1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản (luận văn thạc sỹ luật)

90 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 124,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 238 BLDS năm 2015: “Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

PHẠM THỊ THẢO XUYÊN

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

PHẠM THỊ THẢO XUYÊN

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HẢI AN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu

Trang 3

liệu sử dụng phân tích trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trongcông trình nghiên cứu này.

rp r _ _ • 2 1 A w

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thảo Xuyên

Trang 4

2 Luật Đất đai LĐĐ

4 Luật Kinh doanh bất động sản LKDBĐS

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Kết quả của luận văn 5

8 Bố cục luận văn 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN 6

1.1 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 8

1.1.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 8

1.1.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu 9

1.1.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu 11 1.2 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 12 1.2.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản.12 1.2.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

17 1.2.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản 19

1.3 Các căn cứ xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua

Trang 6

1.3.2 Căn cứ theo thỏa thuận 21

1.3.3 Căn cứ theo thời hiệu 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN 28

2.1 Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu 29

2.2 Đối với động sản phải đăng ký quyền sở hữu 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3 THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN 53

3.1 Đối với bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu 53

3.2 Đối với bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển, xu hướng chungcủa các nước là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay, đã córất nhiều các hiệp định quốc tế được ký kết, một số hiệp định mà Việt Nam cũng làthành viên như là WTO, CPTPP, EVFTA, qua đó có thể thấy thị trường ngày càng

mở cửa, khuyến khích hợp tác cùng phát triển cả trong và ngoài nước

Khi mối quan hệ về giao thương phát triển nhộn nhịp thì cùng lúc đó là sự rađời của hợp đồng Hợp đồng được xem như một bằng chứng ghi nhận lại sự thỏathuận của các bên trong một giao dịch Trong đó, hợp đồng mua bán tài sản là loạihợp đồng thông dụng nhất, phổ biến nhất và có số lượng giao dịch nhiều nhất khi cácchủ thể tham gia vào thị trường Khi nhắc đến hợp đồng mua bán tài sản chúng tathường quan tâm đến các vấn đề như: đối tượng của hợp đồng, giá cả và phương thứcthanh toán, thời gian thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ của các bên, địa điểm giao tài sản,phương thức giao tài sản, tuy nhiên, mọi người lại ít đề cập đến vấn đề chuyểnquyền sở hữu cũng như xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng muabán tài sản

Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

là việc xác định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của một bên và xáclập quyền sở hữu tài sản của bên còn lại trong quan hệ hợp đồng để từ đó xác định rõtrách nhiệm, nghĩa vụ của các bên và cũng là cơ sở cho vấn đề chuyển rủi ro trongquan hệ hợp đồng Từ đó có thể thấy, khi không xác định rõ ràng thời điểm chuyểnquyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ dễ dàng xảy ra nhiều hệ lụy khácnhau và tranh chấp phát sinh là điều không thể tránh khỏi

Vì vậy, để hạn chế những rủi ro và tranh chấp có thể phát sinh trong quá trìnhgiao kết, thực hiện hợp đồng mua bán tài sản thì các bên cần nắm rõ quy định phápluật cùng với đó là việc phải quy định cụ thể, chi tiết về các điều khoản trong hợpđồng mua bán tài sản, nhất là việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợpđồng mua bán tài sản

Trang 8

Việc nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện những luận cứ, cơ sở khoa học

về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản theoquy định pháp luật Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là nhu cầu cấpthiết đối với công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta Từ đó đề xuất những giảipháp thích hợp cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật vềhợp đồng mua bán tài sản nói chung và việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữutrong hợp đồng mua bán tài sản nói riêng Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản” làm luận văn thạc sĩ củamình

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợpđồng mua bán tài sản có một số sách tham khảo, luận văn, những công trình khoa họcnhư là:

Quá trình tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả nhậnthấy liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu khoa học đã được công

bố, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành luật nghiên cứu về đề tài như sau:

Dưới hình thức luận án, luận văn có những công trình:

- Lê Thị Ngọc Vân (2014), “Pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu

theo thời hiệu”, Luận văn thạc sĩ - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn

đề cập đến việc xác lập quyền sở hữu tài sản của chủ thể theo thời hiệu, chỉ ra thựctrạng trong việc xác lập quyền sở hữu và đưa ra những giải pháp, khuyến nghị chovấn đề này;

- Nguyễn Thị Kim Thoa (2018), “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài

sản không xác định được chủ sở hữu theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ

-Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đi sâu nghiên cứu và phân tích căn

cứ xác lập quyền sở hữu đối với đối tượng chính là tài sản không xác định được chủ

sở hữu, tác giả không phân chia tài sản là động sản và bất động sản mà phân tích dựatrên các quy định của Bộ luật Dân sự

Dưới hình thức giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học có những

Trang 9

công trình:

- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), “Giáo trình pháp

luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế”, PGS.TS Lê Minh Hùng chủ biên,

Nxb Hồng Đức Giáo trình khái quát về tài sản, chiếm hữu, quyền sở hữu tài sản, cácquyền khác đối với tài sản, bảo vệ quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sảnbằng Luật dân sự, các quy định về thừa kế Chương 2 của giáo trình quy định cụ thể,chi tiết về quyền sở hữu tài sản;

- PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ

luật dân sự 2015”, Nxb Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã nêu ra

những điểm mới trong BLDS năm 2015 với BLDS trước đó, đánh giá những tiến bộcủa BLDS năm 2015;

- TS Nguyễn Ngọc Điện (2016), “Giáo trình Luật dân sự - Tập 1”, Nxb

Chính trị quốc gia Giáo trình có nội dung bao quát các quy định của BLDS ViệtNam Trong đó, tại chương 2 chủ yếu phân tích các quy định về quyền sở hữu, quyềnnăng của quyền sở hữu và căn cứ xác lập quyền sở hữu, đồng thời đưa ra những đánhgiá của tác giả đối với các quy định này;

- PGS.TS Nguyễn Văn Cừ, PGS.TS Trần Thị Huệ (2015), “Bình luận khoa

học Bộ luật dân sự năm 2015”, Nxb Công an nhân dân Tác phẩm đã phân tích và chỉ

ra được điểm hạn chế trong quy định của luật dân sự đối với quyền sở hữu đối với tàisản

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành luật có các bài viết có nội dung liên

quan đến đề tài như: PGS.TS Đỗ Văn Đại (2019), “Thời điểm chuyển quyền sở hữu

bất động sản ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2019.

Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập trungnghiên cứu, đánh giá thực tiễn về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tronghợp đồng mua bán tài sản, cũng như chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng caohiệu quả của việc ký kết cũng như thực hiện hợp đồng mua bán tài sản

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về

Trang 10

xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản theo quyđịnh pháp luật Việt Nam; chỉ ra những điểm hợp lý, tiến bộ cũng như những vấn đềcòn tồn tại trong pháp luật hiện hành về vấn đề này để từ đó đề xuất những kiến nghị,giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật theo hướng phù hợp với thực tiễn áp dụng.

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lý luận khoa học và thực tiễn ápdụng pháp luật về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bántài sản, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

5 Phạm vi nghiên cứu

Vì phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn khá rộng nên ngoài việc nghiêncứu lý luận và luật thực định thì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số loại tài sảnphổ biến và thông dụng, thường xuyên xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu, từ đó đưa

ra các kiến nghị chứ không nghiên cứu tất cả các loại tài sản hoặc những tất cả quyđịnh của pháp luật liên quan đến tài sản

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin về chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng kết hợp một

số phương pháp nghiên cứu khoa học như:

Phương pháp phân tích: Nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản vềquyền sở hữu và xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bántài sản, phân tích những bất cập để đưa ra hướng hoàn thiện

Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những quy định, kết quả phân tích từ đó đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tronghợp đồng mua bán tài sản

Ngoài ra, luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khácnhư: Quy nạp, diễn dịch, thống kê, so sánh, đối chiếu thực tiễn để phục vụ cho hoạtđộng nghiên cứu theo yêu cầu của luận văn

Trang 11

7 Kết quả của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản; Luận văn góp phần đánh giátình hình thực thi pháp luật tại Việt Nam; Luận văn đưa ra những đề xuất và luận giảimột số quan điểm, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và thực thi pháp luật về xácđịnh thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

Quá trình tồn tại của xã hội loài người luôn gắn liền với sự phân hóa tài sảntrong việc chiếm giữ những của cải vật chất Cùng với đó là sự phân chia giai cấp,những người có quyền thế trong xã hội thấy rằng chỉ điều hành xã hội bằng phongtục tập quán sẽ không có lợi cho mình nên cần phải có một bộ máy quản lý với phápluật là công cụ để bảo vệ sự chiếm hữu của cải vật chất cho mình và cho giai cấpmình Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất

đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu Các quan hệ sở hữu này tồn tại một cách kháchquan cùng với sự phát triển của xã hội Khi Nhà nước và pháp luật ra đời, địa vị củagiai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất trong xã hội được ghi nhậnbằng những quyền năng hạn chế mà Nhà nước trao cho người đang chiếm giữ của cải

Trang 12

vật chất đó1 Lúc này, các quan hệ sở hữu đã được điều chỉnh bằng pháp luật và hìnhthành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản.

