kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 Luật Doanh nghiệp2014, Luật Doanh nghiệp 2014 được thông qua, đã chuyển từ tư duy quản lý hànhchính sang tư duy phục vụ doanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH -NĂM 2019 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ BÍCH THỌ
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH -NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực trạng pháp luật về thủ
tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, giải pháp hoàn thiện pháp luật” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong Luận văn
là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ.
TÁC GIẢ
NGUYỄN KHẮC VŨ
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC TRANG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Nội dung dự kiến 3
CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 5
1.1 Quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 6 1.1.1 Điều kiện để thành lập doanh nghiệp 6
1.1.2 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp 9
1.1.3 Trình tự thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp 10
1.1.4 Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp 12
1.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 21
2.1 Sự cần thiết, yêu cầu hoàn thiện pháp luật 21
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 22
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 22
Trang 52.2.2 Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục đăng ký thành lậpdoanh nghiệp tại Việt Nam 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
34
Trang 6kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (Luật Doanh nghiệp2014), Luật Doanh nghiệp 2014 được thông qua, đã chuyển từ tư duy quản lý hànhchính sang tư duy phục vụ doanh nghiệp, đánh dấu những sửa đổi căn bản về thể chếquản lý doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, góp phầnthúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong năm 2015 và những năm tiếp theo.
Luật Doanh nghiệp 2014 với mục tiêu làm cho doanh nghiệp có một công cụpháp lý để kinh doanh an toàn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, qua đó tăng cườngthu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh;tạo môi trường thuận hơn cho hoạt động thành lập doanh nghiệp; đối xử bình đẳng
về thủ tục giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; tạo thuận lợi, giảmchi phí cho tổ chức quản trị doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm mới nhằm tháo gỡnhững hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2005, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanhthuận lợi, phù hợp hệ thống thông lệ quốc tế Đây được xem là cuộc đột phá thể chếlần hai thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2014 có nhiều cải cách đáng kể, trao quyền tự chủ nhiềuhơn cho doanh nghiệp, sửa đổi bổ sung những quy định mới nhằm tháo gỡ những bất
cập, hạn chế của Luật cũ, phù hợp với xu hướng chung của thế giới (theo thống kê
tại Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký thành lập doanh nghiệp, trong năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp thành lập mới, 34.010 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động)1.
1 Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp:
Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là trang thông tin điện tử để các tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng, truy cập thông tin về đăng ký doanh nghiệp và phục vụ cho công
Trang 7Tuy nhiên, qua ba năm đi vào áp dụng Luật Doanh nghiệp 2014 đã bộc lộnhiều hạn chế, bất cập cần nghiên cứu chỉnh sửa như: Trình tự thủ tục đăng ký thànhlập doanh nghiệp còn nhiều thủ tục rườm rà, phức tạp; hệ thống văn bản hướng dẫnthi hành còn chưa đồng nhất, cụ thể, khiến cho doanh nghiệp trẻ còn khó khăn trongtrong việc đăng ký thành lập Về điều kiện để thành lập doanh nghiệp còn nhiều ràngbuộc chưa thực sự tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp
Chính vì vậy, Luận văn lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về thủ tục
đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, giải pháp hoàn thiện pháp luật”
nhằm đánh giá thực trạng của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, qua đólàm r những điểm mới, điểm hạn chế còn tồn tại và đề ra phương án giải quyết gópphần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đăng ký thành lập doanhnghiệp, tạo một môi trường cạnh tranh, c i m cho các nhà đầu tư, góp phần phát triểnnền kinh tế trong nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng t những hạn chế, bất cậpcủa quy định về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Namhiện nay và giải pháp hoàn thiện pháp luật Nhiệm vụ của Luận văn là phải chỉ rađược những điểm mới về thủ tục hành chính của pháp luật Việt Nam trong đăng kýthành lập doanh nghiệp và những hạn chế còn tồn tại về thủ tục hành chính trongđăng ký thành lập doanh nghiệp, đưa ra những vấn đề bất cập trong thực tiễn từ đó
đề xuất, kiến nghị giải pháp kh c phục, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhànước trong lĩnh vực đăng ký thành lập doanh nghiệp, tạo lập môi trường cạnh tranhthu hút đầu tư trong ngoài nước thúc đẩy phát triển kinh tế
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những bất cập quy định về thủ tục đăng
ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất, kiếnnghị giải pháp để kh c phục góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước tronglĩnh vực đăng ký thành lập doanh nghiệp
tác cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh, nguồn link
http://dangkykinhdoanh.gov.vn, truy cập 15 giờ 30 phút ngày 04 tháng 01 năm 2019.
