc Hán Việt gồm 667 đơn vị, chiếm 39,9%, trong đó: địadanh cư trú hành chính có số lượng lớn nhất, gồm 352 đơn vị, chiếm 52,7%,tiếp sau là các địa danh là công trình xây dựng, gồm 225 đơn vị, chiếm 33,9%

Ví dụ: xã Đông Hưng, làng Tân Sơn, xóm Đại Đồng, thôn Hạnh Phúc…; đình

Phương Chính, đền Văn Thánh, chùa Yên Hòa, cầu Tràng Tuế… Trong loại hình

địa danh tự nhiên, số lượng các địa danh có nguồn gốc Hán Việt là không nhiều

lắm, có 90 trường hợp, chiếm 13,4% Ví dụ: núi Bạch Thạch, sông Tân Thành,

hòn Vọng Phu, kênh Tân Thành…

Xét về nguồn gốc ngôn ngữ, địa danh Đông Sơn sử dụng phổ biến sự songhành tên Hán Việt với tên Nôm, tên gọi ngày nay và các tên gọi trước đây Ví

dụ: xã Đông Khê ngày nay, gốc là kẻ Rủn, sau gọi làng Rủn Vậy là, địa danh

làng Rủn vẫn được sử dụng song hành với địa danh Đông Khê, vì bên cạnh làng Rủn còn có chùa Rủn, chợ Rủn, cầu Rủn Trường hợp, cùng một đối tượng tồn

tại nhiều tên gọi (địa danh) khác nhau là khá phổ biến trên địa bàn Đông Sơn

1.3 Tiểu kết chương 1

Là một phân môn của ngôn ngữ học, địa danh học có nhiệm vụ nghiên cứu

sự ra đời, đặc điểm cấu tạo, cách phản ánh hiện thực và sự biến đổi của địa danh

Trang 36

trong diễn trình lịch sử Do đó, mục tiêu đặt ra đối với việc nghiên cứu địadanh, một mặt phải đạt được những vấn đề chung về địa danh, đồng thời, quantrọng hơn là phải chỉ ra được những nét riêng về các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa, sựbiến đổi của các đơn vị địa danh khu vực khảo sát.

Đông Sơn là một vùng địa lí - hành chính hết sức đặc biệt của tỉnh Thanh Hóanói riêng, đối với Việt Nam nói chung Trong suốt chiều dài lịch sử dụng nước

và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Đông Sơn luôn nổi lên như là vùng đất địa

linh nhân kiệt, và địa danh này gắn với tên gọi của một nền văn hóa có tính bản

địa - văn hóa Đông Sơn Đông Sơn tiêu biểu cho tài hoa và trí tuệ, sự tinh tế và

sáng tạo của người Việt cổ Do đó, tìm hiểu địa danh Đông Sơn từ góc độ ngônngữ học là hết sức cần thiết Qua thống kê, thu thập tư liệu và tiến hành phânloại địa danh Đông Sơn, bước đầu chúng ta có thể khẳng định Đông Sơn là mộtkhu vực địa lí - dân cư khá đặc biệt về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Các đơn vịđịa danh Đông Sơn có những nét tương đồng với các địa bàn khác trong vàngoài tỉnh Thanh Hóa cũng như ở các địa phương khác nhưng cũng có nhiều nétđặc hữu địa phương Ở các chương tiếp sau, chúng tôi sẽ tập trung chứng tỏđiều đó

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH ĐÔNG SƠN

2.1 Phương thức định danh và cấu tạo địa danh

2.1.1 Vấn đề phương thức định danh

Trang 37

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của Địa danh học là nghiên cứu cách đặt

tên Các địa danh trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng đều được xáclập trên những nguyên tắc chung nhất định, đó là nguyên tắc đặt tên, hay còngọi là phương thức định danh Có điều, cách hiểu và xác định thuật ngữ cho vấn