Theo Từ điển luật học, quyền sở hữu2 được định nghĩa như sau:

- Phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhấtđịnh

- Tổng hợp các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu tồn tại trong xã hội tạithời điểm lịch sử nhất định (theo nghĩa khác quan)

- Các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu bao gồm những nhóm quy phạmvề: Các hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền

sở hữu; cách thức, biện pháp dịch chuyển quyền sở hữu ở các hình thức sở hữu khácnhau; bảo vệ quyền sở hữu

- Quyền của chủ thể đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (theo nghĩachủ quan) bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sởhữu theo quy định của pháp luật

Quyền sở hữu là chế định pháp luật dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự, trong

đó các yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, nội dung

BLDS năm 2015 quy định về quyền sở hữu tại Điều 158 như sau “Quyền sở

hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” Theo quy định này, quyền sở hữu bao hàm các quyền

năng khác Khi một chủ thể có quyền sở hữu đối với một tài sản thì đồng nghĩa vớiviệc sẽ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản đó

Cùng với việc xác lập quyền sở hữu của chủ thể đối với tài sản thì các giaodịch dân sự sẽ được hình thành thông qua việc các chủ thể thực hiện các quyền năngcủa mình Chủ thể có quyền định đoạt tài sản của mình bằng việc mua bán hoặc tặngcho chúng Ví dụ như, ông A quyết định bán chiếc đồng hồ của mình cho ông B vớitrị giá 10 triệu đồng thì giao dịch giữa ông A và ông B đã hình thành một hợp đồngmua bán tài sản, và quyền sở hữu chiếc đồng hồ sẽ được chuyển từ ông A sang ông

B, tuy nhiên để đảm bảo hợp đồng này được thực hiện đúng quy định ta phải xác

1TS Nguyễn Ngọc Điện (2016), “Giáo trình Luật dân sự - Tập 1”, Nxb Chính trị quốc gia, tr.109

2Viện Khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb Từ điển bách khoa, tr.651-652

Trang 13

định được quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định thời điểm có hiệu lực của hợpđồng, xác định các thỏa thuận về giao hàng, nhận hàng và thanh toán3, đồng thời phảixác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu là một nội dung quan trọng trong một giao dịch dân sự Do đó, để hiểu

rõ hơn về vấn đề này ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩathời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồngmua bán tài sản

1.1 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu

1.1.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu

Chuyển quyền sở hữu là một sự kiện pháp lý quan trọng, và là mục đích cuốicùng của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Việc xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu cũng là vấn đề pháp lý phức tạp vì liên quan đến nhiều yếu tố khác nhưthời điểm xác lập quyền sở hữu, thời điểm chấm dứt quyền sở hữu và trong nhiềutrường hợp khác nhau với đối tượng khác nhau, chủ thể khác nhau thì thời điểmchuyển quyền sở hữu trong một giao dịch dân sự cũng khác nhau

BLDS năm 2005, tại Điều 168 quy định “Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối

với tài sản” đến BLDS năm 2015 tại Điều 161 quy định “Thời điểm xác lập quyền

sở hữu” Có thể nhận thấy sự thay đổi trong quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam

qua các giai đoạn Một số chuyên gia đồng ý với sự thay đổi này, họ cho rằng về họcthuật, khái niệm chuyển quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu là hai khái niệm cónội hàm khác nhau Thứ nhất, khái niệm “chuyển dịch” theo từ điển tiếng Việt củaNhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002 là “thay đổi hay làm thay đổi vị trí trong khoảngngắn thể hiện trạng thái động của hiện tượng, sự vật, thể hiện sự biến đổi về chấthoặc về lượng của sự vật, hiện tượng đó trong một khoảng thời gian rất ngắn màkhông thể tính toán được bằng một đơn vị thời gian theo quy định” Còn khái niệm

“xác lập” là lập nên trên cơ sở vững chắc, xác lập một quyền trên tài sản là sự phátsinh quyền của một chủ thể được pháp luật bảo hộ thể hiện trạng thái tĩnh Bởi vậy,dùng cụm từ “thời điểm xác lập quyền sở hữu” vừa chính xác về mặt khoa học, vừa

3Từ Điều 430 đến Điều 446 BLDS năm 2015: Quy định về hợp đồng mua bán tài sản.

Trang 14

chính xác về ngôn ngữ4.

Mặt khác, không phải mọi trường hợp quyền sở hữu đối với tài sản đều đượcxác lập thông qua việc chuyển quyền sở hữu Trên thực tế có rất nhiều trường hợpmột người được xác lập sở hữu không phải thông qua việc chuyển giao từ người khácnhư: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sởhữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, gia súc, gia cầm thất lạc Do đó, khi sử dụng thuậtngữ “xác lập quyền sở hữu” sẽ hợp lý hơn vì nó bao gồm cả việc chuyển giao tài sảncủa các chủ thể và những trường hợp khác Có thể nói khái niệm xác lập quyền sởhữu theo BLDS năm 2015 quy định rộng hơn, bao hàm nhiều trường hợp hơn so vớikhái niệm chuyển quyền sở hữu tại BLDS năm 2005

Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cũng như sự thay đổi về quyền của các chủ thểkhi thực hiện các giao dịch dân sự thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được hiểu làthời điểm chấm dứt quyền sở hữu của một bên chủ thể và là thời điểm xác lập quyền

sở hữu của bên chủ thể khác khi tài sản được chuyển giao trong một giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 238 BLDS năm 2015: “Khi chủ sở hữu chuyển giao

quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể

từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao ” Như vậy, thời

điểm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của chủ thể là từ thời điểm phát sinh quyền sởhữu của người được chuyển giao Đồng thời, theo quy định về thời điểm xác lậpquyền sở hữu tại Điều 161 BLDS năm 2015 thì thời điểm xác lập quyền sở hữu củachủ thể được chuyển giao tài sản

Từ những phân tích trên, ta có thể xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu làthời điểm xác lập quyền sở hữu của chủ thể được chuyển giao

1.1.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu

4Trần Thị Huệ (2016), “Những điểm nổi bậc về quyền sở hữu và những quyền khác trong Bộ luật

Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại (https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/NHUNG-DIEM-MOI- NOI-BAT-VE-QUYEN-SO HUU-VA-NHUNG-QUYEN-KHAC-TRONG-BO-LUAT-DAN-SU-NAM- 2015-6150/ )

Trang 15

Thời điểm chuyển quyền sở hữu có các đặc điểm sau:

Một là, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tạo ra hai quyền đối lậpcủa các chủ thể, nếu một bên xác lập quyền sở hữu thì bên còn lại sẽ chấm dứt quyền

sở hữu Ví dụ như, ông A bán cho ông B một chiếc xe đạp trị giá 1 triệu đồng và haibên thỏa thuận thời điểm ông A giao xe đạp cho ông B, ông B thanh toán tiền choông A là ngày 01/6/2020 Vậy vào thời điểm này khi hai bên đã hoàn thành nghĩa vụcủa mình tức là khi ông A đã giao xe và ông B đã thanh toán tiền thì ông B là chủ thểxác lập quyền sở hữu đối với chiếc xe đạp, cùng lúc đó ông A là chủ thể chấm dứtquyền sở hữu với chiếc xe đạp

