Công trình xây dựng là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị đặc biệt lớn, thời gianhoàn thành kéo dài nên việc thực hiện hợp đồng xây dựng chịu tác động về bối cảnh trongtương lai so v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐOÀN THỊ THU CÚC
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN
• • • •
CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VIỆT NAM
• •
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
• • • •
Trang 2TP.HỒ CHÍ MINH - 2020 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐOÀN THỊ THU CÚC
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN
• • • •
CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VIỆT NAM
Trang 3TP.HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tác giả, được thực hiện dưới sư hướngdẫn khoa học của PGS.TS.Dương Anh Sơn Những kết luận nghiên cứu được trình bàytrong luận văn này hoàn toàn trung thực Các tài liệu được sử dụng trong luận văn là trungthực, có nguồn gốc rõ ràng và đảm bảo được trích dẫn nguồn đầy đủ Kết quả nghiên cứutrong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
TÁC GIẢ
Đoàn Thị Thu Cúc
Trang 5NĐ 37/2015/NĐ-CP
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quyđịnh chi tiết về hợp đồng xây dựng
TT 09/2016/TT-BXD
Thông tư số 09/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của
Bộ Xây dựng hướng dẫn hợp đồng thi công xây dựng
Trang 6dẫn mẫu hợp đồng thi công xây dựng
CV 2507/BXD-VP
Công văn số 2507/BXD-VP ngày 26 tháng 11 năm
2007 Về việc công bố mẫu hợp đồng thiết kế xây dựng công trình
CV 2508/BXD-VP
Công văn số 2508/BXD-VP ngày 26 tháng 11 năm
2007 Về việc công bố mẫu hợp đồng thi công xây dựng công trình
Trang 72 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trang 9
3 Mục tiêu nghiên cứu Trang 11
4 Các câu hỏi nghiên cứu Trang 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Trang 11
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trang 12
7 Phương pháp nghiên cứu Trang 12
8 Bố cục của đề tài Trang 13CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN HỢPĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN Trang 14
1.1 QUYĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG Trang 141.1.1 Khái niệm hợp đồng xây dựng Trang 141.1.2 Đặc điểm hợp đồng xây dựng Trang 161.1.3 Hiệu lực của hợp đồng xây dựng Trang 221.2 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ
BẢN Trang 261.2.1 Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản và cơ sở xác định hoàn cảnh thay đổi cơbản Trang 261.2.2 Quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ
Trang 8bản Trang 381.2.3 Sự cần thiết của việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơbản Trang 431.2.4 Điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Trang 41Kết luận Chương 1 Trang 60CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN CẢNHTHAY ĐỔI CƠ BẢN Trang 482.1 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀNCẢNH
THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY Trang 612.1.1 Thiếu cơ sở để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản và yêu cầu đàm phán lại hợpđồng xây dựng Trang 612.1.2 Các quy định pháp luật còn bỏ ngỏ chủ thể của hợp đồng xây dựng mang yếu tố
tư nhân Trang 612.2 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNGKHI
HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN Trang 662.2.1 Một số giảipháp hoàn thiện các quy định pháp luật Trang 662.2.2 Một số giảipháp khác Trang 69Kết luận Chương 2 Trang 72KẾT LUẬN Trang 73TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 75
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Pháp luật hợp đồng có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam,hầu hết các giao dịch trong xã hội dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng nhu cầusinh hoạt thông thường đều liên quan đến hợp đồng Mục đích của pháp luật hợp đồnghướng đến tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên Tuy nhiên, tự do ý chí củacác bên trong hợp đồng cũng bị hạn chế khi bảo vệ trật tự công hoặc để đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp của bên thứ ba Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực ngay lậptức và ràng buộc các bên tham gia, một bên không thể tự ý sửa đổi hợp đồng nếu khôngđược bên kia đồng ý hoặc không nghiêm chỉnh tuân thủ nội dung hợp đồng Đây chính làyêu cầu cơ bản thể hiện bản chất và là nội dung chủ yếu của hợp đồng được thể hiện bởinguyên tắc Pacta Sunt Servanda
Công trình xây dựng là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị đặc biệt lớn, thời gianhoàn thành kéo dài nên việc thực hiện hợp đồng xây dựng chịu tác động về bối cảnh trongtương lai so với bối cảnh khi ký kết hợp đồng bao gồm: thay đổi về pháp luật, giá cả, chiphí nhân công, điều kiện tự nhiên, Các yếu tố này là nguyên nhân dẫn đến những rủi ro
mà các bên có thể gặp phải trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng Khi các yếu tố trênthay đổi một bên có thể viện dẫn để đề xuất điều chỉnh hợp đồng theo Điều 420 của Bộluật Dân sự? Nghiên cứu đề tài trên không chỉ mang tính thời sự mà còn là một nhu cầubức thiết trong hoạt động soạn thảo hợp đồng xây dựng
Thực tế, trong một số trường hợp việc thực hiện cứng nhắc nguyên tắc Pacta SuntServanda dẫn đến sự bất hợp lý hoặc bất công cho một trong các bên của hợp đồng Quyđịnh thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản lần đầu tiên được ghi nhận tạiBLDS 2015 tại Điều 420, được đánh giá là điểm mới và thay đổi đáng kể trong chế địnhhợp đồng của tiến trình lập pháp ở nước ta Bởi lẽ, việc một bên yêu cầu bên còn lại điềuchỉnh nội dung hợp đồng đã giao kết khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong quá trình cácbên thực hiện hợp đồng chưa từng được đề cập đến trong BLDS 1995 cũng như BLDS
2005 Vì vậy, sau hơn ba năm BLDS 2015 có hiệu lực điều luật điều chỉnh hợp đồng khi
Trang 9
Trang 10hoàn cảnh thay đổi cơ bản vẫn được các nhà nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm, bàn luậncũng như phát biểu quan điểm liên quan đến nội dung này.
Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu dành cho Điều 420 BLDS nhưng đây cũng chỉ
là quy định chung và việc vận dụng quy định này vào từng lĩnh vực cụ thể thì các nhànghiên cứu, học giả ít hoặc chưa thực sự quan tâm Việc nghiên cứu đề tài điều chỉnh hợpđồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi không chỉ mang tính thời sự mà còn hết sức cầnthiết và cấp bách, nhằm làm rõ nội dung cũng như hệ quả của quy định pháp luật tronghoạt động xây dựng mà còn là nền tảng để tìm hiểu thêm thực tiễn vận dụng quy địnhpháp luật này có xuất hiện những hạn chế, bất cập
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản không phải là vấn đề hoàn toànmới nội dung này được xem là nằm trong quy định về sửa đổi hợp đồng nói chung BLDS
2015 lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 420 “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ
bản”, trong đó quy định chi tiết điều kiện áp dụng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được
xác định rõ ràng hơn rất nhiều, vấn đề này trở thành nội dung nổi bật đòi hỏi được nhìnnhận và xem xét kỹ càng hơn trước
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu, học gải đã dành sự quan tâm đặc biệt nghiên cứuliên quan đến việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ ngay trong khoảng thờigian lấy ý kiến dự về dự thảo BLDS 2015 và kể cả khi bộ luật này có hiệu lực Một số nhànghiên cứu, học giả đã trình bày ý kiến của mình trong các bài phỏng vấn, buổi tọa đàm Không chỉ những tác phẩm được giới thiệu trong tạp chí chuyên ngành: trọng tài viên ĐỗVăn Đại của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đã giới thiệu bài tham luận về “Điềuchỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong hội thảo “Chế định hợp đồng trong
Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi” tổ chức tại Hà Nội tháng 3 năm 2015; TS Nguyễn MinhHằng & Th.S Trần Thị Giang Thu - Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội có bài viết
“Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồngkhi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” đăng trên trang thongtinphapluatdansu.edu.vn; Luật giaNguyễn Thị Thúy Hường đã có bài viết “Nghiên cứu hậu quả pháp lý liên quan đến quyền
Trang 10
Trang 11và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng, chủ thể thứ ba ngoài hợp đồng khi xuấthiện sự kiện khách quan được cho là thay đổi cơ bản của hoàn cảnh trong quá trình thựchiện hợp đồng, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề này trong Bộluật dân sự (BLDS) năm 2015” đăng trên tạp chí Tòa án ngày 02/05/2019; Học viên TrầnHồng Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã thực hiện luận văn Thạc sĩ Luật học với đềtài “Thực hiện hợp đồng dân sự khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” năm 2016, Học viênNguyễn Ngọc Trâm (Trường Đại học Kinh tế - Luật) đã nghiên cứ luận văn Thạc sĩ Luật
