Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia; - Phan Xuân Dũng 2004, Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia; - Nghiêm
Trang 1‘ĩ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THANH CÓ
VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG -THỰC TRẠNG VÀ
• • •
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
• • • •
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kếtquả trình bày trong Luận văn là khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào trước đây Các thông tin tham khảo trong Luận văn đều được tác giảtrích dẫn một cách đầy đủ và chính xác
TÁC GIẢ
NGUYỄN THANH CÓ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 8
1.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp 8
1.1.1 Vài nét cơ bản về lịch sử lập pháp quyền sở hữu công nghiệp 8
1.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp và các yếu tố cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp 13
1.2 Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 18
1.2.1 Các dạng vi phạm sở hữu công nghiệp 18
1.2.2 Các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 19
1.2.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VI PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 29
2.1 Thực trạng vi phạm vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 29
2.1.1 Thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp và tình hình xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 29
2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua 36
2.2 Giải pháp khắc phục vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian tới 38
2.2.1 Giải pháp hoàn thiện các văn bản pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 38
2.2.2 Giải pháp khác góp phần khắc phục vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 44
2.2.2.1 Nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 44
2.2.2.2 Củng cố tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan chức năng của tỉnh Kiên Giang liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 47
2.2.2.3 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp và đảm bảo phối hợp hoạt động hiệu quả với các cá nhân, tổ chức khác ngoài tỉnh trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
A Văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam 54
B Văn bản quy phạm pháp luật 54
Trang 7C Sách, đề tài khoa học, tạp chí, luận văn, tham luận hội thảo, website 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, có tiềm năng phát triểnkinh tế vào loại nhóm cao ở miền Tây Tỉnh có ngư trường rộng lớn 63.290 km2, bờbiển dài khoảng 200 km với trên 140 đảo lớn nhỏ, bao gồm 05 quần đảo (An Thới,
Bà Lụa, Hải Tặc, Nam Du và Thổ Châu), trong đó có hơn 40 đảo có cư dân sinhsống, đặc biệt là đảo Phú Quốc - mệnh danh “Đảo Ngọc” Kiên Giang có sản vật, sảnphẩm biển đa dạng và phong phú Bên cạnh, nước mắm Phú Quốc, những sản vật,sản phẩm khác của các địa phương trong tỉnh cũng nổi tiếng trong vùng nhưngnhững sản vật, sản phẩm này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Mộtmặt, hầu hết những sản vật, sản phẩm này không có nhãn hiệu bảo hộ nên bị giới hạntrong marketing, tiếp thị, khuyến mãi Vả lại, những hàng hóa có giấy chứng nhậnbảo hộ thì lại bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nên những sản vật, sản phẩm chưa có
cơ hội phát triển hiệu quả
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp(QSHCN) nói riêng ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo,phát triển nền kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng Theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam, QSHCN là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế,kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh,nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý QSHCN là một bộ phận quyền sở hữutrí tuệ, là thành quả sáng tạo của con người về khoa học, kỹ thuật Các hành vi xâmphạm QSHCN bao gồm: hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp, thiết kế bố trí; hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh; hành vixâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lýđược bảo hộ; hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một số hành vi khác vi phạmtrật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực QSHCN Những năm gần đây, hoạt động đảmbảo thực thi QSHCN đã được các cơ quan chức năng tỉnh Kiên Giang quan tâmnhiều hơn, bước đầu thu được những kết quả nhất định, nhiều vụ vi phạm QSHCNđược phát hiện, xử lý kịp thời Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm QSHCN còn nhiều,
Trang 9tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp Các vi phạm QSHCN xảy ra trong mọilĩnh vực như: sao chép, nhái nhãn hàng hóa, thực phẩm, thuốc bảo vệ thực vật ởkhắp các địa bàn của tỉnh Kiên Giang
Thủ đoạn vi phạm QSHCN rất đa dạng, tinh vi trong thực tế, nhưng sự viphạm bất kỳ hoặc thủ đoạn vi phạm bất kỳ cũng nhằm mục đích cuối cùng là lừa dốingười tiêu dùng, tránh sự trừng trị của luật pháp Tuy nhiên, thủ đoạn lợi dụng đặcđiểm riêng có của QSHCN, lợi dụng sơ hở, khoảng trống của luật pháp để vi phạm
sở hữu công nghiệp (SHCN) là thủ đoạn nguy hiểm nhất Vi phạm QSHCN, xét vềbản chất là hành vi bất hợp pháp Do đó, đấu tranh phòng, chống loại hành vi nàykhông hiệu quả sẽ đem lại nhiều hậu quả xấu, trước mắt nó đem lại hậu quả chongười sản xuất, người tiêu dùng cũng như hạn chế, kìm hãm hoạt động sáng tạo như