Hai là, theo Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 quy định thời điểm xác lậpquyền sở hữu, cụ thể: Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sảnthực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luậtkhông có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật khôngquy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyềnkhác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao Thời điểm tài sản đượcchuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếmhữu tài sản

Như vậy, thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định theo thứ tự sau:

- Xác định theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

- Trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của cácbên;

- Trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì là thờiđiểm tài sản được chuyển giao

BLDS năm 2015 ưu tiên áp dụng theo các quy định của pháp luật, nếu không

có luật quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu thì sẽ áp dụng theo thỏa thuậncủa các bên Các trường hợp còn lại xác định chủ yếu dựa vào thời điểm nắm giữ, chiphối tài sản của chủ thể Việc công nhận sự thỏa thuận của các bên về thời điểm xáclập quyền sở hữu đã mở rộng thêm quyền cho các bên trong các giao dịch chuyểngiao quyền sở hữu, tạo điều kiện cho các bên tự do thống nhất với nhau về thời điểm

cụ thể trong việc chuyển giao quyền sở hữu

Trang 16

Ví dụ như: ông A tặng cho con trai của mình là B một chiếc xe đạp (xe đạp làđộng sản không phải đăng ký) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm tài sản

được chuyển giao Vì theo Khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015 “Hợp đồng tặng cho

động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác” và Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 “ Trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu

là thời điểm tài sản được chuyển giao.” Đối tượng được tặng cho trong trường hợp

này là động sản không phải đăng ký, 2 bên chủ thể cũng không thỏa thuận thời điểmchuyển quyền sở hữu, do đó căn cứ vào những quy định trên ta có thể xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu chiếc xe đạp từ ông A cho B là thời điểm B nhận đượcchiếc xe đạp, tức là B trực tiếp chiếm hữu chiếc xe đạp này

Pháp luật đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu, tạo điều kiện cho các chủ thể xác lập quyền sở hữu cũng nhưchấm dứt quyền sở hữu của mình một cách hợp lý và hợp pháp

1.1.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu

Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng, nó làảnh hưởng rất nhiều đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan (người nhậnchuyển quyền sở hữu và người chuyển quyền sở hữu), cụ thể như sau:

Một là, kể từ thời điểm quyền sở hữu được chuyển giao thì người được xácđịnh là chủ sở hữu tài sản có mọi quyền năng đối với tài sản đó (quyền chiếm hữu,quyền sử dụng, quyền định đoạt) Đồng thời, chủ sở hữu còn phải gánh chịu mọitrách nhiệm phát sinh từ việc quản lý, sử dụng tài sản đó, nếu có thiệt hại cho ngườikhác thì chủ sở hữu phải bồi thường do tài sản của mình gây ra

Hai là, một trong những ý nghĩa quan trọng của việc xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu là để xác định ai là người chịu rủi ro về tài sản (như do thiên tailàm tài sản bị hủy hoại), chịu trách nhiệm về tài sản (như nhà đổ làm hỏng tài sản của

người khác) Theo quy định tại Điều 162 BLDS năm 2015 thì: “Chủ sở hữu phải

chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác liên quan có quy định khác” Các Điều 603, 604, 605

BLDS năm 2015 cũng quy định chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do gia súc, cây

Trang 17

cối, nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu của mình gây ra cho người khác.

Ba là, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu cũng là căn cứ xác định

sự dịch chuyển của tài sản, sẽ làm tăng tổng giá trị tài sản của bên chủ thể xác lậpquyền sở hữu đối với tài sản và sẽ làm giảm tổng giá trị tài sản của bên chủ thể chấmdứt quyền sở hữu tài sản trong một giao dịch dân sự

1.2 Khái quát về thời điểm chuyển quyền quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

1.2.1 Khái niệm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

Theo định nghĩa của Từ điển luật học thì hợp đồng mua bán tài sản5 là mộtloại hợp đồng dân sự thông thường, theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bênmua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán

Đối tượng của hợp đồng mua bán có thể là vật và quyền tài sản Vật và quyềntài sản phải có thực và được phép giao dịch Trong trường hợp đối tượng của hợpđồng mua bán là vật thì phải được xác định bằng giá trị sử dụng, chủng loại, số lượng

và chất lượng Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sảnthì phải có giấy tờ hoặc bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bênbán Chất lượng mua bán của vật do các bên thỏa thuận, nếu đã được đăng ký cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo các tiêu chuẩn đã được đăng ký hoặctheo quy định, khi không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì xác địnhtheo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại Giá cả, phươngthức thanh toán, thời gian thực hiện hợp đồng do các bên thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của pháp luật Giá cả cũng có thể do người thứ ba xác định theo yêu cầu của cácbên Các bên có thể áp dụng hệ số trượt giá khi có biến động về giá Bên bán có thểgiao tài sản trước thời hạn nếu được bên mua đồng ý

Gần giống với định nghĩa của Từ điển luật học, Bộ luật Dân sự Việt Nam quyđịnh hợp đồng mua bán tài sản6 là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản

5Viện Khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb Từ điển bách khoa, tr.395

6Điều 430 BLDS năm 2015

Trang 18

và trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng song vụ và là hợp đồng mang tính chấtđền bù, mỗi bên trong hợp đồng mua bán tài sản đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đốivới bên kia, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Bên bán cónghĩa vụ chuyển giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, bên mua có nghĩa vụ nhận tàisản và trả tiền cho bên bán Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tàisản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp Đối với hợp đồng muabán tài sản ngoài việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên thì việc xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu khi các bên thực hiện hợp đồng là điều vô cùng quantrọng

Quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tại một

số quốc gia cũng có nhiều điểm khác nhau như là:

BLDS Campuchia7 quy định tại Khoản 1 Điều 528 “Việc chuyển giao quyền

sở hữu của đối tượng trong hợp đồng mua bán sẽ căn cứ vào các nguyên tắc chung quy định tại Điều 133 (Thay đổi quyền về tài sản do thỏa thuận), Điều 134 (Điều kiện phản đối thay đổi quyền về tài sản), Điều 135 (Điều kiện hiệu lực trong việc chuyển giao quyền sở hữu bất động sản bằng thỏa thuận), Điều 160 (Xác lập quyền

sở hữu bất động sản) và Điều 187 (Xác lập quyền sở hữu động sản).

Pháp luật Campuchia quy định việc chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồngmua bán sẽ được xác định theo từng trường hợp cụ thể, từng loại tài sản khác nhau,đồng thời đảm bảo những nguyên tắc chung về quyền sở hữu Như vậy, căn cứ đểxác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản của sẽđược xác định theo từng trường hợp cụ thể

Quy định tại Điều 133 Luật HĐ Trung Quốc8 quy định “Quyền sở hữu đối

tượng mua bán được chuyển vào thời điểm giao vật, trừ khi pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác” Pháp luật về hợp đồng của Trung Quốc thì

có quy định cụ thể về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán

7Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo BLDS, Bộ Tư pháp, tr.81

8 Tài liệu Ban Soạn thảo Luật Thương mại (sửa đổi), Bộ Thương mại, tr.23-24

( https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/wp-content/uploads/2018/04/V-Luat-hop-dong-Trung-Quoc_Ban- TV-10.6.04-1.pdf )

Trang 19

dich-là thời điểm giao vật, tuy nhiên trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên

có thỏa thuận khác (không vi phạm pháp luật) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu sẽđược xác định theo các quy định và thỏa thuận đó Có thể thấy, pháp luật về hợpđồng của Trung Quốc quy định khá rõ ràng về thời điểm chuyển quyền sở hữu tronghợp đồng mua bán

Pháp luật dân sự Nhật Bản quy định cụ thể từng trường hợp đối với việc xáclập quyền sở hữu9, và được xác định với hai đối tượng chính là động sản và bất độngsản Đối với các quy định liên quan đến hợp đồng mua bán BLDS Nhật Bản tại Điều

555 BLDS Nhật Bản quy định “Việc mua bán sẽ có hiệu lực, khi một bên đồng ý

chuyển giao quyền sở hữu cho bên kia và bên kia đồng ý thanh toán cho bên bán”.

