1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thừa kế thế vị trong pháp luật dân sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

88 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 195,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt,ngay cả khi cha, mẹ của cháu, chắt chết trước ông, bà thì không có nghĩa ông, bà hoặc cụ sẽ chấm dứt sự quan tâm dành cho những the hệ con cháu tiếp nối của người đã chết;điều n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-LUẬT

• • •

PHẠM NGUYỄN KIM LONG

THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG PHÁP LUẬT

DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

• • • •

TP HỒ CHÍ MINH - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

• • •

Phạm Nguyễn Kim Long

THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG PHÁP LUẬT

DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

• • • •

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐÌNH HUY

Trang 3

TP HỒ CHÍ MINH - 2020LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Phạm Nguyễn Kim Long, học viên lớp Cao học Luật khóa 18, chuyênngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốcgia Thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứucủa riêng tôi, được thực hiện với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đình Huy Nhữngthông tin tôi đưa ra trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy đủ.Những phân tích, kiến nghị được tôi đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứucủa cá nhân và chưa từng được công bố trong các công trình trước đó

Tác giả luận văn

Phạm Nguyễn Kim Long

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 7

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 7

1.2 CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ 11

1.2.1.1 Cháu hưởng di sản của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại 11

1.2.2.3 Thừa kế thế vị trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học 18

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ 21

1.3.2 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không từ chối nhận di sản 231.3.3 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không thuộc trường hợp không

1.3.4 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không bị truất quyền hưởng di

1.3.5 Người được thế vị và người thừa kế thế vị phải là người cùng huyết thống, trực hệ,

bề dưới của người để lại di sản 28

1.3.6 Người được thế vị chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản 291.3.7 Thừa kế thế vị chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc nuôidưỡng 29

1.4 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ

1.4.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1990 31

Trang 6

1.4.2 Giai đoạn từ sau năm 1990 đến năm 2005 34

1.5 THỪA KẾ THẾ VỊ THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC 38

Kết luận Chương 1 43 CHƯƠNG 2: NHỮNG VƯỚNG MẮC CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 44

2.1 CÁC TRƯỜNG HỢP HƯỞNG THỪA KẾ 44

2.1.3 Thừa kế thế vị trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học 51

2.2 VẤN ĐỀ THỪA KẾ THẾ VỊ KHI KHÔNG CÒN NGƯỜI THUỘC HÀNG THỪA KẾ THỨ NHẤT 53

2.3 VIỆC MỞ RỘNG THẾ HỆ CON, CHÁU ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ

57 2.4 VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ ĐỐI VỚI PHẦN DI SẢN CỦA NGƯỜI THỪA KẾ NHƯNG KHÔNG CÓ QUYỀN HƯỞNG DI SẢN, TỪ CHỐI QUYỀN HƯỞNG DI SẢN58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Pháp luật dân sự nói chung và các quan hệ về thừa ke nói riêng xuất hiện từ thời

kỳ sơ khai của xã hội loài người Trong đó, quyền sở hữu và quyền thừa ke đã xuất hiệnnhư một tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh te, giữa chúng cómối liên quan ràng buộc, qua lại với nhau14 Có thể nói sở hữu phản ánh mối quan hệgiữa các chủ thể với nhau trong việc chiếm giữ những của cải vật chất, từ đó khi chủ thểchết đi thì có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể đã chết cho chủ thể khác còn sống vừamang tính chất xã hội, văn hoá, vừa mang tính chất pháp lý Hai mối quan hệ này gắnliền với nhau một cách chặt chẽ, sở hữu là nhân tố đầu tiên, tiền đề cho thừa ke xuấthiện

Chính từ lý do đó việc pháp luật ghi nhận quyền thừa ke bên cạnh nhóm quyền sởhữu tài sản đã bảo vệ rất tốt cho quyền lợi của các chủ thể Xây dựng các quy định phápluật nhằm bảo vệ quyền để lại thừa ke và quyền thừa ke là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụcủa bất kỳ Nhà nước nào trong quá trình quản lý xã hội Chính vì lý do đó, hoàn thiệncác quy định pháp luật về che định thừa ke là điều cần thiết