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp để làm sáng t về m t khoa học của lýluận và thực tiễn của Đề tài trong từng nội dung cụ thể như các phương pháp luậnlogic, phương pháp phân tích được sử dụng nhiều trong nghiên cứu các vấn đề lýluận về thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp; các phương pháp đốichiếu, so sánh, phương pháp chứng minh, được sử dụng trong nghiên cứu thựctrạng pháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Namhiện nay
5 Nội dung dự kiến
Ngoài phần m đầu, kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 Chương
Chương 1: Thực trạng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
Ở Chương này, Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Namhiện hành về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp và những hạn chế, bất cập khithực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp làm tiền đề cho quá trình giảiquyết các vấn đề tiếp theo của Chương 2
Chương 2: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Ở Chương này, Luận văn nghiên cứu các vấn đề về sự cần thiết, yêu cầu vềhoàn thiện pháp luật; kiến nghị hoàn thiện pháp luật, kiến nghị giải pháp để thực thi
có hiệu quả về công tác đăng ký thành lập doanh nghiệp để cho công tác này có hiệuquả hơn trong thời gian đến
Trang 9CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là việc Nhà nước ghi nhận về m t pháp lý sự
ra đời của một chủ thể kinh doanh Kể từ thời điểm đăng ký kinh doanh chủ thể kinhdoanh có đầy đủ các năng lực pháp lý (tư cách chủ thể) để tiến hành hoạt động kinhdoanh theo quy định của pháp luật Nhà nước cung cấp những đảm bảo đầy đủ về m tchính trị - pháp lý để chủ thể kinh doanh có điều kiện thực hiện hoạt động kinhdoanh của mình
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một thủ tục hành chính b t buộc theo đóchủ thể kinh doanh tiến hành đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và côngkhai hóa sự ra đời và hoạt động kinh doanh của mình với giới thương nhân và cộngđồng Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ xem xét và cấp giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp cho chủ thể kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là căn cứ pháp lý xác lập quyền và nghĩa vụcủa chủ thể kinh doanh dưới sự quản lý của Nhà nước đồng thời cũng ghi nhận tưcách pháp nhân, tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh, sự bảo hộ của Nhà nướcvới chủ thể kinh doanh
Để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hay thay đổi nội dungđăng ký doanh nghiệp chủ thể kinh doanh phải tuân thủ những trình tự, thủ tục vềđăng ký kinh doanh theo luật định mà đây là Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bảnhướng dẫn thi hành Đồng nghĩa với việc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp, chủ thể kinh doanh đã chính thức được xác lập tư cách pháp nhân, được Nhànước ghi nhận sự tồn tại dưới góc độ pháp lý, chịu sự quản lý trực tiếp b i cơ quanNhà nước có thẩm quyền
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong những công cụ để Nhà nướcthực hiện chức năng quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Vậy nên, việc cấpGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là sự ghi nhận về m t pháp lý của Nhà nước
Trang 10đối với sự ra đời và tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh Sự ghi nhận về m tpháp lý này được quy định cụ thể tại các Điều 47, 73, 110, 172 Luật doanh nghiệp
2014 đó là khi chủ thể kinh doanh lựa chọn loại hình doanh nghiệp và hoàn tất thủtục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì tư cách pháp nhâncủa chủ thể kinh doanh được xác lập “ kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp”.