Như vậy, BLDS Nhật Bản chỉ quy định phải có sự chuyển giao quyền sở hữu củamột bên chủ thể và đồng ý thanh toán của chủ thể còn lại, mà không đề cập đến việcchuyển quyền sở hữu như thế nào và thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác địnhnhư thế nào

Sự khác nhau trong quy định của các quốc gia về việc xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu là điều dễ hiểu vì nó chịu sự ảnh hưởng khác nhau về văn hóa,

xã hội, phong tục tập quán, đặc biệt là việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữutrong hợp đồng mua bán còn phải nhằm mục đích phù hợp với từng tính chất, đặcđiểm hoạt động kinh doanh của quốc gia đó Nhưng nhìn chung, sẽ được phân chiathành hai xu hướng đó là một số quốc gia sẽ không quy định cụ thể việc xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán mà dựa vào từng đối tượng tàisản cụ thể sẽ quy định thời điểm thông qua pháp luật chuyên ngành, số khác sẽ quyđịnh trực tiếp thời điểm chuyển quyền sở hữu tại Bộ luật Dân sự Đối với Việt Nam,quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán thì có sự thayđổi qua các thời kỳ

BLDS năm 2005 quy định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu được quy địnhtại Điều 439 như sau:

“1 Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ

9 Điều 239 đến Điều 248 BLDS Nhật Bản, Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo BLDS, Bộ

Tư pháp, tr.44-45

Trang 20

thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng

ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.

3 Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.”

Việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản là mốc đểxác định chủ sở hữu có quyền được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản.Ngoài ra, việc xác định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu còn là căn cứ để xácđịnh quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chuyển nhượng trongquá trình thực hiện hợp đồng mua bán tài sản Theo quy định tại Điều 439 Bộ luậtDân sự 2005 thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sảnđược xác định như sau:

- Tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu: Thời điểm chuyển giao quyền sởhữu là thời điểm chuyển giao tài sản nếu các bên không có thỏa thuận khác Điều đó

có nghĩa là các bên khi thực hiện hợp đồng mua bán tài sản có quyền được thỏa thuận

về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

- Tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của phápluật thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm hoàn tất thủ tục đăng kýquyền sở hữu Như vậy, với trường hợp này, các bên không được quyền thỏa thuận

về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

Như vậy, trong hợp đồng mua bán tài sản phải thể hiện rõ đối tượng của hợpđồng là tài sản đủ điều kiện đưa vào giao dịch và thông tin về hiện trạng của tài sảnkhi đem vào giao dịch

Đến BLDS năm 2015 thì việc xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng được quy

định: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi,

cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó” 10 Tuy nhiên, đối với hợp đồng mua bán tài sản thì BLDS

10 Điều 223 BLDS năm 2015

Trang 21

năm 2015 lại không quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu11, mà việc xác địnhthời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ được căn cứ theoquy định của pháp luật chuyên ngành Ví dụ như:

- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, Luật Thương mại 2005 quy định “Trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao” 1 - 2

- Đối với hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, Luật Đất đai 2013 quy định “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ, góp vốn bằng QSDĐ phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực

kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính” 12 13

Có thể thấy, BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 có những quy định mởhơn về việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản.Dựa vào đặc điểm của từng loại tài sản cụ thể luật chuyên ngành sẽ có những quyđịnh phù hợp với tính chất, điều kiện phát triển của tài sản đó Để xác định được thờiđiểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản ngoài việc căn cứ vàothỏa thuận của các bên trong hợp đồng, quy định pháp luật dân sự, ta còn phải căn cứvào quy định của pháp luật chuyên ngành phù hợp với từng đối tượng được giao dịchtrong hợp đồng mua bán tài sản

Như vậy, thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sảnđược xác định kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên cóthoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (như là các tài sản được quy địnhphải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển giao kể từ thời điểm hoànthành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó)

1.2.2 Đặc điểm thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

Ngoài những đặc điểm cơ bản của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở

11 Điều 430 đến Điều 454 BLDS năm 2015 Quy định các điều khoản về hợp đồng mua bán tài sản

12 Điều 62 LTM năm 2005

13 Điều 188 LĐĐ năm 2013

Trang 22

hữu thì việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

có các đặc điểm sau:

Một là, cũng giống với các loại hợp đồng khác, việc xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản được áp dụng theo nguyên tắc:

ưu tiên áp dụng theo các quy định của luật chuyên ngành, nếu không có luật quy định

về thời điểm chuyển quyền sở hữu thì sẽ áp dụng theo thỏa thuận của các bên Cáctrường hợp còn lại xác định vào thời điểm tài sản được chuyển giao

Căn cứ vào thời điểm tài sản được chuyển giao để xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu là giải pháp cuối cùng mà pháp luật đưa ra Có thể thấy việc tuân thủquy định của pháp luật chuyên ngành và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tronggiao dịch là đang là định hướng điều chỉnh của pháp luật hiện hành

Hai là, hợp đồng mua bán tài sản là một khái niệm rộng và bao hàm nhiều lĩnhvực, nhiều đối tượng, do đó việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối vớihợp đồng này cũng được phân chia thành nhiều quy định khác nhau BLDS năm

2015 phân chia tài sản bao gồm hai loại cơ bản là động sản và bất động sản14

Tại Điều 106 Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể điều kiện có quyền sở hữuđối với bất động sản và động sản như sau:

“1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.

2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.

3 Việc đăng ký tài sản phải được công khai ”

Từ các quy định trên có thể phân chia tài sản trong hợp đồng mua bán tài sảnthành các nhóm tài sản sau:

- Động sản: Động sản phải đăng ký và động sản không phải đăng ký

- Bất động sản: Bất động sản phải đăng ký và bất động sản không phải đăngký

Đối với từng loại tại sản khác nhau sẽ có quy định khác nhau trong việc thực

14 Khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015 “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động

sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai ”

Trang 23

hiện hợp đồng, như: khác nhau về hình thức hợp đồng, nghĩa thanh toán của bênmua, nghĩa vụ giao hàng của bên bán, thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyểnquyền sở hữu Do đó, để xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợpđồng mua bán tài sản phải xác định được loại tài sản giao dịch trong hợp đồng làđộng sản hay bất động sản.

1.2.3 Ý nghĩa thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, việc xác định thời điểm chuyển quyền sởhữu có ý nghĩa sau:

Một là, hợp đồng mua bán là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho công dân,

tổ chức trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất kinhdoanh Trong nền kinh tế nhiều thành phần, quan hệ mua bán phản ánh mối quan hệkinh tế về trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh

tế khác nhau Từ đó tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại và pháttriển, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân

Hai là, hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng nhằm mục đích chuyển giaoquyền sở hữu đối với tài sản từ bên bán sang bên mua nên việc xác định thời điểmchuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán hàng hóa là vô cùng quan trọng, đảmbảo mục đích của hợp đồng được thực hiện và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng được xác định một cách cụ thể, rõ ràng

Ba là, cũng giống như trong bất kỳ loại giao dịch dân sự hay loại hợp đồngnào khác, thì xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là một trong những điều kiệnquan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu đối với tài sản, và là mộttrong những căn cứ để xác định thời điểm chuyển rủi ro

1.3 Các căn cứ xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản

1.3.1 Căn cứ theo quy định pháp luật

Khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2015 đã quy định căn cứ để xác định thời điểmxác lập quyền sở hữu là theo quy định của BLDS và các luật khác có liên quan Nhưvậy, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trước tiên phải tuân theo

Trang 24

quy định của pháp luật, ngoài các quy định chung tại BLDS thì tùy vào từng đốitượng cụ thể mà ta phải căn cứ quy định của pháp luật chuyên ngành như LuậtThương mại, Luật Đất đai, Luật Nhà ở,

Ví dụ như Điều 12 Luật Nhà ở 2014 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữunhà ở, có nội dung như sau:

“1 Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là

kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và

đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

3 Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở với người mua thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua nhận bàn giao nhà ở hoặc kể từ thời điểm bên mua thanh toán đủ tiền mua nhà ở cho chủ đầu tư Đối với nhà ở thương mại mua của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.”