So sánh với quy định của Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) năm 2005,BLDS năm 2015 không có nhiều sự thay đổi trong che định thừa ke, những điểm sửađổi về nội dung tương đối hạn che, hầu như hướng đen hoàn thiện về mặt kỹ thuật.Trong che định thừa ke, việc xác định người thừa ke theo pháp luật hiện nay của BLDSnăm 2015 vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Quy định về người thừa ke theo pháp luật ViệtNam hiện nay dựa vào ba mối quan hệ, đó là quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ huyếtthống và quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh những người thừa ke trong các hàng thừa

ke Các vấn đề về thừa ke the vị, đặc biệt là trường hợp thừa kế thế vị của con nuôi hiệngặp phải một số bất cập trong thực tiễn và ngay cả dưới góc độ lý luận cũng có nhiềuquan điểm khác nhau Trong đó, việc xác định trường hợp nào được thừa ke the vị có

14 Phùng Trung Tập (2002), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án tiến sĩ

Luật học, tr 7.

Trang 8

Thứ hai, quy phạm pháp luật điều chỉnh về thừa ke the vị rất ít, hiện nay vấn đềnày chỉ được ghi nhận tại duy nhất Điều 652 BLDS năm 2015 và không có bất kỳ vănbản nào hướng dẫn áp dụng cho điều luật này Vì vậy, tác giả cho rằng quy định này cầnphải được nghiên cứu chuyên sâu và từ đó cần thống nhất một cách hiểu từ lý luận đenthực tiễn áp dụng luật.

Do vậy, từ những lý do trên mà tác giả cho rằng việc nghiên cứu và lựa chọn

“Thừa kế thế vị trong pháp luật Dân sự Việt Nam” để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩcho bản thân là phù hợp và cần thiết

2 Tinh hình nghiên cứu

Qua nghiên cứu, tác giả được biết, các quy định về người thừa ke theo pháp luật

đã thu hút được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu luật học, những người làm côngtác thực tiễn áp dụng pháp luật Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành banhóm lớn như sau:

* Nhóm các khóa luận, luận văn: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm

này có: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Che Mỹ Phương Đài về chủ đề Thừa kế

theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, năm 1997 và Luận văn thạc sĩ luật học

của tác giả Lê Minh Hùng năm 2003, chủ đề Hoàn thiện chế định quyền thừa kế trong

Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành, với đề tài này, các tác giả đã nghiên cứu, hệ thống

hóa các quy định thừa ke Việt Nam theo quá trình hình thành và phát triển qua các thời

Trang 9

kỳ để từ đó đánh giá nội dung những quy định về thừa ke theo pháp luật của công dân

Việt Nam Hay luận án thạc sĩ luật học: Thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2005

của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của cácquy định về thừa ke the vị qua các thời kỳ tại Việt Nam, tuy nhiên đề tài trên chỉ dừnglại ở việc phân tích, bình luận các quy định về thừa ke the vị

* Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này có thể kể đen một

số công trình tiêu biểu như:

+ Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt

Nam, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật Dân sự, NXB Công an nhân dân;

+ Phùng Trung Tập (2008), Luật Thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, Hà Nội.

+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2012), Giáo trình Tài sản,

sở hữu, thừa kế, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam;

+ Hoàng The Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm

2005, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;

+ Đỗ Văn Đại (2013), Luật Thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập

1 và 2), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

* Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này có: tác giả Phùng Trung Tập với bài viết “Về các quy định thừa kế theo

pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 1995: Những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện”

đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 182 năm 2003; tác giả Nguyễn Văn Đông

năm 2013 có bài viết “Cần sửa đổi một số quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế theo

pháp luật” đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 22; tác giả Phạm Thị Bích Phượng nghiên cứu

chủ đề “Một số vấn đề về thừa kế thế vị trong trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ

kế”; tác giả Nguyễn Viết Giang có bài viết “Thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 ” giới thiệu năm 2017 trên Tạp chí Nghề luật số 5.

