Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Lời nói đầu
Khoá luận này là công trình khoa học đầu tiên của chúng tôi, chúng tôi xem việc nghiên cứu luận văn này chỉ là b-
ớc đầu có tính chất tập duyệt và mang tính định hớng.
Nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp dới góc
độ ngôn ngữ là một vấn đề còn nhiều bí ẩn - nhất là vấn đề lời chửi - một khía cạnh mà lâu nay các nhà nghiên cứu vẫn né tránh Do những khó khăn ban đầu mà những hạn chế nhất
định là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý chân thành của bạn đọc.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc
sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của PGS-TS Đỗ Thị Kim Liên
và những lời chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn nhất là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ - Trờng Đại học Vinh Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Đỗ Thị Kim Liên và các thầy cô giáo đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khoá luận này
Vinh, tháng 5 năm 2004 Sinh viên:
Phan Thị Hoài
Trang 2ơng II: Cấu trúc lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 20
2.3 Cấu tạo lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 23
Ch
ơng III: Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời chửi trong 30
3.3 Các đối tợng của lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 393.4 Đích tác động đến ngời nhận của lời chửi trong 423.5 Nội dung lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 443.6 Nét văn hoá của ngời Việt qua lời chửi trong truyện ngắn 46
Trang 3nh Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Tởng Một số sáng tác của họ đã códấu hiệu đổi mới Đặc biệt sau khi Đảng ta có chủ trơng đổi mới văn nghệ,hàng loạt cây bút có phong cách mới đã ra đời Trong số đó, nổi bật lên làNguyễn Huy Thiệp
Nhà nghiên cứu văn học Vơng Trí Nhàn khi “Tởng tợng về Nguyễn Huy
T hiệp” đã viết: “Sự độc đáo kỳ lạ là một yêu cầu nhất thiết với văn học,thế nhng một phong cách nh Nguyễn Huy Thiệp lại hai lần kỳ lạ, vì nó mangtới cái chất mà lâu nay trong văn học Việt Nam hơi thiếu - chất kiêu bạc, tànnhẫn, cay đắng ” [8.406]
Cái “hai lần kỳ lạ” ấy chính là lạ của nội dung và lạ của hình thức Cóhàng loạt bài viết bàn về mọi cái lạ trong tác phẩm của anh Nhng điều cuốnhút chúng tôi, làm chúng tôi quan tâm nhất đó chính là lời thoại của các nhânvật trong tác phẩm Lời thoại đó có cái gì đặc biệt, bất thờng làm cho ngời đọc
chú ý Và nổi lên trong lời thoại của nhân vật đó chính là Lời chửi Quả thực,
trong truyện của anh, lời chửi xuất hiện với một tần số cao, nội dung phongphú, nó làm nên một Nguyễn Huy Thiệp không giống với bất cứ ai Cũngchính lời chửi đã làm nên cái “độc đáo”, gây sự “bất ngờ” đến “sửng sốt” (chữdùng của Mai Ngữ - Nhà văn quân đội) cho ngời đọc Và để hiểu hơn về lờichửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu
Đặc điểm - Cấu trúc ngữ nghĩa lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy
“
Thiệp ” với hy vọng góp một phần nhỏ của mình trong việc khai thác về nhàvăn nhiều ẩn số này Coi mình cũng là một ngời đồng hành trên hành trình
“Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”
2 Đối tợng - Mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tợng
Trang 4Do giới hạn của đề tài và tính chất hạn chế của thời gian nên chúng tôi chỉtập trung đi sâu vào khảo sát 10 truyện mà trong đó số lợng lời chửi tập trungnhiều hơn Cụ thể là:
2.2 Mục đích nghiên cứu
Qua tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ hội thoại, đề tài đi sâu tìm hiểu về cấu trúc - ngữ nghĩa lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, từ đó nhằm:
Chỉ ra những đặc điểm cấu trúc lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp
Chỉ ra những đặc điểm cơ bản về ngữ nghĩa trong lời chửi do NguyễnHuy Thiệp thể hiện và rút ra những đặc điểm văn hoá của ngời Việt qua lờichửi của nhân vật
Trang 53 Lịch sử vấn đề
Điểm qua trong lịch sử nghiên cứu văn học, chúng tôi thấy có một số bàiviết nh sau:
ở nớc ngoài, số lợng bài nghiên cứu chuyên về vấn đề này cha đáng kể