đã trình bày trên Ngoài những thiệt hại này, vi phạm QSHCN còn gây rối loạn trật
tự quản lý kinh tế và ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh KiênGiang
Với các quốc gia khác trên thế giới, vi phạm QSHCN sẽ bị phạt rất nặng,thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên ở nước ta, vi phạm này chủ yếu chỉ
bị xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt vấn đề đền bù thiệt hại dân sự chưa được coitrọng Bên cạnh đó, ở một số địa phương, trong đó có tỉnh Kiên Giang việc thực hiệnnhiệm vụ bảo hộ QSHCN của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đầy đủ và tíchcực Một số quy định, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; hệ thống văn bản quy phạmpháp luật chuyên ngành còn chưa thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan thực thi;nhiều vi phạm QSHCN chưa được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời
Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2005 và cóhiệu lực từ ngày 01/7/2006 Luật Sở hữu trí tuệ là một trong những cơ sở để ViệtNam, nước thứ 150 được xét gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)ngày 11/01/2007 Ngày 22/9/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 105/2006/NĐ- CP
“Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ” và Nghị định
Trang 10106/2006/NĐ-CP “Quy định các hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp,hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậuquả” Đến năm 2009, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sởhữu trí tuệ 2005 Gần đây nhất là việc Quốc hội Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sựnăm 2015 có phần về SHCN Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫncòn nhiều điểm bất cập như: Quy định về QSHCN còn mang nặng tính nguyên tắcchung, chưa đầy đủ và thiếu cụ thể; quy phạm pháp luật về bảo hộ QSHCN chồngchéo, trùng lặp; hành vi xâm phạm QSHCN chưa được quy định tập trung, thốngnhất mà còn rải rác ở quá nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực khác nhau làm phátsinh nhiều kẽ hở, nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng; việc quy định về trình tự,thủ tục thực hiện xử lý vi phạm QSHCN theo pháp luật hiện hành chưa đầy đủ, rõràng dẫn đến thời gian xử lý vụ việc kéo dài, không hiệu quả Vì vậy, việc hoànthiện pháp luật về SHCN là yêu cầu bắt buộc, nhằm đưa pháp luật về QSHCN có vịtrí tương xứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và tạo hành lang pháp lý xử lýhiệu quả các hành vi vi phạm QSHCN
Đồng thời, nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử lý với vi phạm QSHCN trên địabàn tỉnh Kiên Giang là một yêu cầu cấp bách, cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh trong hiện tại cũng như tương lai
Với những lý do nêu trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vi phạm
quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang - Thực trạng và giải pháp khắc phục” làm Luận văn Tốt nghiệp Cao học Luật Dân sự và Tố tụng dân sự.
Vấn đề vi phạm QSHCN và bảo vệ QSHCN là một vấn đề đã được khá nhiềutác giả nghiên cứu, cụ thể như:
- Lê Hồng Hạnh (2000), Pháp luật về sở hữu trí tuệ - Thực trạng và hướng
phát triển trong những năm đầu thế kỷ XXI, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ;
- Đặng Nguyên và Thu Hà (2002), Quản lý công nghệ trong nền kinh tế tri
thức, Nxb Hà Nội;
- Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Hương (2004), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở
Trang 11Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia;
- Phan Xuân Dũng (2004), Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam - Thực trạng
và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia;
- Nghiêm Ngọc Tú (2004), Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thống kê;
- Đinh Văn Thanh (2004), Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự, Nxb
Công an nhân dân;
- Lê Văn Phát (2004), Giải pháp bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của các doanh
nghiệp trên địa bàn Hà Nội, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ;
- Lê Nết (2005), Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Thu Thủy, Mạnh Linh và Minh Đức (2005), Thành công nhờ thương hiệu,
Nxb Văn hóa - Thông tin;
- Cục sở hữu trí tuệ (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Nxb Bộ Văn hóa Thông
tin;
- Lê Bộ Lĩnh (2006), Vòng đàm phán Doha nội dung, tiến triển và những vấn
đề đặt ra cho các nước đang phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
- Bùi Thị Dung Huyền (2010), Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
quyền sở hữu trí tuệ trong tình hình mới, Đề tài cấp cơ sở, Trường Đại học luật Hà
Nội;
Ngoài các công trình nêu trên trực tiếp liên quan đến bảo vệ QSHCN, trongthời gian qua còn rất nhiều bài viết về QSHCN đăng trên báo, tạp chí trong nước, cácbài tham luận trong hội thảo quốc tế về QSHCN, cụ thể như:
- Phạm Đình Chướng, Quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển, Báo Nhân dân
điện tử ngày 24/4/2000;
- Shinichiro Suzuki (2004), Vai trò của sở hữu trí tuệ, Tham luận tại Hội thảo
vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo, TP.Hồ ChíMinh;
- Nguyễn Thanh Tâm (2006), Tính thương mại của sở hữu công nghiệp,
Trang 12- Sở KH&CN Kiên Giang (2011), Báo cáo kết quả đề án “Phát triển tài sản