đề tài “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” năm 2018 Những công trìnhtrình nghiên cứu trên không chỉ giới thiệu nội dung mới của pháp luật mà còn phân tíchảnh hưởng của quy định đó trong thực tiễn áp dụng, đồng thời có liên hệ pháp luật nướcngoài Một trong những tác phẩm tiêu biểu có giá trị tham khảo lớn khác mà người viết cóthể sử dụng là bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong phápluật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Lê Minh Hùng đăng trênthongtinphapluatdansu.edu.vn ngày 8/4/2009, ngoài ra cần đề cập đến luận án tiến sĩ củatác giả Lê Minh Hùng thực hiện năm 2010 với đề tài “Hiệu lực của hợp đồng theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam” Trong khi đó trên thế giới nghiên cứu về thực hiện hợpđồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có nguồn tài liệu tham khảo phong phú
Với số lượng tài liệu, bài viết, bài nghiên cứu về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnhthay đổi cơ bản trên thế giới và tại Việt Nam khá nhiều, các tài liệu liên quan đến việc điềuchỉnh hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng rất ít, khá hiếm hoi Ngoài các quy định của phápluật đã có một số học giả thực hiện nghiên cứu sâu hơn về đề tài có thể kể đến Học viênNguyễn Thị Thu thực hiện luận văn Thạc sĩ Kinh tế về đề tài “Điều chỉnh giá hợp đồng thicông xây dựng cho các dự án” thực hiện năm 2016 Ngoài ra, vấn đề điều chỉnh hợp đồngxây dựng còn được Hiệp hội Quốc tế các Hiệp hội Kỹ sư Tư vấn quốc gia (FIDIC) nghiêncứu và biên soạn hợp đồng mẫu trong lĩnh vực xây dựng có quy định về điều chỉnh hợpđồng trong Quyển sách Đỏ (Red Book)
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng đến làm rõ các khía cạnh của việc thực hiện hợp đồng xây dựng
Trang 11
Trang 12khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên các quy định của pháp luật quy định về điều chỉnhhợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Từ đó, nhằm giúp các chủ thể hoạt động tronglĩnh vực xây dựng có thể hiểu đúng hơn trước khi đưa ra đề xuất điều chỉnh hợp đồng xâydựng khi điều kiện hoàn cảnh thay đổi, cụ thể là: đưa ra khái niệm điều chỉnh hợp đồngxây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, phân tích các điều kiện được sử dụng để đánh giá
sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh khiến một bên có quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồngxây dựng, cách thức điều chỉnh hợp đồng xây dựng, hệ quả của việc điều chỉnh hợp đồngxây dựng Đồng thời, luận văn muốn giới thiệu về nội dung này trong pháp luật của một sốquốc gia trên thế giới với mục đích tham khảo Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích vànghiên cứu, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liênquan đến vấn đề này
4 Các câu hỏi nghiên cứu
Luận văn lần lượt làm rõ những nội dung chính sau đây:
Điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là gì?
Vì sao cần điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản?
Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về thực hiện hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản?
Quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có vấn
đề gì cần sửa đổi?
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn có thể được xem như công trình nghiên cứu bước đầu về thực hiện hợpđồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật Việt Nam, có dẫn chiếu đếnpháp luật nước ngoài Luận văn là kết quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu công phucủa người viết nhằm lý giải cho việc:
- Sự cần thiết phải điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản;
- Các điều kiện được quy định trong pháp luật Việt Nam về điều chỉnh hợp đồng xây
Trang 12
Trang 136 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứ về nội dung liên quan đến việc thực hiện hợp đồng xây dựngkhi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, được ký kết giữa các cá nhân, tổ chức với nhau trong thựchiện một số hoặc toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng với trong đó một trong cácbên của hợp đồng là cá nhân, pháp nhân hoạt động chuyên nghiệp trong hoạt động xâydựng Luận văn chủ yếu tập trung vào khía cạnh điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi hoàncảnh thay đổi cơ bản, dựa vào điều 420 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Thực hiện hợpđồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” và các quy định chung về chế định hợp đồng xâydựng trong pháp luật Việt Nam hiện hành Luận văn không đề cập đến trường hợp điềuchỉnh nội dung hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ở giai đoạn báo giátrước khi hợp đồng được ký kết, hay nói cách khác là trong quá trình các bên vẫn cònthương thảo, đàm phán các điều khoản nhằm soạn thảo, hoàn thiện nội dung hợp đồng
7 Phương pháp nghiên cứu
Người viết vận dụng phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh luật học để tìmhiểu các quy định của các nước trên thế giới quy định như thế nào về việc điều chỉnh hợpđồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản để từ đó so sánh với pháp luật Việt Namhiện hành nhằm chỉ ra những mặt hạn chế của pháp luật Việt Nam và đề xuất những điểmmới, tiến bộ mà theo quan điểm người viết nên được bổ sung thêm vào quy định pháp luậthiện hành quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Việt Nam
Ngoài ra, người viết dựa trên vào phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,đồng thời tổng hợp lại các phương pháp đã nêu trên nhằm phân tích thực trạng thực hiện
Trang 13
Trang 14hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh tại Việt Nam để chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trênthực tế của các chủ thể trong hợp đồng xây dựng Họ khó, chưa thể thể vận dụng quy địnhpháp luật để đề xuất điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi theo chủ thể đó là cơbản Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây bất lợi cho chủ thể đó vì vậy người viết đềxuất nên sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật trong hoạt động thực hiện hợp đồng xâydựng khi hoàn cảnh thay đổi phù hợp với thực tiễn và quy định pháp luật các nước.
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, những công trình liên quan đến luận văn đã đượccông bố, danh mục tài liệu tham khảo Kết cấu của luận văn thạc sỹ luật học với đề tài
“Thực hiện hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Dân sự Việt Nam” này gồm hai chương:
CHƯƠNG 1: Lý luận chung về hợp đồng xây dựng và thực hiện hợp đồng xâydựng khi hoàn cảnh thay đổi
CHƯƠNG 2: Thực tiễn thực hiện hợp đồng xây dựng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Trang 14
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN
1.1 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
1.1.1 Khái niệm hợp đồng xây dựng
Hoạt động xây dựng giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, là lực lượng tạo
ra tài sản cố định, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các lĩnh vực khác phát triểnnhằm hướng đến mục tiêu chung thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Lĩnhvực xây dựng bao gồm nhiều hoạt động: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xâydựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xâydựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác
sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xâydựng công trình1 Hợp đồng xây dựng là văn bản pháp lý, công cụ giúp Bên Giao thầuquản lý hoạt động của Bên Nhận thầu, hợp đồng khi được giao kết đã xác lập quan hệ và
có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các chủ thể trong việc thực hiện các hoạt động xây dựngnhằm thỏa mãn các lợi ích mà các bên hướng tới Các bên được “tự do” thỏa thuận cácđiều khoản trong hợp đồng xây dựng, pháp luật tôn trọng ý chí, sự tự do thỏa thuận cácbên tuy nhiên sự tự do thỏa thuận ấy phải được “giới hạn” trong “khuôn khổ” phù hợp vớilợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng
Tại các nước phát triển, luật xây dựng hình thành rất sớm ở Pháp năm 1607 đã cóquy định nhà phố phải thẳng hàng, năm 1852 thành phố Paris ra quy định về giấy phép xâydựng Từ đó luật xây dựng được hình thành trên cơ sở các quy định pháp luật về an toàn,
vệ sinh, mỹ quan của công trình xây dựng và các mối quan hệ xã hội trong hoạt động xâydựng2
1Khoản 21, Điều 3, Luật Xây dựng 2014.