1.1 Quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
1.1.1 Điều kiện để thành lập doanh nghiệp
Hành vi thành lập doanh nghiệp, cũng như nhiều hành vi khác của con ngườitrong xã hội, được điều chỉnh bằng pháp luật Pháp luật về đăng ký thành lập doanhnghiệp quy định cụ thể về địa vị pháp lý, về đ c tính pháp lý, về cách thức hoạt động,quản lý, điều hành với cả những ưu điểm hạn chế của từng loại hình doanh nghiệpđược phép thành lập để chủ thể kinh doanh căn cứ vào khả năng, điều kiện của mình
đề lựa chọn đúng đ n Điều kiện thành lập doanh nghiệp được cụ thể hóa trong phápluật về thành lập doanh nghiệp, bao gồm các điều kiện về chủ thể; điều kiện về ngànhnghề; điều kiện về tên gọi, trụ sở; điều kiện về vốn; của doanh nghiệp Cụ thể:
(i) Điều kiện về cá nhân, tổ chức thành lập doanh công ty:
Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập Công ty tại Việt Nam theo quy định củaLuật doanh nghiệp năm 2014 Tuy nhiên, không phải mọi tổ chức cá nhân đều cóquyền thành lập Công ty, theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm
2014 thì các tổ chức, cá nhân sau đây không được thành lập công ty bao gồm Cơquan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lậpdoanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; cán bộ, công chức,viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩquan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan,đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơquan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đạidiện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; cán bộlãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử
Trang 11làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệpkhác; người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ho c bị mấtnăng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; người đang bị truy cứutrách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ s cainghiện b t buộc, cơ s giáo dục b t buộc ho c đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảmnhiệm chức vụ ho c làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyếtđịnh của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng,chống tham nhũng.
(ii) Điều kiện về ngành nghề kinh doanh:
Doanh nghiệp được phép kinh doanh ngành nghề pháp luật không cấm và cóđăng ký ngành nghề kinh doanh với cơ quan quản lý Doanh nghiệp không được kinhdoanh ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinhdoanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư ho c không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanhtrong quá trình hoạt động
(iii) Điều kiện về tên doanh nghiệp:
Tên doanh nghiệp Là tên mà doanh nghiệp dự định đ t Tên doanh nghiệp phảiđúng theo quy định của pháp luật doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận Loại hìnhdoanh nghiệp + Tên riêng của doanh nghiệp
Về loại hình doanh nghiệp pháp luật quy định có năm loại hình doanh nghiệp
để lựa chọn gôm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệmhữu hạn hai thành viên tr lên được viết là “Công ty trách nhiệm hữu hạn” ho c “Công
ty TNHH”; Công ty cổ phần được viết là “Công ty cổ phần” ho c “Công ty CP”;Công ty hợp danh được viết là “Công ty hợp danh” ho c “Công ty HD”; Doanhnghiệp tư nhân được viết là “Doanh nghiệp tư nhân”, “DNTN” ho c “Doanh nghiệpTN”
Tên riêng được doanh nghiệp tự do đ t và được viết bằng các chữ cái trongbảng chữ cái Tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu Các điều cấm trongviệc đ t tên của một doanh nghiệp gồm: Đ t tên trùng ho c cố tình gây nhầm lẫn vớicác doanh nghiệp đã đăng ký trước đó; sử dụng từ ngữ vi phạm truyền thống, văn
Trang 12hóa, thuần phong mỹ tục của việt nam; sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũtrang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ ho
c một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan,đơn vị ho c tổ chức đó
Tên doanh nghiệp phải được g n tại trụ s chính, chi nhánh, văn phòng đạidiện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp Tên doanh nghiệp phải được in ho cviết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành
(iiii) Điều kiện về địa chỉ trụ sở chính của công ty:
Trụ s chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnhthổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ng phố, phố, đường