trí tuệ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006 - 2010”;
- Nguyễn Xuân Niệm (2015), Sở hữu trí tuệ nâng cao giá trị sản vật, sản
phẩm biển Kiên Giang, Website Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang;
- Nguyễn Xuân Niệm và Huỳnh Chánh Khoa (2015), Nghiên cứu, ứng dụng
chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển Kiên Giang,
Tham luận tại Hội thảo “Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh KiênGiang”, tỉnh Kiên Giang
Tóm lại, các công trình, bài viết của các tác giả nêu trên chỉ đề cập đến bảo vệquyền sở hữu trí tuệ nói chung và có đề cập bảo vệ QSHCN nhưng chỉ dừng lại ởmột góc độ chung nhất Chưa có công trình nào đề cập đến những giải pháp khắcphục vi phạm SHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang một cách hệ thống, toàn diện Vìvậy, tác giả thấy rằng cần thiết tiến hành nghiên cứu về thực trạng vi phạm QSHCNtrên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua và những giải pháp khắc phục loại viphạm này trong thời gian tới
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những nhận thức chung về QSHCN và viphạm QSHCN; thực trạng vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gianqua; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khắc phục vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnhKiên Giang trong thời gian tới
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn của vi phạm QSHCN
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Với đặc thù địa bàn tỉnh Kiên Giang, tác giả tập trung
Trang 13nghiên cứu những vi phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý;
+ Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến nay
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng đổi mớiđồng bộ thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước trong việc bảo hộ QSHCN đã được trình bày trong các vănkiện của các kỳ Đại hội, Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháptổng hợp, phân tích, tổng kết thực tiễn được sử dụng đồng thời với các phương phápquy nạp, hệ thống hóa các vấn đề cần nghiên cứu ở mức độ phù hợp để hoàn thànhmục tiêu của đề tài
Trang 146 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn này là một công trình nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm cơ
sở lý luận và thực tiễn về vấn đề khắc phục vi phạm QSHCN trên địa bàn tỉnh KiênGiang nói riêng và cả nước nói chung
Lợi ích thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu trong hoạtđộng học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên những người nghiên cứu khoahọc quan tâm đến vấn đề này; đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử
lý vi phạm QSHCN của các cơ quan chức năng tỉnh Kiên Giang
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaLuận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận về quyền sở hữu công nghiệp và vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp;
Chương 2: Thực trạng và giải pháp khắc phục vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ VI PHẠM QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP
1
.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Vài nét cơ bản về lịch sử lập pháp quyền sở hữu công nghiệp
Thuật ngữ sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được xuất hiện trong luật của nước
Pháp đầu thế kỷ XIX, lúc bấy giờ khái niệm QSHCN là quyền sở hữu của ngườisáng chế và ngăn cấm việc sử dụng sáng chế mà không xin phép chủ nhân của nó
Ngày 19/3/1474, văn bản có tính chất pháp lý đầu tiên về sáng chế được banhành ở thành phố Vơnigiơ (Italia) Tuy chưa phải là Bộ luật sáng chế quốc gia nhưngvăn bản trên có ý nghĩa lịch sử quan trọng và có tác dụng bảo hộ đối với các sángchế Ngày 15/9/1594, nhà bác học Galile được cấp bằng sáng chế về thiết bị nâng
nước lên cao để tưới ruộng Thời hạn có hiệu lực bảo hộ là 10 năm Luật Sáng chế
đầu tiên được ban hành ở nước Anh vào năm 1624 Bất kỳ ai có sáng chế đạt yêu cầuluật định đều có quyền được công nhận là tác giả và được cấp bằng sáng chế Saunước Anh, nhiều nước đã ban hành luật sáng chế của mình: Luật Sáng chế của Mỹban hành năm 1790; Luật Sáng chế của Pháp ban hành năm 1791; Luật Sáng chế của
Bỉ ban hành năm 1854; Luật Sáng chế của Nga ban hành năm 1870; Luật Sáng chếcủa Đức ban hành năm 1877; Luật Sáng chế của Nhật ban hành năm 1885 Cuối thế
kỷ XIX, khái niệm SHCN được mở rộng, nó không chỉ là các quyền liên quan đếnđối tượng của sản xuất công nghiệp mà tất cả các đối tượng của ngành sản xuất kinhdoanh khác
Ở Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ chính trị hàng đầu cáchmạng Việt Nam là xây dựng Tổ quốc gắn liền bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Phát triển khoa học kỹ thuật để xây dựng đất nước được đặc biệt chú ý, Đạihội toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: phải tiến hànhđồng thời ba cuộc cách mạng, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học, kỹthuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là
Trang 16then chốt1 Đường lối chính sách của Đảng nêu trên đã được thể chế bằng hàng loạtvăn bản quy phạm pháp luật Ngoài quy định tại Điều 43, Điều 72 trong Hiến phápnăm 1980, trong thời kỳ này Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp quy để điềuchỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khoa học.