2TS.Phạm Sỹ Liêm, (2013), “Tổng quan pháp luật xây dựng quốc tế và luật xây dựng nước ta”,
Trang 16Pháp luật mỗi quốc gia đều có những quy định về hợp đồng xây dựng tuy nhiên, cómột tổ chức là cơ quan đại diện quốc tế lớn nhất được thành lập bởi các hiệp hội quốc giacủa các kỹ sư tư vấn đến từ hơn một trăm nước trên toàn thế giới được gọi là Liên đoànquốc tế về kỹ sư tư vấn (thường được gọi là FIDIC) đã đưa ra các quy định chung về cáchình thức, tiêu chuẩn đầu tiên của hợp đồng xây dựng FIDIC (Sách Đỏ) ấn bản đầu tiênnày được xuất bản năm 1957 Kể từ đó tới nay, Hợp đồng xây dựng của FIDIC đã được táibản nhiều lần, theo ấn bản mới nhất năm 2017 định nghĩa hợp đồng trong hoạt động xây
dựng: “Hợp đồng” là Thỏa thuận Hợp đồng, Thư Chấp thuận, Đơn Dự thầu, Điều kiện
Chung này, Chỉ dẫn kỹ thuật, Bản vẽ, Bản danh mục và các tài liệu khác (nếu có) được liệt
kê trong Thỏa thuận Hợp đồng hoặc trong Thư Chấp thuận 3
Luật Hợp đồng của nước Cộng Hòa Nhân Trung Hoa năm 1997, Điều 269 định
nghĩa hợp đồng đối với các công trình xây dựng: “Một hợp đồng đối với các công trình
xây dựng là một hợp đồng theo đó nhà thầu thực hiện việc xây dựng công trình và chủ công trình xây dựng trả tiền Hợp đồng đối với các công trình xây dựng bao gồm cả các hợp đồng khảo sát, thiết kế và xây dựng” 4
Pháp luật Việt Nam về hợp đồng xây dựng tuy đã có quy định điều chỉnh nhưngtương đối mờ nhạt chỉ đến khi khi NĐ 99/2007/NĐ-CP và TT 06/2007/TT-BXD ra đời thìnhững vấn đề của hợp đồng xây dựng mới được điều chỉnh một cách cụ thể, chi tiết hơn.Cột mốc quan trọng nhất của thời điểm này chính là việc Bộ Xây dựng ban hành hai quyếtđịnh quan trọng để hướng dẫn về hợp đồng xây dựng đó Công văn 2507/BXD-VP công bốmẫu hợp đồng thiết kế xây dựng công trình và Công văn 2508/BXD-VP công bố mẫu hợpđồng thi công xây dựng công trình Để chính thức hoá việc quy định về hợp đồng xâydựng NĐ 48/2010/NĐ-CP và TT 09/2011/TT-BXD cũng giới thiệu để đề cập và điều chỉnhriêng biệt về mẫu hợp đồng xây dựng khỏi các vấn đề về quản lý dự án xây dựng Sau khiLuật Xây dựng 2014 ra đời, Chính phủ và Bộ Xây dựng đã kế thừa những quy định trước
đó về hợp đồng xây dựng để ban hành Nghị định 37/2015/NĐ-CP và gần nhất là Thông tư
http://www.vncold.vn/Web/Content.aspx?distid=3360, truy cập ngày 20/07/2020.
3 https://fidic.org/about-fidic
4 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2018/04/18/luat-hop-dong-nuoc-cong-ho-nhn-dn-trung-hoa, truy cập ngày 09/11/2020.
Trang 1709/2016/TT-BXD để quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng5.
Luật Xây dựng 2014 chỉ dành một phần nhỏ để đề cập vấn đề hợp đồng xây dựng(các Điều từ 138 tới Điều 147) Hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng (hợp đồng xây dựng)
về cơ bản được xác định là một loại hợp đồng dân sự Điều này có nghĩa việc thiết lập(giao kết) và thực hiện hợp đồng xây dựng sẽ căn cứ nguồn luật cơ bản đó là BLDS 2015.Ngoài ra, khi giao kết và thực hiện hợp đồng xây dựng các bên còn phải lưu ý tới nhữngđặc thù của lĩnh vực xây dựng, chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Xây dựng 2014 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành Bởi vậy, sẽ không có nhiều trường hợp Luật Thương mại
2005 được viện dẫn và áp dụng trực tiếp cho các vấn đề phát sinh của hợp đồng xây dựngnếu như phát sinh đó không chịu sự điều chỉnh của hai nguồn luật nêu trên, hoặc LuậtThương mại 2005 được tham chiếu đến như là quy phạm áp dụng trực tiếp6
Khái niệm Hợp đồng xây dựng“Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa
thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn
bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng” 7 Theo đó, các thỏa thuận trong Hợp đồngxây dựng được coi là “pháp luật thứ hai” mà các bên đã xác lập và phải tuân thủ Khi Hợpđồng xây dựng có hiệu lực, các bên đã tự ràng buộc mình về những nghĩa vụ pháp lý nhấtđịnh và phải nghiêm túc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận những nội dung đãcam kết Trường hợp không tận tâm thực hiện nghĩa vụ sẽ phải gánh những hệ quả pháp lýnếu vi phạm các cam kết, thỏa thuận đồng thời chịu các hình thức chế tài theo quy địnhcủa hợp đồng, quy định pháp luật
1.1.2 Đặc điểm Hợp đồng xây dựng
Trong các hoạt động của lĩnh vực xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng công trình
là một trong những giai đoạn cơ bản và quan trọng của quá trình đầu tư xây dựng Đây làgiai đoạn bao gồm tập hợp các hoạt động với những công việc được triển khai trên thực tếnhằm biến những ý tưởng ban đầu của dự án đầu tư xây dựng công trình thành hiện thực8
5 http://vietnamlawinsight.file.wordpress.com
6Lê Nết, 2020, “Sổ tay luật sư - Chương 6 Tư vấn lĩnh vực xây dựng”, tri.
7Khoản 1, Điều 138, Luật Xây dựng 2014.
8Khoản 1, Điều 89, Luật Luật Xây dựng 2014 quy định: “Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải
có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này”.
Theo Điều 90, Luật Luật Xây dựng 2014 quy định nội dung chính của giấy phép xây dựng gồm: Tên công trình thuộc
Trang 18Trong đó thi công xây dựng bao gồm “xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trìnhxây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành côngtrình, bảo trì công trình xây dựng”9 Kết quả đạt được của hoạt động này các sản phẩm xâydựng được hình thành với tính chất tài sản cố định, có thể đưa vào khai thác, sử dụng mộtcách hiệu quả theo các yêu cầu đã đặt ra.
Các sản phẩm xây dựng có đảm bảo chất lượng theo yêu cầu hay không phụ thuộcphần lớn vào quá trình thi công xây dựng công trình Là một hoạt động mang tính đặc thù,
vì vậy việc thực hiện các công việc thi công xây dựng yêu cầu chặt chẽ về điều kiện vànăng lực của chủ thể thực hiện10
Các chủ của hợp đồng xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư xây dựng11 (Bên giao thầu)
và Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng (Bên nhận thầu) tổ chức, cá nhân có đủ điềukiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng12 khi tham gia quan hệhợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng13
Chủ đầu tư14 với tư cách là người sở hữu vốn để đầu tư xây dựng công trình trongnhiều trường hợp không thể tự mình thực hiện tất cả các công việc trong hoạt động xâydựng nêu trên Do đó Chủ đầu tư đã tiến hành lựa chọn, ký kết hợp đồng xây dựng với Nhàthầu xây dựng có trình độ chuyên môn, có năng lực kinh nghiệm và uy tín để giúp họ thực
dự án; Tên và địa chỉ của chủ đầu tư; Địa điểm, vị trí xây dựng công trình; tuyến xây dựng công trình đối với công trình theo tuyến; Loại, cấp công trình xây dựng; Cốt xây dựng công trình; Chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; Mật
độ xây dựng (nếu có); Hệ số sử dụng đất (nếu có); Đối với công trình dân dụng, công trình công nghiệp, nhà ở riêng
lẻ, ngoài các nội dung quy định nêu trên còn phải có nội dung về tổng diện tích xây dựng, diện tích xây dựng tầng 1 (tầng trệt), số tầng (bao gồm cả tầng hầm, tầng áp mái, tầng kỹ thuật, tum), chiều cao tối đa toàn công trình; Thời hạn khởi công công trình không quá 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng.
9Khoản 38, Điều 3, Luật Xây dựng 2014.
10 Điều 148, Luật Xây dựng 2014 quy định chung về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng quy định: Cá nhân trong nước hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phải có bằng cấp, chứng chỉ phù hợp với quy định pháp luật, tổ chức hoạt động xây dựng tùy theo hạng mục công trình xây dựng đáp ứng yêu cầu năng lực sẽ được
12 Xem thêm Mục 1, Mục 2 Chương IV Điều kiện hoạt động năng lực hoạt động xây dựng, Nghị định
59/2015/NĐ- CP ngày 18/06/2015.
13 Khoản 28, Điều 3, Luật Xây dựng 2014.
14 Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng quy định Chủ đầu tư gồm (Bên Giao thầu) được hiểu là Chủ đầu tư hoặc Đại diện Chủ đầu tư, Tổng thầu hoặc Nhà thầu chính.
Trang 19hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động thi công xây dựng nhằm đưa dự án, công trình vàovận hành, khai thác và sử dụng.