Bên cạnh đó, các địa chỉ Website có vai trò không nhỏ trong việc cung cấp những

Trang 10

thông tin hỗ trợ, làm sáng tỏ các vấn đề quyền thừa ke và thừa ke the vị nói chung Rấtnhiều địa chỉ Website thuộc sự quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa(CHXHCN) Việt Nam có độ tin cậy, sự chính xác, sự kiên định về mặt chính trị rấtthuyết phục Ngoài ra, tác giả cỏn tổng hợp một số tài liệu nước ngoài để tiến hành phântích, so sánh tìm ra những kinh nghiệm học hỏi cho pháp luật Việt Nam về thừa ke the

vị Song song đó, đề tài luận văn thạc sĩ được tác giả phân tích không chỉ dưới góc độ lýluận mà còn dưới góc độ thực tiễn xét xử thông qua việc sưu tầm và tổng hợp nhữngbản án liên quan đen thừa ke the vị Qua đó, tìm ra những khó khăn hạn che và đưa ranhững giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế thế vị trong BLDS Việt Nam

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở những công trình đã được nghiên cứu cũng như tính cấp thiết của đềtài, tác giả lựa chọn đề tài “Thừa ke the vị trong pháp luật dân sự Việt Nam” hướng đenmục tiêu xây dựng một công trình nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Việt Nam với một

số quốc gia trên the giới, trong đó chỉ ra những điểm giống và khác, đồng thời nêu ramột số kiến nghị về lĩnh vực này

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Cụ thể, đề tài nghiên cứu, phân tích những vấn đề sau:

- Khái quát, phân tích cơ sở lý luận chung về thừa ke the vị

- Thông qua việc phân tích, đánh giá để nêu ra những vướng mắc trong quyđịnh pháp luật Việt Nam về thừa kế thế vị

- Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện về quy định thừa ke the vị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định hiện hành về thừa

ke theo pháp luật và một số công trình nghiên cứu cũng như một vài vụ việc cụ thể

có liên quan đen thừa ke the vị

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả sẽ tập trung

Trang 11

nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam về thừa ke the

vị, trọng tâm quy định tại BLDS năm 2015 Ngoài ra, tác giả nghiên cứu các quyđịnh trong pháp luật của một số quốc gia về thừa ke the vị; có sự so sánh, đối chiếuvới pháp luật thừa ke của Việt Nam, qua đó tham khảo, học hỏi, tiếp thu có chọnlọc những điểm phù hợp để bổ sung, hoàn thiện các quy định thừa ke the vị tạiBLDS năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp như:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: đây là phương pháp chủ yếu được tácgiả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Phương pháp này được tác giả sửdụng để phân tích và tổng hợp các cơ sở lý luận, việc áp dụng các quy định phápluật về thừa ke the vị trong quy định của pháp luật cũng như trên thực tiễn của ViệtNam và các nước được lựa chọn trong đối tượng nghiên cứu Phương pháp này sẽđược sử dụng ở các chương của đề tài

- Phương pháp lịch sử: phương pháp này được vận dụng để tìm hiểu lịch sửhình thành và phát triển các quy định của pháp luật về thừa ke the vị theo pháp luậtcủa Việt Nam và một số quốc gia trên the giới Các quy định hiện hành của BLDSnăm 2015 không mang tính chất nhất thời, mà là sự ke thừa có chọn lọc các văn bảntrước đây Do vậy, việc nghiên cứu lịch sử phát triển các quy định này là hoàn toàn

có giá trị nhằm phần nào lý giải được sự khác biệt trong quy định của pháp luật ViệtNam và pháp luật các nước về đối tượng nghiên cứu Phương pháp này được tác giả

sử dụng trong những nội dung chính yếu trong Chương 1

- Phương pháp so sánh: dùng để so sánh quy định của BLDS năm 2015 vềthừa ke the vị với quy định của các văn bản ban hành trước đó, các văn bản phápluật khác của Việt Nam và các nguồn tài liệu có liên quan, cũng như kinh nghiệmpháp lý của một số nước về quy định thừa ke the vị theo pháp luật Phương phápnày được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Đồng thời, phương pháp

Trang 12

te, do vậy tác giả ý thức việc nghiên cứu các vấn đề phát sinh từ thực tiễn để làm rõcác bất cập tồn tại trong quy định pháp luật Phương pháp này sẽ được sử dụngxuyên suốt trong Chương 1 và 2 của đề tài.

6 Ket cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu đề tài gồm 2chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thừa kế thế vị.