Trong lĩnh vực SHCN, Nghị định của Chính phủ số 31-CP ngày 23/1/1981ban hành Điều lệ cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất và sáng chế là văn bản pháp lýđầu tiên của Việt Nam quy định chi tiết cụ thể về sáng chế Tiếp theo Nghị định 31,văn bản thứ hai về SHCN là Nghị định số 197-HĐBT, ngày 14/12/1982 của Hộiđồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa các quy định về SHCNViệt Nam trong thời kỳ này đều thể hiện rõ nét sự tiếp thu tinh thần Sắc lệnh số 19,ngày 30/6/1919 của Lênin Các đối tượng của QSHCN được sử dụng như công sản
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sảnViệt Nam được tiến hành Đại hội VI của Đảng đã thực hiện chính sách cải cách mởcửa, trong đó có đổi mới cơ chế về quản lý khoa học - công nghệ Nhằm thể chế hóađường lối chính sách của Đảng, từ năm 1987 - 2001, Nhà nước Việt Nam ban hànhnhiều văn bản pháp luật trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nói chung, tronglĩnh vực khoa học, kỹ thuật và SHCN nói riêng
Năm 1989, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về Sở hữu côngnghiệp Bắt đầu từ 01/7/1996, các quan hệ mới phát sinh về sở hữu trí tuệ được điềuchỉnh theo chương I, II phần sáu của Bộ luật Dân sự 2015 Sau đó là các Nghị định63/CP của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp và Nghị định 76/CP vềquyền tác giả; Nghị định 54/2000/NĐ-CP của Chính phủ về Bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộchống cạnh tranh không lành mạnh liên quan sở hữu công nghiệp Nghị định42/2003/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hộ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bándẫn và nhiều văn bản có liên quan
Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vàkhu vực, Việt Nam phải chấp nhận luật lệ, điều kiện mà các nước, các Tổ chức quốc
tế trong đó có Tổ chức thương mại thế giới đưa ra, đặc biệt là các luật lệ, điều kiện
1Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, tr 23
Trang 17về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Với tinh thần đó, Nhà nước Việt Nam chủ động banhành, sửa đổi hàng loạt văn bản pháp lý phù hợp yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế,trong đó có các văn bản liên quan đến SHCN, cụ thể như:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đây là đạoluật làm nền tảng cho các đạo luật khác nói chung và các đạo luật về sở hữu trí tuệnói riêng Trong Hiến pháp năm 2013 có nội dung trực tiếp quy định về SHCN, đólà: Điều 40: "Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo vănhọc, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó"
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa XIII thôngqua ngày 24/11/2015), ghi nhận những nguyên tắc cơ bản, những vấn đề chung nhất
- Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009
- Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội Khóa XIV thông qua tại kỳngày 19/06/2017
Ngoài những đạo luật nêu trên điều chỉnh trực tiếp các quan hệ trong lĩnh vựcSHCN, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt đạo luật và văn bản dưới luật có liênquan, như: Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Công nghệ thông tin
Ngoài những văn bản trực tiếp quy định mang tính chất ghi nhận, hướng dẫn
về SHCN nêu trên, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản pháp luật khác liênquan đến bảo vệ QSHCN như:
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Trong Bộ luật Hình
sự, một số điều quy định liên quan đến SHCN, như: “Tội sản xuất, buôn bán hàng
Trang 18giả” (Điều 192); “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” (Điều 226);
- Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XIII thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014;
- Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 7 năm 2005;
- Luật Công an nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XIII thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014
Do yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và QSHCN nói riêng, ViệtNam là một trong những nước tham gia các công ước quốc tế về SHCN từ rất sớm:tham gia công ước Paris về bảo hộ SHCN ngày 08/3/1949; Thỏa ước Marid về đăng
ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ngày 08/3/1949 Ngày 02/7/1976, không lâu sau khithống nhất đất nước, Việt Nam tham gia vào Công ước Stockholm về thành lập Tổchức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và chính thức trở thành thành viên của Tổ chứcnày
Ngày 10/3/1993, Việt Nam tham gia Hiệp ước Washington về hợp tác sángchế Ngày 7/7/1999, Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và Hợp tác trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ
Ngày 26/11/2001, Việt Nam ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ (BTA), 15giờ ngày 10/12/2001 Hiệp định có hiệu lực (trước khi ký BTA, Chính phủ Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định
về thiết lập quan hệ quyền tác giả)
Vừa qua, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ký Nghị định thư gia nhậpWTO của Việt Nam ngày 07/11/2006 và Việt Nam trở thành thành viên chính thứcđầy đủ thứ 150 của WTO vào tháng 01/2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức thươngmại thế giới đòi hỏi phải tuân thủ các luật lệ của tổ chức này, trong đó có Hiệp định
về các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs - Agreement onTrade related of Intellectual Property Rights) có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, đượccoi là hệ thống bảo hộ toàn cầu đối với quyền sở hữu trí tuệ
Trang 19Việc Việt Nam tham gia WTO, thực thi Hiệp định TRIPs đòi hỏi các quy định