Phân loại hợp đồng xây dựng gồm: Tuỳ theo quy mô, tính chất, điều kiện thực
hiện của dự án đầu tư xây dựng công trình, loại công việc, các mối quan hệ của các bên,hợp đồng trong hoạt động xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau
Để phân chia hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng thành những loại khác nhau, FIDIClấy tiêu chí là “mối quan hệ” để định hình cấu trúc giao dịch (cấu trúc hợp đồng) và từ đóban hành những loại hợp đồng phù hợp Cụ thể, FIDIC dựa trên hai mối quan hệ chủ yếusau15:
Mối quan hệ thuê mướn: Trong mối quan hệ này, FIDIC chia ra thành các nhóm nhỏ
sau đây:
- Chủ đầu tư và Nhà tư vấn;
- Chủ Đầu tư và Nhà thầu;
- Nhà thầu và Nhà thầu phụ
Mối quan hệ cộng tác/Hợp tác: Hợp đồng xây dựng bao gồm mối quan hệ giữa các chủ
thể:
- Chủ đầu tư và Chủ đầu tư;
- Nhà thầu, Nhà tư vấn và Nhà thầu, Nhà tư vấn;
- Nhà thầu phụ, Nhà tư vấn phụ và Nhà thầu phụ, Nhà tư vấn phụ
Khác với cách tiếp cận nêu trên của FIDIC, ở Việt Nam việc phân chia các hợp đồng dựatrên ba tiêu chí quan trọng16 Hợp đồng xây dựng gồm:
Theo tính chất, nội dung công việc thực hiện, hợp đồng xây dựng gồm 17 :
- Hợp đồng tư vấn xây dựng (viết tắt là hợp đồng tư vấn) là hợp đồng để thực hiện một,
15 Lê Nết, 2020, “Sổ tay luật sư - Chương 6 Tư vấn lĩnh vực xây dựng”, tr16.
16 Khoản 2, Điều 140, Luật Xây dựng năm 2014.
17 Khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
Trang 20một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động đầu tư xây dựng.18
- Hợp đồng thi công xây dựng công trình (viết tắt là hợp đồng thi công) là hợp đồng
để thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việcxây dựng theo thiết kế xây dựng công trình; hợp đồng tổng thầu thi công xây dựngcông trình là hợp đồng thi công xây dựng để thực hiện tất cả các công trình của một
dự án đầu tư.19
- Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ (viết tắt là Hợp đồng cung cấp thiết bị) là
hợp đồng thực hiện việc cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theothiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồngcung cấp thiết bị cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.20
- Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ ( tiếng Anh là Engineering Construction viết tắt là EC) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và cung cấp thiết
-bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầuthiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bịcông nghệ cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.21
Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ (tiếng Anh là Engineering
-Procurement viết tắt là EP) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và cung cấp thiết
bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầuthiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bịcông nghệ cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng22
- Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh
là Procurement - Construction viết tắt là PC) là hợp đồng để thực hiện việc cung
cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợpđồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình là hợp
18 Điểm a, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
19 Điểm b, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
20 Điểm c, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
21 Điểm d, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
22 Điểm đ, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
Trang 21đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một
dự án đầu tư xây dựng.23
- Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình
(tiếng Anh là Engineering - Procurement - Construction viết tắt là EPC) là hợp
đồng để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thicông xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu EPC là hợpđồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các côngtrình của một dự án đầu tư xây dựng.24
- Hợp đồng chìa khóa trao tay là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các công
việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trìnhcủa một dự án đầu tư xây dựng25
- Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công là hợp đồng xây dựng để
cung cấp kỹ sư, công nhân (gọi chung là nhân lực), máy, thiết bị thi công và cácphương tiện cần thiết khác để phục vụ cho việc thi công công trình, hạng mục côngtrình, gói thầu hoặc công việc xây dựng theo thiết kế xây dựng.26
- Các loại hợp đồng xây dựng khác.27
Theo hình thức giá hợp đồng áp dụng, hợp đồng xây dựng gồm 28 :
- Hợp đồng trọn gói: Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời
gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng29
Giá hợp đồng trọn gói không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng đối vớikhối lượng các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp bất khảkháng và thay đổi phạm vi công việc phải thực hiện
23 Điểm e, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
24 Điểm g, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
25 Điểm g, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
26 Điểm i, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
27 Điểm k, khoản 1, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
28 Khoản 2, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
29 Điểm a, khoản 1, Điều 62, Luật Đấu thầu 2013.
Trang 22- Hợp đồng theo đơn giá cố định là hợp đồng có đơn giá không thay đổi trong suốt
thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng.30
Là hợp đồng mà giá được xác định trên cơ sở đơn giá cố định cho các công việc nhânvới khối lượng công việc tương ứng và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện
hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng.
- Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh là hợp đồng có đơn giá có thể được điều chỉnh
căn cứ vào các thỏa thuận trong hợp đồng đối với toàn bộ nội dung công việc tronghợp đồng31
Giá của hợp đồng được xác định trên cơ sở đơn giá đã điều chỉnh do trượt giá theo cácthỏa thuận trong hợp đồng
- Hợp đồng theo thời gian là hợp đồng mà giá được xác định xác định trên cơ sở mức
thù lao cho chuyên gia, các khoản chi phí ngoài mức thù lao cho chuyên gia và thờigian làm việc (khối lượng) tính theo tháng, tuần, ngày, giờ.32
- Hợp đồng theo giá kết hợp: Hợp đồng theo giá kết hợp là hợp đồng xây dựng sử dụng kết hợp các loại giá hợp đồng nêu trên.
Theo mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau 33 :
- Hợp đồng thầu chính: là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà
thầu chính hoặc tổng thầu.34
- Hợp đồng thầu phụ: là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng
thầu với nhà thầu phụ35
- Hợp đồng giao khoán nội bộ: là hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một
cơ quan, tổ chức.36
- Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài: là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một
30 Khoản 2, Điều 62, Luật Đấu thầu 2013.
31 Khoản 3, Điều 62, Luật Đấu thầu 2013.
32 Khoản 4, Điều 62, Luật Đấu thầu 2013.
33 Khoản 3, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
34 Điểm a, khoản 3, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
35 Điểm b, khoản 3, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
36 Điểm c, khoản 3, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
Trang 23bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước.37Như vậy, có thể thấy đã có sự khác biệt trong việc phân loại hợp đồng xây dựnggiữa FIDIC và Luật Xây dựng 2014 Trong khi FIDIC dựa vào các tiêu chí chung, mốiquan hệ giữa các chủ thể của hợp đồng để phân loại hợp đồng thì Luật Xây dựng 2014 cócách phân chia cụ thể, chi tiết hơn về nội dung công việc, giá của hợp đồng xây dựng Tuynhiên, một trong số các tiêu chí để phân loại hợp đồng của Việt Nam cũng đã có sự tươngđồng với FIDIC khi dựa vào mối quan hệ giữa các chủ thể của hợp đồng xây dựng để phânchia hợp đồng thành hợp đồng thầu chính, hợp đồng thầu phụ Hợp đồng xây dựng là hợp
đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực
hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng38
Mặc dù là một loại của hợp đồng dân sự tuy nhiên, Hợp đồng trong hoạt động xâydựng là một dạng hợp đồng hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố kỹ thuật, chấtlượng, tiến độ và trên thực tế các tranh chấp trong hoạt động xây dựng diễn ra thườngxuyên với diễn biến phức tạp Do đó, pháp luật quy định hợp đồng xây dựng được thể hiệndưới hình thức bằng văn bản làm cơ sở cho các bên minh thị trong suốt quá trình thực hiệnhợp đồng cũng như có giá trị chứng cứ trong hoạt động chứng minh làm cơ sở giải quyếttranh chấp
1.1.3 Hiệu lực của hợp đồng xây dựng
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là yếu tố pháp lý quan trọng để xác định thờihạn có hiệu lực của hợp đồng, một trong những mặt biểu hiện của hiệu lực hợp đồng Kể
từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh, hiệu lực ràngbuộc của hợp đồng và giá trị pháp lý của hợp đồng được pháp luật tôn trọng và bảo đảmthực hiện39
Thời gian có ý nghĩa sống còn trong hoạt động xây dựng, hoạt động xây dựng đượcxem là công việc đầu tiên và quan trọng bậc nhất trong quá trình triển khai, kinh doanh,
37 Điểm d, khoản 3, Điều 3, Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
38 Khoản 1, Điều 138, Luật Xây dựng 2014.
39 Lê Minh Hùng, (2010), “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Đại
học Luật Tp.HCM, Tr85.