Như vậy Luật Nhà ở quy định rõ thời điểm chuyển quyền sở hữu:

- Trường hợp mua bán nhà ở thông thường thì thời điểm chuyển quyền sở hữu

là ở thời điểm đã thanh toán đủ tiền mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợpcác bên có thỏa thuận khác

- Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở với ngườimua thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm nhận bàn giao nhà hoặc thờiđiểm bên mua thanh toán đủ tiền mua nhà

- Trường hợp bên bán là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì thời điểmchuyển quyền sở hữu được thực hiện theo pháp luật về kinh doanh bất động sản

Trong nhiều trường hợp, đối với các giao dịch dân sự hay hợp đồng thì sự tự

do thỏa thuận giữa các bên chủ thể sẽ được tôn trọng và ưu tiên áp dụng Tuy nhiên,

sở hữu và quyền sở hữu là một vấn đề quan trọng do đó sự điều chỉnh của pháp luậttrong vấn đề này được đặt lên hàng đầu, nhằm tạo ra sự đảm bảo tốt nhất cho các chủ

Trang 25

thể về quyền của mình cũng như hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ratrong quá trình chuyển giao quyền sở hữu.

Pháp luật quy định cụ thể thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng muabán tài sản (cụ thể cho từng loại tài sản), cũng như việc xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu phải do pháp luật điều chỉnh đầu tiền mà không phải là tôn trọng hoàntoàn các thỏa thuận của chủ thể khi thực hiện hợp đồng là điều vô cùng hợp lý Vìchế định về sở hữu vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến quyền và lợi ích cácbên trong hợp đồng, nếu không xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu mộtcách rõ ràng vấn đề pháp lý liên quan khác có thể xảy ra Pháp luật dự liệu được cáctrường hợp có thể xảy ra trong các giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng mua bántài sản nói riêng, từ đó đưa ra các quy định về xác định thời điểm chuyển quyền sởhữu vừa thể hiện sự tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các bên nhưng cũng khôngquên đưa ra những quy định nền khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận đó

có điều bất cập (như quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014)

1.3.2 Căn cứ theo thỏa thuận

Hợp đồng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chí giữacác bên làm phát sinh sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Mặtkhác, hợp đồng phải đảm bảo không trái với các quy định của pháp luật Các hợpđồng mua bán, tặng cho, cho vay, nếu được xác lập phù hợp với quy định của Bộluật Dân sự thì những người được chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch hợppháp có quyền sở hữu đối với tài sản đó Những tài sản theo quy định của pháp luậtphải đăng ký, sang tên, xin phép thì quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm hoàn tấtcác thủ tục đó

Đối với các loại hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán tài sản nói riêngnếu được xác lập phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, thì người được chuyểngiao tài sản thông qua các hợp đồng này có quyền sở hữu đối với tài sản đó và phápluật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về thỏa thuận thời điểmchuyển quyền sở hữu tài sản Ví dụ như A ký với B một hợp đồng mua bán gạo, B cónghĩa vụ giao cho A 100 tấn gạo vào ngày 01/11/2020, địa điểm nhận hàng là tại nhàcủa B và A sẽ thanh toán tiền cho B trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được

Trang 26

100 tấn gạo, đồng thời trong hợp đồng có thỏa thuận cụ thể thời điểm chuyển quyền

sở hữu 100 tấn gạo từ bên B sang bên A là thời điểm A nhận được 100 tấn gạo Nhưvậy, căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng thì xác định thời điểm chuyển quyền sởhữu trong trường hợp này là khi bên mua nhận được hàng15

Tuy nhiên, trên thực tế việc thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng khôngphải lúc nào cũng tuân thủ các quy định của pháp luật vì nhiều lý do như: kiến thứcpháp luật của các chủ thể còn kém, hay cố tình vi phạm pháp luật vì mục đích trục lợi

từ thỏa thuận đó, Và hệ quả của những thỏa thuận vi phạm pháp luật đó đôi khi tạothành những ngoại lệ trong hệ thống pháp lý nước ta

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03/3/2010 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyểnnhượng QSDĐ” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông ChuVăn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợchồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó chongười khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác địnhbên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợpđồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhàđất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợpđồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý vớiviệc chuyển nhượng nhà đất Như vậy, căn cứ vào dữ kiện thực tế đã xảy ra, Tòa áncông nhận thỏa thuận của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, dù rằng sựthỏa thuận của các bên tại thời điểm đó là chưa đúng với quy định của pháp luật vềchủ thể có quyền định đoạt tài sản Vì tính chất đặc thù của vụ án, Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua ngày 06/4/2016 quyết định đưa vụ án nàythành Án lệ số 04/2016/AL16 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Tuy các thỏa thuận vi phạm pháp luật có thể tạo ra các ngoại lệ nhưng đây vẫn

15 Điều 62 LTM năm 2005

16 Án lệ số 04/2016/AL về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ”

(

https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/an-le/13196/an-le-so-04-2016-al-ve-vu-an-tranh-chap-hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat)

Trang 27

là những thỏa thuận mà pháp luật cấm, do đó để đảm bảo tối đa lợi ích các bên chủthể trong hợp đồng mua bán tài sản có thể nhận được thì vẫn phải tuân thủ đúng cácquy định của pháp luật.

Chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hay xác định thời điểm chuyển quyền

sở hữu theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản là một điều khoản linh độngcủa pháp luật nước ta Được quyền thỏa thuận làm giảm bớt sự cứng nhắc trong cácquy định của pháp luật, cũng như thể hiện được sự tôn trọng tự do ý chí của các bêntrong việc thực hiện các giao dịch mua bán tài sản

1.3.3 Căn cứ theo thời hiệu

Ngoài việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận và theoquy định của pháp luật thì việc căn cứ vào thời hiệu để xác định cũng là một phạmtrù mà ta cần phải quan tâm Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúcthời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quyđịnh17 Thời hiệu là căn cứ xác lập quyền sở hữu, bảo về quyền và lợi ích hợp phápcủa người chiếm hữu ngay tình, mặt khác trong các giao dịch dân sự có đối tượnggiao dịch là tài sản thì tùy vào tính chất, đặc điểm của tài sản mà pháp luật quy địnhthời hạn phù hợp để xác lập quyền dân sự Đối với chủ thể chiếm hữu tài sản củangười khác có căn cứ do pháp luật quy định thì sau một thời gian nhất định mặcnhiên được xác lập quyền sở hữu, đối với hành vi chiếm hữu không có căn cứ phápluật nhưng ngay tình cần phải có điều kiện như chiếm hữu liên tục, công khai trongmột thời hạn được quy định, hết thời hạn này người chiếm hữu ngay tình được quyềnxác lập quyền sở hữu

Đối với việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng muabán tài sản (hay xác lập quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản) theo thời hiệu,

ta có trường hợp hợp đồng mua bán tài sản đối với người chưa thành niên pháp luậtquy định18:

“1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp

17 Điều 149 BLDS năm 2015

18 Điều 21 BLDS năm 2015

Trang 28

luật của người đó xác lập, thực hiện.