về sở hữu trí tuệ cũng như thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải đáp ứng yêu cầu củaWTO - yêu cầu mà các nước phát triển giữ vai trò chi phối mà không có một ngoại lệnào, trừ ân hạn về lộ trình thực hiện Với tư cách là thành viên của WTO từ07/11/2006, Việt Nam phải tuân thủ Hiệp định về những vấn đề liên quan tới thươngmại quyền sở hữu trí tuệ
Với tư cách thành viên của ASEAN, tháng 12/1995, Việt Nam đã cùng cácnước ASEAN ký hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ, trong đó xácđịnh phạm vi hợp tác, bao gồm: bản quyền và các quyền liên quan; bằng sáng chếnhãn hiệu hàng hóa; kiểu dáng công nghiệp; chỉ dẫn địa lý; thông tin mật và sơ đồmạch tích họp
Như vậy, trong tiến trình lập pháp về sở hữu trí tuệ nói chung và SHCN nóiriêng, về cơ bản, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có hệ thống pháp luật quốc nộiđầy đủ, và tham gia hầu hết các hiệp ước, công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ nhưquốc gia khác có nền kinh phát triển trên thế giới
1.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp và các yếu tố cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp
- Quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), đốitượng QSHCN bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tíchhợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh 2
Trên cơ sở đặc điểm của đối tượng SHCN, pháp luật Việt Nam có chế độpháp lý khác biệt nhất định cho hai loại đối tượng bảo hộ QSHCN Nhóm đối tượngmang tính sáng tạo bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bí
2Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ
2005, Khoản 4, Điều 4.
Trang 20mật kinh doanh và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; nhóm mang các dấu hiệuphân biệt đặc trưng bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý.
Quyền sở hữu công nghiệp là một quyền đối với một loại hình thành chủ yếu
từ lao động sáng tạo, do đó pháp luật Việt Nam, cũng như pháp luật quốc tế đều thừanhận QSHCN bao gồm quyền nhân thân và quyền về tài sản đối với sáng chế, kiểudáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Quyền về nhân thân là các quyền gắn liền với các lợi ích về tinh thần Quyềnnhân thân thuộc về người đã tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trímạch tích hợp bán dẫn, bằng lao động sáng tạo của mình, bao gồm quyền được đứngtên tác giả trong văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giớithiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.Quyền tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợpbán dẫn, về chủ sở hữu các đối tượng đó, bao gồm quyền sử dụng, cho phép hoặccấm người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tíchhợp bán dẫn Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn, quyền về tài sản bảo hộ hữuhạn được ấn định cụ thể theo quy định của luật pháp
- Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến các đối tượng sau:
vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằngmột hoặc nhiều màu sắc; có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữunhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
Nhãn hiệu được chia làm nhiều loại: Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của một tổ chức; Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà
Trang 21chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụcủa tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính của của hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu đó; Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng
hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc
có liên quan với nhau; Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết
đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam
+ Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địaphương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý córanh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ Chỉ dẫn địa lýđược bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý cónguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉdẫn địa lý; sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủyếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứngvới chỉ dẫn địa lý đó quyết định Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đượcxác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm Chất lượng,đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉtiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu
đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia vớiphương pháp kiểm tra phù hợp
- Nội dung quyền sở hữu công nghiệp
Cũng như quyền sở hữu tài sản khác, nội dung QSHCN bao gồm ba quyềnnăng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ thể đối với đốitượng quyền
Đối tượng của QSHCN có đặc tính vô hình, vì vậy, trong các quyền năng củaQSHCN thì quyền sử dụng là quyền năng quan trọng nhất Chủ sở hữu đối tượngQSHCN không thể cất giấu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp vì sự cất giấu đồngnghĩa với sự vô hiệu của quyền này Người có quyền SHCN chỉ có thể khai thác lợiích của quyền này bằng cách cho phép người khác khai thác, sử dụng theo ý chí của
Trang 22mình Chính vì vậy, trong ba quyền năng, thì quyền sử dụng đối tượng QSHCN làquyền năng quan trọng nhất QSHCN là một dạng của quyền sở hữu trí tuệ, kết quả,thành quả sáng tạo của một cá nhân, của tổ chức Sự sáng tạo này chỉ có thể đạt đượctrên nền tảng, kết quả sáng tạo, tri thức của nhân loại Suy cho cùng, một cá nhânkhông thể độc lập sáng tạo, thành quả sáng tạo của một người là sự tiếp nối, kế thừacủa những thế hệ trước, của người đi trước.