Trang 24vận hành và sử dụng bất kỳ công trình hoặc dự án nào Do đó, việc xác định thời điểm cóhiệu lực của Hợp đồng xây dựng càng có ý nghĩa và cấp bách hơn trong hoạt động xâydựng, hợp đồng xây dựng có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, “Người” ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luậtDân sự 2015 bao gồm: năng lực pháp luật dân sự của tổ chức; năng lực pháp luật dân sựcủa cá nhân và năng lực hành vi dân sự của cá nhân Năng lực hành vi dân sự của “người”
- “chủ thể” ký kết hợp đồng xây dựng ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các đốitượng chịu sự điều chỉnh của Điều 2, Luật Xây dựng 2014 gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhântrong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ ViệtNam
Cá nhân: Giao dịch dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực nếu phù hợp với mức
độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định từ Điều 16 đến Điều 21 Bộ luậtDân sự 201540
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ41, trừ trường hợp họ
bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi42, tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi43, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi44 Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủđược toàn quyền xác lập mọi giao dịch dân sự
Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, khixác lập thực hiện giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừnhững giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi45 Tuy
40 Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 các điều từ Điều 16 đến Điều 21 quy định về năng lực pháp luật dân
sự của cá nhân (bao gồm năng lực pháp lực (Điều 16); nội dung năng lực pháp luật (Điều 17)), không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân (Điều 18) và năng lực hành vi dân sự của cá nhân (gồm năng lực hành vi dân sự của các nhân (Điều 19); người thành niên (Điều 20); người chưa thành niên (Điều 21)).
41 Khoản 1, Điều 20, Bộ luật Dân sự 2015.
42 Điều 22, Bộ luật Dân sự 2015.
43 Điều 23, Bộ luật Dân sự 2015.
44 Điều 24, Bộ luật Dân sự 2015.
45 Điều 21, Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 25nhiên, có thể nói các chủ thể này thường ít khi tham gia các giao dịch liên quan đến việc
ký kết hợp đồng xây dựng do chưa có nhu cầu Chủ thể này chưa hoặc ít có tài sản lớn đểđầu tư xây dựng các công trình, họ chỉ tham gia các giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu thiếtyếu của cuộc sống, các giao dịch khác trong đó có hoạt động ký kết hợp đồng xây dựngthực hiện chủ yếu thông qua người đại diện
Cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước: Các chủ thể này tham gia ký kết hợp đồng
xây dựng thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật, theo uỷ quyền)46.Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch nhân danh người được đại diện Các quyền,nghĩa vụ do người đại diện xác lập làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức47.Người đại diện xác lập giao dịch làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức trongphạm vi nhiệm vụ của chủ thể đó được điều lệ hoặc pháp luật quy định
Thứ hai, bảo đảm các nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 của Luật Xây dựng);
Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội 48 : Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và
bày tỏ ý chí, cho nên “tự nguyện” bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ýchí Sự tự nguyện của một bên (hành vi pháp lí đơn phương) hoặc sự tự nguyện của cácbên trong một quan hệ dân sự (hợp đồng) là một trong các nguyên tắc được quy định tạiĐiều 3 BLDS 2015: “Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận”
Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội: Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn
đạt được khi xác lập giao dịch đó49 (mục đích thực tế) Nội dung của giao dịch dân sự làtổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận trong giao dịch Mục đích và
46 Điều 85, Bộ luật Dân sự 2015.
47 Theo Khoản 1, Điều 87, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân” Như vậy, người đại diện của cơ quan, tổ chức thực hiện giao dịch làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện khi nhân danh người được diện Trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch không nhân danh người được đại diện sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cơ quan.
48 Điểm a, Khoản 2, Điều 138, Luật Xây dựng.
49 Điều 118, Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 26nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau Để giao dịch dân sự có hiệu lực phápluật thì mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không tráiđạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phépchủ thể thực hiện những hành vi nhất định50 Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xửchung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôntrọng51.
Bên nhận thầu phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề xây dựng theo quy định của Luật này 52 : Tại thời điểm ký kết hợp đồng bên nhận thầu phải đáp
ứng điều kiện năng lực hành nghề, năng lực hoạt động theo quy định của pháp luật về xâydựng Trường hợp bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thỏa thuận liên danh.Các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác53 Đối với nhà thầu chính nước ngoài, phải có camkết thuê thầu phụ trong nước thực hiện các công việc của hợp đồng dự kiến giao thầu phụkhi các nhà thầu trong nước đáp ứng được yêu cầu của gói thầu
Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm cụ thể khác do các bên hợp đồng thỏa thuận Theo Điều 400 BLDS 2015
nếu pháp luật không có quy định khác và các bên không có thỏa thuận thời điểm phát sinhhiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thờiđiểm giao kết nhưng các bên có thể thỏa thuận hợp đồng phát sinh hiệu lực tại một thờiđiểm khác nhưng không được trái pháp luật hoặc trái với bản chất của hợp đồng
Bản chất hợp đồng xây dựng là một hợp đồng dân sự nên thời điểm có hiệu lực củahợp đồng dân sự về nguyên tắc phải phù hợp với quy định của pháp luật dân sự54 tuy
nhiên, theo quy định của pháp luật trong hoạt động xây dựng: “Thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm cụ thể khác do các bên
50 Điều 123, Bộ luật dân sự 2015.
51 Điều 123, Bộ luật dân sự 2015.
52 Xem thêm Nghị định 59/2015/NĐ-CP, Chương IV Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Mục 1 Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của cá nhân; Mục 2 Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức.
53 Điểm d, Khoản 2, Điều 138, Luật Xây dựng.
54 Khoản 1, Điều 401, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của hợp đồng: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”.
Trang 27Như vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợpđồng (đóng dấu nếu có) hoặc thời điểm cụ thể khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồngxây dựng Đối với hợp đồng có quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng của bên nhậnthầu thì bên giao thầu đã nhận được đảm bảo thực hiện hợp đồng của bên nhận thầu.
1.2 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI
CƠ BẢN
1.2.1 Khái niện hoàn cảnh thay đổi cơ bản và cơ sở xác định hoàn cảnh thay đổi cơbản
1.2.1.1 Khái niện hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Bản chất của hiệu lực hợp đồng chính là sự ràng buộc như pháp luật đối với các bên
kể từ thời điểm ký kết hợp đồng một bên không được tự ý sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặcthay thế bất kỳ nội dung nào của hợp đồng khi chưa đạt được sự thỏa thuận, thương lượngvới bên còn lại Hiệu lực ràng buộc của hợp đồng không phải hoàn toàn bất biến, bởi lẽ
việc thực hiện hợp đồng “ngày càng mang tính chất của một quá trình” và “hàm chứa
nhiều loại rủi ro” đặc biệt là đối với các hợp đồng xây dựng dài hạn Chịu sự ảnh hưởng từ
tình hình biến động về chính trị, kinh tế của thế giới đã tác động không nhỏ đến nền kinh
tế nước ta khiến cho chi phí đầu vào của hoạt động xây dựng thay đổi này đã ảnh hưởngđến kinh phí xây dựng các công trình Những rủi ro này không chỉ đến từ các yếu tố xãhội, kinh tế, chính sách, chính trị, mà còn chịu sự tác động của các yếu tố: thiên nhiên, kỹthuật, thông tin, thậm chí là rủi ro về con người, làm đảo lộn sự cân bằng vốn có của hợpđồng, khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tuy vẫn có thể nhưng trở nên rất