ở tiếng Việt, đáng kể là những nhận xét có tính chất cảm tính trong mộtvài cuốn sách về văn hoá Việt Nam - nh Lê Văn Siêu năm 1964 và gần đây,trong tạp chí ngôn ngữ số 1 năm 1993, Nguyễn Thị Tuyết Ngân cho đăng bàiviết “Đặc trng ngôn ngữ - văn hoá trong lời chửi của ngời Việt”
Tiếp theo đó, TS Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Những vấn đề lý thuyết lịch
sử và ngôn ngữ” có in bài “Về các lời chửi của ngời Việt” [10.317]
Năm 2003, khi làm luận án thạc sỹ về đề tài “Ngôn ngữ hội thoại củanhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, tác giả Lê Thị Trang ở mục 2chơng II có nói đến hành động chửi
Điểm lại ý kiến của những tác giả đi trớc, chúng tôi thấy vấn đề lời chửitrong hội thoại cha đợc đi sâu nghiên cứu nh một chuyên luận mà mới chỉ lànhững khám phá bớc đầu
đó thống kê những câu thoại và trọng tâm vào những câu có nội dung chửi đểtìm hiểu, khái quát lên đặc điểm lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp
4.2 Phơng pháp so sánh - đối chiếu
Trong quá trình khảo sát Đặc điểm - cấu trúc ngữ nghĩa lời chửi trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi so sánh, đối chiếu với các tác giả
cùng thời, khác thời cũng nh lời chửi trong dân gian để tìm ra điểm gặp gỡ vànét đặc thù của nhà văn đầy cá tính này
4.3 Phơng pháp phân tích - tổng hợp
Trang 6Từ sự phân tích những truyện ngắn cụ thể, những câu hội thoại có lời chửi
cụ thể chúng tôi đi đến khái quát nội dung của những câu chửi và phuơng thứccấu tạo câu chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
5 Cái mới của đề tài
Luận văn đi sâu nghiên cứu cấu trúc - ngữ nghĩa lời chửi trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp qua đó thấy đợc cách cấu tạo lời chửi trong tiếng
Việt, ngữ nghĩa của chúng và nét văn hoá trong giao tiếp ứng xử của ngờiViệt
Trang 7nội dung
Chơng I
Những giới thuyết xung quanh đề tài
1.1 Nguyễn Huy Thiệp - Vài nét về tác giả, tác phẩm
Về Nguyễn Huy Thiệp, mặc dù cha đợc đa vào chơng trình văn họctrong nhà trờng phổ thông, song chúng ta có thể khẳng định rằng Nguyễn HuyThiệp là một tiềm năng văn học lớn Sự ra đời của hàng loạt truyện ngắn,truyện dài, kịch, tiểu thuyết của anh đã mở ra trong văn học Việt Nam mộthớng phát triển mới Hiện thực cuộc sống sau ngày hoà bình lập lại, những đổimới trong cuộc sống đã đợc phản ánh đầy đủ, chân thực trong các tác phẩmcủa anh Anh đã không ngần ngại khi nói thẳng vào sự thật Đó là phần màcác nhà văn ta xa nay có phần né tránh Có thể có ngời sẽ cho rằng đây là mộthiện tợng “nổi loạn”, song theo đánh giá chung thì đó chính là cái đặc sắc
đáng nói của Nguyễn Huy Thiệp
Dẫu xuất hiện khá muộn song ngời đến sau không phải bao giờ cũng làngời thiệt thòi nhất Quả thực, sự xuất hiện của gơng mặt mới này đã gâynhiều xôn xao, bàn tán trong d luận - cả giới nghiên cứu lẫn độc giả ý kiếnxung quanh văn của anh, con ngời của anh có rất nhiều: kẻ khen ngời chê, kẻtrầm trồ thán phục, ngời gay gắt lên án Có rất nhiều bài viết về “hiện tợng kỳlạ” này Thế nhng chung quy lại, ý kiến số nhiều vẫn khẳng định cái đặc sắc,mới lạ trong truyện ngắn của anh, rằng anh viết với một cái “tâm” rất trongsáng, là “thiện tâm” chứ không phải là “giã tâm” Đề tài đời t, đời thờng đã đ-
ợc anh chiếm lĩnh và thể hiện khá thành công Trong cuộc sống xô bồ của thịtrờng, con ngời coi thờng mọi cái, coi tiền là “vua”, anh đã phát hiện ra vẻ đẹplấp lánh trong tâm hồn con ngời - đó là những nhân vật nữ trong truyện củaanh - đau khổ, cực nhục nhng mà “thơng lắm”
Về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, mặc dù tuổi đời còn trẻ nhngnhững sáng tác của anh đã ra mắt bạn đọc khá nhiều
Anh có sở trờng về truyện ngắn Truyện ngắn của anh đợc hiểu theonghĩa đúng đắn nhất của thuật ngữ này - đó là truyện ngắn hiện đại Truyệnngắn Nguyễn Huy Thiệp tập trung trong các tập:
Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - Nhà xuất bản Văn hoá
Thông tin - 2002
Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Huy Thiệp - Nhà xuất bản Văn học - 2002.