Chương 2 Những vướng mắc của quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân

sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ

1.1.1 Khái niệm về thừa kế thế vị

Hiện nay, trong quy định pháp luật chỉ liệt kê về các trường hợp thừa ke the vị

mà chưa định nghĩa the nào là thừa ke the vị Vậy thì the vị là gì và thừa ke the vị là gì?Theo nghĩa Hán - Việt thì từ “the” có nghĩa là thay vào, từ “vị” có nghĩa là ngôi thứ,ngôi vị, vị trí Vậy “the vị” có nghĩa là thay the vào vị trí Theo “Từ điển giải thích thuật

Trang 13

và người the vào vị trí để được hưởng the vị có thể là cháu hoặc chắt của người để lại disản thừa ke Mặc dù mang các điều kiện chung nói trên nhưng mỗi văn bản pháp luậttrong từng thời kỳ lại có những đặc điểm cho phù hợp với điều kiện xã hội, văn hóa củathời kỳ đó Do vậy, các văn bản khi quy định về thừa ke the vị có những điểm khácnhau trong việc xác định cụ thể các trường hợp được hưởng thừa ke the vị Nhưng đenquy định trong BLDS năm 2005, năm 2015 thì đã xác định thêm một trường hợp cóthừa ke the vị xảy ra đó chính là trường hợp con/cháu của người để lại di sản chết cùngthời điểm với người để lại di sản Lúc này cháu/chắt sẽ the vào vị trí và hưởng di sản thế

vị (Điều 677 BLDS năm 2015) Điểm mới của thừa kế thế vị được quy định trongBLDS năm 2005, năm 2015 đã giải quyết thỏa đáng quyền thừa ke the vị của cháu/chắt,những người được the vị khi cha, mẹ mình chết cùng thời điểm với người để lại di sản

15 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, NXB Công an nhân dân, tr 290.

16 Phạm Thị Bích Phượng (2014), “Một số vấn đề về thừa kế thế vị trong trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 15, tr 20.

Trang 14

thừa ke Quy định này được đánh giá phù hợp về mặt thực te mà còn phù hợp về mặtbản chất của thừa ke the vị Đen quy định trong BLDS năm 2015 về thừa ke the vị thìkhông có sự thay đổi so với quy định trong BLDS năm 2005 Thừa ke the vị là thừa kekhông theo trình tự các hàng thừa ke do pháp luật quy định Các hàng thừa ke do phápluật quy định chỉ có ý nghĩa để giúp xác định sự phát sinh quan hệ thừa ke the vị Nhữngngười được hưởng di sản thừa ke the vị chỉ được hưởng chung một suất thừa ke màđáng lý ra nếu cha, mẹ của người đó nếu còn sống sẽ được hưởng

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội do

Nhà xuất bản Công an Nhân dân xuất bản năm 1999 đã định nghĩa: “Thừa kế thế vị là

thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế” Như vậy thừa kế thế vị là việc các

con (hoặc cháu) được thay the vị trí của bố, mẹ (hoặc ông, bà) để hưởng di sản của ông

bà (hoặc cụ) trong trường hợp bố, mẹ (hoặc ông, bà) chết trước hoặc chết cùng thờiđiểm ông, bà (hoặc cụ)

1.1.2 Ý nghĩa của quy định về thừa kế thế vị

Thứ nhất, quy định thừa ke the vị góp phần bảo vệ tối đa quyền hưởng di sản củacon, cháu trực hệ cho dù con chết trước cha, mẹ; cháu chết trước ông bà Với quy địnhcho phép cháu, chắt hưởng thừa ke the vị trong di sản của ông, bà hoặc cụ khi cha, mẹcủa cháu, chắt chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà hoặc cụ đã góp phầncủng cố sự yêu thương giữa các thế hệ con cháu trực hệ với nhau Quy định này chothấy cháu, chắt có vị trí rất quan trọng trong thừa ke đối với ông, bà hoặc cụ Đặc biệt,ngay cả khi cha, mẹ của cháu, chắt chết trước ông, bà thì không có nghĩa ông, bà hoặc

cụ sẽ chấm dứt sự quan tâm dành cho những the hệ con cháu tiếp nối của người đã chết;điều này thể hiện thông qua việc người để lại di sản sẽ dành một phần tương ứng vớisuất hưởng của người con đã mất cho các con, cháu trực hệ của họ được hưởng thayphần di sản đó

Thứ hai, quy định về thừa ke the vị dành đặc quyền hưởng di sản cho nhữngngười thừa ke có quan hệ nội tộc, huyết thống bề dưới của người để lại di sản Suất