55 Khoản 2, Điều 139 Luật xây dựng năm 2014
Trang 28khó khăn, tốn kém, thậm chí không thể thực hiện được Trong những hoàn cảnh như vậy,Luật hợp đồng cổ điển sử dụng cơ chế cho phép chấm dứt hợp đồng dựa trên điều khoảnbất khả kháng56 Tuy nhiên, càng về sau với sự diễn biến sinh động, phức tạp của thực tiễn,người ta thấy rằng, cơ chế này không còn thích hợp để giải quyết nhiều vấn đề được đặt ra
từ thực tiễn vì điều kiện để một sự kiện khách quan được công nhận là sự kiện bất khảkháng thì quá “nghiêm ngặt”, mà hậu quả pháp lý của nó thì lại quá cực đoan do được thựchiện theo cơ chế hoặc “được tất cả”, hoặc là “không có gì” Trong nhiều trường hợp, cáchgiải quyết như vậy không bảo đảm sự công bằng và các bên vẫn muốn tiếp tục thực hiện,duy trì hiệu lực của hợp đồng bằng cách thỏa thuận điều chỉnh nội dung hợp đồng nhằmthiết lập lại vị thế cân bằng bị mất đi do hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Theo TS Lê Minh Hùng: “Để có cơ chế thích hợp hơn trong việc giải quyết tình thếkhó khăn, vừa bảo vệ hiệu lực hợp đồng, vừa bảo đảm lợi ích các bên, nhằm phân chia hợp
lý rủi ro và tái lập sự cân bằng của hợp đồng, các nhà kinh doanh thương mại quốc tếthường đưa vào hợp đồng của họ một điều khoản cho phép bên gặp khó khăn đặc biệt đượcyêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng”, với các tên gọi khác nhau như điều khoản tìnhthế đặc biệt khó khăn (hardship), hay sự thay đổi hoàn cảnh (change of circumstances).Việc này đã giúp cho họ kiểm soát tốt các rủi ro, cũng như quản lý có hiệu quả các quan hệhợp đồng trong hoạt động kinh doanh của mình57
Vì được sử dụng có hiệu quả trong thực tiễn thương mại quốc tế, điều khoản nóitrên đã được chấp nhận và tiếp thu trong thực tiễn xét xử, được pháp điển hóa thành cácqui định cụ thể trong pháp luật của nhiều nước và cũng được đưa vào các bộ qui tắc về hợpđồng thương mại quốc tế, mà điển hình là Bộ Nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thươngmại quốc tế và Những nguyên tắc chung của Luật Hợp đồng châu Âu58
Ở Việt Nam, mặc dù đã có quy định về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
56 Lê Minh Hùng, (2010), “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Đại
Trang 29cơ bản”59 nhưng cơ chế cho phép sửa đổi hiệu lực, điều chỉnh nội dung hợp đồng khi hoàncảnh thay đổi như trên đây vẫn chưa được biết đến một cách sâu rộng trong thực tiễn pháp
lý cũng như trong hoạt động của đời sống xã hội đặc biệt trong hoạt động xây dựng Lĩnhvực luôn bị ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, chính sách trên thếgiới và mỗi quốc gia tác động đến giá các nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công.Trong bối cảnh nêu trên và xu thế hội nhập của nước ta trên trường quốc tế việc BLDS
2015 ghi nhận nguyên tắc “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” (hardshiphay change of circumstances) trở thành một điều khoản của bộ luật là hợp lý Lý thuyết về
“thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” (lý thuyết về “hardship”) là một quyđịnh được “du nhập” từ các hệ thống pháp luật hiện đại
Khái niệm hoàn cảnh thay đổi: thường thì khái niệm hoàn cảnh thay đổi được xácđịnh dựa trên hai yếu tố cơ bản để điều khoản này ra đời, đó là sự xuất hiện của các sự kiệnkhách quan ngoài ý chí và ngoài sự dự liệu của các bên, sau khi xác lập hợp đồng, mà hậuquả của nó là làm thay đổi cơ bản sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng (điểnhình như cách tiếp cận của PICC).60
Hardship ra đời trên cơ sở hai nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng, đó lànguyên tắc Pacta sunt servanda và nguyên tắc thiện chí
Hardship - một ngoại lệ của nguyên tắc Pacta sunt servanda: Pacta sunt servanda
(nguyên tắc về tính chất ràng buộc của hợp đồng) được hiểu là nếu đã giao kết hợp đồngthì các bên phải thực hiện hợp đồng đó nhằm đảm bảo vệ quyền lợi của các bên khi giaokết hợp đồng và ngăn chặn các trường hợp mà một bên kí kết hợp đồng không thiện chí vàmuốn đơn phương từ bỏ, chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên, thực tiễn ghi nhận những trườnghợp mà hoàn cảnh để thực hiện hợp đồng có sự thay đổi đáng kể so với hoàn cảnh khi kíkết hợp đồng Trong những trường hợp như vậy, việc áp dụng cứng nhắc nguyên tắc Pactasunt servanda ràng buộc các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đúng theo hợp đồng
đã kí đã đi ngược lại với chính tinh thần của nguyên tắc này, đó là đảm bảo cho việc thực
59 Lần đầu tiên tại Việt Nam, điều khoản “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi đổi cơ bản” được quy định chi tiết, cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 420.
60 Lê Minh Hùng, (2010), “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Đại
học Luật Tp.HCM, Tr159.
Trang 30hiện hợp đồng được công bằng và bảo vệ quyền lợi cho các bên, khi mà, một bên dù không
có lỗi nhưng lại phải gánh chịu thiệt hại một cách vô lý61
Trong trường hợp này, bất khả kháng không thể được áp dụng bởi lẽ điều kiện ápdụng bất khả kháng: xảy ra sự kiện khách quan, không lường trước được khiến cho mộtbên không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng, từ đó đặt ra hướng xử lý là cho phépcác bên chấm dứt hợp đồng và được miễn trách nhiệm Tuy nhiên, hardship khiến cho việcthực hiện hợp đồng tuy là vẫn có thể, nhưng khó khăn, tốn kém hơn và khiến cho bên cónghĩa vụ phải chịu những tổn thất nằm ngoài dự tính ban đầu Trong trường hợp khi cácbên vẫn còn mong muốn tiếp tục duy trì hiệu lực để thực hiện hợp đồng nhằm hướng đếnmục đích ban đầu khi giao kết hợp đồng, đặc biệt là đối với những hợp đồng dài hạn, sẽ làkhiên cưỡng, gượng ép và không mang lại lợi ích cho các bên khi áp dụng điều khoản bấtkhả kháng cho những trường hợp này62
Để mềm dẻo hóa việc vận dụng nguyên tắc Pacta sunt servanda, cũng như bù đắp lỗhổng mà điều khoản bất khả kháng không thể điều chỉnh được, các nhà lập pháp đã xâydựng một ngoại lệ cho nguyên tắc Pacta sunt servanda, đó là trường hợp hardship Nguyêntắc Pacta sunt servanda và lý thuyết về hardship không đối lập mà bổ sung cho nhau, nhằmhoàn thiện và tạo ra bộ khung pháp lý mềm dẻo, hợp lý cho các giao dịch dân 63
sự63.
Quy định về hardship tại Mục 2 Chương 6 PICC (Bộ nguyên tắc Unidroit về hợpđồng thương mại quốc tế) và “sự thay đổi của hoàn cảnh” (change of circumstances) tạiĐiều 6:111 PECL (Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng), có thể thấy, cả PICC và PECLđều khẳng định lý thuyết về hardship cần được nhìn nhận và áp dụng như một ngoại lệ củanguyên tắc Pacta sunt servanda PICC dành nguyên một điều đầu tiên của mục HardshipĐiều 6.2.1 để quy định về nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng của các bên, ngay cả khi một bên
61Theo TS Nguyễn Minh Hằng, Ths.Trần Thị Thu trong bài nghiên “Đề xuất diễn giải và áp dụng điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản" ngày 13/8/2017 đăng trên trang thongtinphapluatdansu.edu.vn, truy cập ngày 12/11/2020.
62 Lê Minh Hùng, 2015, Điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi - thực trạng pháp luật Việt Nam và dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi, Kỷ yếu hội thảo hoàn thiện dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi, tr 90.
63 Theo TS Nguyễn Minh Hằng, Ths.Trần Thị Thu trong bài nghiên “Đề xuất diễn giải và áp dụng điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản" ngày 13/8/2017 đăng trên trang
thongtinphapluatdansu.edu.vn, truy câp ngày 12/11/2020.
Trang 31gặp phải hoàn cảnh làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên tốn kém và khó khăn hơn, chỉtrừ các trường hợp hardship Còn Điều 6:111 PECL cũng dành khoản đầu tiên quy địnhtương tự: “Mỗi bên phải hoàn thành các nghĩa vụ của mình, ngay cả khi việc thực hiện hợpđồng trở nên tốn kém hơn, do chi phí thực hiện tăng hoặc do giá trị của khoản thanh toángiảm” Điều này cho thấy các nhà lập pháp đề ra các giới hạn rất thận trọng trong việc ápdụng các quy định về hardship, theo đó, quy định về hardship chỉ nên được coi là mộtngoại lệ của nguyên tắc Pacta sunt servanda và phải được áp dụng hết sức hạn chế64.