đề này, cho đến nay vẫn chưa có tiếng nói thống nhất Có hàng loạt cách hiểu

và thuật ngữ hóa cho vấn đề này như: phương thức cấu tạo, cách cấu tạo tên

gọi, luật định danh, nguyên tắc đặt tên, các phương thức đặt địa danh… TheoNguyễn Kiên Trường [59], trong nhiều trường hợp, cấu tạo địa danh được hiểukhá hẹp, chỉ được hiểu một trong hai phương diện sau đây: 1/ cấu trúc nội bộ(tức cấu tạo ngữ pháp), 2/ nguyên tắc đặt tên, dựa vào hay gọi theo cái gì (tức là

lí do đặt tên) Tuy vậy, các nhà nghiên cứu đều có chung cách hiểu khi cho rằngđịa danh mang trong mình nó hai thông tin: 1/ Đối tượng được gọi tên thuộcloại hình địa lí nào (núi, sông, huyện, xã…) thể hiện qua ý nghĩa của danh từchung; 2/ Có ý nghĩa nào đó (khả năng phản ánh hiện thực) thể hiện qua tênriêng Trong hai loại thông tin trên, mỗi loại đều có chức năng riêng: thông tinđầu giúp con người nhận biết đối tượng một cách tổng quát, chung nhất, cònthông tin sau nhằm nhận biết đối tượng cụ thể Từ thực tế đó, tác giả Nguyễn

Kiên Trường [59] đề nghị dùng thật ngữ phương thức định danh để chỉ hai nội

dung chủ yếu sau đây: 1/ Việc đánh giá hoặc ý đồ gán cho các thuộc tính củađối tượng địa lí cả về nội dung lẫn hình thức, kèm theo là sự lựa chọn nhữngthuộc tính cơ bản hoặc được xem là quan trọng nhất, cần yếu nhất để đặt tên,điều này phụ thuộc rất nhiều vào cách tư duy, quan điểm, tâm lí, văn hóa củacác chủ thể Kết quả đánh giá và lựa chọn thuộc tính của đối tượng hay ý đồ gánnhững thuộc tính, ý niệm đó cho đối tượng được thể hiện ở ý nghĩa định danh

mà ta khai thác được trong những thành tố là tên riêng trong địa danh Ngượclại, có thể nói: địa danh A gọi theo (hay dựa vào) thuộc tính của đối tượng B

Đó là nội dung đầu tiên trong việc nghiên cứu phương thức định danh 2/ Cácphương thức tạo lập hay cách cấu tạo để có tên gọi sau khi lựa chọn các thuộc

Trang 38

tính, đặc điểm của đối tượng hay gán cho đối tượng một thuộc tính nào đó Vềmặt này, địa danh học quan tâm đến việc người ta đã dùng những phương tiện

gì (từ ngữ hay kí hiệu) và bằng các nào, theo nguyên tắc nào, phương thức nào

để biến những phương tiện đó trở thành địa danh

Như vậy, thao tác định danh bao gồm: thứ nhất, xác định những đặc tínhchung để phân nhóm, tức là lựa chọn thành tố chung (danh từ chung) cho đốitượng (chẳng hạn: làng, thôn, xóm, cầu, bãi, gò…); thứ hai, lựa chọn những đặctính riêng (nét riêng) để xác lập thành tố riêng (tên riêng) cho đối tượng Chẳng

hạn: thị trấn Rừng Thông vì nơi đây trồng nhiều thông, hay: núi Quảy, là ngọn núi giữa chợ Gốm và núi Nưa, tương truyền do một chàng trai gánh (quảy) đến.