Trang 8Ngoài truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn viết kịch Kịch của anh tập
trung trong Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp“ ” (2003)
Gần đây, anh cho ra mắt bạn đọc hai tác phẩm mới:
Tuổi hai m
“ ơi yêu dấu” và Giăng l“ ới bắt chim”(2003)
Tóm lại, có thể nói, Nguyễn Huy Thiệp là một cây bút đang lên, mộtnhà văn đầy sức trẻ đang dần khẳng định mình trên văn đàn Việt Nam
1.2 Phân biệt truyện ngắn, tiểu thuyết
1.2.1 Truyện ngắn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học“ ” do Lê Bá Hán (chủ biên ) thì truyệnngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ” Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùmhầu hết các phơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáocủa nó là ngắn
Tuy nhiên, mức độ ngắn cha phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyệnngắn với các tác phẩm tự sự khác Có nhiều tác phẩm tuy ngắn nhng khôngphải là truyện ngắn mà là truyện dài viết ngắn lại
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc đời,một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại
Nếu nh tiểu thuyết là một thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự
đầy đặn và trọn vẹn của nó thì truyện ngắn hớng tới việc phác hoạ một hiện ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồncủa con ngời Do đó mà trong truyện ngắn thờng ít nhân vật, ít sự kiện phứctạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật củatruyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới đó
t-Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, códung lợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiềusâu cha nói hết
Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọclại gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hởng kịp thời trong
đời sống Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nớc ta đã đạt tới đỉnh cao của sựnghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình
1.2.2 Tiểu thuyết
Cũng theo Lê Bá Hán thì tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khảnăng phản ánh thực hiện đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian
”[5.277 ] Đặc điểm nổi bật nhất của tiểu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc
độ đời t Trong tác phẩm, nếu yếu tố đời t càng phát triển thì tính chất tiểu
Trang 9thuyết càng tăng Hơn nữa, thành phần chính yếu của tiểu thuyết không phảichỉ là cốt truyện và tính cách nhân vật nh ở truyện vừa và truyện ngắn Ngoài
hệ thống sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách, tiểu thuyết miêu tả suy tcủa nhân vật về thế giới, về đời ngời, phân tích cặn kẽ những diễn biến tìnhcảm, trình bày tờng tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa ngời
và ngời, về đồ vật, môi trờng
Nói tóm lại, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiềunhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác Chính hiện tợngtổng hợp trên đã làm cho thể loại tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứngyên, là “thể loại duy nhất đang hình thành và cha xong xuôi”(Bakhtin)
Nh vậy, ngôn ngữ tác giả thể hiện phong cách viết văn của nhà văn, nó
là thành phần quan trọng không thể thiếu đợc trong tác phẩm văn học
1.3.2 Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là lời nói trực tiếp của nhân vật, qua ngôn ngữ nhânvật, cuộc sống và tính cách của nhân vật đợc thể hiện Trong tác phẩm, ngônngữ nhân vật đợc biểu hiện dới hai dạng: ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độcthoại Có tác giả a sử dụng ngôn ngữ đối thoại, để cho nhân vật của mình đốithoại với nhau nh Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan nhng cũng có khitác giả lại để cho nhân vật của mình độc thoại nội tâm nh Nam Cao Nhng dùtồn tại ở dạng nào thì ngôn ngữ nhân vật cũng phải đảm bảo sự kết hợp giữatính cá thể và tính khái quát, nghĩa là ngôn ngữ nhân vật vừa thể hiện cá tínhriêng biệt của mỗi nhân vật nhng đồng thời nó cũng đại diện cho một tầng lớp,giai cấp nào đó nói chung
Trang 10Tuy nhiên, cũng có khi ngôn ngữ của tác giả và ngôn ngữ của nhân vậthoà quyện với nhau, chúng ta khó phân biệt đợc đâu là lời của nhân vật, đâu lànhận xét, đánh giá của tác giả.
Chẳng hạn, trong đoạn đầu của truyện ngắn Chí Phèo ,“ ” Nam Cao viết:
“Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rợu xong là hắn chửi Bắt đầu hắnchửi trời Có hề gì ? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũngchẳng sao: đời là tất cả nhng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng
Vũ Đại Nhng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra ” Không ailên tiếng cả Tức thật! Tức chết đi đợc mất ! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nàokhông chửi nhau với hắn ( ) Mẹ kiếp ! Thế có phí rợu không ? Thế thì có khổhắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nôngnỗi này ? A ha! Phải đấy hắn cứ mà chửi ”
( Chí Phèo“ ” - Nam Cao)Trong đoạn truyện trên, ta khó có thể phân biệt đợc đâu là ngôn ngữnhận xét, đánh giá của nhà văn Nam Cao, đâu là lời lẽ, suy nghĩ của nhân vậtChí Phèo
1.4 Vấn đề hội thoại và lời chửi - một dạng đặc biệt của lời
thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
1.4.1 Vấn đề hội thoại
Hội thoại là một dạng hoạt động ngôn ngữ, khác hoạt động vật lý, nógồm ít nhất là hai nhân vật tham gia Hội thoại tồn tại dới hai dạng: Lời ăntiếng nói thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày của mọi ngời nói chung và lờitrao đáp của các nhân vật hội thoại đã đợc chủ thể nhà văn tái tạo lại và thểhiện trong tác phẩm văn học
Xung quanh vấn đề hội thoại, có rất nhiều ý kiến khác nhau Các nhàngôn ngữ học khi nghiên cứu về vấn đề này đã có những cách định nghĩa khácnhau
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thờngxuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức kháccủa ngôn ngữ đều đợc giải thích dựa vào hình thức hoạt động bản căn này”.[1.276]
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa : “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ đểnói chuyện với nhau”[5.461]
Sách “Tiếng việt 12” (Đỗ Hữu Châu và Cao Xuân Hạo chủ biên): “Hộithoại là hoạt động giao tiếp bằng lời (bằng miệng) giữa các nhân vật giao tiếpnhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích đợc đặt ra ”
Trang 11Theo Đỗ Thị Kim Liên thì : “Hội thoại là một trong những hoạt độngngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnhnhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vinhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”[6.18].