Bộ luật Dân sự Italy năm 1942 đã có quy định buộc các bên đàm phán lại hợp đồngkhi hoàn cảnh thay đổi Cơ chế này sau đó đã ảnh hưởng tới một số hệ thống pháp luậtkhác trên thế giới như Hà Lan, Đức và đặc biệt là các nước Mỹ Latinh.65
Điều 313 Bộ luật Dân sự Đức (Burgerliches Gesetzbuch - BGB bản sửa đổi năm2002) quy định rằng khi hoàn cảnh thay đổi nghiêm trọng tới mức làm mất đi căn cứ của
nó (Wegfall der Geschaftsgrundlage) thì bên bị ảnh hưởng bất lợi được yêu cầu bên kiađiều chỉnh hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng66
Tại Hà Lan, Bộ luật Dân sự năm 1992 (Điều 6.258) quy định: “Tòa án có thể, dựatheo lý chí và lẽ công bằng, điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng, hoặc chấm dứt một phầnhoặc toàn bộ hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi tới mức làm cho một bên không còn có thểtiếp tục thực hiện hợp đồng”67
Bộ luật Dân sự Peru năm 1984 (Điều 1432 và tiếp theo) thì lại ưu tiên việc điềuchỉnh hợp đồng Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ được tính đến khi việc tiếp tục thực hiệnhợp đồng là không thể, đồng thời quy định rằng “việc chấm dứt hợp đồng không làm ảnhhưởng đến các nghĩa vụ đã được hoàn thành”68
64 Lê Minh Hùng, (2010), “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Đại
Trang 32Theo TS Nguyễn Minh Hằng, Ths.Trần Thị Thu Điều 420 BLDS 2015 không đưa
ra một định nghĩa cụ thể về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản mà chỉ liệt
kê các điều kiện khi xảy ra sẽ được xác định là hoàn cảnh thay đổi cơ bản và các hậu quảpháp lý của việc áp dụng quy định này Điều này đã dẫn tới nhiều nghi ngại và lo sợ vềviệc lạm dụng điều khoản này, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc về tính chất ràng buộc củahợp đồng Tuy nhiên, TS Lê Minh Hùng trong luận án tiến sĩ thực hiện năm 2010 có đưa
ra định nghĩa hoàn cảnh thay đổi cơ bản Tác giả nhận thấy lần đầu tiên đã có một học giảđưa ra được một khái niệm đầy đủ về định nghĩa hoàn cảnh thay đổi cơ bản và tác giả đồng
ý với khái niệm mà học giả này đưa ra, theo đó “Khái niệm hoàn cảnh thay đổi được xác
định dựa trên hai yếu tố cơ bản để điều khoản này ra đời, đó là sự xuất hiện của các sự kiện khách quan ngoài ý chí và ngoài sự dự liệu của các bên, sau khi xác lập hợp đồng,
mà hậu quả của nó là làm thay đổi cơ bản sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng” Đây là cơ sở để, tiền để tác giả vận dụng nhằm mạn phép đưa ra định nghĩa hoàn
cảnh thay đổi của hợp đồng xây dựng ở phần tiếp theo trong luận văn này
1.2.1.2 Cơ sở xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Bộ luật Dân sự năm 2015 không có định nghĩa về việc thực hiện hợp đồng khi hoàncảnh thay đổi cơ bản mà chỉ liệt các điều kiện để chủ thể căn cứ viện dẫn để áp dụng Tuynhiên, để có thể vận dụng được quy định này đòi hỏi chủ thể vận dụng cần hiểu đúng nộihàm mà các nhà làm luật hướng đến khi ban hành quy định này Thông qua quá trìnhnghiên cứu quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi tác giả đã tìmđược bài nghiên cứu, trao đổi của các học giả Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm69diễn giải các quy định của pháp luật về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi.Theo đó:
Điểm c khoản 1 Điều 420 BLDS 2015 quy định, một trong năm điều kiện của hoàn
cảnh thay đổi cơ bản là “hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì
hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác”, đây là cơ sở, tiền đề để xác định sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh Tiếp cận từ góc
69 Xem thêm Ngô Thu Trang, Nguyễn Thé Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
Trang 33độ so sánh, bình luận chính thức của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT năm 1994 cho rằng: “nếuviệc thực hiện nghĩa vụ có thể quy đổi ra tiền, chi phí thực hiện nghĩa vụ hoặc giá trị củanghĩa vụ thay đổi từ 50% trở lên có thể được xem là thay đổi cơ bản”70 Tuy nhiên, nhậnđịnh trên không được các học giả Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm ủng hộ, bởi vì họcho rằng con số 50% được đưa ra là quá thấp và có phần tùy tiện71, tác giả đồng ý với quanđiểm trên bởi không nên quy định một tỷ lệ cụ thể để xác định như thế
nào là “hoàn cảnh thay đổi lớn” mà nên tùy vào tình hình thực tế, cụ thể của sự việc màcác bên xác định cơ sở thiệt hại (sẽ có) do hoàn cảnh thay đổi so với thực tế ký kết hợpđồng Do đó, ấn định cụ thể giá trị nghĩa vụ thay đổi từ 50% trở lên có hay không đượcxem là thay đổi lớn là phiến diện, chủ quan Việc đưa ra một tỷ lệ cố định làm cơ sở điềuchỉnh hợp đồng là cứng nhắc chưa phản ánh đúng hiện trạng thực tế.72 Thực tiễn tài phántại nhiều quốc gia cũng thể hiện rằng sự thay đổi hoàn cảnh phải rất lớn mới được xem làhoàn cảnh thay đổi cơ bản theo lẽ thường, trong hoàn cảnh tương tự như vậy một bên sẽkhông giao kết hợp đồng hoặc nếu có giao kết thì nội dung hợp đồng sẽ khác với nội dunghợp đồng đã giao kết Ví dụ, Tòa án Đức thường yêu cầu phần chi phí tăng thêm phải bằnghoặc hơn 150% chi phí ban đầu mới được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, trong khi Tòa
án Nga thường yêu cầu mức tăng từ 100% trở lên so với chi phí ban đầu73
Khoản 3 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, trường hợp các bên khôngthể thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, thì một trong các bên
có thể yêu cầu Tòa án sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên, “Tòa án chỉ được quyếtđịnh việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớnhơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” Các khái niệm “thiệt hại”
và “các chi phí để thực hiện hợp đồng” trong điều luật này chưa làm rõ Cụ thể, thiệt hại
mà việc chấm dứt hợp đồng gây ra cho bên nào sẽ được sử dụng để so sánh với các chi phí
để thực hiện hợp đồng? Có hay không hợp lý khi tính toán, áp dụng chi phí để thực hiện
70 UNIDROIT (1994), UNIDROIT Principles on International Commercial Contracts, p 147.
71 UNIDROIT (2003), Study L - Doc 85, p 15.
72 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
73 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
Trang 34hợp đồng tại thời điểm xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản với thời điểm các bên giao kếthợp đồng, bởi lẽ tại từng thời điểm tỷ lệ trượt giá, lạm phát là khác nhau Ngoài các bêntrong hợp đồng, có chăng nên tính toán đến chi phí, lợi ích của người thứ ba hay khôngcũng bị ảnh hưởng khi hợp hoàn cảnh thay đổi khiến cho việc thực hiện hợp đồng khókhăn có nguy cơ bị chấm dứt74.
Ngoài ra, cách giải quyết của Bộ luật Dân sự năm 2015 có lẽ chưa phù hợp vớinguyên tắc bảo tồn hiệu lực của hợp đồng (favor contractus) Bởi, Tòa án cần ưu tiên việcduy trì hiệu lực của hợp đồng bằng cách sửa đổi hợp đồng và chỉ khi nào việc sửa đổi hợpđồng không thể thực hiện được hoặc bất hợp lý cho bên còn lại thì Tòa án mới chấm dứthợp đồng Tiếp cận từ góc độ so sánh, mặc dù Điều 6.2.3 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT năm
2010 cũng ghi nhận hai biện pháp là chấm dứt hợp đồng và sửa đổi hợp đồng mà khôngnêu rõ thứ tự ưu tiên, tuy nhiên, khi bình luận Bộ Nguyên tắc UNIDROIT năm 2010 trongchừng mực hợp lý, biện pháp sửa đổi hợp đồng cần được ưu tiên hơn Tác giả cho rằngquan điểm trên là phù hợp, việc tòa án can thiệp vào nội dung hợp đồng theo yêu cầu củamột bên đã can thiệp đến sự tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tuy nhiên, trườnghợp này tòa án chỉ sửa đổi một phần nội dung của hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng vẫnđược bảo toàn, duy trì Phương án này có vẻ khả thi và thực hiện dễ dàng hơn trong thựctiễn hơn là việc tòa án can thiệp một cách cực đoan khi ưu tiên sử dụng phương thức chấmdứt hợp đồng mà không xét đến ý chí của các bên có hay không tiếp tục muốn duy trì hiệulực của hợp đồng và chỉ sửa đổi một phần nội dung hợp đồng cho phù hợp với thực tế vàphân bổ lại rủi ro, lợi ích của các bên cho hợp lý và phù hợp hơn75
.