Với hai thao tác trên, việc định danh phải qua lựa chọn Đó là việc lựa chọn từngữ nào, kí hiệu nào làm phương tiện định danh Từ ngữ, kí hiệu được lựa chọnphải xuất phát từ tính chất điển hình của đối tượng hoặc tâm thức chủ quan củacộng đồng đối với đối tượng Ý nghĩa của việc định danh chính là ở chỗ đó và

sự kết hợp giữa thành tố chung với thành tố riêng sẽ cho ta địa danh

Qua khảo sát địa danh Đông Sơn, chúng tôi nhận thấy, việc định danh tuânthủ các nguyên tắc chung về phương thức định danh như đã trình bày ở trên.Nét khác biệt, có chăng, nằm ở chỗ việc lựa chọn các thành tố riêng cũng nhưcách gọi tên một số thành tố chung mà các địa danh ở các vùng khác không có,hoặc được gọi bằng một tên chung khác Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày cụthể khi xét thành tố chung và thành tố riêng trong cấu tạo địa danh Đông Sơn

2.1.2 Cấu tạo địa danh

2.1.2.1 Giới thuyết chung

Như đã biết, địa danh nào cũng có cấu trúc, cách gọi tên hay ý nghĩa của têngọi dựa trên các tiêu chí khác nhau để xác định, nghĩa là, nó có nguồn gốc phátsinh, đặc điểm cấu tạo Chẳng hạn, vốn từ vựng tiếng Việt có thể phân chia từ

cổ và từ mới, từ thuần Việt và từ vay mượn, từ toàn dân và từ địa phương…, do

đó, ứng với mỗi đặc điểm đó, ta sẽ có các địa danh khác nhau Khi xem xét cấu

Trang 39

trúc phức thể địa danh, các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cho rằng mỗi địadanh gồm hai thành tố: thành tố chung (A) là từ, cụm từ và thành tố riêng (B) là

tên riêng Chẳng hạn: làng Phú Bật, xã Đông Phú, chợ Vồm, chùa Bò, núi

Phượng Lĩnh, sông Tân Thành, đình làng Phú Bật… Bên cạnh đó, vẫn tồn tại

một số vấn đề chưa có tiếng nói chung giữa các nhà nghiên cứu, chẳng hạn: tôn

ti giữa hai thành phố trong phức thể địa danh được xử lí ra sao, cả hai thành tố

A và B là một địa danh hay chỉ là thành tố B Khi xây dựng từ điển địa danh thìcác mục từ được sắp xếp ra sao cho hợp lí, chuẩn mực và nguyên tắc chính tả

sẽ như thế nào… Liên quan đến những vấn đề trên, tác giả Phạm Tất Thắng cho

rằng: Tên chung là tên gọi thường gắn với một lớp đối tượng cùng loại, còn tên

riêng là tên cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định [51,32] Tác giả Lê

Trung Hoa lại cho rằng: Trước địa danh Việt nam ta có thể đặt danh từ chung

chỉ tiểu loại địa danh và yếu tố chung này không phải là thành tố của địa danh nên không viết hoa [24,21] Từ Thu Mai trong luận án Nghiên cứu địa danh Quảng Trị khẳng định: Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung và tên riêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận từ ngữ chung được đặt trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lí

mà thôi [38,55] Từ nhận định đó, Từ Thu Mai đi đến kết luận: Có thể thống nhất rằng địa danh chỉ là bộ phận tên riêng của đối tượng địa lí (…) cả bộ phận

từ ngữ chung và tên riêng đều nằm trong một cụm từ có chứa địa danh Để tiện

sử dụng, có thể quy ước cách gọi cụm từ này là một phức thể địa danh [38,56].

Trên cơ sở ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua thực tế khảo sát địa danhĐông Sơn, chúng tôi đi đến những nhận định về vấn đề mô hình cấu trúc địadanh sau đây nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu:

Một là, về vấn đề phức thể địa danh, chúng tôi đồng tình với các ý kiến chorằng một phức thể địa danh bao giờ cũng có hai yếu tố: yếu tố thứ nhất là thành

tố chung giúp ta nhận biết đối tượng một cách khái quát, còn yếu tố thứ hai làthành tố riêng (tên riêng) nhằm xác định đối tượng một cách cụ thể

Trang 40

Hai là, vấn đề xem xét địa danh chỉ là tên riêng hay gồm cả thành tố chung,chúng tôi cho rằng phải tùy mục đích nghiên cứu, hướng tiếp cận vấn đề màđưa ra những kiến giải hợp lí, không nên tán đồng hay bác bỏ một cách cựcđoan Vì trên thực tế hành chức của các đơn vị định danh, chúng ta nhận thấyrằng, trong nhiều trường hợp, địa danh chỉ tồn tại trong bộ phận tên riêng mà

những yếu tố chung đi kèm không nhất thiết tồn tại Chẳng hạn: Hà Nội, Huế,

Sài Gòn… Khi sử dụng các đơn vị này, chúng ta gần như xóa bỏ thành tố chung

đi kèm trước nó là danh từ chung thành phố.

Tuy nhiên, lại có những trường hợp, yếu tố chung đi kèm có tác dụng kháiquát hóa rất cao mà khi sử dụng địa danh chúng ta gần như không thể bỏ qua.Chẳng hạn, những yếu tố chung liên quan đén mảng địa danh về đời sống văn

hóa tâm linh như đình, đền, chùa, miếu, nghè, phủ, nhà thờ… Chúng ta không

thể chỉ sử dụng yếu tố riêng thay cho phức thể địa danh này Thậm chí, trongnhiều trường hợp, thành tố chung còn có chức năng bao quát cả địa danh Ta có

thể nói: đi đền về, đi chùa về, đi lễ nhà thờ về… mà không nhất thiết nói rõ địa danh cụ thể là đền nào, chùa nào, nhà thờ nào… Một đơn vị địa danh có thành

tố chung khái quát rất cao khác có thể thay thế cho cả phức thể địa danh là chợ Trong thực tế, ta thường nói: đi chợ về, hay hỏi nhau đi chợ chưa? chợ nhiều cá

không? Trong những trường hợp này, yếu tố tên riêng không nhất thiết có mặt,

nghĩa là thành tố chung đóng vai trò hết sức quan trọng trong một phức thể địadanh

2.1.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Đông Sơn

Như đã nói ở trên, địa danh Đông Sơn, về cơ bản cũng giống như địa danh cácvùng địa phương khác đều được cấu tạo từ hai bộ phận: bộ phận thành tố chung(A) khái quát về đối tượng, bộ phận thành tố riêng (B) dùng để phân biệt đối

