1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu rau củ quả của việt nam sang liên minh châu âu (EU) trong giai đoạn 2000 2017 (luận văn thạc sỹ luật)

84 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kim Ngạch Xuất Khẩu Rau Củ Quả Của Việt Nam Sang Liên Minh Châu Âu (EU) Trong Giai Đoạn 2000-2017
Tác giả Lê Thị Cẩm Tiên
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Luân
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mặt hàng chủ lực của rau quả là chuối Lào Cai, nhãn Indo, nhãn quế, chôm chôm La Va, xoài Cát Chu…Các sản phẩm trồng trọt cũng đã xuất khẩu sang thị trường khó tính và yêu cầu tiêu c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

-

LÊ THỊ CẨM TIÊN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIM NGẠCH XUẤT KHẨU RAU CỦ QUẢ CỦA VIỆT NAM

SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2017

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

-

LÊ THỊ CẨM TIÊN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIM NGẠCH XUẤT KHẨU RAU CỦ QUẢ CỦA VIỆT NAM

SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2017

Chuyên ngành: Kinh tế học

Mã số: 60.31.01.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN LUÂN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn “các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch

xuất khẩu rau củ quả của Việt Nam sang liên minh châu Âu (EU) trong giai đoạn 2000-2017” là luận văn độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Nguyễn Văn Luân Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi

tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào, tôi sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung luận văn của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 7 năm 2019

Kí tên

Lê Thị Cẩm Tiên

Trang 4

Bảng 4.3: giá trị hàng rau củ quả xuất khẩu sang EU từ năm 2010 đến 2018

Bảng 4.4: Giá trị xuất khẩu sang một số thị trường ở EU từ năm 2016 đền 2018 Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng và thị phần của nhóm rau củ quả của EU nhập khẩu từ các nước trên thế giới

Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng và thị phần của từng nhóm sản phẩm trong tổng giá trị xuất khẩu sang EU trong giai đoạn từ 2000-2017

Bảng 4.7: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam và giá trị nhập khẩu của EU trong giai đoạn 2000-2017

Bảng 4.8: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam theo nhóm HS code và phần trăm trong tổng giá trị nhập khẩu của EU trong giai đoạn 2000-2017

Bảng 4.9: tốc độ tăng trưởng và thị phần của một số quốc gia mà ngành rau quả Việt Nam xuất khẩu sang EU trong giai đoạn từ năm 2000-2017

Bảng 4.10: kết quả các hiệu ứng của xuất khẩu rau quả Việt Nam sang EU

Bảng 4.11: Hiệu ứng cấu trúc sản phẩm của từng nhóm sản phẩm

Bảng 4.12: Hiệu ứng địa lý của từng quốc gia

Trang 5

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Mô hình kim cương của M.Porter

Hình 2.2: Khung phân tích

Hình 4.1: cơ cấu mặt hàng rau quả xuất khẩu sang EU (%)

Hình 4.2: Giá trị nhập khẩu của EU trên toàn thế giới theo từng nhóm HS code trong giai đoạn từ năm 200-2017

Hình 4.3: Tổng giá trị xuất khẩu và giá trị từng nhóm HS code của Việt Nam xuất khẩu sang EU từ năm 2000-2017

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ATTP: An toàn thực phẩm

EU: Liên minh châu Âu

EVFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU GDP: Tổng sản phẩm nội địa

XK: xuất khẩu

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

Tính cấp thiết của đề tài 1

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài 2

1.2 Nghiên cứu trong nước 3

1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 4

1.2.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 6

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 6

1.3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

1.4 Đối tượng nghiên cứu 7

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu 7

1.4.2 Nguồn dữ liệu 7

1.5 Bố cục luận văn 7

1.6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU RAU CỦ QUẢ 10

Cơ sơ lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu rau củ quả của Việt 2.1 Nam 10

Khái niệm về rau củ quả và phân loại rau củ quả 10

2.1.1 Đặc tính của rau củ quả 13

2.1.2 Các lý thuyết về xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 14

2.2 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 14

2.2.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo 15

2.2.2 Lý thuyết H-O 16

2.2.3 Lý thuyết về thương mại quốc tế giữa các quốc gia cạnh tranh của 2.2.4 M.Porter 16

Lý thuyết mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế 17

2.2.5 Khung phân tích 18 2.3

Trang 8

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

Mô hình ngiên cứu 21

3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình 21

3.1.1 Mô hình thực hiện 22

3.1.2 Nguồn dữ liệu 25

3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 26

3.3 CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

Thực trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU 28

4.1 EU- Thị trường tiềm năng 28

4.1.1 Các tiêu chuẩn khi xuất khẩu rau củ quả vào EU 32

4.1.2 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU từ năm 2010-2018 35

4.1.3 Thị trường xuất khẩu chủ lực 36

4.1.4 Đánh giá các yếu tố tác động đến mô hình và hàm ý chính sách 39

4.2 Nguồn dữ liệu sử dụng trong mô hình 39

4.2.1 Kết quả mô hình 40

4.2.2 4.2.2.1 Kim ngạch nhập khẩu của EU trên toàn thế giới 40

4.2.2.2 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU 42

4.2.2.3 Các hiệu ứng của mô hình CMS và hàm ý 49

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59

Kết luận 59

5.1 Hàm ý chính sách 60

5.2 Hướng đến kinh tế trang trại 60

5.2.1 Quy hoạch vùng sản xuất Từng vùng sẽ trồng những sản phẩm đặc 5.2.2 trưng 62

Hướng tới công nghiệp chế biến 63

5.2.3 Thực hiện liên kết 4 nhà: nhà nước, doanh nghiệp,nhà nông, nhà khoa 5.2.4 học 65

Chính sách marketing hiệu quả 66

5.2.5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC vii

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Tính cấp thiết của đề tài

1.1

Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm quanh năm, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 80% tổng diện tích đất tự nhiên Với điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với diện tích đất canh tác rộng lớn, Việt Nam là quốc gia đứng đầu về xuất khẩu các mặt hàng như lúa, gạo, cà phê…Theo báo cáo của tổng cục thống kê năm 2016, để đạt được mức tăng 6.81% thì riêng ngành ngành nông nghiệp tăng 2,07% (năm 2016 tăng 0,72%), đóng góp 0,24 điểm phần trăm trong 0,44 điểm phần trăm mức tăng chung cho toàn khu vực nông, lâm, ngư nghiệp Và cho thấy có sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành, tập trung vào sản xuất các mặt hàng có giá trị cao

Tuy nhiên, đây chỉ dấu hiệu tích cực tạm thời, do bản chất của nông nghiệp thì phụ thuộc vào thiên nhiên khá nhiều Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn an toàn như Vietgap, rau an toàn (RAT), rau hữu cơ…đã được xây dựng dựa trên tiêu chí an toàn của các nước như Eurogap, global Gap…nhưng chỉ đáp ứng được khoảng 60% tiêu chuẩn kĩ thuật của các nước trên thế giới Nguyên nhân là sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ; chưa áp dụng khoa học kĩ thuật làm cho năng suất thấp Chính những yếu tố này làm khối lượng xuất khẩu sang chiếm tỉ trọng thấp sang các nước có yêu cầu hàng rào kĩ thuật cao như Mỹ, Úc, Newzeland hay bị phụ thuộc rất lớn vào tình hình nhập khẩu của Trung Quốc

Với hàng loạt các mặt hàng nông sản mà Việt Nam đã tập trung khai thác mang thì gần đây nhóm ngành rau củ quả được xem như là mang luồng gió mới cho xuất xuất nông sản của Việt Nam Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, giá trị xuất khẩu hàng rau quả năm 2017 ước đạt 3,16 tỷ USD, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm

2016 Vào năm 2018 theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam đạt 3,52 tỷ USD, tăng 10,8% so với năm

2017 Nếu so với kim ngạch 2,4 tỷ USD của năm 2016 và 3,5 tỷ USD của năm

Trang 10

vượt qua nhiều mặt hàng nông sản vốn là thế mạnh như chè, hạt tiêu, gạo, và trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Các mặt hàng chủ lực của rau quả là chuối Lào Cai, nhãn Indo, nhãn quế, chôm chôm La Va, xoài Cát Chu…Các sản phẩm trồng trọt cũng đã xuất khẩu sang thị trường khó tính và yêu cầu tiêu chuẩn cao như Mỹ, Nhật Bản, Úc…

Song song đó, Việt Nam và EU sắp triển khai Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) sẽ là cơ hội lớn cho xuất rau củ quả vào các nước của liên minh châu Âu (EU) EU là thị trường tiềm năng rất lớn, chiếm 23%GDP danh nghĩa của toàn thế giới, thu nhập bình quân đầu người lên đến 32.900 USD/người/năm Đồng thời do điều kiện khí hậu ôn đới nên các quốc gia trong khối liên minh nhập khẩu một lượng lớn rau củ quả nhiệt đới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân trong khu vực Vì vậy, mối quan hệ thương mại song phương của Việt Nam và EU trong việc xuất khẩu rau củ quả là lợi thế tuyệt đối thuộc về Việt Nam

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa tận dụng được những lợi thế vốn có để gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang các nước EU, chúng ta chỉ xuất khẩu được khoảng 1% lượng nhập khẩu của toàn EU và xuất khẩu dưới dạng tươi và sơ chế Nguyên nhân là các sản phẩm sang thị trường EU thì cần phải quan tâm đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng sản phẩm…

Chính vì những lí do trên, em chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu rau củ quả của Việt Nam sang liên minh châu Âu (EU) trong giai đoạn 2000-2017” Đề tài này được thực hiện nhằm làm gia tăng kim ngạch

xuất nhập khẩu rau củ quả sang EU, khai thác triệt để giá trị tiềm năng kinh tế của rau củ quả đồng thời định hướng cách khẳng định thương hiệu của rau củ quả trên thị trường thế giới

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

1.2

Dựa vào các lý thuyết kinh tế cũng như các nghiên cứu về định tính, định lượng được khảo sát và thực hiện ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã

Trang 11

tích hợp được các nhân tố tác động tình hình xuất khẩu củ quả quả sang thị trường nước ngoài Xét trên khía cạnh thực tế thì có rất nhiều nhân tố tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu cụ thể bằng mô hình hóa đã nhận được quan tâm và điều chỉnh liên tục theo thời gian để phù hợp với mục đích thực hiện, đó là mô hình thị phần không thay đổi (Constant makert share model_CMS model) Mô hình này được thực hiện trong công trình nghiên cứu, bài báo…trong và ngoài nước Đồng thời, đưa ra được cái nhìn tổng quát về thị phần cũng như vị thế sản phẩm của quốc gia đang như thế nào so với nền kinh tế toàn cầu

Nghiên cứu trong nước 1.2.1

Việc sử dụng mô hình thị phần không thay đổi đã được thực hiện khá nhiều trong với những nghiên cứu khác nhau dành cho các nhóm ngành xuất khẩu vào từng thị trường riêng biệt trong những khoảng thời gian nhất định Các nghiên cứu mang dấu ấn lớn có thể kể đến như sau:

Tác giả Trần Thị Anh Đào, Võ Trí Thành, Nguyễn Ánh Dương, Phạm Thiên Hoàng và Trịnh Quang Long trong tác phẩm “xuất khẩu của Việt Nam sang EU: Tổng quan và đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên thị phần không đổi” Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả thực hiện trong giai đoạn 1997-2004 Nhóm tác giả đã chỉ ra hiệu ứng cạnh tranh tích cực gắn liền với tiến bộ

ấn tượng của Việt Nam trong cải cách hệ thống thương mại kể từ đầu những năm

1990 Dấu hiệu tiêu cực của hiệu ứng thành phần hàng hóa cho thấy phần lớn hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn là các sản phẩm dựa trên tài nguyên và sử dụng nhiều lao động và trên thực tế, nhu cầu của thế giới đối với các mặt hàng này có xu hướng thấp Mặc dù hiệu ứng thành phần hàng hóa vẫn còn tiêu cực, nhưng có sự cải thiện

cơ cấu hàng hóa xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2004 Bên cạnh đó, hiệu ứng tiêu cực của hiệu ứng phân phối thị trường vào hiệu suất xuất khẩu chung của Việt Nam cho thấy rằng có một phạm vi rộng lớn để cải thiện đa dạng hóa thị trường ngoài các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Mỹ, vẫn là thị trường xuất khẩu chính cho hàng hóa cuối cùng

Trang 12

Thêm vào đó, trong bài viết “xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại với Trung Quốc” của TS Võ Thành Danh đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 360- tháng 5 năm 2008 Trong bài nghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận nông sản xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc chịu ảnh hưởng của tổng cầu nông sản (tác động cầu), khả năng tăng trưởng của từng nhóm nông sản (tác động cấu trúc) và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam và Trung Quốc (tác động cạnh tranh) Khả năng cạnh tranh yếu là nguyên nhân chính làm giảm giá trị xuất khẩu của nông sản vào cuối giai đoạn năm 2004

Hay trong bài “Xuất khẩu rau quả Việt Nam-thực trạng và giải pháp” tạp chí

khoa học và công nghiệp lâm nghiệp tháng 10/2017 của tác giả Võ Thị Phương Dung, Đỗ Thị Thúy Hằng, Võ Thị Hải Hiền Nhóm tác giả đã đã chỉ ra được thực trạng hiện tại của rau quả Việt Nam đa dạng chủng loại, xuất khẩu được nhiều thị trường mới, hướng đến Hàn Quốc, Nhật Bản Song nó còn manh mún, giá trị gia tăng không cao, mang tính mùa vụ, có sự khác biệt giữa các vùng miền…Xuất phát

từ thực tế, giải pháp đưa ra chủ yếu tập trung chính vào nhóm sản phẩm, nghiên cứu thị trường, tổ chức quản lý xuất khẩu…

Nghiên cứu nước ngoài 1.2.2

Việc áp dụng mô hình CMS trong nước được thực hiện trong các bài báo, nghiên cứu còn khá ít nhưng mô hình này được áp dụng và tính toán trên thực nghiệm được sử dụng khá nhiều trong các nghiên cứu ở nước ngoài

Trong đó, các nghiên cứu thực nghiệm cho các nước Đông Á, phương pháp CMS đã được Chen et al (1999), người đã đánh giá khả năng cạnh tranh sau xuất khẩu của Trung Quốc xuất khẩu trong các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp trong những năm 1980-96 Kết quả CMS cho thấy xu hướng giảm sức cạnh tranh của Trung Quốc đối với các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp từ năm 1986 đến 1996

Do đó, xuất khẩu nông sản thực phẩm tăng chủ yếu là do nhu cầu nhập khẩu thế giới tăng và hiệu quả phân phối thị trường thuận lợi

Trang 13

Tương tự, Juswanto và Mulyanti (2003) đã kiểm tra hàng xuất khẩu do Indonesia sản xuất trong những năm 1990 Phân tích cho thấy tăng trưởng xuất khẩu của Indonesia có vấn đề nghiêm trọng với thành phần hàng hóa và đáp ứng thấp với nhu cầu thế giới

Parapinski (2012) đã xem xét ảnh hưởng của tăng trưởng thị trường toàn cầu, điểm đến xuất khẩu và khả năng cạnh tranh bằng cách áp dụng phương pháp CMS cho xuất khẩu đồ gỗ Brazil trong giai đoạn 1991-2010 Sereia, Camara, & Anhesini (2012) Được sử dụng như một phương pháp để nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sản xuất

cà phê Brazil từ năm 1990 đến năm 2007

Wu, Wang, & Lin (2016) đã sử dụng mô hình CMS để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong xuất khẩu lâm sản nguyên sinh ở Mỹ và Trung Quốc

từ năm 2005 đến 2012

Mô hình sử dụng thị phần không đổi (CMS) để đánh giá năng lực cạnh tranh của thị trường Nut Brazil được thực hiện bởi tác giả Giovanna Paiva Aguiar, João Carlos Garzel Leodoro da Silva, José Roberto Frega, Lorena Figueira de Santana1, & Jaqueline Valerius Tác giả thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian ba năm, thực hiện phân phối đều, từ một đến ba năm, trong chuỗi dữ liệu của mười lăm năm (1998-2012) Theo nghiên cứu này, nhóm tác giả đã kết luận rằng có thể có lợi cho các công

ty Brazil để giành được thị phần cho thị trường hạt Brazil vỏ, có tốc độ tăng trưởng cao hơn trên thị trường quốc tế Bằng cách cạnh tranh hơn trong xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, quốc gia này có thể xuất khẩu sản phẩm vỏ với giá cao hơn, giành được nhiều không gian hơn trên thị trường quốc tế và mang lại thu nhập và phát triển nhiều hơn cho lãnh thổ của mình, đặc biệt là cho các cộng đồng khai thác phụ thuộc của hạt dẻ cho nguồn gốc của nó.Hay trong nghiên cứu của tác giả Wawan Juswanto và Puji Mulyanti thực hiện vào năm 2003 tập trung vào giá trị xuất khẩu của Indonesia trong giai đoạn 1990-1999 sang các quốc gia trên thế giới Nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn của nhóm tác giả vẫn sử dụng chủ yếu là mô hình CMS Phân tích CMS cho thấy thành phần hàng hóa là một vấn đề chính đối với tăng

Trang 14

cực trong suốt giai đoạn này Vấn đề này có thể là do xuất khẩu sản xuất của Indonesia tập trung quá nhiều vào SITC 6 (hàng chế biến và phân loại theo nguyên vật liệu) và 8 ( hàng chế biến khác), có nhu cầu thế giới tăng trưởng tương đối chậm Mặt khác, thị phần của SITC 7 (nhóm hàng máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng) là nhóm sản phẩm có nhu cầu thế giới tăng trưởng khá nhanh, tương đối nhỏ ở Indonesia

Tóm lại, mô hình CMS được nghiên cứu thực nghiệm khá nhiều và phần nào

đã đáp ứng được yêu cầu của các tác giả về đánh giá khách quan cũng như những phân tích cụ thể kim ngạch xuất nhập khẩu của nước chủ nhà sang các nước trên thế giới Qua đó cũng tìm ra được nhóm sản phẩm nào đóng vai trò chủ lực cần xuất khẩu, nhóm sản phẩm nào đang được các quốc gia nhập khẩu có nhu cầu cao…

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Ba là, gợi ý chính sách về quy hoạch diện tích gieo trồng, chủng loại, thời điểm quy hoạch hay các chính sách đầu tư cho nông nghiệp gồm máy móc, trang thiết bị…

Câu hỏi nghiên cứu 1.3.2

Đề tài này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau:

1 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu ngành rau củ qua sang thị trường

EU

Trang 15

2 Khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của rau củ quả so với sản phẩm nội địa của EU

3 Chính sách dành cho người sản xuất cũng như chính phủ để gia tăng kim ngạch xuất khẩu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4

Đối tượng nghiên cứu 1.4.1

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu rau củ quả sang thị trường

liên minh châu Âu (EU)

Phạm vi nghiên cứu 1.4.2

Về nội dung: xem xét các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến xuất

khẩu rau củ quả của Việt Nam sang thị trường EU

Về không gian: các nhà sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu rau củ quả Việt

Nam sang thị trường EU

Về thời gian: giai đoạn 2010 - 2017

Nguồn dữ liệu

1.5

Đề tài sử dụng bộ số liệu của Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước, Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn về các yếu tố tác động đến giá trị xuất khẩu của ngành rau củ quả Việt Nam xuất khẩu sang liên minh Châu Âu Với đề tài này, tác giả vẫn giữ nguyên số lượng của liên minh châu Âu là 28 nước do Anh chỉ chính thức rời EU sau sự kiện Brexit vào tháng 3 năm 2019

Dữ liệu sử dụng nghiên cứu được tổng hợp từ kim ngạch xuất khẩu từ UN Comtrade, các chỉ số: kim ngạch xuất khẩu, thị phần xuất khẩu-nhập khẩu của từng quốc gia trong khối liên minh châu Âu… được khảo sát trong giai đoạn từ năm

2000 đến 2017

Trang 16

Bố cục của luận văn chia thành năm chương

Chương 1: Mở đầu Chương này tập trung chủ yếu vào việc giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu, phương pháp cũng như tổng quan tình hình nghiên cứu về vấn

Trang 17

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Với chương 1, luận văn tập trung làm rõ tính cấp thiết để thực hiện nghiên cứu về tình hình xuất khẩu rau củ quả của Việt Nam sang EU Trên cơ sở đó, đưa ra các định hướng nghiên cứu, mục tiêu mà luận văn hướng đến cũng như cách thức tiếp cận giải quyết vấn đề

Chương 1 là tiền đề, sơ khởi để các chương sau đó thực hiện nhiệm vụ làm

rõ vấn đề, trả lời tốt các câu hỏi được đưa ra Đây cũng là chương khái quát rõ phạm

vi, đối tượng về không gian thời gian mà luận văn hướng tới nhằm tạo nền tảng quan trọng để các chương sau bám sát theo

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU RAU CỦ QUẢ

Cơ sơ lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu rau củ quả của 2.1

Việt Nam

Khái niệm về rau củ quả và phân loại rau củ quả 2.1.1

Theo khái niệm của liên minh châu Âu (EU), nhóm sản phẩm rau quả (rau

quả tươi và rau quả chế biến) bao gồm các sản phẩm thuộc Chương 07, Chương 08

và Chương 20 trong Hệ thống phân loại HS code

Nhóm sản phẩm nghiên cứu được thống kê với các mã HS như sau:

Mã hàng Mô tả

0701 Khoai tây, tươi hoặc ướp lạnh

0702 Cà chua, tươi hoặc ướp lạnh

0703 Hành, hành tăm, tỏi, tỏi tây, các loại rau họ hành, tỏi khác, tươi hoặc

ướp lạnh

0704 Bắp cải, hoa lơ, su hào, cải xoăn và các loại rau ăn được tương tự,

tươi hoặc ướp lạnh

0705 Rau diếp, xà lách (lactuca sativa) và rau diếp, xà lách xoăn (cichorium

spp), tươi hoặc ướp lạnh

0706 Cà rốt, củ cải, củ cải đỏ làm rau trộn (sa-lát), cần củ, diếp củ, củ cải ri

và các loại củ rễ ăn được tương tự, tươi hoặc ướp lạnh

0707 Dưa chuột và dưa chuột ri, tươi hoặc ướp lạnh

0708 Rau khác, tươi hoặc ướp lạnh

0709 Rau đậu đã hoặc chưa bóc vỏ, tươi hoặc ướp lạnh

0710 Rau các loại (đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong nước), đông

lạnh

Trang 19

0711 Rau các loại đã bảo quản tạm thời (ví dụ, bằng khí sunphurơ, ngâm

nước muối, ngâm nước lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác), nhưng không ăn ngay được

0712 Rau khô, ở dạng nguyên, cắt, thái lát, vụn hoặc ở dạng bột, nhưng

chưa chế biến thêm

0713 Các loại rau đậu khô, đã bóc vỏ quả, đã hoặc chưa bóc vỏ hạt hoặc

làm vỡ hạt

0714 Sắn, củ dong, củ lan, a-ti-sô Jerusalem, khoai lang và các loại củ và rễ

tương tự có hàm lượng tinh bột hoặc inulin cao, tươi, ướp lạnh, đông lạnh hoặc khô, đã hoặc chưa thái lát hoặc làm thành dạng viên; lõi cây

cọ sago

0802 Quả hạch (nut) khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ

0803 Chuối, kể cả chuối lá, tươi hoặc khô

0804 Quả chà là, sung, vả, dứa, bơ, ổi, xoài và măng cụt, tươi hoặc khô

0805 Quả thuộc chi cam quýt, tươi hoặc khô

0806 Quả nho, tươi hoặc khô 0807

0807 Các loại dưa (kể cả dưa hấu) và đu đủ, tươi

0808 Quả táo, lê và qủa mộc qua, tươi

0809 Quả mơ, anh đào, đào (kể cả xuân đào), mận và mận gai, tươi

0810 Quả khác, tươi

0811 Quả và quả hạch (nut), đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong

nước, đông lạnh, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất làm ngọt khác

0812 Quả và quả hạch (nut), được bảo quản tạm thời (ví dụ, bằng khí

sunphurơ, ngâm nước muối, nước lưu huỳnh hoặc dung dịch bảo quản khác), nhưng không ăn ngay được

0813 Quả, khô, trừ các loại quả thuộc nhóm 08.01 đến 08.06; hỗn hợp các

loại quả hạch (nut) hoặc quả khô

0814 Vỏ các loại quả thuộc chi cam quýt, hoặc các loại dưa (kể cả dưa

Trang 20

nước lưu huỳnh hoặc trong các dung dịch bảo quản khác

2001 Rau, quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế

biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic

2002 Cà chua đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ loại bảo quản

bằng giấm hoặc axít axetic

2003 Nấm và nấm cục, đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo

quản bằng giấm hoặc axít axetic

2004 Rau khác, đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo quản

bằng giấm hoặc axít axetic, đã đông lạnh, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 20.06

2005 Rau khác, đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo quản

bằng giấm hoặc axít axetic, không đông lạnh, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 20.06

2006 Rau, quả, quả hạch (nut), vỏ quả và các phần khác của cây, được bảo

quản bằng đường (dạng khô có tẩm đường, ngâm trong nước đường hoặc bọc đường)

2007 Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quýt, bột nghiền và bột

nhão từ quả hoặc quả hạch (nut), thu được từ quá trình đun nấu, đã hoặc chưa pha thêm đường hay chất làm ngọt khác

2008 Quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế biến

hoặc bảo quản bằng cách khác, đã hoặc chưa pha thêm đường hay chất làm ngọt khác hoặc rượu, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác

2009 Các loại nước ép trái cây (kể cả hèm nho) và nước rau ép, chưa lên

men và chưa pha thêm rượu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc chất làm ngọt khác

Bảng 2.1: Các mặt hàng rau quả

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 21

Theo phân chia của Tổng cục hải quan, rau quả xuất khẩu chia thành 3 nhóm

chính: nhóm hàng rau, nhóm hàng quả, nhóm rau quả chế biến Trong đó nhóm hàng rau bao gồm cà chua, bắp cải, hành, dưa chuột…tươi hoặc ướp lạnh, các loại rau thái, vụn, bột nghiền, ngâm dung dịch nhưng không được ăn ngay Nhóm hàng quả chủ yếu là chuối, cam, quýt, nho, táo, thanh long…tươi, khô, đông lạnh ngâm dung dịch nhưng không được ăn ngay Còn nhóm rau quả chế biến là rau quả đã qua chế biên sâu như muối, ngâm đường, rau quả nghiền có thể ăn liền, các loại mức…

Đặc tính của rau củ quả 2.1.2

Thứ nhất, rau quả chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Các yếu tố

như mưa, đất đai, địa hình, nguồn nước…có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sôi và phát triển cũng năng suất, giá cả của rau củ quả Nếu thời tiết thuận lợi thì rau củ quả sẽ phát triển tốt, cho sản lượng, tạo nên nguồn cung dồi dào Ngược lại, khi sâu bệnh, mưa bão xuất hiện thì sẽ phá hoại diện tích gieo trồng, nguồn cung bị khan hiếm và dẫn đến giá cả sản phẩm đó sẽ cao hơn mức bình thường

Thứ hai, có tính mùa vụ Quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ các mặt

hàng rau quả chỉ xuất hiện vào một mùa nhất định trong năm Vào đúng thời điểm mùa vụ thì mặt hàng rau quả đó sẽ có nguồn cung dồi dào, chất lượng đa dạng nên giá sẽ bán rẻ hơn Vào những thời điểm khác thì nguồn cung khan hiếm, giá cả cao Mặc dù, hiện nay khoa học công nghệ phát triển có thể góp phần trong việc tạo điều kiện cho các mặt hàng này sinh sôi phát triển nhưng sản lượng tạo ra không nhiều, chi phí cao Nguyên nhân xuất phát từ việc gieo trồng trái vụ, thời tiết không thích hợp, sâu bệnh dễ phát triển…

Thứ ba, có tính tươi sống Rau quả đều thu hoạch dạng tươi nên khó bảo

quản, không bảo quản trong thời gian dài Nếu bảo quản thì cần phải có quy trình kiểm tra nghiêm ngặt, máy móc trang thiết bị hiện đại về ánh sáng, nhiệt độ, hàm lượng thuốc bảo quản…

Trang 22

Thứ tư, chủng loại và chất lượng rất khác nhau Chất lượng của các mặt

hàng rau quả phụ thuộc khác nhau vào trình độ sản xuất của người nông dân, khu vực gieo trồng Ví dụ như vải thiều ở Lục Ngạn, Bắc Giang thì sẽ có chất lượng, hình dáng, độ ngọt…sẽ khác với vải thiều Thanh Hà, Hải Dương Nguyên nhân là

do điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất, qui mô đầu tư, cây giống ban đầu… Do đó, việc đưa ra tiêu chuẩn để kiểm soát chất lượng cùa các mặt hàng rau quả là vô cùng khó khăn và cũng rất khó thực hiện

Thứ năm, có tính phân tán và địa phương Mỗi địa phương thì chỉ thích hợp

chuyên canh một hoặc một số sản phẩm nhất định Điển hình như rau quả thì tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn, đồng bằng màu mỡ như đồng bằng sông Hồng

và đồng bằng sông Cửu Long Nhưng việc tiêu thụ lại chủ yếu dựa vào các trung tâm thành phố, khu công nghiệp Cách thức vận chuyển chủ yếu là vận chuyển trực tiếp, không có quy trình bảo quản cụ thể nên khi đến các địa điểm tiêu thụ thì rau quả đã héo, kém chất lượng hoặc bị vượt quá liều lượng chất bảo quản

Các lý thuyết về xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 2.2

Các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của nông sản nói chung và mặt hàng rau quả nói riêng tập trung vào việc sử dụng nhóm

lý thuyết trao đổi thương mại quốc tế tác động đến kim ngạch xuất khẩu Trong đó, các lý thuyết được sử dụng chủ đạo đó là (1) lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith; (2) lý thuyết về lợi thế so sánh; (3) lý thuyết Heckscher Ohlin (lý thuyết H-O); (4) lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia (mô hình kim cương của Porter), (5) lý thuyết về mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế

Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 2.2.1

Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được tác giả đề cập đến trong tác phẩm “của cải các dân tộc” (1776) Ông bác bỏ quan điểm trong trò chơi thương mại tổng lợi ích bằng 0 Ông lập luận các quốc gia khác nhau chính là về khả năng sản xuất các hàng hóa một cách có hiệu quả, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những

Trang 23

sản phẩm mà nước đó có lợi thế và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác

Lập luận cơ bản của Adam Smith là một quốc gia không bao giờ nên tự sản xuất những hàng hóa mà thực tế có thể mua được từ các nước khác với chi phí thấp hơn Và bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế Tuy nhiên, ông vẫn chưa thể lí giải được một số quốc gia dù có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn các quốc gia khác nhưng họ vẫn nhập khẩu hàng hóa hay quốc gia không có lợi thế tuyệt đối ở sản phẩm nào thì họ nên sản xuất sản phẩm ra sao

Lý thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo 2.2.2

Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” viết năm 1817 của Ricardo, ông đã đưa ra khái niệm mới phát triển xa hơn nữa lý thuyết trước đó của Adam Smith đó là lý thuyết về lợi thế so sánh Một nước chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà nước đó sản xuất một cách hiệu quả hơn và mua về những hàng hóa mà nước đó sản xuất kém hiệu quả hơn so với các nước khác, ngay cả khi mua hàng hóa từ những nước khác mà mình có thể tự sản xuất hiệu quả hơn

Lý thuyết này nhằm khẳng định sản lượng tiềm năng của thế giới sẽ lớn hơn nhiều trong điều kiện thương mại tự do không bị hạn chế (so với trong điều kiện hạn chế về thương mại) Lý thuyết của Ricardo gợi ý rằng người tiêu dùng ở tất cả các quốc gia sẽ được tiêu dùng nhiều hơn nếu như không có hạn chế trong thương mại giữa các nước

Mặc dù lý thuyết của ông tạo nền tảng quan trọng trong việc trao đổi thương mại quốc tế ra tầm cao mới song lý thuyết này lại đưa ra những giải thuyết mang tính phi thực tế

1 Giả thiết về một thế giới giản đơn trong đó chỉ có 2 quốc gia và 2 loại hàng hóa

Trang 24

2 Giả thiết về chi phí vận tải bằng không giữa các quốc gia

3 Giả thiết về giá cả các nguồn lực sản xuất là ngang bằng nhau tại các quốc gia khác nhau, không quan tâm đến tỉ giá hối đoái

4 Giả thiết về các nguồn lực sản xuất có thể dễ dàng di chuyển giữa các ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia

5 Giả thiết về hiệu suất không đổi theo quy mô

6 Giả thiết rằng mỗi nước có một lượng nguồn lực sản xuất không đổi và thương mại tự do không thay đổi hiệu quả sử dụng các nguồn lực của từng quốc gia

Lý thuyết H-O 2.2.3

Hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) chứng tỏ rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất Lý thuyết Heckscher-Ohlin dự báo rằng các nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố dồi dào tại nước đó và nhập khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố khan hiếm tại nước đó Như vậy, lý thuyết H-O cố gắng giải thích mô hình của thương mại quốc tế mà ta chứng kiến trên thị trường thế giới

Tuy nhiên, cũng giống như sai lầm mà Ricardo mắc phải, lý thuyết H-O đưa

ra những giả thuyết phi thực tế: công nghệ các nước là như nhau

Lý thuyết về thương mại quốc tế giữa các quốc gia cạnh tranh của 2.2.4

M.Porter

Bằng các quan sát thực nghiệm cũng như trải qua quá trình nghiên cứu các lý thuyết về trao đổi thương mại quốc tế trước đó, Porter đã xuất bản quyển sách đề cập về sự thành công cũng như thất bại trong trao đổi thương mại quốc tế giữa các nước

Trang 25

Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh:

Hình 2.1: Mô hình kim cương của M.Porter

Nguồn: Chales.W.Hill (năm 2009) Porter cho rằng có hai yếu tố nữa có thể chi phối tới mô hình kim cương của quốc gia theo những cách thức quan trọng khác nhau: đó là cơ hội và chính phủ Những cơ hội xảy đến, ví dụ những phát minh sáng tạo lớn, có thể tái cấu trúc lại ngành và mang lại cơ hội để vượt lên các quốc gia khác Chính phủ, bằng cách lựa chọn các chính sách của mình, có thể làm giảm đi hoặc cải thiện lợi thế quốc gia

Lý thuyết mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế 2.2.5

Theo CIEM (2016, tr.12) “mô hình lực hấp dẫn được sử dụng trong phân tích thương mại, đầu tư, lao động giữa các quốc gia với nhau” Mô hình này ứng dụng trong thương mại dự đoán rằng trao đổi thương mại song phương phụ thuộc vào quy

mô của hai nền kinh tế và khoảng cách giữa chúng Mô hình này được sử dụng lần đầu tiên bởi Jan Tinbergen vào năm 1962 và được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm để đo lường mức độ tác động của các yếu tố lên dòng chảy thương mại giữa các quốc gia

Các điều kiện về yếu

tố sản xuất

Các ngành hỗ trợ và

liên quan

Các điều kiện về cầu

Chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh ngành

Trang 26

Có thể hệ thống lại các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất nhập khẩu chung của quốc gia dựa trên nền tảng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế thành

Khung phân tích

2.3

Dựa vào kinh nghiệm và các nghiên cứu trước, đề tài tập trung vào phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang châu Âu Các điều kiện kinh tế-xã hội ở Việt Nam cũng có những nét tương đồng và khác biệt so với các nước trên thế giới đã được nghiên cứu, tác giả sẽ điều chỉnh và thêm một số nhân tố nhằm xây dựng khung tích như bên dưới:

Trang 27

Các hiệp định thương mại

Khoảng cách địa lý

Chính thuế quan, phi thuế quan

Hình 2.2: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu rau quả

Nguồn: tác giả thực hiện

Nhóm nhân tố của

nước xuất khẩu

+ Quy mô nền kinh

+ Quy mô nền kinh tế + Dân số

+ Nhu cầu sử dụng + Diện tích đất nông nghiệp

Nhóm nhân tố tác tạo động lực/cản

trở

Nhóm nhân tố tác tạo động lực/cản trở

Trang 28

Ngoài ra, chương này cũng tập trung vào xây dựng khung lý thuyết, khung khái niệm và khung phân tích để làm tiền đề cho việc sử dụng mô hình, phân tích

mô hình ở các chương sau

Các lý thuyết về mô hình phát triển trong thương mại quốc tế đã phát triển từ lâu và có sự kế thừa theo hình xoắn ốc ngày càng phát triển, xem xét trên khía cạnh

đa diện hơn Bản thân tác giả đưa ra khung phân tích cũng là dựa vào sự phát triển của các lý thuyết cũng như dựa vào điều kiện thực tế tại Việt Nam có sự điều chỉnh những nhân tố mang tính cá biệt, địa phương hóa

Tóm lại, chương 2 là nền tảng quan trọng, chuẩn bị bộ khung cho các chương sau thực hiện nhiệm vụ giải thích, chứng minh

Trang 29

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô hình ngiên cứu

Về cơ bản, mô hình CMS được xây dựng dựa trên giả định rằng không có thay đổi ở nước ngoài và duy trì khả năng cạnh tranh ở nước chủ nhà, thị phần xuất khẩu của một quốc gia trên thị trường thế giới sẽ không thay đổi theo thời gian Bất

kỳ sự thay đổi về tăng trưởng xuất khẩu thực tế ( trong trường hợp thị phần không thay đổi) được chia thành bốn thành phần: thương mại thế giới, thành phần hàng hóa, phân phối thị trường và phần còn lại thường được gọi là khả năng cạnh tranh Phương pháp phân tich phải được áp dụng trích xuất dữ liệu ở mức riêng biệt đối với thị trường và sản phẩm Sau đó, mô hình này còn cho phép phân tích ảnh hưởng riêng biệt của các yếu tố khác nhau này đến hiệu suất xuất khẩu

Song mô hình vẫn còn đơn giản, chưa phản ánh được thực tế khách quan, nên trong giai đoạn sau các nhà nghiên cứu tìm cách hoàn thiện thông qua việc thêm một hoặc một vài hiệu ứng để phù hợp với nghiên cứu thực nghiệm tại quốc gia mà họ quan sát Do đó sẽ có rất nhiều phiên bản khác nhau đối với mô hình CMS Chúng ta có thể kể đến nghiên cứu của bởi Leamer và Stern (1970) đề xuất một phiên bản mới của phương pháp Họ đã thêm một hiệu ứng 'trung gian', hiệu ứng phân phối thị trường xuất khẩu của một quốc gia Ý tưởng đằng sau này là do nhập khẩu của các quốc gia khác nhau tăng trưởng ở các mức độ khác nhau, sự

Trang 30

phân phối theo địa lý xuất khẩu của một quốc gia cũng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu của đất nước

Một nghiên cứu quan trọng hơn nhiều về phương pháp đã được đưa ra bởi Richardson (1971) Ông chỉ ra rằng thành phần hàng hóa và hiệu ứng phân phối thị trường của Leamer và Stern phụ thuộc lẫn nhau, tức là quan tâm về thứ tự tính toán Theo đó, các giá trị và dấu hiệu của các hiệu ứng khác nhau có thể thay đổi nếu giai đoạn được xem xét được sử dụng làm năm gốc có sự khác nhau Tức là nếu chọn năm gốc là năm 2000 thì các nhân tố được tính toán sẽ khác so với năm chọn làm gốc là năm 1999

Hay như nghiên cứu gần đây của Jepma (1986) đã phát triển một cách tiếp cận sửa đổi nhằm khắc phục vấn đề nghiêm trọng nhất trong số các vấn đề này: vấn

đề trật tự Các ứng dụng của mô hình sửa đổi Jepma, bao gồm Jepma (1986, 1988)

và Hoen và Wagener (1989) Ahmadi-Esfahani (1993, 1995) và Ahmadi-Esfahani

và Jensen (1994) sử dụng mô hình Jepma tựa để phân tích xuất khẩu lúa mì Úc sang

Ai Cập, Nhật Bản và Trung Quốc Drysdale và Lu (1996) sử dụng mô hình truyền thống để đánh giá hiệu suất xuất khẩu chung của Úc trong thập kỷ đến 1994 Brownie và Dalziel sử dụng mô hình truyền thống để phân tích hiệu suất xuất khẩu của New Zealand trong giai đoạn 1970 đến 1984

Mô hình thực hiện 3.1.2

Mô hình phân tích thị phần không đổi là một phương pháp cho phép phân tích trước các thay đổi về tổng thị phần của một quốc gia nhất định theo thời gian Phương pháp này đặc biệt hữu ích để phân tách và định lượng sự đóng góp của mô hình thương mại của đất nước (về mặt sản phẩm và định hướng địa lý) khỏi sự đóng góp của các yếu tố khác Mô hình này được thực hiên mô tả các tác động là chính thay vì giải thích Kỹ thuật này được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về dao động như là lao động trong môi trường lao động với phạm vi của kinh tế học khu vực, nơi nó được biết đến như là phân tích sự thay đổi Sau đó, nó được áp dụng cho các lý thuyết về trao đổi thương mại mà cụ thể là dùng lợi thế so sánh tương đối để

Trang 31

xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế và nhập khẩu nhưng sản phẩm

mà họ không có lợi thế, nơi nó được sử dụng lần đầu tiên bởi Tyszynski (1951)

Ý tưởng chính trong mô hình phân tích thị phần không đổi là cơ cấu xuất khẩu của một quốc gia nhất định ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu toàn cầu của

nó, mặc dù có những thay đổi trong các yếu tố khác, chẳng hạn như những yếu tố liên quan đến khả năng cạnh tranh Như Magee (1975) đã nêu, ngay cả khi một quốc gia duy trì thị phần của mình trong mỗi sản phẩm theo địa lý, thì vẫn có thể giảm thị phần tổng hợp nếu xuất khẩu sang các thị trường riêng lẻ tăng chậm hơn mức trung bình của thế giới

Theo các công thức đề xuất Nyssensand Poullet (1990) – người đã góp phần hoàn thiện mô hình CMS và được áp dụng khá nhiều trong giai đoạn gần đây,

tổng thay đổi thị phần xuất khẩu của quốc gia trên thị trường thế giới, Total Effect (TE), được tính toán là sự chênh lệch giữa tăng trưởng tổng xuất khẩu hàng hóa sản

xuất của quốc gia đó (g) và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của phần còn lại của thế giới (hay là khu vực nhập khẩu nhất định)

TE= =∑ ∑ ∑ ∑ (1)

Trong đó

∑ ∑

Nếu tăng trưởng xuất khẩu của quốc gia đó cao hơn (thấp hơn) so với xuất khẩu thế giới, TE sẽ dương (âm), tương ứng với tổng mức tăng (mất) thị phần của quốc gia đó TE này có thể chịu sự tác động của hai nhóm nhân tố chính:

 Một là, thay đổi hiệu quả thị phần ở từng thị trường riêng lẻ gọi là hiệu ứng chia sẻ thị trường (MSE);

 Hai là ảnh hưởng của chuyên môn hóa tương đối của đất nước gọi là hiệu

Trang 32

TE=MSE+CSE (2)

Hiệu ứng chia sẻ thị trường (MSE) là sự khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng

xuất khẩu của quốc gia đó và thế giới (hay nhóm nước, khu vực kinh tế nhất định) trong từng thời kỳ, không bao gồm ảnh hưởng của sự khác biệt trong chuyên môn hóa tương đối Hiệu ứng này được tính toán dựa trên cấu trúc sản phẩm / địa lý của xuất khẩu của quốc gia đó, thực hiện so sánh về tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu đến thế giới cho mỗi sản phẩm đến từng quốc gia đích j MSE cho một sản phẩm cụ thể (quốc gia đích j) có thể được lấy làm tổng của j(i) của hiệu ứng này:

MSE=∑ ∑ (3)

Hiệu ứng cấu trúc kết hợp (CSE) là sự phát triển tương đối của từng thị

trường riêng lẻ (được định nghĩa là sự khác biệt giữa tăng trưởng và tăng trưởng tổng xuất khẩu thế giới) được đánh giá bởi tầm quan trọng tương đối của thị trường

đó đối với nước xuất khẩu (được định nghĩa là sự khác biệt giữa thị phần của nó toàn bộ quốc gia đó và trong tổng xuất khẩu thế giới) CSE xác định phần nào trong tổng số thay đổi của kết quả thị phần từ ảnh hưởng của sản phẩm / khoảng cách địa

lý của quốc gia Trong từng thời kỳ, CSE sẽ tích cực nếu quốc gia đó có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của quốc giá nhập khẩu riêng lẻ tăng trưởng trên (dưới) trung bình Và ngược lại

CSE=∑ ∑ (4) CSE tính đến cả sản phẩm và chuyên môn hóa xuất khẩu nói chung, nhưng

nó có thể được phân tách thành ba thuật ngữ để tính riêng cho tác động của sản phẩm và thành phần địa lý

CSE=PSE+GSE+MIX (5)

Hiệu ứng cấu trúc sản phẩm (PSE) - nó xác định phần nào trong tổng số thay

đổi trong thị phần do sự chuyên môn hóa sản phẩm tương đối của xuất khẩu của quốc gia đó

PSE=∑ (6)

Trang 33

Trong đó ∑

Hiệu ứng cấu trúc địa lý (GSE) - nó thể hiện tác động của chuyên môn địa

lý tương đối của quốc gia xuất khẩu

GSE=∑ (7) Trong đó ∑

Hiệu ứng cấu trúc hỗn hợp (MIX) - đó là một thuật ngữ còn lại xuất phát từ

thực tế là sản phẩm và cấu trúc địa lý không độc lập và do đó tổng hiệu ứng của sản phẩm và địa lý không phù hợp với hiệu ứng cấu trúc kết hợp Tùy chọn ở đây là tính toán và hiển thị hiệu ứng tương tác này một cách riêng biệt, do đó kiểm soát mức độ của nó

MIX=∑ ∑ [( ) ( ) ] (8)

Mô hình phân tích thị phần không thay đổi trở nên phổ biến trong các tài liệu của kinh tế học quốc tế ứng dụng mặc dù còn mang nặng tính lý thuyết, chưa chỉ ra được nhân tố tác động nhất định mà chủ yếu tập trung vào giá trị xuất khẩu của một qua gia và của khu vực nhất định Song phương pháp này đã được cải tiến dần dần, có sự điều chỉnh theo thời gian của các nhà nghiên cứu nhằm phù hợp với các tình huống thực nghiệm trong từng giai đoạn nhất định

Công thức được sử dụng trong luận văn này bao gồm một số điều chỉnh, thực hợp với thực tế và có sự khác biệt so với mô hình sơ khởi ban đầu của tác giả Tyszynski (1951) Giải pháp được áp dụng ở đây là xem xét hiệu ứng tương tác này một cách rõ ràng và do đó, hiệu ứng cấu trúc được phân tách thành ba khối (sản phẩm, địa lý và hỗn hợp)

Nguồn dữ liệu

3.2

Dữ liệu về GDP, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu rau quả đựợc thu thập từ Ngân hàng Thế giới (The World Bank - WB), Cơ sở dữ liệu thống kê hàng hóa của

Trang 34

Liên Hợp Quốc (UN Comtrade); dữ liệu về tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam tại các khu vực thị trường được thu thập từ Tổng cục Thống kê

và Tổng cục Hải quan; dữ liệu về sản lượngg rau quả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam và một số quốc thuộc liên minh châu Âu (EU) từ UNCOMTRADE Từ

đó nhập dữ liệu của các quốc gia báo cáo trong giai đoạn 2000 -2017 được tổng hợp tại các loại sản phẩm SITC gồm 8 chữ số và được nhóm cho 28 đối tác thương mại lớn

Phương pháp phân tích dữ liệu

3.3

Với đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung vào các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

Phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận

khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo

ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng

Phương pháp mô hình hóa: tiến hành xây dựng mô hình nhằm tái hiện được

các yếu tố có ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của rau quả Việt Nam sang thị trường EU

Trang 35

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Nếu như chương 1, 2 là chuẩn bị cơ sở lý thuyết quan trọng thì chương 3 sẽ chỉ ra dang mô hình cụ thể sẽ được tiến hành trong luận văn, đó là mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế, đây là mô hình đã được thực hiện và kiểm nghiệm trong suốt thời gian dài dưới các cuộc khảo sát, nghiên cứu khác nhau của các nhà khoa học Đồng thời, chương này cũng tập trung vào việc giải thích các biến, đặt tên, đưa

ra điều kiện cho các biến cũng như cách làm sạch dữ liệu, chọn mẫu số…

Song song đó, chương này cũng làm rõ cách đặt tên biến, vai trò và vị trí chức năng của từng biến cũng như mức kì vọng mà biến đó sẽ tác động tích cực hay tiêu cực đến mô hình đang được sử dụng Trên kết quả đó, sẽ giải thích được mức độ tác động của biến đó chiếm bao nhiêu phần tram, đó là tác động mạnh hay tác động yếu đến việc xuất khẩu rau củ quả của Việt Nam sang EU

Chính vì những lẽ trên, chương 3 là cầu nối quan trọng để triển khai cơ sở lý thuyết đã được trình bày ở chương 1,2 Thêm đó, đây là chương sẽ định hướng các kết quả nghiên cứu, chuẩn bị cho việc phân tích của chương 4

Trang 36

Về tốc độ tăng trưởng, liên minh châu Âu là nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế

giới, chỉ chiếm 6,9% dân số thế giới nhưng EU chiếm tới 15,6% tổng giá trị xuất nhập khẩu thương mại của toàn cầu Theo báo cáo mới nhất của WB, năm 2017 GDP của EU đạt 15.6 tỷ euro Sang năm 2018 mặc dù thị gặp nhiều khó khăn nhưng EU vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng 1.8% - đây là con số đáng tự hào đánh giá sự nỗ lực không ngừng của tất cả thành viên trong khối liên minh châu Âu

Và cũng theo dự báo của WB, dù giai đoạn sau EU vẫn sẽ có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế do kinh tế đầu tàu Đức suy yếu, Anh rời EU sau sự kiện Brexit, Ý bị “suy thoái kỹ thuật” và nguy cơ khủng hoảng toàn cầu đến gần…nhưng

EU vẫn là nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới, vẫn là thị trường xuất khẩu – đối tác quan trọng – của nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Xét về GDP bình quân đầu người, với vị thế đã khẳng định trong suốt quá

trình từ khi thành lập EU đến nay, EU vẫn là nhóm nước có thu nhập bình quân đầu người cao trên thế giới

Bảng 4.1: GDP bình quân đầu người của EU từ năm 2010-2017 (tính theo năm

Trang 37

GDP/ người của EU tăng liên tục theo thời gian trong suốt quãng thời gian từ năm 2010-2017 dù cho nền kinh tế các thành viên trong khối liên minh gặp nhiều khó khăn Qua đó ta càng thấy rõ, với mức thu nhập thuộc top hàng đầu trên thế giới nên người dân ở nơi đây có mức sống rất cao Người dân không còn đơn thuần lo đến cuộc sống no đủ mà họ hướng đến cuộc sống có chất lượng với những sản phẩm dịch

vụ an toàn toàn, hiệu quả, tốt cho sức khỏe…Họ sẽ sẵn sàng chi ra số tiền lớn để được sử dụng, trải nghiệm những sản phẩm tươi sống đạt những tiêu chuẩn an toàn nhất định Người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận mức giá cao hơn 10%1