Chính vì những lẽ nêu trên mà QSHCN bao giờ cũng có giới hạn chung nhưcác quyền dân sự khác, đó là: Khai thác QSHCN không trái pháp luật, tôn trọng đạođức truyền thống tốt đẹp, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác Ngoài giới hạn chung này, việc khai thác, sử dụng QSHCN có giới hạn mangtính đặc trưng sau:
- Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền 3
Bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh Nhà nước sử dụng hoặc cho phépchủ thể khác sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích côngcộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh chonhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ýcủa chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theohợp đồng độc quyền Việc thực hiện quyền này của Bộ, cơ quan ngang bộ phải theođúng quy định của luật pháp
- Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp 4
Nếu trước ngày đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp của một ngườiđược công bố mà đã có người sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sửdụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập (người có quyền sửdụng trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sửdụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc
đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu
3Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 133
4Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 134
Trang 23sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
- Thực hiện các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm: Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí và sử dụng sáng chế, nhãn hiệu 5
Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trảthù lao cho tác giả theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó Trongtrường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì quyền sởhữu nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định pháp luật
Khi được yêu cầu, chủ sở hữu sáng chế cơ bản có nghĩa vụ cho phép ngườikhác sử dụng sáng chế của mình để thực hiện sử dụng sáng chế phụ thuộc nếu sángchế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và
có ý nghĩa kinh tế lớn Sáng chế phụ thuộc là sáng chế được tạo ra trên cơ sở mộtsáng chế khác (gọi là sáng chế cơ bản) và chỉ có thể sử dụng được với điều kiện phải
sử dụng sáng chế cơ bản
Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu chủ sởhữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả và điềukiện thương mại hợp lý Nếu chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu củachủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sángchế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản theo quyđịnh pháp luật
- Giới hạn về không gian, thời gian bảo hộ đối với QSHCN
Về nguyên tắc chung, QSHCN chỉ được bảo hộ nếu tuân thủ các quy định củapháp luật của một quốc gia và chỉ được bảo hộ trong phạm vi quốc gia đó QSHCNchỉ được bảo hộ ở các quốc gia khác nếu chủ thể quyền có chỉ định đăng ký tới cácquốc gia đó hoặc theo thỏa thuận giữa các quốc gia với nhau theo hiệp ước songphương hoặc đa phương
5Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 135, 136
Trang 241.2 Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1 Các dạng vi phạm sở hữu công nghiệp
Vi phạm được đề cập ở đây là vi phạm các quy định quản lý nhà nước vềSHCN Để quản lý lĩnh vực SHCN, Nhà nước đề ra các biện pháp quản lý như cácquy định trong việc xác lập QSHCN, bản quyền tác giả, trong hoạt động dịch vụ vàtrong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực SHCN Các quyđịnh quản lý này nhằm đảm bảo sự ổn định, thống nhất trong quản lý nhà nước Vìvậy, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định ở mức độ dân sự, hành chínhhay hình sự Yếu tố vi phạm đối tượng QSHCN là những thể hiện cụ thể kết quả củacác hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hoá Chính những yếu tố này làcăn cứ để khẳng định hành vi xâm phạm quyền Các yếu tố vi phạm quyền cũng thểhiện rất đa dạng phụ thuộc vào đối tượng QSHCN
Theo quy định pháp luật Việt Nam, các hành vi xâm phạm QSHCN bao gồm:Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh; hành vi xâm phạm quyền đốivới nhãn hiệu; hành vi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; hành
vi cạnh tranh không lành mạnh và một số hành vi khác vi phạm trật tự quản lý nhànước về lĩnh vực SHCN pháp luật Tuy nhiên, vi phạm QSHCN xảy ra trên thực tếchủ yếu ở các dạng: Vi phạm quy định về đăng ký xác lập QSHCN; xâm phạm bímật kinh doanh; khai thác, sử dụng trái pháp luật các đối tượng QSHCN
Vi phạm quy định về đăng ký xác lập QSHCN có thể là vi phạm thuộc về phíachủ thể quản lý nhà nước về QSHCN hoặc vi phạm do các chủ thể khác không cóchức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về QSHCN Vi phạm của các chủ thể có chứcnăng, nhiệm vụ quản lý nhà nước QSHCN trên thực tế đã có xảy ra, nhưng khôngnhiều và nó đều xuất phát từ các lỗi do nhận định sai từ sự thiếu các thông tin cầnthiết, và sự vi phạm ngày càng hạn chế, ít dần Vi phạm quy định về đăng ký, xác lậpQSHCN là một hình thức chiếm đoạt, làm thiệt hại đến lợi ích của chủ SHCN, thôngqua việc lạm dụng trình tự, thủ tục, thẩm quyền đăng ký bảo hộ đối tượng QSHCN,
Trang 25gian dối để được đăng ký trước người có quyền nộp đơn theo quy định của pháp luật.Đăng ký, xác lập QSHCN là việc quan trọng làm xuất hiện QSHCN về mặt pháp lý.Nhìn chung, không đăng ký QSHCN thì không có QSHCN và đương nhiên cũngkhông làm xuất hiện quyền bảo vệ QSHCN Đăng ký QSHCN là tiền đề để bảo vệQSHCN, là căn cứ pháp lý phòng ngừa xâm phạm QSHCN.