ho c thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)
Trụ s chính của công ty không được phép là nhà tập thể, nhà chung cư Nếu lànhà riêng mà có số phòng thì yêu cầu cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(iiiii) Điều kiện về vốn điều lệ:
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp ho c cam kết góp vốn vàđược ghi vào Điều lệ công ty Với những ngành, nghề không yêu cầu về vốn phápđịnh thì vốn của Công ty do chủ công ty tự quyết định và đăng ký khi thành lập công
ty Đối với những ngành nghề kinh doanh yêu cầu về vốn thì vốn điều lệ của công tykhông được thấp hơn mức vốn pháp định mà pháp luật đã quy định
1.1.2 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp
Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp là điều kiện cần để cơ quan đăng kýkinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được quyđịnh đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau, đối với doanh nghiệp tư nhânquy định tại Điều 20 Luật Doanh nghiệp 2014; đối với công ty hợp danh, công tytrách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần quy định lần lượt tại các Điều 21, 22 và 23Luật Doanh nghiệp 2014
Nhìn chung, để đăng ký thành lập doanh nghiệp, người thành lập doanh
Trang 13nghiệp cần phải chuẩn bị bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ như Giấy đề nghị đăng kýkinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quyđịnh; danh sách thành viên (đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn,danh sách cổ đông sáng lập (đối với công ty cổ phần); giấy tờ chứng thực cá nhân/ tổchức của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên, cổ đông sáng lập; điều lệ công ty(đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Như vậy, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014
đã có sự phân hóa về m t loại hình doanh nghiệp dự định đăng ký và được đánh giá làtương đối ch t chẽ Với mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hồ sơ đăng kýthành lập là khác nhau Luật Doanh nghiệp 2014 đồng thời cũng quy định r ràng nộidung của các loại giấy tờ như Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, Điều lệ công ty,danh sách thành viên và danh sách cổ đông Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và tự kêkhai hồ sơ đăng ký, chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp của mình khi nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là đơngiản hóa thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Theo quy định trước đây tại LuậtDoanh nghiệp năm 2005, đối với doanh nghiệp khi kinh doanh các ngành, nghề màluật, pháp lệnh ho c nghị định đòi h i phải có vốn pháp định ho c chứng chỉ hànhnghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn ho c chứng chỉhành nghề theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, việc đăng ký thành lập doanhnghiệp về bản chất là việc ghi nhận sự ra đời, công nhận về m t pháp lý sự xuất hiệncủa doanh nghiệp trên thị trường Điều này cũng tương tự như việc cấp giấy khai sinhcho một đứa trẻ ho c cấp chứng minh thư nhân dân cho công dân Các yêu cầu về vốnpháp định và chứng chỉ hành nghề chỉ nên được coi là điều kiện kinh doanh để doanhnghiệp được hoạt động Quy định như Luật Doanh nghiệp 2005 đã t ra không hợp lý,không có hiệu lực quản lý nhà nước, gây ra khó khăn, tốn kém không cần thiết chonhà đầu tư khi thành lập mới doanh nghiệp
Do vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã b yêu cầu về các điều kiện kinhdoanh trong thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Theo đó, tại thời điểm đăng kýthành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp không phải đáp ứng các yêu cầu về điều kiện
Trang 14kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Sau khi được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp được phép kinh doanh ngành, nghề kinh doanh
có điều kiện kể từ khi đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật chuyên ngành
1.1.3 Trình tự thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp là những công đoạn thủ tục(những bước) và thời hạn thực hiện mà cá nhân, tổ chức và cơ quan đăng ký kinhdoanh phải tuân thủ trong quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp do pháp luật quyđịnh Hiện nay, cùng với ứng dụng của khoa học công nghệ vào cải cách thủ tục hànhchính thì trình tự thủ tục đăng ký doanh nghiệp cũng có nhiều thay đổi, chủ thểdoanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại
cơ quan đăng ký kinh doanh ho c nộp hồ sơ qua Cổng thông tin đăng ký doanhnghiệp quốc gia Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được quy định cụthể tại Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2014, theo đó, việc đăng ký doanh nghiệp đượctiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh, bao gồm các bước cụ thể sau
Bước 1: Nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp:
Người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quyđịnh tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền (Phòng Đăng ký kinh doanh cấptỉnh) và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ
Quy định này nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật, tính tự giác, tự chịutrách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu gia nhập thị trường, đồng thời,việc giảm trách nhiệm thẩm định hồ sơ của cơ quan đăng ký kinh doanh cho phép rút
ng n thời gian giải quyết thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp:
Việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thực hiện bằng việc cơ quan đăng
ký kinh doanh ghi vào sổ hồ sơ tiếp nhận của cơ quan mình, đồng thời trao cho ngườithành lập Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ hợp lệ Thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệđược coi là căn cứ để xác định thời hạn thực hiện trách nhiệm đăng ký doanh nghiệpcủa cơ quan đăng ký kinh doanh Cũng chính vì thế mà giấy biên nhận về việc tiếpnhận hồ sơ là cơ s pháp lý để người thành lập doanh nghiệp có thể thực hiện quyền
Trang 15khiếu nại của mình trong trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh không cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo đúng thời hạn và không có thông báo về việcyêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
Bước 3: Xem xét tính hợp lệ hồ sơ đăng ký và cấp ho c từ chối cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký thành lậpdoanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba ngàylàm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy thì thông báo bằng văn bảncho người thành lập doanh nghiệp biết Thông báo phải nêu r lý do và các yêu cầusửa đổi, bổ sung Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tínhhợp lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không được yêucầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy định tại Luậtnày
Trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, thời gian xử lý hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp là 5 ngày làm việc trong đó có 2 ngày để cơ quan thuế cấp mã sốdoanh nghiệp, 3 ngày để cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấpGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Với cơ chế này, việc cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp phải phụ thuộc vào việc chờ cấp mã số doanh nghiệp từ cơquan thuế, làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính
Để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp tham gia thị trường, LuậtDoanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp còn xuốngcòn tối đa 3 ngày làm việc Cụ thể hóa quy định nêu trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đãphối hợp với Bộ Tài chính để ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 23 tháng 2016 hướng dẫn việc trao đổi thông tin đăng ký doanhnghiệp, thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thông tin về báo cáo tàichính của doanh nghiệp Theo đó, Hệ thống đăng ký thuế tự động tạo mã số thuế màkhông cần sự kiểm tra, xem xét của cán bộ đăng ký thuế
1.1.4 Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận,
Trang 16xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và giải quyết cấp ho ckhông cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp cho chủ thể kinh doanhtheo quy định của pháp luật Ngoài nhiệm vụ đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng kýkinh doanh còn phải cập nhập thông tin về những thay đổi trong nội dung đăng kýkinh doanh của chủ thể kinh doanh, theo dõi và giám sát chủ thể kinh doanh trongsuốt quá trình hoạt động kinh doanh theo các nội dung đã đăng ký trong Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp.
Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chodoanh nghiệp được tổ chức tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Phòng Đăng kýkinh doanh thuộc S Kế hoạch và Đầu tư Phòng Đăng ký kinh doanh có thể tổ chứccác điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh tại các địađiểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh
Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập thêm một ho chai Phòng Đăng ký kinh doanh và được đánh số theo thứ tự Việc thành lập thêmPhòng Đăng ký kinh doanh do Ủy ban nhân dân thành phố quyết định sau khi thốngnhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày
14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp (Nghị định78/2015/NĐ-CP) đã tiếp tục hoàn thiện các quy định về cải cách các thủ tục thànhlập doanh nghiệp và có nhiều điểm mới, tiến bộ Hệ thống văn bản hướng dẫn thihành về đăng ký thành lập doanh nghiệp nhìn chung về cơ bản là đã kịp thời, khá đầy
đủ và có nội dung phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trìnhgia nhập thị trường Góp phần dần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký thànhlập doanh nghiệp nói riêng và hệ thống pháp luật doanh nghiệp nói chung
Có thể thấy, bên cạnh các biện pháp cải cách thủ tục hành chính trong thànhlập doanh nghiệp, các quy định pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tưngày 26 tháng 11 năm 2014 (Luật Đầu tư năm 2014) đã góp phần đáng kể trong việccải thiện môi trường đầu tư và phát huy quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 17Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc thành lập doanh nghiệp vẫn còn có rất nhiềubất cập, thủ tục xét duyệt cho các đối tượng được hư ng ưu đãi còn quá phức tạp, quárườm rà khiến các doanh nghiệp không hào hứng tham gia Rất nhiều doanh nghiệpphàn nàn về các thủ tục hành chính chưa gọn lẹ, gây phiền toái và mất thời gian củadoanh nghiệp Thời gian thực hiện các trình tự thủ tục đầu tư còn kéo dài và quản lýtài chính khá phức tạp là một trong những cản tr đối với việc triển khai nhanh các dự
án cũng như m rộng quy mô của nó cho phù hợp với sự chuyển biến năng động vàliên tục của thị trường và của doanh nghiệp
Thực tế những cơ s sản xuất, kinh doanh và khu vực kinh doanh phi chínhthức đang là thành phần kinh doanh lớn Việt Nam Đối tượng này thiếu động cơthành lập doanh nghiệp vì ngại phiền phức về các vấn đề pháp lý, thủ tục thuế, thiếu
am hiểu quản lý vận hành doanh nghiệp Về góc độ pháp lý có thể điểm qua một sốbất cập, hạn chế để chứng minh như sau
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ trực tuyến trong đăng ký doanh nghiệp vẫn
còn khó khăn:
Kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013, đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tửchính thức triển khai trên phạm vi cả nước theo Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐTngày 21 tháng 01 năm 2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hướng dẫn về đăng kýdoanh nghiệp (Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT) Quy định này nhằm giảm tải nhiềuthủ tục rườm rà khi các cá nhân phải trực tiếp đến cơ quan hành chính Nhà nước đểthực hiện nhiều thủ tục đăng ký Tuy nhiên, qua thực tế triển khai, rất ít doanh nghiệp
có thể tự sử dụng công cụ trực tuyến để đăng ký doanh nghiệp Nguyên nhân là doviệc đăng ký doanh nghiệp trực tuyến tương đối phức tạp Để thao tác hoàn thành bộ
hồ sơ đăng ký, nhà đầu tư phải đọc toàn bộ Hướng dẫn quy trình đăng ký doanhnghiệp qua mạng điện tử gồm 77 trang tại cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốcgia và phải n m luật, phải biết điền chọn đúng ngành nghề trong hệ thống ngành nghềkinh doanh Điều này khiến cho người dân lúng túng và không thực hiện được.Ngoài nguyên nhân là người dân chưa có thói quen sử dụng dịch vụ hành chính điện
tử thì m t phức tạp của hệ thống đăng ký doanh nghiệp trực tuyến cũng khiến cho nókhông mang nhiều ý nghĩa thực tiễn, gây lãng phí nguồn lực và không đạt được
Trang 18những hiệu quả như kỳ vọng.
Hiện nay tại một số tỉnh thành trên cả nước đã áp dụng phương pháp đăng kýkinh doanh qua mạng điện tử Việc áp dụng việc đăng ký kinh doanh thông qua mạngđiện tử là một trong những chính sách nhằm cải cách thủ tục hành chính cho cácdoanh nghiệp, nhằm kh c phục tình trạng bất cập và thiếu minh bạch khi đăng kýkinh doanh bằng phương pháp nộp trực tiếp