Nh vậy, có thể thấy rằng, vấn đề hội thoại nói riêng và ngôn ngữ nóichung là một vấn đề rất phức tạp, xung quanh nó còn có nhiều điều suy nghĩsong chúng ta chốt lại một điều rằng, đã là hội thoại thì ít nhất phải có hai ngờitham gia mà giữa họ có sự tơng tác ngôn ngữ và nhằm đi đến một đích nhất
Chửi là một hiện tợng mà có lẽ dân tộc nào cũng có và có từ rất lâu đời.Theo quan niệm chung của xã hội, chửi thờng đợc xem là hiện tợng “kém vănhoá”, nó thờng bị ngăn cấm và hạn chế sử dụng Tuy vậy, một thực tế là nóvẫn tồn tại và phát triển khá đa dạng, nhất là ở những ngời có văn hoá ứng xửthấp Điều đó cho thấy đây thực chất là một hiện tợng tất yếu mang tính Vănhoá - Xã hội - Ngôn ngữ Do vậy, về mặt khoa học, chúng ta không thể lảngtránh mà phải đi vào nghiên cứu nó, nh nghiên cứu bất cứ một hiện tợng ngônngữ nào Nhờ kết quả nghiên cứu đó, chúng ta xác định đợc bản chất và những
đặc điểm ngôn ngữ chủ yếu của hiện tợng này, cũng nh góp phần điều chỉnh,hớng dẫn d luận trong việc sử dụng nó
Trong thực tế cuộc sống hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều lời chửi.Lời chửi này có khi chỉ là một câu: Ví nh một bà Mẹ chửi con mình:
Tổ ông s
“ nhà mày, tao ục đầu mày vào tờng ”
Cũng có khi cả một bài chửi dài: Những ngời đi buôn chửi nhau, mất gàchửi hàng xóm Về các vùng nông thôn thì ta rất hay gặp hiện tợng này -nhất là mẹ chửi con Nguyên nhân của nó có khi là do tức giận con mà chửi,nhng cũng có khi giận chồng hay một ai đó mà không dám chửi trực tiếp nêndùng chiêu “Giận cá chém thớt” ở đây ngời ta chửi một cách thoải mái,suồng sã - thậm chí tục tĩu, rõ ràng là “Kém văn hoá” Lúc đó họ chỉ cốt làmsao tìm ra những lời lẽ sâu cay nhất nhằm hả cơn giận
Trang 12Còn trong văn học, mặc dù đợc coi là “Kém văn hoá” song cũng không
ít tác giả đã sử dụng lời chửi nh một dụng ý nghệ thuật
Trong văn học dân gian, ta bắt gặp nhiều lời chửi ở ca dao - nhất là cadao đối đáp Lời hát chửi có khi rất sâu cay
Một chàng trai hát ghẹo các cô gái đang cấy lúa:
Nhà em tội lỗi gì đâu
“
Suốt ngày em chổng phao câu lên trời!”
Các cô gái cũng không vừa, hát lại:
Bây giờ nông vụ chí kỳ
(Thề với ngời ăn xin )
Đến văn học hiện đại, các nhà văn nh Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng Trong tác phẩm của họ xuất hiện lời chửi rất nhiều
Đồ mặt dày! Thế mà không biết nhục Sao nó không chết đi cho
“
ngời ta nhẹ nợ ”
(Nguyễn Công Hoan)
“ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà
bà thì một ngời ăn chết một, hai ngời ăn chết hai, ba ngời ăn chết ba Mày xuống âm phủ mày bị quỷ sứ móc ruột ra ”.