Trang 15

hưởng thừa ke the vị là suất hưởng chủ yếu dành cho the hệ con, cháu nội tộc, cùnghuyết thống với người để lại di sản Điều 651 BLDS năm 2015 quy định ba hàng thừa

ke theo pháp luật và trong hàng thừa ke thứ nhất thì người người thừa ke có thể là cha,

mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản Ngoài ra, Điều 613 BLDS năm 2015 quyđịnh “Người thừa ke là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa ke hoặcsinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa ke nhưng đã thành thai trước khi người để lại

di sản chết” Như vậy, giả sử các đối tượng là cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sảnnếu chết trước người để lại di sản thì sẽ không được hưởng thừa ke theo pháp luật đốivới di sản của người để lại di sản Tuy nhiên, nếu con của người để lại di sản mà chếttrước người để lại di sản thì cháu, chắt của những người con đã chết sẽ the vị để hưởng

di sản của người để lại di sản Quy định trên cho thấy giữa người để lại di sản với cácthe hệ con, cháu trực hệ có mối quan hệ thừa ke ưu tiên hơn bất kỳ người thừa ke khác

có mối quan hệ thân thuộc với người để lại di sản

Thứ ba, quy định về thừa ke the vị bảo đảm sự công bằng và bình đẳng như nhaugiữa những người được the vị và giữa những người hưởng thừa ke the vị Suất hưởngthừa ke the vị được tính theo chi, mà không tính theo đầu người Điều này có nghĩacháu, chắt được hưởng trong di sản của ông, bà hoặc cụ Do vậy, nếu những người đượcthe vị cùng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì các cháu, chắt

là những người thừa kế thế vị sẽ cùng hưởng di sản thay người được thừa ke the vị màkhông phân biệt là con gái hay con trai, cháu nội hay cháu ngoại và suất hưởng là chiađều giữa người thừa ke the vị trên cùng một chi

Thứ tư, quy định về thừa ke the vị góp phần duy trì và củng cố quyền tư hữu đốivới tài sản của cá nhân, họ tộc Quyền sở hữu chỉ hoàn thành được vai trò động lực pháttriển kinh te nếu nó chuyển giao bằng con đường thừa ke và đặc biệt trong thừa ke the vịcòn là việc bảo vệ quyền sở hữu của chính con cháu trực hệ của người để lại di sản Thậtvậy, về mặt tâm lý cá nhân chỉ cảm thấy được thỏa mãn nếu quyền sở hữu vẫn tiếp tụctồn tại sau khi chủ sở hữu chết Giả sử chủ sở hữu phải đối mặt với việc giao trả lại tài

Trang 16

sản của mình cho nhà nước khi họ chết, thì họ sẽ không quan tâm chăm sóc tài sản hiện

có mà lại tiêu dùng hoang phí và bản thân trở nên lười biếng, thờ ơ với lao động, vớihoạt động sáng tạo Vì vậy, pháp luật về thừa ke nói chung và quyền thừa ke the vị nóiriêng ở nước ta, trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, thành quả laođộng của bản thân họ được tôn trọng, khi người có tải sản chết thành quả đó đượcchuyển sang cho những người thừa ke trực hệ của họ Cụ thể, thông qua thừa ke the vịcủa cải của một người được chuyển dịch xuôi xuống con, cháu trực hệ từ đời này quađời khác, điều này góp phần củng cố quyền sở hữu chính đáng của mọi cá nhân, bảotoàn và gia tăng tích lũy của cải cho xã hội Như vậy, cháu, chắt trực hệ sẽ được hưởng

di sản của ông, và hoặc cụ mất, điều này góp phần đảm bảo tài sản từ ông, bà hoặc cụ sẽ

ưu tiên để lại cho cháu, chắt trực hệ hưởng trước những người thừa ke có mối quan hệthân thuộc khác với người để lại di sản

Tóm lại, với quan điểm từ xa xưa của ông cha ta là cha truyền con nối, gắn kếttình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình thì quy định về thừa ke the vị đã đạtđược mục đích của mình Ông, bà chết đi đáng lý ra tài sản sẽ để lại cho cha, mẹ hoặccháu; nhưng do cha, mẹ hoặc cháu chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại

di sản thừa ke nên cháu/chắt sẽ the vào vị trí để hưởng di sản thừa ke Từ đó, sẽ tránhtình trạng di sản không rơi vào tay của những người thừa kế trực hệ được hưởng mànhững người khác lại có thể được hưởng di sản thừa ke