Khoản 4 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trong quá trình đàm phán sửađổi, chấm dứt hợp đồng hay khi Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thựchiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Như vậy, “thỏathuận khác” là căn cứ duy nhất để một trong các bên có thể hoãn thực hiện nghĩa vụ Vấn
đề đặt ra là trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền
74 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
75 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
Trang 35yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không? Với quy định hiệnnay, nếu không thỏa thuận được, bên còn lại có thể cố tình trì hoãn giải quyết vụ việc tạiTòa án nhằm thu được nhiều lợi ích hơn và tiếp tục thực hiện hợp đồng gây thiệt hại chobên kia Quy định này chưa bảo vệ kịp thời cho bên yếu thế trong thời gian chờ Tòa án đưa
ra quyết định cuối cùng76 Tác giả cho rằng, có chăng pháp luật nên quy định cho phép bên
bị ảnh hưởng được quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời - tạm ngưng thựchiện hợp đồng như một biện pháp hạn chế thiệt hại cho đến khi sự cân bằng giữa các bênđược điều chỉnh hoặc thiết lập lại
Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ đề cập đến vai trò của Tòa án mà không quyđịnh vai trò của trọng tài thương mại Theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010,trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, mà một bên khởi kiện tạiToà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoảthuận trọng tài không thể thực hiện được Như vậy, nếu các bên có thỏa thuận trọng tài thìtrọng tài có thẩm quyền giải quyết việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bảnhay không? Tiếp cận từ góc độ so sánh, mặc dù các điều 6.2.1 - 6.2.3 Bộ Nguyên tắcUNIDROIT năm 2010 chỉ nhắc đến thuật ngữ “Tòa án”, tuy nhiên, Điều 1.11 Bộ Nguyêntắc UNIDROIT năm 2010 đã quy định “Tòa án” bao gồm cả “Hội đồng trọng tài” Thiếtnghĩ, cách hiểu này cần được áp dụng đối với Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 201577
Hệ quả pháp lý của việc sửa đổi hợp đồng cần được hướng dẫn cụ thể hơn nữanhằm xác định các nghĩa vụ và trách nhiệm trước, trong và sau khi sửa đổi hợp đồng dohoàn cảnh thay đổi cơ bản Các học giả Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm cho rằngviệc sửa đổi hợp đồng phải đảm bảo các yêu cầu sau: Các điều khoản mới có hiệu lực thaythế cho các điều khoản đã bị sửa đổi; Việc sửa đổi hợp đồng tuân theo hình thức của hợpđồng nếu hình thức là bắt buộc, và việc sửa đổi hợp đồng có thể nằm trong phần phụ lụccủa hợp đồng; Việc sửa đổi không được gây thiệt hại cho người thứ ba, trường hợp ngườithứ ba có lợi ích liên quan từ hợp đồng thì việc sửa đổi phải được người thứ ba đồng ý;
76 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
77 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
Trang 36Việc sửa đổi hợp đồng phải tuân thủ các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng;Không làm thay đổi việc chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp cũng như thời hiệukhởi kiện78 Với nhận định trên, theo tác giả là phù hợp bởi khi sửa đổi nội dung hợp đồng
về nguyên tắc vẫn nên ưu tiên giữ lại tính nguyên vẹn của hợp đồng, chỉ nên sửa đổi cácnội dung cần điều chỉnh và giữ nguyên các nội dung khác trong hợp đồng
Hardship - một biểu hiện của nguyên tắc thiện chí, trung thực: Quan hệ hợp đồng
“không phải là bất biến” trong một hoàn cảnh nhất định, môi trường nhất định mà chịu ảnhhưởng, tác động của môi trường kinh tế, xã hội thay đổi liên tục theo sự vận động và phát
triển của xã hội nên ngày càng “mang tính chất của một quá trình” và hàm chứa nhiều rủi
ro Khi giao kết hợp đồng, các bên đã cân nhắc các yếu tố để quyết định có tham gia hợpđồng, đàm phán các điều khoản của hợp đồng sao cho các bên của hợp đồng đều đạt đượcmục đích tùy thuộc vào vị thế kinh tế của các chủ thể trong hợp đồng (quyền và nghĩa vụcủa mỗi bên là tương xứng với nhau) mà họ hướng đến Trường hợp hoàn cảnh khách quanthay đổi đến mức làm hợp đồng bị mất đi sự cân bằng vốn có, làm cho trách nhiệm, nghĩa
vụ của một bên tăng lên một cách đáng kể hoặc làm cho lợi ích của một bên bị giảm sútnghiêm trọng thì việc cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng sẽ giúp hợp đồng lấy lại được
sự cân bằng vốn có, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên hợp đồng, hay nóicách khác là đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên
Tuy vậy, có thể thấy rõ rằng, khi hardship xảy ra, một bên sẽ chịu thiệt hại, còn bênkia thì không có thiệt hại gì, thậm chí là được lợi Nếu bên không bị thiệt hại không cóthiện chí dù cho bên bị ảnh hưởng có yêu cầu đàm phán lại nội dung hợp đồng quá trìnhđàm phán sẽ không thể thành công Hardship xảy ra, theo yêu cầu của nguyên tắc thiệnchí, các bên phải cùng hợp tác, chia sẻ rủi ro, khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng Bên
bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay đổi có quyền yêu cầu bên kia đàm phán và bên kia cầnphải tham gia đàm phán dựa trên tinh thần hợp tác
Mặc dù PICC không quy định minh thị, tuy nhiên diễn giải của Unidroit yêu cầuviệc đàm phán lại giữa các bên phải được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, trung thực
78 Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm, 2017, “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Nghiên cứu và Trao đổi, Bộ Tư Pháp, truy cập ngày 22/11/2020.
Trang 37và hợp tác (tại Điều 1.7 và 5.1.3 PICC) Theo đó, bên bị bất lợi phải trung thực trong việcviện dẫn hoàn cảnh hardship và không được lợi dụng việc đàm phán lại Đồng thời, cácbên phải đàm phán lại với tinh thần xây dựng, đặc biệt qua việc chủ động hạn chế các trởngại và trao đổi tất cả các thông tin cần thiết trong quá trình đàm phán PECL có quy địnhminh thị về cơ chế buộc bồi thường thiệt hại đối với một bên không thiện chí trong việcđàm phán sửa đổi hợp đồng (từ chối đàm phán hoặc đã tham gia đàm phán, nhưng khôngthể hiện tinh thần hợp tác, chia sẻ rủi ro, tức là thiếu đi sự thiện chí)79.
BLDS Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc thiện chí, nhưng tinh thần, sức sống củanguyên tắc này chưa mạnh mẽ, chưa có nhiều quy định cụ thể trong Bộ luật thể hiệnnguyên tắc này Điều khoản về hoàn cảnh thay đổi cơ bản cần được diễn giải như là mộtđiều khoản thể hiện rõ tinh thần của nguyên tắc thiện chí, cụ thể:
Đối với bên bị ảnh hưởng: Bên viện dẫn hardship cần thể hiện sự thiện chí của
mình, đó là không được sử dụng hardship như là một công cụ để kéo dài thời hạn thực hiệnhợp đồng Khi viện dẫn hardship, cần đưa ra các căn cứ cụ thể và nếu những căn cứ đó làkhông hợp lý, thì bên viện dẫn đó phải chịu trách nhiệm đối với bên kia về việc viện dẫnsai hoàn cảnh hardship (thời gian thực hiện hợp đồng bị kéo dài do đàm phán gây thiệt hạicho bên kia) đồng thời, bên bị ảnh hưởng cũng nên trung thực trong việc áp dụng đầy đủcác biện pháp cần thiết nhằm hạn chế thấp nhất mức độ thiệt hại có thể xảy ra và kịp thờithông báo cho bên còn lại Bằng cách này, chúng ta có thể hạn chế các trường hợp bênthiếu thiện chí lạm dụng quy định tại Điều 42080
Đối với bên không bị ảnh hưởng: Việc yêu cầu đàm phán là quyền của bên gặp bất
lợi khi xảy ra thay đổi hoàn cảnh và vì thế sẽ trở thành nghĩa vụ của bên còn lại trong hợpđồng Ở đây là nghĩa vụ đàm phán một cách thiện chí để tìm ra giải pháp khắc phục sựthay đổi của hoàn cảnh Nếu bên không bị ảnh hưởng không tham gia đàm phán hoặc đàmphán một cách thiếu thiện chí, thì sẽ có thể phải bồi thường thiệt hại cho bên bị ảnh
79 Nguyễn Minh Hằng, Ths.Trần Thị Thu, 2017, “Đề xuất diễn giải và áp dụng điều 420 Bộ luật Dân sự năm
2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản", thongtinphapluatdansu.edu.vn, truy câp ngày 12/11/2020.
80 Nguyễn Minh Hằng, Ths.Trần Thị Thu, 2017, “Đề xuất diễn giải và áp dụng điều 420 Bộ luật Dân sự năm
2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản", thongtinphapluatdansu.edu.vn, truy câp ngày 12/11/2020.