Ngoài ra, Vi phạm về SHCN là những hành vi khai thác, sử dụng đối tượngSHCN trái phép, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho người có quyền sở hữuđối tượng SHCN Đây là dạng vi phạm QSHCN mà trước đây được gọi là sản xuất,kinh doanh hàng nhái, hàng giả Vi phạm khác về SHCN là sự tiếp nối, là mục đíchcủa vi phạm về đăng ký xác lập QSHCN, vi phạm bí mật kinh doanh Hành vi khaithác, sử dụng trái phép đối tượng QSHCN của người khác dưới dạng hàng giả, hàngnhái diễn ra trên thực tế hết sức đa dạng và phức tạp, trong đó xâm phạm nhãn hiệuhàng hóa diễn ra phổ biến, chủ yếu nhất
1.2.2 Các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định của Luật SHTT, hiện nay Việt Nam có bốn biện pháp đảm bảothực thi QSHCN, đó là: Biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp hình sự
và biện pháp kiểm soát tại biên giới
Biện pháp xử lý vi phạm QSHCN được pháp luật quy định cụ thể theo từngcấp độ vi phạm, cụ thể:
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp hành chính trong các trườnghợp:
+ Hành vi xâm phạm này gây ảnh hưởng tiêu cực, gây thiệt hại cho người tiêudùng hoặc cho xã hội;
+ Mặc dù chủ sở hữu bản quyền đã gửi thông báo bằng văn bản (công văn)yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm nhưng bên vi phạm vẫn tiếp tục hành vi vi phạmcủa mình;
+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trítuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật sở hữu trí tuệ hoặc giao cho người khác thựchiện hành vi này;
Trang 26+ Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉdẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lýđược bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp dân sự trong trường hợp:Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâmphạm QSHCN gây ra yêu cầu Bao gồm cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lýbằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự Thủ tục yêu cầu áp dụng biệnpháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quyđịnh của pháp luật về tố tụng dân sự
Để xác định hành vi xâm phạm QSHCN, cần phải xác định yếu tố xâm phạmđối với đối tượng SHCN tương ứng Yếu tố xâm phạm là sự thể hiện cụ thể kết quảcủa các hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng SHCN Yếu tố xâm phạm làcăn cứ quan trọng nhất để khẳng định hành vi đó là hành vi xâm phạm
Việc xác định một hành vi là hành vi xâm phạm QSHCN phải có đầy đủ cáccăn cứ sau: Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộQSHCN theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và Nghị định 99/2013/NĐ-CP; có yếu
tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; người thực hiện hành vi bị xem xét khôngphải là chủ thể QSHCN và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan cóthẩm quyền cho phép theo quy định; hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam
Theo quy định tại Điều 202 của Luật SHTT, để xử lý tổ chức cá nhân có hành
vi xâm phạm QSHTT nói chung, tòa án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự baogồm: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi cải chính công khai, buộc thựchiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phốihoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyênliệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóaxâm phạm QSHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thácquyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm là việc Tòa án quyết định buộc người cóhành vi xâm phạm QSHCN chấm dứt ngay hành vi xâm phạm theo yêu cầu của
Trang 27người khởi kiện (ví dụ: buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệuchấm dứt việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch
vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó) Tòa
án có thể quyết định buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN chấm dứt hành vixâm phạm trong bản án hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.Trong đó Tòa án phải nêu cụ thể các QSHCN bị xâm phạm và các hành vi xâm phạmQSHCN, đồng thời Tòa án cũng quy định rõ những việc người có hành vi xâm phạmQSHCN phải thực hiện và không được thực hiện để thi hành nghiêm chỉnh bản án,quyết định của Tòa Theo quy định của BLTTDS thì quyết định áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay Do đó nếu người bị áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời buộc chấm dứt hành vi xâm phạm QSHCN khiếu nại quyết định
đó thì trong thời hạn khiếu nại, giải quyết khiếu nại họ vẫn phải thi hành quyết định.Đối với trường hợp Tòa án quyết định trong bản án việc buộc chấm dứt hành vi xâmphạm QSHCN mà bản án đó bị kháng cáo, kháng nghị thì phần của bản án, quyếtđịnh sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợppháp luật quy định cho thi hành ngay Do vậy, cần căn cứ vào quy định cụ thể củavăn bản quy phạm pháp luật cho thi hành ngay phần bản án, quyết định sơ thẩm bịkháng cáo, kháng nghị và quy định của BLTTDS để tuyên trong bản án, quyết địnhlà: Quyết định buộc chấm dứt hành vi xâm phạm QSHCN được thi hành ngay mặc
dù bị kháng cáo, kháng nghị Buộc xin lỗi, cải chính công khai cũng là một biệnpháp được quy định tại Luật SHTT Đây là biện pháp do Tòa án quyết định trong bản
án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm QSHCN phải xin lỗi, cảichính công khai nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng cho chủthể QSHCN bị xâm phạm Việc buộc xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo
vệ quyền nhân thân của tác giả và khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả Trongtrường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi,cải chính công khai và chi phí để thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thỏa thuận
đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì tòa án công nhận sự thỏa thuận của họ.Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức
Trang 28thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện thì Tòa án căn cứ vàotính chất hành vi xâm phạm và mức độ, hậu quả do hành vi đó gây ra quyết định vềnội dung, thời lượng xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện Việc xin lỗi,cải chính công khai có thể được thực hiện trực tiếp tại nơi có địa chỉ chính của người
bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địaphương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp Buộc thựchiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp được Tòa án quyết định áp dụng đối với người cóhành vi vi phạm nghĩa vụ đối với chủ thể QSHCN Đây là biện pháp dân sự được ápdụng khi người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã thoả thuận trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ thểQSHCN
Một biện pháp dân sự quan trọng khác được sử dụng khi có hành vi xâmphạm QSHCN xảy ra đó là biện pháp buộc bồi thường thiệt hại Điều 117 Luật Cạnhtranh 2004 quy định: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranhgây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Theo Điều 110Luật cạnh tranh 2018 thì: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnhtranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạmhành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệthại theo quy định của pháp luật Theo đó, người có hành vi xâm phạm QSHCN màgây thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho chủ thể QSHCN thì phải bồithường Thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN được bồi thường bao gồm thiệt hại
về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó thiệt hại về vật chất bao gồm: các tổnthất về tài sản; mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh doanh;chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Thiệt hại về tinh thần bao gồm: cáctổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín danh tiếng gây ra cho tác giả của sáng chế,kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí Thiệt hại về vật chất và tinh thần là sự tổn thấtthực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể
Trang 29QSHCN Theo đó, được coi là tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau đây: lợi íchvật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại; người bị thiệt hại cókhả năng đạt được lợi ích; có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại saukhi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành
vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mấtlợi ích đó
Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đíchthương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủyếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHCN với điều kiện không làmảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể QSHCN Tòa án xem xét quyếtđịnh buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đíchthương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên màkhông phụ thuộc vào việc chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu Khi quyếtđịnh buộc tiêu hủy hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủyếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHCN, Tòa án sẽ quyết địnhtrách nhiệm của người có hành vi xâm phạm QSHCN phải chịu chi phí cho việc tiêuhủy đó
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN nhằm cạnhtranh không lành mạnh gây ra được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của doanh nghiệp viphạm phải bồi thường cho người bị thiệt hại (có thể là đối thủ cạnh tranh, người tiêudùng, hay thậm chí là Nhà nước) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồnglàm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo raquan hệ nghĩa vụ tương ứng Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm QSHCN là “hành vi xâm phạm củangười gây thiệt hại”6 Hiện nay, Bộ Luật dân sự năm 2015 đã quy định căn cứ làmphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi chongười bị thiệt hại, theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điềukiện: Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường
6 Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015, Khoản 1 Điều 584.
Trang 30thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sựthiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất máthoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản cóthể tính toán được thành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là dotính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hạiphải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tínnhiệm, lòng tin và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họphải chịu; Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trongtrách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hànhđộng hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của người khác; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật vàthiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật vàngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái phápluật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệtất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếucủa hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy rachứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại các Điều 360 và Điều 361
Bộ Luật dân sự 2015 “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên cónghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra baogồm những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất là tổnthất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý đểngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể Yêucầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo
vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh
- Xử lý hành vi vi phạm QSHCN bằng biện pháp hình sự trong trường hợp:Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành