về thừa kế đối với loại tài sản đặc biệt này.Trong thực tế, quá trình quản lý, sử dụng, một số chủ thể chưa có được giấy tờ về quyền sử dụng đất rõ ràng hoặc có giấy tờ theo quy định, nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN CHÍ ĐỨC
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
• • • •
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN CHÍ ĐỨC
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3LỜI C M Đ N
Tôi tên: NGUYỄN CHÍ ĐỨC, sinh năm 1981, là học viên Cao học Luật Kinh
tế, khóa 2016-2018, Trường Đại học Kinh tế - Luật, thuộc Đại học Quốc giaTP.HCM - Phân hiệu II tại Bến Tre, xin cam đoan:
- Nghiên cứu đề tài luận văn “ Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền
sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” một cách trung
thực, khoa học, không sao chép nhưng có sự kế thừa các luận cứ khoa học của cácluận văn, công trình nghiên cứu khoa học trước đây
- Nếu có gì không đúng như cam đoan, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Bến Tre, ngày 03 tháng 6 năm 2019
T C GIẢ
NGUYỄN CHÍ ĐỨC
Trang 407 Nghị quyết Hội đồng thẩm phán NQ HĐTP
Trang 5MỤC LỤC LỜI C M Đ N
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC TRANG
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tì nh hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 7
1.1 Những vấn đề lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất 7
1.1.1 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất 7
1.1.2 Đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất
10 1.1.3 Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất 11
Trang 61.2 Vai trò, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay 13
1.3 Các dạng tranh chấp phổ biến về thừa kế quyền sử dụng đất được giải quyết tại Tòa án 14 1.3.1 Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa người thừa kế theo di chúc với người thừa kế theo pháp luật 14 1.3.2 Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau 15 1.3.3 Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa những người thừa kế theo pháp luật với nhau vì việc phân chia di sản không đồng đều 16 1.3.4 Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, do không xác định được chính xác về di sản thừa kế 17 1.3.5 Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 21
' • •
2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 21 2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 22 2.2.1 Xác định không đúng cách chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất và công sức quản lý di sản 22 2.2.2 Chưa xác định rõ phần di sản QSDĐ của người chết để lại trong khối tài sản tài chung với người khác vào thời điểm chết và thời hiệu chia di sản
Trang 7thừa kế chuyển sang chia tài sản chung 27
2.2.3 Xác định không đúng tư cách người thừa kế và công nhận di chúc không có cơ sở pháp lý 32
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất 37
2.3.1 Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật 37
2.3.2 Hoàn thiện công tác xét xử của Tòa án nhân dân 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8về thừa kế đối với loại tài sản đặc biệt này.
Trong thực tế, quá trình quản lý, sử dụng, một số chủ thể chưa có được giấy
tờ về quyền sử dụng đất rõ ràng hoặc có giấy tờ theo quy định, nhưng vì một lý donào đó trong quá trình quản lý sử dụng do những điều kiện lịch sử để lại của nhữnglần thay đổi chính sách quản lý nhà nước, hoặc sửa đổi quy định pháp luật nên cácchủ thể này mới có sự tranh chấp đất đai với nhau, việc tranh chấp thể hiện dướinhiều dạng tranh chấp như tranh chấp cả thửa đất, tranh chấp ranh giới, tranh chấpthừa kế về di sản là QSDĐ
Để giải quyết những tranh chấp này, chính quyền địa phương, Mặt trận tổquốc Việt Nam và các đoàn thể cùng tham gia giải quyết, nhưng nhìn chung việcgiải quyết tranh chấp thừa kế đối với loại tài sản này thời gian qua chưa mang lạihiệu quả và chất lượng cao, dó đó hầu hết các tranh chấp này đều do Tòa án giảiquyết và là cơ quan giải quyết cuối cùng Trong những năm qua tình hình tranhchấp đất đai nói chung và tranh chấp thừa kế QSDĐ trên địa bàn huyện ChâuThành, tỉnh Bến Tre do Tòa án giải quyết chiếm tỷ lệ tương đối nhiều, nội dung
1 Khoản 1 Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013.
Trang 9tranh chấp ngày càng phức tạp, thường dẫn đến mâu thuẫn lớn trong nội bộ gia đình
có di sản là QSDĐ nên ảnh hưởng ít nhiều đến tình hình an ninh, trật tự trên địabàn Để thực hiện có hiệu quả Nghị Quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó lấy Tòa án là trungtâm và công tác xét xử là trọng tâm2 Thời gian quan Tòa án nhân dân trên toànquốc nói chung và trong phạm vi huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nói riêng hàngnăm đều nỗ lực thực hiện hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc giải quyết tranhchấp thừa kế QSDĐ
Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ tại Tòa án nhân dân huyệnChâu Thành, tỉnh Bến Tre, tác giả nhận thấy còn có nhiều vấn đề để bàn luận cũngnhư những bất cập cần phải được đề xuất hoàn thiện trong thời gian tới Chính vì
những lý do như trên tác giải quyết định chọn đề tài “Thực trạng giải quyết tranh
chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” với mong muốn có được đóng góp để góp phần khắc phục những hạn chế,
thiếu sót về pháp luật thừa kế QSDĐ hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến các vấn đềgiải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai, từ đó chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại,vướng mắc của quy định pháp luật, đề xuất phương hướng và giải pháp cho việchoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kếQSDĐ nói riêng Một số đề tài, bài viết liên quan đến việc giải quyết tranh chấp vềthừa kế QSDĐ như:
- Luận văn thạc sĩ luật học về “Thừa kế QSDĐ theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng - Đại học Quốc gia Hà Nội - Năm
Trang 10Viện Đại học mở Hà Nội - Năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ luật học về “Giải quyết tranh chấp chia thừa kế QSDĐ từ thực tiễn xét xử của TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau” của tác giả Trần Cẩm
Hồng - Học Viện khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Năm2017;
- Luận văn thạc sĩ luật học về “Pháp luật giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ từ thực tiễn giải quyết tại TAND thành phố Hải Phòng” của tác giả Lê Anh
Sơn - Viện Đại học mở Hà Nội - Năm 2017;
- Bài viết "Một số vấn đề trong giải quyết các tranh chấp thừa kế QSDĐ"
của tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên tạp chí Toà án nhân dân số 04/2004
- Bài viết về “Một số vụ án tranh chấp thừa kế QSDĐ có nhiều quan điểm giải quyết khác nhau" của tác giả Lê Văn Duật đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật số 10/2009
- Tọa đàm về "Mộ! số vấn đề trong giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ tại Tòa án ở Việt Nam ” của Trương Thị Thu Trang - Viện thông tin Khoa học xã hội -
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội - Năm 2017
Với các đề tài và bài viết nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thừa kế QSDĐnêu trên đã phân tích, nghiên cứu đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐtrong thời gian qua cũng đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến tranhchấp này Tuy nhiên, khi nghiên cứu nội dung của các đề tài, bài viết khoa học nàytác giả nhận thấy cũng chưa thể hiện được hết những bất cập, khó khăn từ thực tiễn,các đề tài chỉ nêu lên được một số bất cập từ quy định pháp luật, nêu lên một số vấn
đề mang tính chung chung mà không phân tích sâu đến việc giải quyết loại tranhchấp này, hoặc chỉ kiến nghị mang tính chung mà không cụ thể về việc vận dụngpháp luật cho việc giải quyết từ trong thực tiễn, nên thời gian qua cũng chưa manglại hiệu quả cao trong công tác giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ
Hy vọng rằng, sự lựa chọn nghiên cứu đề tài này với việc đưa ra những vụ,việc cụ thể từ thực tiễn xét xử và có những phân tích sâu về việc vận dụng quy địnhpháp luật, có sự so sánh từ các cấp xét xử về kết quả giải quyết, đồng thời đưa ra
Trang 11những kiến nghị về quy định pháp luật còn chưa phù hợp với thực tiễn, những vănbản pháp luật có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐchưa có sự thống nhất trong thời gian qua, việc nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa trongviệc góp phần vào công tác quản lý nhà nước nếu được vận dụng vào thực tế tại địaphương, đặc biệt là trong công tác giải quyết, xét xử của ngành Tòa án nhân dân Vìvậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sửdụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” là thực sự cần thiết
và hữu ích
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu quy định của pháp luật về giải quyếttranh chấp thừa kế QSDĐ tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất những kiến nghịnhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp thừa kếQSDĐ
- Nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấpthừa kế QSDĐ
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấpthừa kế QSDĐ tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, thông quanhững vụ án cụ thể đề tìm ra những mâu thuẫn, bất cập tồn tại và chỉ ra nhữngnguyên nhân của những hạn chế này đề tìm các giải pháp khắc phục
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để nghiên cứu các văn bảnpháp luật, các đề tài nghiên cứu và các bài viết bình luận, phân tích có liên quan đếnviệc giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ
- Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê được sử dụng để đưa ra các nhậnđịnh, đánh giá về các quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và các số liệuphản ánh về giải quyết tranh chấp
Trang 12- Phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứuhình thành luận văn để đưa ra các kết luận và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật vềgiải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về thực tiễn giải
quyết các tranh chấp thừa kế QSDĐ tại Tòa án nhân dân Thông qua luận văn sẽ cónhiều cơ sở hơn từ sự phân tích, đánh giá để có thể phục vụ cho việc nghiên cứu vềgiải quyết loại tranh chấp này, góp phần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu nhữngvướng mắc, bất cập để từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm hoàn thiệnpháp luật dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế QSDĐ nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Với những nội dung nghiên cứu trong luận văn, tác giả
tiến hành đánh giá thực tiễn giải quyết những tranh chấp thừa kế QSDĐ tại Tòa ánnhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để từ đó góp phần nâng cao chất lượnggiải quyết loại tranh chấp này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luậnvăn được chia thành hai chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sửdụng đất
Chương 2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre và kiến nghị hoàn thiện
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TR NH CHẤP
THỪ KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Những vấn đề lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất
Khi nghiên cứu pháp luật về thừa kế chúng ta phải xem xét mối liên hệ giữathừa kế với quyền thừa kế Trong đó thừa kế là một hiện tượng xã hội hình thành từviệc một người chết có để lại tài sản và sự dịch chuyển tài sản của người đó chonhững người khác Trong xã hội đã có nhà nước và pháp luật, quá trình dịch chuyểntài sản của người chết cho những người khác được điều chỉnh bởi pháp luật Sự tácđộng của pháp luật tới quá trình dịch chuyển tài sản này gọi là quyền thừa kế Nhưvậy, nếu thừa kế là một hiện tượng xã hội thì quyền thừa kế là một hiện tượng phápluật3
Thừa kế và để lại thừa kế là một quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệpháp luật dân sự Đây là quyền thể hiện rất rõ tính chất tự do ý chí, tự do định đoạtcủa chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự về tài sản nói chung, quan hệthừa kế nói riêng4 Con người cũng như bất kỳ một chủ thể nào khác, muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa trên những cơ sở vật chất nhất định Của cải do conngười tạo ra một cách hợp pháp sẽ thuộc sở hữu của họ, họ có quyền năng chiếmhữu, sử dụng chúng để thỏa mãn nhu cầu cho mình trong sản xuất, tiêu dùng và cóquyền định đoạt chúng khi cần thiết Khi họ chết, những tài sản thuộc sở hữu của họ
sẽ được dịch chuyển cho người khác Quá trình dịch chuyển này được gọi là thừa
kế Nói một cách cụ thể hơn thì thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, việc chuyển dịch tài sản này có thể được thực hiện bằng di
Trang 14chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định5 Như vậy, thừa kế là mộthiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại trong mọi chế độ xã hội Nơi nào có sở hữunơi đó có thừa kế Nếu sở hữu là sự phản ánh tài sản nào trong xã hội thuộc về ai,thì thừa kế là sự phản ánh tài sản của ai đó sẽ dịch chuyển cho ai khi họ chết Vì thế,thừa kế là sự tiếp nối sở hữu, là hệ luận của sở hữu.
Thừa kế và sở hữu luôn tồn tại song song và gắn bó chặt chẽ với nhau trongmọi hình thái kinh tế xã hội Trong đó nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đềthừa kế thì đến lượt mình thừa kế là phương tiện để duy trì củng cố về sở hữu
Như đã phân tích trên, thừa kế bao gồm hai quyền cơ bản là quyền để lạithừa kế và quyền thừa kế Tuy nhiên, trên thực tế, do việc coi trọng những phongtục tập quán, tình cảm gia đình đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo thihành quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế Bên cạnh đó cũng có những trường hợpngười để lại thừa kế đã lập di chúc nhưng do thiếu hiểu biết, bản di chúc đó khôngphù hợp quy định của pháp luật, khiến những người thừa kế lại phải giải quyết tranhchấp bằng pháp luật, làm mất đi tình cảm vốn có Do vậy, việc hiểu được các chếđịnh về thừa kế là cần thiết và có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế
Theo quy định tại Điều 609 BLDS năm 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế không là
cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” Như vậy, BLDS năm 2015 đã bổ
sung quyền của người thừa kế "không là cá nhân", tức là pháp nhân hay tổ chức.Theo quy định này, người thừa kế là cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo dichúc hoặc theo pháp luật, còn người thừa kế là pháp nhân hay tổ chức chỉ có thể
được hưởng thừa kế theo di chúc Luật cũng quy định: "Mọi cá nhân đều bình đẳng
về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" 6
5Nguyễn Quang Lộc - Bàn về thời hiệu thừa kế của BLDS 2015, đăng trên
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-thoi-hieu-thua-ke-cua-bo-luat-dan-su-2015
6 Điều 610 BLDS năm 2015.
Trang 15Về người thừa kế phải đáp ứng theo Điều 613 BLDS năm 2015 được quy
định: "Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế".
Theo quy định tại điều 609 BLDS 2015 nêu trên đã nói đến vấn đề hưởng disản Về thuật ngữ di sản được dùng trong rất nhiều lĩnh vực như lĩnh vực văn hóa,kinh tế, pháp luật, khảo cổ học, nghệ thuật Tuy nhiên, trong pháp luật về thừa kếthì di sản phải được hiểu là tài sản của người chết để lại cho người còn sống khác
Vì vậy, trong lĩnh vực thừa kế thì khái niệm di sản được hiểu là toàn bộ tài sản của
cá nhân mà họ để lại sau khi chết Theo quy định tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990
thì: “di sản bao gồm tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại”7 Hiện tại BLDS năm 2015, saunhiều năm được điều chỉnh, thay đổi, tại Điều 612 đã quy định về di sản như sau:
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” Theo đó vấn đề di sản đã nói đến tài sản, tài sản theo
quy định tại Điều 105 BLDS 2015 thì:
“ 1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Theo quy định trên thì tài sản bao gồm có bất động sản và động sản, BLDS
2015 đã nêu bất động sản bao gồm có đất đai8 Do đó đất đai cũng là tài sản đượcpháp luật công nhận trên cơ sở chứng nhận QSDĐ cho một ai đó, nên thừa kếQSDĐ là việc chuyển QSDĐ (hay còn gọi là di sản thừa kế) của người chết để lại
có di chúc hoặc không có di chúc sang cho người được hưởng thừa kế theo quy địnhcủa pháp luật Dân sự và Luật Đất đai
1.1.2 Đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất
Theo quy định của BLDS 2015 về thừa kế thì ngoài những đặc điểm chung
7
7 Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh về thừa kế ngày 30/8/1990.
8 Khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015.
Trang 16so với những quy định thừa kế đối với các loại di sản khác như những người thamgia vào quan hệ pháp luật này có mối quan hệ huyết thống với nhau như cha, mẹ,con, anh, chị, em hoặc quan hệ hôn nhân vợ, chồng hay quan hệ nuôi dưỡng nhưcha, mẹ nuôi, con nuôi Thừa kế QSDĐ còn có các đặc điểm riêng:
- Thừa kế QSDĐ vừa tuân theo các quy định về thừa kế tài sản nói chungvừa tuân theo quy định của LĐĐ, bởi QSDĐ là một dạng tài sản đặc biệt9
- Đối với loại di sản thừa kế là QSDĐ này thì người được hưởng di sản chỉ
có quyền được đứng tên quyền sử dụng mà không sở hữu di sản này10
- Về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: theo quy định của BLDS 2015 thìthời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản (QSDĐ) là 30 năm, nhưvậy so với các loại di sản khác (động sản) thì thời hiệu yêu cầu chia di sản là 10năm thì thời hiệu đối với việc yêu cầu chia di sản QSDĐ là dài hơn gắp 3 lần Nếuhết thời hạn này thì di sản thuộc quyền sở hữu của người chiếm giữ hoặc nếu không
có người chiếm giữ thì thuộc về nhà nước
- Về hình thức: Thừa kế QSDĐ cũng là một hình thức chuyển QSDĐ nhưng
sự chuyển dịch này là từ người chết sang cho người còn sống vào thời điểm mởthừa kế và được xem là một hành vi pháp lý đơn phương (lập di chúc) Thông qua
di chúc, người để lại di sản thực hiện một hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ýchí của mình không phụ thuộc vào ý chí của người thừa kế Còn trong các trườnghợp chuyển QSDĐ khác thì việc chuyển QSDĐ là một giao dịch dân sự được thựchiện dựa trên cơ sở hợp đồng dân sự có sự thoả thuận của các bên tham gia (các bênđều còn sống khi thực hiện việc chuyển QSDĐ)
- Người được nhận di sản thừa kế QSDĐ có phạm vi hẹp hơn so với ngườinhận di sản thừa kế tài sản thông thường khác Đối với trường hợp thừa kế tài sảnthông thường khác thì hầu hết cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể nhận di sản thừakế.Tuy nhiên, trong quan hệ thừa kế QSDĐ thì pháp luật quy định đối tượng nhận
di sản thừa kế hạn chế hơn Cụ thể, đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam
9
Khoản 1 Điều 54 Hiến pháp năm 2013.
10 Điều 4 LĐĐ năm 2013.
Trang 17định cư ở nước ngoài chỉ được hưởng di sản QSDĐ khi đáp ứng theo quy định tạiLĐĐ năm 201311.
- Đăng ký với cơ quan chức năng để được QSDĐ là điều kiện bắt buộc đốivới loại di sản là QSDĐ12
1.1.3 Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Tranh chấp theo từ điển tiếng việt là giành nhau cái chưa rõ thuộc về ai.13
Tranh chấp chính là là sự bất đồng, mâu thuẩn hay xung đột về lợi ích, để giải quyếtvấn đề này thì cần chủ thể có thẩm quyền áp dụng những biện pháp khác nhau đểgiải quyết xung đột, mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên thamgia trong quan hệ tranh chấp14.Tranh chấp thừa kế QSDĐ là một trình trạng xungđột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa những người có liên quan đến di sản thừa kế làQSDĐ
Tranh chấp thừa kế QSDĐ gồm một số dạng tranh chấp phổ biến như: tranhchấp yêu cầu chia di sản thừa kế QSDĐ theo di chúc hoặc theo pháp luật; tranhchấp yêu cầu xác nhận quyền thừa kế QSDĐ cho mình hoặc bác bỏ người khác;tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại mà tài sản thực hiệnnghĩa vụ là QSDĐ nhưng phổ biến nhất là tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kếQSDĐ
Để giải quyết các loại tranh chấp này thì có nhiều phương thức để giải quyếtnhư tự thương lượng, hòa giải ở cơ sở hoặc yêu cầu Tòa án, nhưng thực tế hiện naymột trong những cách thức giải quyết được lựa chọn nhiều là bằng con đường tốtụng hay còn gọi là Tòa án
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì trong các vụ án về thừa kế tài sảnthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tuy nhiên, theo quy định của LĐĐ 2013thì thẩm quyền để có thể giải quyết tất cả các vấn đề tranh chấp đất đai hiện tại gồm
có TAND cùng với UBND Theo quy định tại Điều 136 của LĐĐ 2003 thì các cấp
11 Khoản 3 Điều 186 LĐĐ năm 2013.
12
12 Điều 95 LĐĐ năm 2013.
13 Từ điển tiếng việt - Lưu Văn Hy chủ biên - Nhà xuất bản Thanh Niên 2009.
14 Tưởng Duy Lượng - Một số vấn đề trong giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Tạp chí Toà án nhân dân Số 04/2004.
Trang 18cơ quan TAND sẽ có thẩm quyền để giải quyết tất cả những vấn đề về tranh chấpQSDĐ hiện tại mà đương sự đang có giấy Chứng nhận QSDĐ hoặc là có một trongnhững giấy tờ hiện đang được quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 5 điều 50 củaLĐĐ 2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Đối với những tranh chấp vềQSDĐ mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không
có các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 thì thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa UBND Tuy nhiên tại khoản 2 Điều 203 LĐĐ 2013 đã quy định mở rộng hơn
về điều kiện đối với trường hợp không có các loại giấy tờ quy định tại Điều 100LĐĐ 2013 vẫn có thể yêu cầu UBND hoặc Tòa án giải quyết15
Do đó nếu lựa chọn UBND giải quyết thì bằng con đường hành chính, cònnếu lựa chọn Tòa án là bằng con đường tố tụng Theo đó giải quyết tranh chấp vềchia di sản thừa kế QSDĐ là việc Tòa án có thẩm quyền theo quy định của phápluật tố tụng, áp dụng các quy định của BLDS, LĐĐ để giải quyết mâu thuẫn, xungđột, bất đồng giữa các bên tranh chấp về việc phân chia di sản thừa kế là QSDĐ dongười chết để lại theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự quy định16
1.2 Vai trò, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay
- Giải quyết tranh chấp thừa kế QSDĐ là một trong những quan hệ tranhchấp phải giải quyết hiện nay, vì thế khi giải quyết loại quan hệ tranh chấp này là vôcùng khó khăn và phức tạp, phương pháp giải quyết thông thường, hiệu quả vàmang tính cưỡng chế nhất là bằng con đường tố tụng Việc quy định một trình tự,thủ tục rõ ràng, minh bạch về thừa kế QSDĐ giúp giảm thiểu các tranh chấp về thừa
kế QSDĐ, một loại tranh chấp diễn ra phổ biến và rất phức tạp trong xã hội hiệnnay
- Giải quyết tốt vấn đề thừa kế QSDĐ sẽ góp phần củng cố sự đoàn kết tronggia đình, dòng tộc, xã hội từ đó đem lại một trật tự xã hội ổn định
15 Khoản 2 Điều 203 LĐĐ năm 2013.
16Trần Cẩm Hồng - Giải quyết tranh chấp chia thừa kế QSDĐ từ thực tiễn xét xử của TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau - Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2017 Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội.
Trang 19- Giải quyết tốt vấn đề thừa kế QSDĐ sẽ tạo điều kiện để đưa QSDĐ thamgia vào các giao lưu dân sự, kinh tế, mở ra một tiềm năng lớn của đất đai, khaithông các hoạt động liên quan tới QSDĐ (chuyển nhượng, cầm cố, cho thuê, thếchấp, góp vốn bằng giá trị QSDĐ), đó chính là động lực to lớn giúp việc sử dụngđất đai có hiệu quả tạo động lực cho việc phát triển kinh tế17.
- Ngoài những vấn đề trên việc giải quyết tốt tranh chấp thừa kế QSDĐ củaTòa án còn góp phần vào việc quản lý nhà nước với các cơ quan hành chính nhànước nói chung và lĩnh vực đất đai nói riêng Việc giải quyết tốt tranh chấp thừa kếQSDĐ còn góp phần khẳng định vị trí và vai trò của TAND trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân trong lĩnh vực đất đai18
1.3 Các dạng tranh chấp phổ biến về thừa kế quyền sử dụng đất được r
_• 2 • _ A, _• rpẠ r
giải quyết tại Tòa án
1.3.1 Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa người thừa kế theo di chúc với người thừa kế theo pháp luật
Việc tranh chấp này phát sinh do người thừa kế theo pháp luật của người đểlại di sản thấy rằng nếu di sản phân chia theo di chúc thì sẽ ảnh hưởng đến quyềnhưởng di sản theo pháp luật của họ, đồng thời người thừa kế theo pháp luật cho rằng
di chúc mà người lập để lại là không có hiệu luật pháp luật Do đó, thực chất củaviệc tranh chấp này là tranh chấp về hiệu lực của di chúc
Tình trạng này là do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng dưới đây làmột số nguyên nhân thường gặp trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền
Trang 20kiện yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật,tính xác thực của di chúc là những lý do sau:
- Người lập di chúc không theo đúng trình tự pháp luật về đất đai và luật dân
sự quy định Vì đất đai là tài sản đặc biệt, là bất động sản, do đó nếu việc lập dichúc không tuân theo trình tự thủ tục đã quy định sẽ là căn cứ để những người cóquyền lợi liên quan khởi kiện yêu cầu xác định di chúc vô hiệu Cụ thể nếu di chúcđược người để lại di sản chọn hình thức có công chứng, chứng thực nhưng khôngtuân thủ đúng quy định (không ký tên tại nơi công chứng, chứng thực ) thì sẽ bịcoi là không đúng trình tự lập di chúc
- Hình thức của di chúc không tuân thủ theo quy định pháp luật Trường hợpngười để lại di sản QSDĐ dưới hình thức di chúc bằng văn bản hay di chúc bằngmiệng Trong đó di chúc bằng văn bản có thể được thể hiện bằng nhiều phương tiệnkhác nhau như viết tay, đánh máy Tuy nhiên, dù có thể hiện dưới hình thức nào đinữa thì cũng phải đảm bảo đúng theo quy định như di chúc bằng miệng thì phải có ítnhất hai người làm chứng và xác nhận, còn di chúc bằng văn bản thì phải được viếthoặc đánh chữ trên giấy và ký tên xác nhận
- Người chứng thực, công chứng, người làm chứng không có đủ năng lựchoặc thực hiện công chứng, chứng thực không đúng trình tự luật định thì di chúccũng vô hiệu
Thứ hai, người lập di chúc không có năng lực hành vi dân sự.
Người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản yêu cầu Tòa án xácđịnh di chúc vô hiệu vì cho rằng vào thời điểm di chúc được lập, người lập di chúckhông có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Chẳng hạn vào thời điểm lập di chúcngười lập mất khả năng nhận thức hoặc thiếu sự minh mẫn, sáng suốt
Thứ ba, do thiếu tính tự nguyện của người lập di chúc
Người thừa kế theo pháp luật của người để lại theo di chúc sẽ khởi kiện tranhchấp hiệu lực của di chúc nếu thấy rằng người để lại di sản lập di chúc đó do ngườikhác lừa dối hoặc trong trình trạng bị ép buộc
1.3.2 Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau
Trang 21Di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu, đồng thời ngườilập di chúc định đoạt tài sản trong giới hạn cho phép của pháp luật thì di chúc đượccoi là có hiệu lực toàn bộ Tuy nhiên, vì những nguyên nhân nhất định nên nhiềukhi người lập di chúc đã sử dụng ngôn từ không chuẩn xác, đôi khi sai chính tả, ngữpháp nên dẫn đến nội dung di chúc không thể hiện cụ thể, rõ ràng Ngoài ra cònnhiều trường hợp họ còn dùng nhiều ngôn từ có nhiều nghĩa khác nhau, thậm chícòn dùng cả ký hiệu hoặc viết tắt, nên khi có tranh chấp thì mỗi người thừa kế họđều hiểu theo cách có lợi cho họ và mâu thuẫn nhau Khi nội dung của di chúckhông được chặt chẽ và nếu những người thừa kế không có sự nhường nhịn nhautrong việc hưởng di sản thì đương nhiên mỗi người sẽ cố tình hiểu và giải thích nộidung của di chúc theo hướng có lợi cho mình nhất Trên thực tế còn có thể xảy ratranh chấp giữa những người thừa kế, do di chúc của người để lại di sản bị hư hỏngnặng đến mức không thể xác định ai là người được hưởng và hưởng cụ thể thế nào?Hơn nữa qua thực tiễn xét xử đối với các vụ tranh chấp về thừa kế QSDĐ, trong dichúc không nói rõ diện tích hoặc có nói nhưng không nêu tứ cận, vị trí của từng kỉphần nên dẫn đến xảy ra tranh chấp.
1.3.3 Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa những người thừa kế theo pháp luật với nhau vì việc phân chia di sản không đồng đều
Truyền thống gia đình Việt Nam cho đến bây giờ vẫn phổ biến một hiệntượng là khi còn nhỏ, con cái ở chung với cha, mẹ và khi trưởng thành hoặc thoát lykhỏi gia đình để lập nghiệp hoặc lấy vợ, chồng thì ra ở riêng, nhưng cũng còn lạimột người con (thường là con trai) có thể con trai út hoặc con trai thứ ở cùng vớicha mẹ mà không ra ở riêng và sau đó cũng lấy vợ, sinh con cùng ở chung với cha
mẹ Mặc khác, do sự thiếu hiểu biết về pháp luật cũng như do tư tưởng phong kiếncòn sót lại trong ý thức hệ nên rất nhiều người cho rằng con gái đã đi lấy chồng thìkhông được hưởng di sản của bố mẹ đẻ, hoặc nếu được hưởng thì phải kém hơnphần của những người con trai được hưởng, hoặc trong các người con thì người con
út phải được hưởng nhiều hơn Các yếu tố trên là những nguyên nhân dẫn đếntranh chấp di sản thừa kế giữa những người thừa kế theo pháp luật
Trang 221.3.4 Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, do không xác định được chính xác về di sản thừa kế
Xác định chính xác di sản thừa kế một mặc sẽ bảo đảm quyền lợi của nhữngngười thừa kế (không bỏ sót di sản), mặc khác đảm bảo quyền lợi cho những chủthể khác (không xác định tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là di sản thừakế) Vì thế tranh chấp xảy ra trong những trường hợp này thường do các nguyênnhân sau: xảy ra tranh chấp giữa người có quyền sở hữu tài sản bị xác định là di sảnthừa kế với những người thừa kế do việc xác định di sản sang tài sản của người đó;tranh chấp do xác định di sản thừa kế bao gồm cả phần tài sản mà người để lại disản đã tặng cho người khác trước khi chết; tranh chấp xảy ra do không xác định disản thừa kế bao gồm cả phần tài sản mà một người được người để lại di sản tạmgiao quyền sử dụng
1.3.5 Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 615 BLDS 2015 quy định:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình
đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4 Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa
kế là cá nhân.”
Theo quy định trên điều luật đã xác định trách nhiệm của người thừa kế nóichung (theo di chúc và theo pháp luật) về việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản dongười chết để lại Tuy nhiên, trong số đó, chỉ những người hưởng thừa kế mới có
Trang 23nghĩa vụ thực hiện theo quy định này Người thừa kế sẽ không phải thực hiện nghĩa
vụ về tài sản do người chết để lại nếu họ đã từ chối nhận di sản Khi người thừa kếnhận di sản thừa kế thì họ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lạitrong phạm vi di sản nói chung và trong phạm vi phần di sản mà họ được nhận Vìvậy, bằng tài sản được hưởng thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ dongười chết để lại theo các trường hợp sau đây20:
- Nếu người chết để lại nghĩa vụ về tài sản, và không để lại di chúc hoặc có
di chúc nhưng không nói rõ ai phải thực hiện nghĩa vụ đó, thì mỗi người đượchưởng thừa kế phải thực hiện một phần nghĩa vụ tương ứng với phần mà họ đượcnhận Nếu di sản chưa chia thì sẽ dùng di sản để thực hiện nghĩa vụ và phần còn lại
sẽ chia cho người thừa kế theo di chúc tương ứng với phần họ được hưởng đã đượcxác định trong di chúc Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế phải thựchiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà họ đãđược nhận
- Nếu người để lại di sản đã giao lại một trong những người thừa kế nào đóthực hiện toàn bộ nghĩa vụ tài sản thì người thừa kế đó phải thực hiện nghĩa vụ tàisản trong phạm vi số di sản mà họ được nhận Nếu nghĩa vụ tài sản lớn hơn số disản được nhận thì phần nghĩa vụ vượt quá này sẽ do những người thừa kế khác thựchiện tương ứng với phần di sản họ được hưởng
- Nếu người để lại thừa kế xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ tài sản mà từng ngườithừa kế phải thực hiện thì mỗi người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm
20 Phạm Văn Tuyết - Lê Kim Giang: Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp - Nxb
Tư pháp Hà Nội - 2017.