3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân

sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Như vậy, đối với các giao dịch của người chưa thành niên ít nhiều phụ thuộcvào người đại diện theo pháp luật, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến bất độngsản pháp luật quy định phải do người đại diện theo pháp luật xác lập (đối với trườnghợp dưới 6 tuổi) hay phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (đối vớingười từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi) Các giao dịch của người chưa thành niên khôngtuân theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 sẽ bị vô hiệu19, tuy nhiên trừ cáctrường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015:

“Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi

đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”

19 Khoản 1 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp giao dịch vô hiệu “Khi giao

dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”

Trang 29

Khi người thănh niín thừa nhận hiệu lực của giao dịch dđn sự đê được xâc lậpkhi người đó chưa thănh niín thì giao dịch dđn sự đó vẫn có hiệu lực Ví dụ như:Năm 2017, A (16 tuổi) ký hợp đồng bân căn nhă lă tăi sản riíng của A, trị giâ 1 tỷđồng cho B nhưng không có sự đồng ý của người đại diện theo phâp luật của A lẵng C Hợp đồng được thực hiện theo đúng thỏa thuận của A vă B cũng như tuđn thủđúng câc quy định về mua bân nhă ở của phâp luật Đến thâng 1/2020, ông C phâthiện căn nhă đê được bân khi A chưa thănh niín nín ông C yíu cầu Tòa ân tuyín hợpđồng của A vă B vô hiệu Đến 1/2020, A đê thănh niín (trín 18 tuổi) vă A thừa nhận

đê xâc lập giao dịch mua bân nhă với B một câch tự do, tự nguyện Như vậy, căn cứKhoản 2 Điều 125 Bộ luật Dđn sự 2015 thì giao dịch giữa A vă B không bị vô hiệu

Từ trường hợp trín có thể thấy, một số giao dịch dđn sự được xâc lập bởingười chưa thănh niín không có sự đồng ý của người đại diện theo phâp luật vẫn cóhiệu lực khi hết thời hiệu (khi người thănh niín đê trưởng thănh), vă thời điểmchuyển quyền sở hữu tăi sản trong trường hợp năy được xâc định tại thời điểm lăngười chưa thănh niín

Trang 30

là hành lang pháp lý điều chỉnh đối tượng là tài sản Việc xác định quyền sở hữu nóichung và thời điểm chuyển quyền sở hữu nói riêng là điều cần thiết để đảm bảo cácquyền và nghĩa vụ sau đó được thực hiện đúng và đầy đủ trong các giao dịch dân sự,đặc biệt là trong các hợp đồng mua bán tài sản.

Trong luận văn này, nội dung Chương 1 đề cập đến những vấn đề cơ bảnmang tính khái quát như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về thời điểm chuyển quyền sởhữu, xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản Đây

là những lý luận chung, là nền tảng ban đầu để làm tiền đề cho việc nghiên cứu vàphân tích các quy định của pháp luật và thực trạng cũng như các vướng mắc cần cóbiện pháp khắc phục trong thực tế về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tronghợp đồng mua bán tài sản ở các chương tiếp theo của luận văn

Trang 31

TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN

Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động tronglĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Căn cứ vào các điều kiện khác nhau tài sản đượcphân loại theo nhiều hình thức khác nhau và một trong những cách phân loại phổbiến, dễ áp dụng nhất đó là phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là cóthể di dời được hay không thể di dời được: Tài sản bao gồm động sản và bất độngsản Động sản và bất động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trongtương lai

Điều 107 BLDS năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:

“1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.

Dựa vào sự phân loại tài sản này, việc xác định thời điểm chuyển quyền sởhữu trong hợp đồng mua bán tài sản cũng được chia thành hai đối tượng đó là độngsản và bất động sản Trong đó, động sản rất đa dạng và phong phú, vì vậy tùy vàotừng đặc điểm cụ thể của động sản mà sẽ có các quy định phù hợp để xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu Để dễ dàng hơn trong việc xác định, ta sẽ chia động sảnthành hai loại cơ bản để nghiên cứu và phân tích đó là: Động sản không phải đăng kýquyền sở hữu và động sản phải đăng ký quyền sở hữu

2.1 Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu

Theo từ điển luật học20: “Động sản là tài sản có thể dịch chuyển hoặc di dời

từ nơi này sang nơi khác trong không gian nhất định mà vẫn giữ nguyên tính năng, công dụng”.

Theo quy định của pháp luật thì động sản là những tài sản không phải bất

20 Viện Khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb Từ điển bách khoa, tr.271

Trang 32

Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất, giá trị tài sản cũng như cơ chế pháp lý điềuchỉnh mà động sản được chia thành động sản phải đăng ký quyền sở hữu và động sảnkhông phải đăng ký quyền sở hữu Trong đó, động sản không phải đăng ký quyền sởhữu là những động sản mà pháp luật không quy định chủ thể muốn xác lập quyền sởhữu phải thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền Đây là loại động sản mà pháp luật không muốn điều chỉnh quá nhiều về mặtpháp lý, các chủ thể sở hữu bất động sản không phải đăng ký sẽ là nhiều có toànquyền quyết định về động sản này cũng như không chịu nhiều ràng buộc về mặt trình

tự, thủ tục khi thực hiện các giao dịch có liên quan với các chủ thể khác

Trong mối quan hệ mua bán giữa các cá nhân với cá nhân, tổ chức không phảithương nhân thì động sản hay động sản không phải đăng ký trong trường hợp nàyđược điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật dân sự Hợp đồng mua bán động sản khôngphải đăng ký của cá nhân với cá nhân, tổ chức là hợp đồng phổ biến, chủ yếu phục

vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân như là mua lúa gạo, mua nhu yếu phẩm, mua thựcphẩm, Và trên thực tế, các hợp đồng này thường không được lập dưới hình thứcvăn bản, đây thường được xem là các giao dịch thông thường vì vậy không có quánhiều các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợpđồng cũng như không có các thỏa thuận về việc xác định thời điểm chuyển quyền sởhữu tài sản, lúc này ta sẽ phải căn cứ vào quy định của pháp luật21 để xác định thờiđiểm chuyển quyền sở hữu tài sản: là thời điểm tài sản được chuyển giao

Trong mối quan hệ mua bán giữa các thương nhân thì động sản hay cụ thể làđộng sản không phải đăng ký được xem là một loại hàng hóa22 Khi các bên chủ thể

ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa là động sản không phải đăng ký thì ngoài sựđiều chỉnh của pháp luật dân sự, hợp đồng này còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp củapháp luật thương mại Trong LTM năm 2005 của Việt Nam, tại Chương II về mua

21 Khoản 1 Điều 161, Điều 238 BLDS năm 2015

22 Khoản 2 Điều 3 LTM năm 2005

Trang 33

2005 quy

định rõ thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm hàng hóa được chuyển giao, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác Tương tựnhư quy định tại BLDS năm 2015, LTM năm 2005 cũng xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu đối với hàng hóa (động sản không phải đăng ký) là thời điểm hàng hóađược chuyển giao

Khác với các giao dịch giữa cá nhân với cá nhân, khi tài sản được xem làhàng hóa trong các giao dịch thương mại và vì mục đích lợi nhuận thì các thỏa thuậnliên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ và quyền sở hữu là điều vô cùng quan trọng, nóđược quy định trong hợp đồng một cách cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, vì có liên quanđến lợi nhuận nên việc các chủ thể luôn có xu hướng mang phần lợi nhiều nhất vềcho mình, do đó trong các điều khoản đã thỏa thuận tại hợp đồng cũng như trong quátrình thực hiện hợp đồng luôn tiềm ẩn các rủi ro cũng như việc xảy ra các tranh chấp.Các tranh chấp liên quan đến giao dịch thương mại (hợp đồng mua bán hàng hóa)giữa các thương nhân thường xảy ra liên quan nhiều đến các vấn đề về thanh toántiền hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa Tòa án có thẩm quyền sẽ căn cứ chủ yếuvào pháp luật thương mại để giải quyết tranh chấp, ví dụ như, tại Bản án số 02/2020/KDTM-PT24 ngày 25/06/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về tranh chấphợp đồng mua bán hàng hóa có nội dung như sau: Doanh nghiệp tư nhân NH ký hợpđồng mua bán các sản phẩm bi cầu cho Công ty cổ phần xây lắp, sản xuất và kinhdoanh vật liệu xây dựng TQ (Hợp đồng kinh tế số 18/HĐKT) Sau khi nhận đủ sốlượng hàng do NH giao, TQ phát hiện chất lượng các sản phẩm bi cầu này khôngđúng theo hợp đồng Công ty TQ đã nhiều lần yêu cầu NH tiến hành khắc phục tìnhtrạng hàng hóa không đúng chất lượng nhưng không có kết quả, do đó công ty TQ đãkhởi kiện yêu cầu NH hoàn trả số tiền mà công ty TQ đã thanh toán theo hợp đồngkinh tế giữa hai bên vì lý do hàng hóa không đạt chất lượng Tại bản án kinh doanh

23 Từ Điều 24 đến Điều 73 LTM năm 2005

24 http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta524193t1cvn/chi-tiet-ban-an

Trang 34

Như vậy, tranh chấp tại Bản án số 02/2020/KDTM-PT liên quan đến việc đảm bảochất lượng hàng hóa được giao trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

Ngoài các giao dịch thương mại nói trên, thì một trong các giao dịch thươngmại được xem là vô cùng phức tạp đó chính là các giao dịch mua bán có liên quanđến yếu tố nước ngoài (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) Trong trường hợp, muabán hàng hóa có yếu tố nước ngoài hoặc có bên thứ ba làm trung gian thì ngoài cácvấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các bên cần được lưu ý, còn có các vấn

đề về xác định quyền sở hữu hay xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu cần đượcxem như một điều khoản quan trọng và thỏa thuận trong hợp đồng vì đây là vấn đềrất dễ xảy ra các tranh chấp Khi bên mua và bên bán không trực tiếp thực hiện việcgiao nhận hàng hóa mà thuê bên thứ ba thực hiện việc vận chuyển hàng hóa thì vấn

đề đặt ra là sẽ thời điểm chuyển giao hàng hóa là thời điểm nào? Là khi bên bán giaohàng cho bên vận chuyển hay khi bên mua nhận được hàng hóa để từ đó xác địnhthời điểm chuyển quyền sở hữu (trong trường hợp các bên không thỏa thuận thờiđiểm chuyển quyền sở hữu) Hay như trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,hàng hóa phải được vận chuyển từ Việt Nam sang nước khác hoặc ngược lại (xuấtkhẩu, nhập khẩu) thì vấn đề xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểmnào đóng vai trò vô cùng quan trọng và không hề dễ dàng xác định vì hợp đồng cònchịu sự điều chỉnh của các công ước, điều ước quốc tế, pháp luật nước khác có liênquan ngoài các quy định của pháp luật Việt Nam Sự khác nhau về ngôn ngữ, về vănhóa, về tập quán và các vấn đề liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm giữa hai bêntrong hợp đồng là khác nhau, thậm chí là đối lập nhau, do đó việc bất đồng trongthỏa thuận cũng như trong thực hiện các nội dung của hợp đồng là điều rất dễ xảy ra

và rủi ro xảy ra tranh chấp là rất cao

LTM năm 2005 không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế mà liệt kê những hoạt động được coi là mua bánhàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù được giao kết hoàn chỉnh,

Trang 35

đồng mua bán hàng hóa quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật ápdụng cho hợp đồng đó Vì hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điều chỉnhhợp đồng này có thể là luật nước bên bán, cũng có khi là luật nước bên mua Nếuluật áp dụng là luật nước bên mua thì luật này là luật nước ngoài đối bên bán Khi đóbên bán phải có sự hiểu biết về nó, ít nhất bên bán phải hiểu rõ được luật này điềuchỉnh quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể trong hợp đồng như thế nào Vàngược lại, đối với bên mua cũng vậy Như vậy, không chỉ bên bán và bên mua cần có

sự hiểu biết để lựa chọn, để tuân thủ luật áp dụng mà ngay cả cơ quan giải quyếttranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) cũng phải nghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho hợpđồng đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình Có thể nói cáctranh chấp liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế luôn là các tranh chấp gây đauđầu cho cơ quan tư pháp của nước ta Trong một vụ án có thể sẽ có nhiều quan điểmkhác nhau trong quá trình xử lý, Tòa án các cấp sẽ có nhiều góc nhìn, cũng như cáchtiếp cận vấn đề khác nhau và một điểm đặc trưng nữa đó chính là có nhiều chủ thể cóliên quan trong một vụ án, pháp luật được áp dụng cũng cần được đảm bảo không viphạm các quy định quốc tế Để có thể hiểu rõ hơn về các hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế, các tranh chấp có liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, từ

đó rút ra được những điểm còn bất cập và đưa ra hướng giải quyết để hoàn thiện hơncác quy định có liên quan đến hợp đồng này, đặc biệt là vấn đề về quyền sở hữu hànghóa Tác giả sẽ tiếp cận ở khía cạnh các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế này thông qua bản án cụ thể

Một trong những tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm có nội dung như sau:Ngày 03/9/2013 Công ty TNHH Classone (nguyên đơn) và Công ty TNHH DigitechViệt Nam ký Hợp đồng mua bán với thỏa thuận Công ty cung cấp thiết bị, vật liệu vàphụ tùng lắp đặt Phòng sạch của Công ty TNHH Digitech Việt Nam dựa trên tiêuchuẩn và đặc tính kỹ thuật ghi chú trong Phiếu đóng gói hàng hóa với tổng giá trịHợp đồng là 2.555.663 USD, giá FOB tại cảng Incheon, Hàn Quốc theo Incoterms

Trang 36

khi người mua (Công ty Digitech) nhận được hàng Ngày 06/3/2013, hai bên tiếp tục

ký Hợp đồng mua bán thiết bị, vật liệu, phụ tùng giá 320.573 USD với thỏa thuận:Công ty cung cấp, thiết bị, vật liệu cho Công ty TNHH Digitech Việt Nam và Công

ty TNHH Digitech Việt Nam thanh toán cho Công ty toàn bộ giá trị Hợp đồng ngaysau khi nhận được hàng Công ty TNHH Digitech Việt Nam đã thanh toán cho Công

ty Classone 02 lần bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng, tổng cộng1.260.000 USD Sau đó, Công ty TNHH Digitech Việt Nam chuyển đổi thành Công

ty Cổ phần Digitech Việt Nam Ngày 02/4/2014, Công ty Cổ phần Digitech ViệtNam có văn bản “Xác nhận công nợ” với nội dung Công ty Cổ phần Digitech ViệtNam còn nợ Công ty Classone 1.616.200 USD theo Hợp đồng hai bên đã ký ngày03/9/2013 và ngày 06/9/2013 Do đó, Công ty Classone đề nghị Tòa án buộc Công tyTNHH Digitech thanh toán 1.616.200USD cho Công ty theo đúng thỏa thuận

Bị đơn là Công ty TNHH Digitech Việt Nam (tại thời điểm ký Hợp đồng muabán, Công ty TNHH Digitech Việt Nam là Công ty thuộc sở hữu 100% vốn củaCông ty TNHH Digitech System tại Hàn Quốc) cho rằng việc mua bán hàng hóa đểlắp đặt phòng sạch cho Nhà máy tại Việt Nam được ký kết bởi Công ty TNHHDigitech System (Công ty mẹ của Công ty TNHH Digitech Việt Nam) với Công tyTNHH Classone Năm 2015, Công ty TNHH Digitech System bị phá sản thì Công tyTNHH Classone đã yêu cầu Tòa án tại Hàn Quốc giải quyết vụ việc trên và Công tyTNHH Digitech System có văn bản kiến nghị ngày 25/11/2014 xác nhận về nội dungnày Thực tế, chưa có căn cứ chứng minh Công ty TNHH Digitech Việt Nam nhậnhàng tại cảng Hải Phòng theo hóa đơn xuất hàng do nguyên đơn trình bày Ông LeeJong Pil không đủ thẩm quyền ký 02 Hợp đồng mua bán nêu trên Công ty có đơnyêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký đề tên ông Lee Jong Pil tại văn bản “Xácnhận công nợ” ngày 02/4/2014, đề nghị Tòa án triệu tập ông Lee Jong Pil., Công tyTNHH Digitech System để làm rõ việc thanh toán cũng như xác nhận khoản nợ nêutrên

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày

Trang 37

tỷ đồng Việt Nam theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng ngày 03/9/2013 và ngày06/9/2013.

Ngày 07/10/2016 Công ty TNHH Digitech Việt Nam kháng cáo toàn bộ bản

án sơ thẩm nêu trên Ngày 15/10/2016 Công ty TNHH Classone kháng cáo một phầnbản án sơ thẩm đề nghị bổ sung phần lãi suất theo quy định kể từ ngày bản án có hiệulực thi hành mà bên bị đơn không thực hiện Tại Bản án kinh doanh thương mại phúcthẩm số 312/2017/KDTM-PT ngày 26/10/2017 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

đã quyết định:

- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Digitech Leader Việt Namnay là Công ty TNHH Essa Hi-Tech; chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHHClassone

- Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày30/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củaCông ty TNHH Classone Buộc Công ty TNHH Digitech Việt Nam (nay là Công tyTNHH Essa Hi-Tech) thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền là 1.616.200 USD tươngứng 35.378.618.000 VNĐ (Ba mươi lăm tỷ ba trăm bảy mươi tám triệu sáu trămmười tám nghìn đồng) cho Công ty TNHH Classone theo đúng thỏa thuận trong cácHợp đồng ngày 03/9/2013, Hợp đồng ngày 06/9/2013 và Giấy xác nhận nợ ngày02/4/2014

Trang 38

này tuân thủ theo pháp luật Việt Nam.

Ngày 06/9/2013, hai ký tiếp Hợp đồng mua bán thứ 2 với nội dung tương tưhợp đồng ngày 03/9/2013 với giá trị hợp đồng 320.537 USD Thực hiện 02 hợp đồngnêu trên, Công ty Classone đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của mình qua 04 lần giaohàng cho bên mua, cụ thể vào các ngày 15/9/2013; 30/9/2013; 16/10/2013 và13/11/2013 tại Cảng Hải Phòng, có xác nhận của Hải quan giám sát là Cục Hải quanthành phố Hải Phòng Hợp đồng đã thực hiện phù hợp với các hóa đơn thương mại,phiếu đóng hàng, chứng nhận khai báo xuất khẩu, vận đơn vận chuyển đa phươngthức của tổng công ty vận tải tốc hành Hàn Quốc Theo thỏa thuận trong hợp đồnggiữa Công ty Classone và Công ty Digitech, hai bên sử dụng phương thức thanh toánFOB và thực hiện giao hàng tại cảng bên bán theo Incoterm, tức là thời điểm chuyểnrủi ro được xác định là thời điểm Công ty Classone hoàn tất việc giao hàng xuống tàucho bên vận chuyển Trong trường hợp này việc tuân thủ Incoterm chỉ giúp các bênxác định được thời điểm chuyển rủi ro, còn đối với việc chuyển quyền sở hữu thìtrong hợp đồng hai bên không thỏa thuận thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa,

do đó để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong trường hợp này sẽcăn cứ vào quy định của pháp luật thương mại25 (hai bên thỏa thuận áp dụng phápluật Việt Nam), tức là thời điểm chuyển giao hàng hóa là thời điểm bên mua nhậnđược hàng Như vậy, tại thời điểm xảy ra tranh chấp chủ sở hữu của số lượng hànghóa trên là Công ty Digitech mà không phải là Công ty Classone Điều này có thực

sự hợp lý đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong một giao dịch khi mà bên bán

đã mất quyền sở hữu trong khi bên mua vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toáncủa mình Theo tác giả, điều này hoàn toàn bất lợi cho chủ thể là bên bán khi thamgia vào một giao dịch mua bán, đặc biệt là các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đặc biệt khi nhìn từ góc độ của một doanh nghiệp Việt Nam, nếu hai chủ thểtrong giao dịch trên đổi vị trí cho nhau, doanh nghiệp Việt Nam sẽ là bên bán vàđang gặp phải tình trạng bên mua không thanh toán tiền hàng đúng hạn Khi đó, căn

25 Điều 62 LTM năm 2005

Trang 39

điểm tài sản được chuyển giao) điều này hoàn toàn bất lợi cho bên bán (các doanhnghiệp xuất khẩu của Việt Nam).

Trong khi có, việc xúc tiến mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động kinh tếtrọng tâm của nước ta trong giai đoạn hội nhập hiện nay Thị trường xuất nhập khẩucủa Việt Nam luôn sôi động và chiếm tỉ lệ lớn trong GDP cả nước, trong đó tổng kimngạch xuất nhập khẩu đạt năm 2018 trên 480 tỷ USD, tăng 11,1% so với năm 2017,riêng kim ngạch xuất khẩu đạt 243,5 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, vượt xachỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội và Chính phủ giao, và xuất siêu năm 2018 đạt con

số kỷ lục gần 6,8 tỷ USD26 Kết thúc năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hànghóa của cả nước đạt 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% (tương ứng tăng 36,69 tỷ USD) sovới năm 2018 Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% vànhập khẩu đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8%27 Việt Nam được đánh giá là một trongnhững khu vực trọng điểm của xuất nhập khẩu hàng hóa Vì thế, việc đảm bảo lợi íchcho các doanh nghiệp Việt Nam (bên bán trong hoạt động xuất khẩu) là điều vô cùngcấp thiết

Thị trường quốc tế là một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng có rất nhiềurủi ro cho các doanh nghiệp Việt, những rủi ro này xuất phát từ rất nhiều nguyênnhân có cả khách quan và chủ quan như là: vấn đề quy định pháp luật và tranh chấptrong hợp đồng vẫn là một thách thức lớn với các doanh nghiệp nội địa, vốn ở vị tríyếu thế hơn hẳn so với các đối tác nước ngoài; phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩuViệt Nam là những doanh nghiệp nhỏ nhu cầu tìm khách hàng rất cao nên khôngtránh khỏi những thiếu sót khi giao kết hợp đồng dẫn đến việc bị các đối tác nướcngoài lừa trong quá trình mua bán28 , chủ yếu là các vấn đề về nhận hàng, thanh toán

26 2018-14849-16.html

http://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/cong-bo-bao-cao-xuat-nhap-khau-viet-nam-27 Theo báo cáo thống kê của Hải quan Việt Nam https://www.customs.gov.vn/Lists/

ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1734&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E 1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3&Group=Gi%E1%BB%9Bi%20thi%E1%BB%87u

28 Bộ Công thương đã có những khuyến cáo đối với các doanh nghiệp trong khi lưu ý khi ký

Trang 40

chuyển giao trong khi tiền hàng thì vẫn chưa nhận được Các vụ việc liên quan đếnthanh toán tiền hàng khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa ra nướcngoài là một vấn đề được nói đến rất nhiều hiện nay, một trong những trường hợp đóchính là việc xuất khẩu hàng hóa cho các đối tác Châu Phi đang gặp rất nhiều bấtcập: theo Thương vụ Việt Nam tại Algeria kiêm nhiệm Gambia, Mali, Niger, Senegal

đã nhận được thư của một số doanh nghiệp Việt Nam trao đổi khó khăn trong thanhtoán xuất nhập khẩu với đối tác châu Phi, cụ thể là do năng lực tài chính có hạn nênnhà nhập khẩu châu Phi thường đề nghị mua hàng trả chậm, hình thức CIF (giaohàng tại cảng đến) và không mở thư tín dụng L/C do chi phí cao Trả chậm làphương thức thanh toán không an toàn gây bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.Ngoài ra, còn xuất hiện một số vấn đề khác trong khâu thanh toán: khách hàng thôngbáo mở tài khoản tại một ngân hàng uy tín nhưng tài khoản không hoạt động (không

có tiền), hoặc cho địa chỉ của người nhận bộ chứng từ không phải cán bộ/nhân viênngân hàng của người mua Sau khi nhận được bộ chứng từ, khách làm thủ tục lấyhàng từ cảng mà không thanh toán qua ngân hàng Trong trường hợp này, ngân hàngngười mua không chịu trách nhiệm do thực tế không nhận được bộ chứng từ Năm

2019, Thương vụ Việt Nam tại Algeria nhận được thư của một công ty xuất khẩu tiêucủa Việt Nam nhờ hỗ trợ đòi tiền hàng một công ty tại Senegal Công ty này đượcdoanh nghiệp Việt Nam tìm thấy qua mạng internet có tên GSN INTERNATIONAL.GSN INTERNATIONAL đã mua 1 container tiêu đen 40 feet từ Việt Nam trị giá61.750 USD Hình thức thanh toán là CAD29 thông qua ngân hàng, người bán khôngyêu cầu tiền đặt cọc Ngân hàng của người mua là Ngân hàng Công Thương SenegalVDN/BICIS Qua công ty chuyển phát nhanh DHL và hãng tàu, được biết người muahết hợp đồng mua với với các đối tác ở các nước như Mỹ, Ấn Độ, Hồng Kông ( http://www.moit.gov.vn/tin- chi-tiet/- /chi-tiet/canh-bao-cac-hanh-vi-lua-%C4%91ao-trong-giao-thuong-voi-khach-hang-hong-kong- 103082- 401.html )

29 CAD hay còn gọi là phương thức thanh toán giao chứng từ trả tiền, trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w