1.2 CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ

1.2.1 Thừa kế thế vị trong trường hợp thông thường

1.2.1.1 Cháu hưởng di sản của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại:

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thờiđiểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháuđược hưởng nếu còn sống Đối với trường hợp này cháu sẽ được the vào vị trí cha, mẹ

để hưởng di sản thừa ke

Ví dụ: A là ông, B là bố, C là con Do A, B chết cùng thời điểm hoặc B chết

Trang 17

trước A nên C sẽ the vào vị trí của B để hưởng di sản thừa ke từ A

Từ quy định tưởng chừng đơn giản này thì cần xem xét đen mối quan hệ của A,

B, C Bởi lẽ như đã phân tích trên phần điều kiện để hưởng thừa ke the vị; khi mối quan

hệ giữa những người này chỉ là quan hệ huyết thống như A đẻ ra B rồi B lại đẻ ra

C, việc xác định có thừa ke the vị sẽ là đương nhiên Tuy nhiên, nếu kèm thêm mốiquan hệ nuôi dưỡng thì việc xác định tư cách sẽ là khác và lúc này cần cân nhắc xem cónên có thừa ke the vị không

Trong trường hợp khi mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa ke và người thừa

ke là mối quan hệ huyết thống nhưng sau đó người thừa ke lại nhận nuôi dưỡng mộtngười khác thì liệu rằng người con này có được the vào vị trí của cha, mẹ mình đểhưởng di sản thừa ke không Tác giả cho rằng quy định tại Điều 652 BLDS năm 2015chỉ sử dụng từ “cháu” the vào vị trí cha hoặc mẹ để được hưởng di sản thừa ke Do vậycháu với ông bà sẽ là những người có mối quan hệ như the nào? Xét về nguyên tắcchung khi một người nhận con nuôi thì đứa trẻ đó sẽ là con nuôi của mình người đó màkhông đương nhiên trở thành con nuôi của người khác Do vậy, đứa trẻ được nhận nuôikhông đương nhiên trở thành cháu của cha mẹ người nhận nuôi Vì the, trong trườnghợp này không có xảy ra thừa ke the vị

Trong trường hợp mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế

là mối quan hệ nuôi dưỡng nhưng con của người thừa ke là con ruột Thì lúc này ngườicon của người thừa ke sẽ là cháu của người để lại di sản thừa ke Trường hợp này sẽ cóthừa ke the vị xảy ra

Ví dụ: L có ba người con là N, G, T T có ba người con là T1, T2, T3 Vì T chếttrước L, nên khi L chết và không để lại di chúc thì di sản của L sẽ chia cho N (1/3), G(1/3) và ba con của T là T1, T2, T3 mỗi người được hưởng 1/9 di sản của L

1.2.1.2 Chắt hưởng di sản của cụ nội, cụ ngoại:

Trong trường hợp nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người

để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu

Trang 18

còn sống Đối với trường hợp này chắt sẽ the vào vị trí của cha, mẹ của chắt để hưởng disản thừa ke Việc xác định chắt là người có những mối quan hệ như the nào với nhữngngười cha/mẹ, ông bà sẽ khó khăn hơn trường hợp đầu tiên

Ví dụ A (cụ), B (ông), C (cha) và D (con) Neu mối quan hệ của A, B, C, D đều

là mối quan hệ huyết thống thì đương nhiên thừa ke the vị sẽ có thể xảy ra Nhưng nếu

có đan xen mối quan hệ nuôi dưỡng và mối quan hệ huyết thống thì việc xác định ngườithe vị trí để hưởng thừa ke the vị sẽ khó hơn Sẽ có rất nhiều trường hợp có thể xảy rakhi có sự đan xen các mối quan hệ huyết thống và mối quan hệ nuôi dưỡng giữa các the

hệ từ ông bà cho đen hàng chắt Qua đó, trong trường hợp thừa ke the vị của chắt ruộtcần lưu ý những điểm sau:

Thứ nhất, chắt phải còn sống vào thời điểm cụ chết hoặc sinh ra sau khi cụ chếthoặc sinh ra sau khi cụ chết nhưng đã thành thai trước khi cụ chết mới là người thừa kethe vị di sản của cụ