Trang 24- Nếu người chết có để lại nghĩa vụ về tài sản mà di sản thừa kế đó được giảiquyết theo pháp luật và di sản chưa chia, thì trước khi chia di sản thừa kế cho nhữngngười thừa kế phải bằng di sản đó thực hiện các nghĩa vụ về tài sản do người chết
để lại Trường hợp di sản đã chia theo pháp luật cho những người thừa kế thì mỗingười thừa kế đã nhận di sản phải thực hiện một phần nghĩa vụ tài sản bằng nhaunhưng tổng giá trị nghĩa vụ tài sản mà các thừa kế phải thực hiện không vượt quátổng giá trị tài sản mà người chết để lại
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thừa kế nói chung và thừa kế QSDĐ nóiriêng là vấn đề quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc vận dụng những quy địnhpháp luật về thừa kế vào thực tiễn, nó vừa mang ý nghĩa khoa học và còn mang lạinhiều hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế QSDĐ.Mặc dù một số khái niệm, đặc trưng có liên quan đến việc giải quyết tranh chấpthừa kế QSDĐ đã được nêu trong các đề tài khoa học, những bài viết phân tích củanhiều tác giả khác nhau mang tính lý luận, nhưng cũng xoay quanh những vấn đề vềquyền để lại di sản và quyền thừa kế trong xã hội hiện nay
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định21 Mọi cá nhân đều bìnhđẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và hưởng di sản theo di chúchoặc theo pháp luật Không chỉ có cá nhân được hưởng thừa kế theo di chúc hoặctheo pháp luật mà chủ thể không là cá nhân cũng được hưởng thừa kế theo di chúc.Thừa kế QSDĐ là một trong những loại tài sản được người chết để lại cho ngườicòn sống kế thừa Để đảm bảo quyền thừa kế QSDĐ của cá nhân, tổ chức được thựchiện triệt để một cách có hiệu quả, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật nhằmtạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh tranh chấp về thừa kế QSDĐnhư BLDS, LĐĐ, Nghị quyết của HĐTP-TAND tối cao hướng dẫn giải quyết cáctranh chấp về thừa kế QSDĐ Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về thừa kếQSDĐ như BLTTDS Vì vậy, khi có phát sinh vụ án tranh chấp về thừa kế QSDĐthì cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là TAND áp dụng hệ thống pháp luật dân
sự, tập quán, tương tự pháp luật, án lệ hoặc dựa trên lẽ công bằng để đưa ra đườnglối giải quyết, thấu tình đạt lý, đem lại sự bình đẳng cho mọi cá nhân, tổ chức vàgóp phần vào công tác quản lý nhà nước nhằm ổn định trật tự xã hội, tạo được niềmtin trong quần chúng nhân dân và góp phần vào xây dựng đất nước ngày văn minh,hiện đại
CHƯƠNG 2
21
Khoản 2, Điều 32 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013.
Trang 26THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TR NH CHẤP THỪ KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒ N NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
• • 7
VÀ KIẾN NGHỊ H ÀN THIỆN 2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
TAND huyện Châu Thành có địa chỉ trụ sở tại: Khu phố 1, thị trấn ChâuThành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
- Quá trình thành lập và phát triển: TAND huyện Châu Thành được thành lập
từ năm 1976 xây dựng tọa lạc tại ấp Phước Hòa, xã Phú An Hòa, huyện Châu thành,tỉnh Bến Tre Khi đó chỉ có 03 đồng chí, 01 đồng chí Thẩm phán, 02 thư ký, lượng
án trung bình khoảng 20vụ/năm Đến nay đã 43 năm hoạt động, hiện tại đơn vị có
21 biên chế gồm: 12 Thẩm phán (01 Chánh án, 01 Phó chánh án, 01 Chánh vănphòng, 01 Phó chánh văn phòng), 07 Thư ký, 01 kế toán trưởng, 01 Kỹ thuật viên vitính, lượng án trong 3 năm gần đây trên 1.000vụ/năm (năm 2016 là 1.088, năm
2017 là 1.007 và 2018 là 1.281 vụ việc)
- Kết quả đạt được: Trong 03 năm gần đây, TAND huyện Châu Thành đãtranh thủ sự lãnh chỉ đạo của các cấp, các ngành cùng với sự đoàn kết và nỗ lựcphấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Qua đó đã đem lại những kết quảkhả quan, chất lượng của những phán quyết ngày càng được nâng lên, đảm bảo tínhpháp lý, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo được được niềm tin trongnhân dân và là nơi mang lại sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân Trong 3 năm gần đây tình hình thụ lý và giải quyết các vụ việc dân
sự, hình sự của TAND huyện Châu Thành được thể hiện qua các con số như sau:
Năm 2016, thụ lý 1.088 vụ, đã giải quyết 982 vụ, đạt tỷ lệ 90,25; Năm 2017,thụ lý 1.007 vụ, đã giải quyết 941 vụ, đạt tỷ lệ 93,44%, tăng 3,19% so với năm 2016(93,44/90,25%); Năm 2018, thụ lý 1.267 vụ, đã giải quyết 1.216 vụ, đạt tỷ lệ95,97%, tăng 2,53% so với năm 2017 (95,97/93,44%).22
22
Báo cáo tổng kết công tác xét xử của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre các năm 2016,
2017, 2018.