Đ c biệt tại địa bàn thành phố Hà Nội thì thủ tục thành lập công ty qua mạng
đã được áp dụng từ năm 2016 nhưng số lượng nộp qua mạng vẫn còn hạn chế Và kể
từ ngày 22 tháng 8 năm 2017 thì 100% các thủ tục đăng ký kinh doanh bao gồm cảthủ tục thành lập mới, thủ tục bổ sung đăng ký kinh doanh, hay chuyển đổi loại hìnhdoanh nghiệp đều phải nộp qua mạng
Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thành lập doanh nghiệp, bổ sung đăng kýkinh doanh thì đăng ký qua cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký kinh doanhhttps://dangkykinhdoanh.gov.vn, để có thể thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanhqua mạng thì người đăng ký sẽ phải thực hiện theo các bước sau
Bước 1: Tạo tài khoản đăng ký kinh doanh trên cổng thông tin điện tử quốc
gia theo đường link trên
Bước 2: Sau khi tạo tài khoản xong, chọn trường đăng ký kinh doanh Chọn
Nộp hồ sơ sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh Sau đó tùy thuộc vào nhu cầu củadoanh nghiệp có thể chọn một trong những nội dung sau Thành lập mới/ đơn vị trựcthuộc; Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh/đơn vị trực thuộc (gồm thayđổi nội dung đăng ký kinh doanh, thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh,thông báo thay đổi, thông báo mẫu dấu, tạm ngừng hoạt động, hoạt động tr lại,chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, giải thể , thông báo quyết định giải thể)
Việc quy định về đăng ký kinh doanh qua mạng sẽ nâng cao chất lượng củacác doanh nghiệp, tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả, chất lượng tạo điều kiện cho
sự gia nhập của thị trường của doanh nghiệp, góp phần hiệu quả trong việc cải cáchcác thủ tục hành chính, đảm bảo sự minh bạch trong công tác đăng ký kinh doanh,tránh những bất cập, và tiêu cực trong thủ tục đăng ký kinh doanh bằng cách nộp hồ
sơ trực tiếp như trước đây
Trang 19Dù việc áp dụng thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng là việc cần thiết vàtheo đúng lộ trình áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý các thủ tục hànhchính cũng như quản lý nhà nước Tuy nhiên, vì việc áp dụng đăng ký kinh doanhqua mạng điện tử là mới, nên còn nhiều điểm khó khăn, vướng m c cần phải kh cphục.
Những khó khăn, vướng m c thường g p phải trong công tác quản lý cũng nhưcác cá nhân, tổ chức áp dụng phương pháp này:
(i) Vướng mắc trong công tác quản lý:
Vì thủ tục đăng ký qua mạng là người dùng sẽ nộp hồ sơ qua mạng tại nhà, ho
c tại cơ quan mà không trực tiếp đến phòng đăng ký kinh doanh để nộp hồ sơ, chính
vì vậy, các cơ chế về quản lý và sử dụng biên lai thu phí , lệ phí chưa phù hợp Việcthu phí vẫn là trực tiếp Tức là dù nộp hồ sơ qua mạng, nhưng vẫn phải trực tiếp đếnphòng đăng ký kinh doanh để nộp lệ phí Và thậm chí khi hồ sơ có những thay đổi,vướng m c thì người nộp hồ sơ vẫn phải đến phòng đăng ký kinh doanh nhiều lần
Việc quản lý vẫn còn nhiều bất cập, vì chưa kiểm soát được quá trình nộp hồ
sơ qua mạng chính xác Thiếu cơ chế đồng bộ, vì các tỉnh thành trên cả nước chưa ápdụng thống nhất phương pháp nộp qua mạng này Có những doanh nghiệp đăng kýkinh doanh tại Hà Nội nhưng lại m chi nhánh tại các tỉnh thành khác, hay chuyển đổiđịa chỉ kinh doanh sang các tỉnh thành khác chưa quy định b t buộc áp dụng việcđăng ký kinh doanh qua mạng Các thủ tục hành chính của các địa phương có nhiềukhác biệt, gây khó khăn cho doanh nghiệp, cũng như công tác quản lý chung
(ii) Vướng m c đối với doanh nghiệp:
Việc áp dụng đăng ký kinh doanh qua mạng tại một số tỉnh thành phố, đ c biệt
là Hà Nội dù đã được một thời gian, nhưng các doanh nghiệp vẫn g p rất nhiều khókhăn, cũng như không tránh kh i những bối rối khi áp dụng theo phương thức này
Nguyên nhân của những bất cập, vướng m c này là do
+) Việc thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng cần phải sử dụng chữ
ký số công cộng ho c chữ ký số doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp thực hiệnhoạt động xuất nhập khẩu, hay kê khai thuế qua mạng điện tử thì không có gì đángnói Nhưng có rất nhiều các doanh nghiệp, ho c cá nhân hiện nay chưa có thói quen