(Nguyễn Công Hoan) [10.317]
Tuy nhiên, khi tìm hiểu câu chửi trong tác phẩm của các tác giả nàychúng tôi thấy do hạn chế của khuynh hớng sáng tác cũng nh đặc điểm củalịch sử, thời đại mà lời chửi còn mang tính chất chung chung: Chửi đời, chửitrời, chửi đứa chết mẹ nào đó nh lời chửi của Chí Phèo
Đến thời kỳ văn học sau 1975, xu hớng dân chủ hoá đời sống xã hội đã
mở ra cho văn học một con đờng phát triển mới Các nhà văn tự do nói về mọiviệc trong đời sống hàng ngày Văn học đi sâu vào khám phá để phản ánh đời
Trang 13sống thờng nhật của con ngời Mọi vấn đề của cuộc sống đều trở thành đề tàicủa văn học ở giai đoạn này xuất hiện nhiều nhà văn với những phong cáchthể hiện mới lạ Trong đó nổi bật lên là Nguyễn Huy Thiệp
Đọc Nguyễn Huy Thiệp, cuốn hút sự quan tâm của ngời đọc trớc hết
là ngôn ngữ hội thoại Đó là thứ ngôn ngữ ngắn gọn, cô đúc và đồng thời, đặcbiệt hơn đó là sự xuất hiện của lời chửi Qua khảo sát 10 truyện ngắn của anh,chúng tôi thống kê đợc 97 lần lời chửi xuất hiện Số lợng này, nếu đem sosánh với số lợng lời thoại nói chung, nó chiếm một tỉ lệ đáng kể, khoảng gần8% (97/1240 câu) và đã gây ấn tợng mạnh đối với ngời đọc
Lời chửi xuất hiện trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp không chỉ nhiều
về số lợng mà nó còn rất phong phú, đa dạng về nội dung cũng nh hình thức,
nó nhằm vào nhiều đối tợng khác nhau và nếu đem so sánh với lời chửi trongtruyền thống của ngời Việt thì vừa có điểm tơng đồng lại vừa có điểm khácbiệt Chúng tôi sẽ trở lại với vấn đề này kỹ hơn ở chơng sau
1.5 Không gian và thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp có liên quan đến lời chửi
1.5.1.Không gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
1.5.1.1 Khái niệm không gian
Trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) không gian đợchiểu theo hai nghĩa:
(1) Là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với thời gian), trong
đó các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ ở trong cái kia.(2) Đó là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con ngời
[9.551]
ở đây không gian đợc hiểu theo nghĩa thứ hai, đó là “Khoảng khôngbao trùm mọi vật xung quanh con ngời” Và không gian tồn tại ngoài thực tếcuộc sống khi đi vào văn học - nghệ thuật thì đợc gọi là không gian nghệthuật
Không gian bao gồm không gian rộng và không gian hẹp
1.5.1.2 Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, không gian rộng đó chính là
thời đại mà anh sống, anh phản ánh vào trong tác phẩm của mình Còn khônggian hẹp, đó là những địa điểm, bối cảnh cụ thể mà nhân vật sống, nói nănggiao tiếp Không gian hẹp ở đây bao gồm không gian gia đình, không giansông nớc, không gian rừng núi
Tất cả các nhân vật đợc miêu tả đều đóng khung trong một quan hệ rõràng Trớc hết đó là quan hệ họ hàng, gia đình Chính quan hệ này đã chi phối
Trang 14đến không gian hội thoại của nhân vật nói chung và không gian để lời chửicủa nhân vật phát ra nói riêng.
Không gian gia đình chiếm một tỷ lệ khá lớn Các truyện nh T “ ớng về
hu , Không có vua , Huyền thoại phố ph” “ ” “ ờng , Giọt máu” “ ” Trên nềnkhông gian đó, con ngời đối mặt với thực tại cuộc sống biết bao điều khókhăn, phức tạp Đó là cuộc sống bon chen để dành giật cái ăn, cái mặc, là sựtính toán, mu toan một cách lạnh lùng, sắc sảo
Ông Bổng hỏi: Ván mấy phân? Tôi bảo: Bốn phân Ông Bổng bảo:“ ” “” ”
Mất mẹ bộ sa lông( ) Bao giờ bốc mộ cho chú bộ ván".
“
[Tớng về hu, 12.32]
Không gian tù đọng, bức bối trong gia đình lão Kiền là “bối cảnh” đểtuôn ra hàng loạt những lời chửi:
( ) Lão Kiến suốt ngày cau có Mọi ngời không ai thích lão Lão kiếm
ra tiền, lão cãi nhau với mọi ngời nh cơm bữa, lời lẽ độc địa Nh với Đoài, lão bảo: Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? L“ ời nh hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét ! Hay với Khản, sinh viên năm thứ hai: Đồ ruồi” “
nhặng ! Học với hành! Ngời ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi ”
[Không có vua, 12.61]
Chỉ trong một đoạn văn ngắn đã xuất hiện ba câu chửi
Hay trong không khí bối rối, nhộn nhịp của một gia đình có tang lễ, lời chửicũng buột ra thật tự nhiên:
Ông Bổng bảo: Mẹ mày sao hôm nay lại ngọt xớt thế? Ba cân! Vợ tôi“ ”
bảo: Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ! “ ”
[Tớng về hu, 12.23]
Không gian rừng núi: Khác với những truyện: T “ ớng về hu , Không” “
có vua ” , không gian trong Những ng“ ời thợ xẻ” không bị bó hẹp trong
không khí gia đình chật chội, bức bối mà các nhân vật ở đây sống giao hoà vớithiên nhiên rộng lớn Giữa khung cảnh đó, các nhân vật đối thoại với nhau
cũng tự nhiên, thoải mái hơn Khi gặp phải cây gỗ khó xẻ, Anh Bờng bảo: .“
Mẹ khỉ, kiếp trớc lũ chúng ta nợ thằng cha Thuyết một vạn quan đây” Khi
đánh nhau với nhân vật “tôi”, Anh bờng rít lên: Đồ chó, nếu muốn đánh“
nhau thì ra ngoài kia chứ trong bụi gai thế này thì làm gì đợc? ” [tr.176].