đối với những sản phẩm đạt tiêu chuẩn tốt Hiện nay, người tiêu dùng EU đang trong sự chuyển dịch sang tăng cường các sản phẩm rau xanh và trái cây tươi sống, trồng hữu cơ, không chứa hóa chất, thuốc trừ sâu hại…thay thế cho việc tiêu thụ nhiều thực phẩm

có nhiều chất béo Một xu hướng khác là họ đang thiên về tiêu dùng các sản phẩm rau quả tiện dụng, chế biến như nước quả ép, rau quả đóng hộp, ngâm giấm, chế biến sẵn

Xét về tỉ lệ nhập khẩu hàng nông sản, EU là khu vực thị trường rất tiềm năng

đối với xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản của Việt Nam Các mặt hàng nông sản chính xuất khẩu sang EU: gồm cà phê, hạt tiêu, hạt điều, chè, rau hoa quả, các sản phẩm từ ngũ cốc Về lâm sản gồm có cao su, gỗ và sản phẩm từ gỗ, sản phẩm mây tre cói thảm Trong đó, một số mặt hàng xuất khẩu sang EU chiếm tỷ lệ cao so với tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước

Bảng 4.2: Tỉ lệ nhập khẩu nông sản so với tổng giá trị nhập khẩu của EU từ

Trang 38

Hàng năm, các nước liên minh châu Âu đều nhập một lượng lớn các sản phẩm nông sản nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng các sản phẩm của người tiêu dùng nội địa Song song đó điều kiện khí hậu ở Châu Âu đã gây cản trở rất nhiều đến việc trồng trọt của họ Phương thức trồng trong nhà kính chỉ phần nào bù đắp được lượng thiếu hụt

Ngoài ra, việc sản xuất rau quả của EU còn bị hạn chế bởi tính mùa vụ và điều

đó tạo cơ hội cho các nhà cung ứng ở các nước khác tham gia vào thị trường này vào thời điểm trái mùa, cho dù hiện nay hệ thống dự trữ và phân phối đã rất hiện đại, giúp các nhà sản xuất giảm đáng kể những tác động tiêu cực của tính mùa vụ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Đối với người Châu Âu, chủng loại rau quả và trái cây mà họ tiêu dùng rất phong phú, bao gồm sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới Nguồn cung của những sản phẩm này chủ yếu là từ những người gieo trồng thường xuyên và một số là từ sản lượng theo mùa vụ của những người Châu Âu trồng tại nhà Những mặt hàng được

ưa chuộng nhất ở đây là khoai tây, cà chua, cà rốt, hành, dưa leo, táo, nho, lê

Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ nhĩ kỳ, Italia, và Tây ban nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU Sản lượng rau quả của ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua nhưng vẫn chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu cho khu vực EU

Về dự báo các sản phẩm nhập khẩu của EU trong thời gian tới, các nước EU

nhập khẩu khá nhiều các loại quả như chuối, cam, quít, xoài, dứa Những nước nhập khẩu hàng đầu EU là Đức, Anh, Pháp và Hà Lan chiếm hơn 70% giá trị nhập khẩu rau quả toàn EU

Trang 39

Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ các loại quả nhiệt đới tươi tại EU được dự báo sẽ tăng từ 6 - 8% 2hàng năm Trong EU, Anh là thị trường tiêu thụ lớn nhất, tiếp theo là Pháp và Đức Nổi bật:

 Chuối là loại quả được nhập khẩu nhiều nhất vào EU – trị giá tới 6,7 tỷ USD Trong năm 2009, "Cuộc chiến chuối" giữa Liên minh châu Âu (EU) và các nước Mỹ La tinh kéo dài từ 1993 đã được giải quyết, mở ra khả năng nhập khẩu chuối tăng lên trong tương lai vào thị trường này

 Nhu cầu nhập khẩu các loại quả có múi (cam, quít) vào EU có xu hướng giảm trong mấy năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ nội khối giảm

 Thị trường dứa đã được thấy một sự phát triển lành mạnh trong EU và thấy

EU chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, các nước đang phát triển sẽ có thể được hưởng lợi từ sự phát triển này Cũng có một rõ ràng và nhu cầu ngày càng tăng cho dứa hữu cơ thương mại và công bằng, với Anh và Đức là nước dẫn đầu

 Đu đủ là một trái cây mới trong EU, nhưng mặc dù thị trường có thể nhỏ nhưng sẽ phát triển

 Xoài là loại quả mà EU hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu Các thị trường lớn nhất là nằm ở phía Tây Bắc Châu Âu, nhưng các thị trường ở các quốc gia phía Nam và phía đông đang phát triển Hà Lan là một nước nhập khẩu và phân phối lớn trong EU Pháp và Vương quốc Anh, nhập khẩu chủ yếu cho thị trường trong nước của họ

Việc nhập khẩu nông sản vào thị trường EU chủ yếu thông qua Hà Lan và Hà Lan được coi là “cửa ngõ” để vào thị trường EU đối với các mặt hàng rau, quả Vì vậy, để xuất khẩu vào EU cần có kế hoạch nghiên cứu và tiếp cận các nhà nhập khẩu, các kênh phân phối và hệ thống bán lẻ ở Hà Lan để có thể xây dựng một chiến lược xuất khẩu các mặt hàng rau, quả vào Hà Lan và qua đó vào EU

Trang 40

Bên cạnh đó, hiệp định thương mại tự do giữa liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA) đang dần có hiệu lực Khi hiệp định này có hiệu lực hoàn toàn thì Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về hàng rào thuế quan (giảm mức thuế từ 14% xuống còn 0% trong đó nhóm hàng rau quả nằm trong nhóm ngành được ưu đãi) lẫn hàng rào phi thuế quan Đây được xem là cơ hội lớn xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm, nông sản chế biến sang EU, ví dụ như các loại trái cây và rau nhiệt đới, các loại gia vị, đồ nội thất bằng gỗ, các loại hải sản…

Chính vì những lý do trên, EU xứng đáng là thị trường xuất khẩu mặt hàng rau củ quả mà Việt Nam hướng tới và cần tận dụng thêm nữa những lợi thế so sánh vốn có của quốc gia để gia tăng kim ngạch xuất khẩu Đây sẽ là thị trường quan trọng và đóng vai trò như bước đệm để giới thiệu các đặc sản của Việt Nam ra thị trường thế giới Khi có được vị thế trong xuất khẩu hàng rau củ quả sang liên minh châu Âu thì nước ta càng dễ dàng tìm kiếm và mở rộng thị trường sang các quốc gia khác như Mỹ, Úc…hay các đối tác khác của EU

Các tiêu chuẩn khi xuất khẩu rau củ quả vào EU 4.1.2

EU vẫn được biết là thị trường khó tính, đặc biệt là các thực phẩm tiêu dùng liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng Thị trường EU luôn có những yêu cầu khắt khe đối với sản phẩm nông sản nói chung và rau củ quả nói riêng Để xuất khẩu được sang thị trường châu Âu, rau củ quả phải đạt được những tiêu chuẩn, nguyên tắc do EU để ra Điều này được cụ thể hóa qua việc EU thành lập cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (European Food Safety Authority – EFSA) vào năm 2002 Nhiệm vụ của EFSA là giám sát việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm, các nguyên tắc chung và quy định khác về nguồn gốc của sản phẩm Luật Thực phẩm chung chính thức có hiệu lực từ tháng 1/2005 được áp dụng chung cho tất cả các thành viên trong khối và cho toàn thể các quốc gia trên thế giới Bất kì quốc gia nào muốn xâm nhập vào thị trường EU thì phải vượt qua được hàng rào phi thuế quan này

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w