tượng Ví dụ: sông Nhà Lê, núi Vức, làng Xuân Lưu, xã Đông Yên, chùa Chuông,

từ đường họ Lưu… Về mô hình cấu trúc địa danh, tiếp thu các kết quả của

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1957
2. Mai Anh (2003), Cần thận trọng hơn trong việc viết tên các địa danh nước ta, Ngôn ngữ, số 10, 78-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần thận trọng hơn trong việc viết tên các địa danh nước ta
Tác giả: Mai Anh
Năm: 2003
3. Toan Ánh (1999), Làng xóm Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh 4. Nguyễn Quang Ân (1997), Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam", Nxb Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh4. Nguyễn Quang Ân (1997), "Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới cácđơn vị hành chính
Tác giả: Toan Ánh (1999), Làng xóm Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh 4. Nguyễn Quang Ân
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1997
5. Nguyễn Văn Âu (1993), Địa danh Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Nguyễn Văn Âu (1993), Một số vấn đề của địa danh học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của địa danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: Nxb Đạihọc quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
7. Nguyễn Nhã Bản, Trịnh Như Thùy (1999), Về địa danh Hội An, Ngôn ngữ, số 6, 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về địa danh Hội An
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Trịnh Như Thùy
Năm: 1999
8. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1975
9. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
10. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
11. Hoàng Thị Châu (1966), Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, Thông báo khoa học Văn học - ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, H.94-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á quamột vài tên sông
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1966
12. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc giaHà Nội
Năm: 2004
13. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí, Phan Đăng dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt địa dư chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb ThuậnHóa
Năm: 1997
14. Mai Ngọc Chừ (1999), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HàNội
Năm: 1999
15. Nguyễn Văn Dũng (2006), Khảo sát các địa danh ở thành phố Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các địa danh ở thành phố Thanh Hoá
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2006
16. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
17. Nguyễn Dược, Trung Hải (2001), Sổ tay địa danh Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Dược, Trung Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Trần trí Dõi (2000), Về địa danh Cửa Lò, Tạp chí văn hoá dân gian, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về địa danh Cửa Lò
Tác giả: Trần trí Dõi
Năm: 2000
19. Phan Xuân Đạm (2005), Các địa danh ở Nghệ An nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Trường đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các địa danh ở Nghệ An nhìn từ góc độ ngôn ngữhọc
Tác giả: Phan Xuân Đạm
Năm: 2005
20. Nguyễn Thiện Giáp (1993), Từ và và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
21. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Phõn loại địa danh theo tiờu chớ tự nhiờn/ khụng tự nhiờn  Tiờu - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 1.2. Phõn loại địa danh theo tiờu chớ tự nhiờn/ khụng tự nhiờn Tiờu (Trang 34)
Bảng 2.3. Thống kờ tần số xuất hiện của cỏc địa danh đi kốm với cỏc loại thành tố chung - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.3. Thống kờ tần số xuất hiện của cỏc địa danh đi kốm với cỏc loại thành tố chung (Trang 43)
Bảng 2.2. Kết quả thống kờ cấu tạo thành tố chung trong địa danh Đụng Sơn - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.2. Kết quả thống kờ cấu tạo thành tố chung trong địa danh Đụng Sơn (Trang 43)
Bảng 2.4. Kết quả thống kờ tổng hợp sự chuyển húa của thành tố chung - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.4. Kết quả thống kờ tổng hợp sự chuyển húa của thành tố chung (Trang 45)
Bảng 2.5. Kết quả thống kờ cỏc thành tố chung cú                             sự chuyển húa chức năng - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.5. Kết quả thống kờ cỏc thành tố chung cú sự chuyển húa chức năng (Trang 51)
Từ bảng tổng hợp trờn, ta thấy rằng thành tố riờng trong phức thể địa dan hở Đụng Sơn phổ biến nhất là loại hai yếu tố, gồm 1074 thành tố, chiếm 64,2%, tiếp đến là loại một yếu tố, gồm 520 yếu tố, chiếm 31,1%; loại thành tố riờng cú cấu tạo ba yếu tố là 2 - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
b ảng tổng hợp trờn, ta thấy rằng thành tố riờng trong phức thể địa dan hở Đụng Sơn phổ biến nhất là loại hai yếu tố, gồm 1074 thành tố, chiếm 64,2%, tiếp đến là loại một yếu tố, gồm 520 yếu tố, chiếm 31,1%; loại thành tố riờng cú cấu tạo ba yếu tố là 2 (Trang 54)
Bảng 2.7. Thống kờ thành tố riờng trong địa danh Đụng Sơn                            theo kiểu cấu tạo  - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.7. Thống kờ thành tố riờng trong địa danh Đụng Sơn theo kiểu cấu tạo (Trang 57)
Bảng 2.8. Thống kờ địa danh theo phương thức định danh - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.8. Thống kờ địa danh theo phương thức định danh (Trang 64)
Bảng 3.1. Thống kờ địa danh theo nhúm ý nghĩa phản ỏnh - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3.1. Thống kờ địa danh theo nhúm ý nghĩa phản ỏnh (Trang 73)
Bảng 3.2. Số lượng địa danh và cỏc trường nghĩa trong tiểu nhúm 1 - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3.2. Số lượng địa danh và cỏc trường nghĩa trong tiểu nhúm 1 (Trang 74)
Bảng 3.3. Số lượng địa danh thuộc cỏc trường nghĩa trong tiểu nhúm phản ỏnh mối quan hệ giữa đối tượng được định danh với cỏc đối tượng khỏc - Đặc điểm địa danh đông sơn   thanh hóa luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3.3. Số lượng địa danh thuộc cỏc trường nghĩa trong tiểu nhúm phản ỏnh mối quan hệ giữa đối tượng được định danh với cỏc đối tượng khỏc (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w