Không gian sông nớc: Không gian này gợi lên trong ngời đọc một cái
gì đó trôi nổi, bấp bênh Đối thoại của các nhân vật trong bối cảnh này thờngngắn gọn, ít khi dài dòng lý sự
Ví dụ:
Trang 15Anh ngồi nhích xa cô gái:“
- Đàn bà quỷ sứ Tất cả đều chẳng ra gì Bẩn thỉu ”
[Sang sông, 12.263] Tên mặc áo ca rô ngồi xuống đỡ lấy chiếc bình, hắn vừa xoay chiếc“
1.5.2 Thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
1.5.2.1 Khái niệm thời gian
Theo Hoàng Phê thì thời gian là:
(1) Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian) trong đó vậtchất vận động và phát triển liên tục, không ngừng
(2) Khoảng thời gian nhất định xét về mặt dài ngắn, nhanh chậm của nó.(3) Khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu cho đến cuối
[9.939]
Cũng nh không gian, khi đi vào tác phẩm văn học - nghệ thuật thì thờigian cũng trở thành thời gian nghệ thuật, và đó là “khoảng thời gian trong đódiễn ra sự việc từ đầu đến cuối”
1.5.2.2 Thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu là thời gian hiện tại.
Truyện của anh ít viết về quá khứ Các nhân vật giao tiếp, suy nghĩnhững việc trong hiện tại Truyện của anh có một mảng viết về các nhân vậtlịch sử trong quá khứ nh Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Huệ nhngnhững suy nghĩ, hành động của nhân vật là ở thời hiện tại Đâu đó thấp thoángbóng dáng Xuân Hơng nhng không phải là Xuân Hơng - thi sỹ mà là Xuân H-
ơng - chăn nuôi lợn!
Thời gian đợc cụ thể hoá là thời gian buổi sáng, buổi chiều và buổi tối
Thời gian buổi sáng: Buổi sáng là thời điểm bắt đầu của một ngày Lúc
này, mọi cái còn tinh khiết, trong lành Sau giấc ngủ say, con ngời lại bắt đầucông việc trong một ngày mới Thế nhng, trong gia đình lão Kiền, cha con lão
Trang 16vừa thức giấc đã có ngay một màn “chào buổi sáng” thật phù hợp với chủ đề
của nó: “Không có vua” ( ) Đoài bị mất ngủ càu nhàu: Thật là giờ làm việc“
của quân đạo tặc Ba giờ sáng, lão Kiền dậy( ) lão Kiền bị điện giật, bèn”
chửi: Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông Chúng mày mong ông chết,“
nhng trời có mắt, ông còn sống lâu ( ) Lão Kiền chửi: Mẹ mày, mày ăn nói” “
với bố thế à? Tao không hiểu thế nào ngời ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục!”
[Không có vua,12.64]
Thời gian buổi chiều: Khoảng thời gian này đợc cụ thể hoá đó là
“bóng chiều tan dần” trong truyện Sang sông ,“ ” hay “khoảng gần tối” trong
truyện Những ng“ ời thợ xẻ ” Và đặc biệt trong truyện Không có vua “ ”có một
mục Nguyễn Huy Thiệp đã đặt cho đoạn truyện là Buổi chiều “ ” Màn đốithoại giữa cha con lão Kiền xung quanh việc Sinh mất nhẫn cũng diễn ra vào
một chiều Lão Kiền khi đợc hỏi đến thì chửi: Cha mẹ mày! Thế là mày nghĩ“
tao lấy cắp chứ gì? .”
[Không có vua, 12.74]
Thời gian ban đêm: Đây là khi mọi vật mọi ngời đều chìm vào giấc
ngủ Sau một ngày làm việc mệt mỏi, đó là giây phút tâm hồn đợc thảnh thơi,yên tĩnh Nhng với Hạnh (Trong “Huyền thoại phố phờng”) thì trong giấc ngủvẫn tính toán, nghĩ suy:
Trang 17Mẹ kiếp - Hạnh nghĩ - Bọn ng
[Huyền thoại phố phờng, 12.376-377]
Đó là suy nghĩ mở đầu cho những hành động bỉ ổi, xấu xa của Hạnh saunày
Tiểu kết: Cũng nh tác phẩm của bất kỳ nhà văn nào, trong truyện củaNguyễn Huy Thiệp cũng có mặt đầy đủ các kiểu không gian và thời gian Tuynhiên, do đặc điểm của lời chửi là luôn ở thời hiện tại nên thời gian liên quantrực tiếp đến lời chửi là thời gian ở thời hiện tại
Trang 18CHƯƠNG II
cấu trúc lời chửi trong truyện ngắn nguyễn
huy thiệp2.1 Định nghĩa lời chửi
Về lời chửi, có một số định nghĩa nh sau:
Theo GS Hoàng Phê thì: “Chửi là thốt ra những lời xúc phạm cay độc đểlàm nhục ”.[9.191]
Tiếp đó, giáo s còn phân ra các dạng chửi:
Chửi bới: Chửi bằng những lời moi móc xúc phạm quá đáng
Chửi chó mắng mèo: Chửi cạnh khoé, không chửi thẳng
Chửi đổng: Chửi bâng quơ, to tiếng nhng không nhằm vào ai cụ thể,không chỉ đích danh
Chửi rủa: Chửi bằng những lời nguyền rủa
Chửi mắng: Chửi và mắng
[9.191]
Nguyễn Thị Tuyết Ngân đa ra định nghĩa:
“Chửi là một hiện tợng văn hoá ngôn từ phản chuẩn bày tỏ một cáchchủ động phản ứng bất bình nhằm làm giảm căng thẳng tinh thần của ngờichửi và hạ uy tín ngời bị chửi ” [7.33]
Dựa vào 6 tiêu chí để phân biệt chửi với các khái niệm khác có liênquan mà Nguyễn Thị Tuyết Ngân chia ra làm 3 mức độ chửi:
“Nói là lối chửi không có hình thức ngôn ngữ thể hiện riêng, mục đích
sử dụng đạt đợc bằng nội dung thông báo chung của lời nói”
“Mắng là lối chửi có hình thức ngôn ngữ riêng Ngoài mục đích hạ thấp
uy tín ngời bị chửi, mắng còn thực hiện chức năng giáo dục - chỉ ra tội lỗi,khuyết điểm của ngời khác Mục đích phán ứng của nó nhẹ nhàng hơn so vớichửi (theo nghĩa hẹp ) và nó thờng đi kèm với yêu cầu đối tợng không tiếp tụcphạm khuyết điểm”
Chửi“ (theo nghĩa hẹp, nh một loại của từ chửi nói chung) cũng có hìnhthức ngôn ngữ riêng và thể hiện mức độ phản ứng gay gắt nhất Nếu sử dụng
nó ở mức độ trực tiếp, mang tính nhục mạ, có thể gây ra những hậu quảnghiêm trọng, có thể là nguyên nhân dẫn đến hình thức phản ứng cao hơn:
đánh, thậm chí có thể dẫn đến kiện cáo”
[7.33-34]
Trang 19Các định nghĩa trên đã chỉ ra đợc nét nghĩa cơ bản của “Chửi” cũng nhcác mức độ của “Chửi” Qua đó chúng ta cũng thấy đợc sự phong phú và đadạng của lời chửi.
Nh vậy, các phản ứng bất bình của con ngời thông qua hành động ngônngữ làm thành một mảng màu cực kỳ sinh động và phong phú
Chúng tôi đa định nghĩa lời chửi để đi vào khảo sát trong đề tài này:Chửi là một hiện tợng văn hoá ngôn từ mà trong đó ngời chửi dùngnhững từ ngữ phản chuẩn để thể hiện thái độ bất bình của mình đồng thờinhằm hạ thấp uy tín của ngời bị chửi
2.2 Các tiêu chí nhận diện lời chửi
2.2.1 Dựa vào các động từ chỉ mức độ của hành động chửi
Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thờng hay sử dụng các động từ
nh là: Bảo, mắng, nói, nghĩ, nghĩ thầm, lẩm bẩm, chửi để xuất hiện các câuthoại ding lời chửi
Qua khảo sát 10 truyện chúng tôi thống kê đợc nh sau:
Các động từ Bảo Chửi Nghĩ\Nghĩ thầm Mắng\quát Lẩm bẩm
Số lợng câu chửi 30 6 4 6 3
Tỷ lệ(%) 30,9 6,2 4,1 6,2 3,1
Qua bảng thống kê, chúng tôi rút ra kết luận: Trong câu dẫn của lời thoại,Nguyễn Huy Thiệp hay sử dụng động từ “Bảo” Chỉ khảo sát những câu chửi
mà đã có 30/97 câu dẫn có sử dụng động từ này
Ví dụ: Đoài bảo , Lão Kiền bảo , Ông Bổng bảo , Vua Quang“ ” “ ” ” “
Trung giận lắm, mắng rằng , Lão Kiền chửi , Hạnh nghĩ thầm , Ông giáo” “ ” “ ” “
lẩm bẩm ”
2.2.2 Dựa vào các động từ chỉ hành vi phụ trợ cho hành động nói
Các động từ chỉ hành vi phụ trợ khá phong phú Trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp có những tổ hợp từ: Xua tay quầy quậy , Rít lên , Đập“ ” “ ” “
bàn , Trừng mắt , Đập đầu xuống đất ” “ ” “ ” Chúng tôi thống kê đợc 22 động
từ thuộc loại này, chiếm 22,7%
Ví dụ:
Lão Kiền xua tay quầy quậy: Giời ơi, nhà làm ăn, mới sáng ra“
đàn bà con gái đã ám thế này thì làm ăn gì ”
[Không có vua, 12.65]
Trang 20Cấn trừng mắt: Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy“
cái bát này sao cha rửa?”
[Không có vua,12.71]
Bà Diêu đập đầu xuống đất than rằng: Con dâm phụ thật là“
tiền oan nghiệp chớng ”
[Giọt máu, 12.403]
2.2.3 Dựa vào dấu câu
Dấu câu là một dấu hiệu hình thức giúp ta nhận ra lời chửi Cũng nhhội thoại nói chung, sau câu dẫn của tác giả trớc mỗi câu chửi đều có dấu haichấm (:)
Cha bố cô! - “ Bà Thiều nhổm dậy - Chỉ toàn ăn tàn phá hại! Có
đi tìm ngay không bà lại cho một trận bây giờ! ”
[Huyền thoại phố phờng, 12.375]
Mẹ kiếp - “ Hạnh nghĩ - Bọn ngời này coi đồng tiền nh rác ”
[Huyền thoại phố phờng, 12.376-377]
2.2.4 Dựa vào nội dung lời dẫn
Ngoài dấu hiệu hình thức, nội dung lời dẫn cũng giúp ta nhận ra lờichửi
Ví dụ1:
Với Cấn lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng có khen, nhng lời khen lại quá lời chửi: “Hay thật, cái nghề cạo đầu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nh ng hái ra tiền!”
Trang 21[Chút thoáng Xuân Hơng, 12.444]
Những câu dẫn có nội dung nh thế này chiếm 20,8%
2.3 Cấu tạo lời chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Chửi có thể không có hình thức ngôn ngữ thể hiện riêng, cũng có thể cóhình thức ngôn ngữ riêng đợc thể hiện bằng bài chửi, câu chửi, từ ngữ chửi
2.3.1 Lời chửi có cấu tạo là từ đơn
Loại này do từ đơn kết hợp với từ chỉ đối tợng thứ hai mà thành
Dùng các từ chỉ quan hệ thân tộc: Đây là kiểu chửi sâu cay nhất Ngời
Việt Nam vốn có truyền thống trọng tình, do vậy, khi chửi mà liên quan đến tổtông, ông bà, cha mẹ là sự xúc phạm nặng nề nhất Kiểu chửi này xuất hiệnnhiều trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Qua khảo sát chúng tôi thấy có
đến tám câu chửi kiểu này
- Cha bố cô! - Bà Thiều chồm dậy - chỉ toàn ăn tàn phá hại! Có đi
tìm ngay không bà lại cho một trận bây giờ
[Huyền thoại phố phờng, 12.375]
Dùng các từ chỉ bộ phận cơ thể ngời: Chúng gồm các từ nh: Chim,
dái, bớm, cứt, dơng vật, hạ bộ, vú kiểu chửi này có thể tục tĩu, dâm dục,trần trụi, thể hiện sự khinh miệt, mỉa mai đối với đối phơng Những câu thuộcloại này tuy không nhiều nhng cũng để lại trong lòng ngời đọc một cảm giácghê rợn, gai gai
Câu chuyện Đoài kể: Lại có chuyện thế này Nhà kia có cô con dâu,“
bố chồng bóp vú cô ta Đứa con trai hỏi: Sao ông lại bóp vú vợ tôi? Ông“ ”
bố bảo: Để trừ nợ Thế hồi x“ a sao mày bóp vú vợ tao? ”
Trang 22Nhà vua nổi giận: Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê “ ? Tao cho cắt dái mày! Tao cho mày ăn cứt ”
Phong bảo: Ông hay đùa nhỉ? Mời ông đi ra, tôi mà cáu lên thì ông“
lợn”.
[Tớng về hu, 12.63]
Anh Bờng bảo: Sợ chứ, nh“ ng rồi lại nghĩ: Mẹ khỉ, đời chán lắm, sống
cũng vậy mà chết cũng vậy, cứ quyết tâm biết đâu chẳng giết đợc con thú ác.
Đấy cũng là kỳ tích trong đời, chẳng phải ai cũng làm đợc ”
[Những ngời thợ xẻ, 12.183]
2.3.2 Lời chửi có cấu tạo là tổ hợp từ
Số lợng tổ hợp từ làm lời chửi khá nhiều Từ ít khi đứng độc lập mà nókết hợp với từ khác để làm thành lời chửi Qua khảo sát 10 truyện, chúng tôithống kê đợc 22/97 lời chửi do tổ hợp từ cấu tạo nên Loại này thờng có cấutạo theo 6 mô hình sau:
Mô hình 1: Đồ + Tính từ/ Danh từ