Thứ hai, các chắt được hưởng chung phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đượchưởng nếu không chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản tương tựnhư trường hợp chắt được thừa ke the vị cha, mẹ hưởng di sản của ông, bà

Việc ghi nhận quyền thừa kế thế vị của chắt trong BLDS năm 2015 giống BLDSnăm 2005 là điểm tiến bộ so với BLDS năm 1995 về quyền thừa kế thế vị Do BLDSnăm 1995 chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền thừa ke the vị của cháu thay chay mẹ nhận

di sản của ông bà khi cha, mẹ của cháu chết trước ông bà mà chưa ghi nhận quyền thừa

ke the vị của chắt đối với di sản của các cụ

Ví dụ: X có ba người con là M, N, O N có hai con là N1, N2 N2 có hai con là Y

và Z N chết vào tháng 3/2018, còn N1 và N2 chết vào năm 2019 Khi X chết vào tháng

4 năm 2020 thì di sản của X sẽ chia cho M (1/3), O (1/3) và N1, N2 mỗi người nhận(1/6)

1.2.2 Thừa kế thế vị trong một số trường hợp đặc biệt

1.2.2.1 Thừa kế thế vị có nhân tố con nuôi

Trang 19

Như phân tích tại nội dung mục 1.2.1, khi một người nhận con nuôi thì ngườicon nuôi không đương nhiên trở thành con, cháu của người khác Do vậy dù có nhiềutrường hợp có thể xảy ra nhưng chỉ có trường hợp mối quan hệ giữa người cháu củangười để lại di sản thừa ke và người thừa ke là mối quan hệ huyết thống; và mối quan hệgiữa người cháu với người chắt cũng phải là mối quan hệ huyết thống Lúc này mới cóthể có the vị xảy ra Còn lại tất cả những trường hợp khác thì đều không xảy ra thừa kethe vị Do vậy, không phải người con, người cháu nào cũng là người có thể được thừa

ke the vị Mà chỉ những người con, người cháu có mối quan hệ huyết thống với ngườithừa ke mới có thể the vị được Còn những người con, cháu có mối quan hệ nuôi dưỡngvới người thừa ke thì sẽ không được thừa ke the vị

Có quan điểm cho rằng: Trong trường hợp con nuôi chết trước cha nuôi, mẹ nuôithì con đẻ của người con nuôi (tức cháu của cha nuôi, mẹ nuôi của người chết trước)được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha mẹ của cháu còn sống vào thời điểm mở thừa

ke được hưởng (đây là trường hợp con đẻ của con nuôi được thừa ke the vị) và

con nuôi của con nuôi không được thừa kế thế vị17 Có quan điểm cho rằng: “Việc sửađổi điều luật này tránh được cách hiểu khác nhau về con nuôi hay con đẻ được hưởngthừa ke the vị, xác định rõ chủ thể thừa ke the vị của người con nuôi chỉ là con đẻ củangười con nuôi”18 Quan điểm khác thì cho rằng quy định “con của người con nuôi” thì

sẽ bao gồm cả con đẻ và con nuôi, không nên phân biệt con đẻ hay con nuôi cũng nhưcon của người con đẻ với con của người con nuôi Hơn nữa, vấn đề ở đây chủ yếu là đứacon nuôi the vị vị trí của cha nuôi hưởng phần di sản mà lẽ ra cha nuôi được hưởng nếucòn sống chứ không phải là trực tiếp hưởng thừa ke của cha mẹ người mà mình làm connuôi19 Do đó, vấn đề thừa ke the vị của con nuôi phải được hướng dẫn rõ ràng để thuận

17 Hoàng Thế Liên (2010), Bình luận khoa học BLDS 2005 tập 3, Nxb Chính tri quốc gia Hà Nội, tr 114 -

115.

18 Nguyễn Viết Giang - Nguyễn Đình Anh (2014), “Thừa kế thế vị theo quy định của BLDS năm 2005 -

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ 1, số 3 (2 - 2014), tr 28.

19 Chế Mỹ Phương Đài (2009), “Quyền thừa kế của con nuôi”, Tài liệu hội thảo “Pháp luật Thừa kế ở Việt

Nam từ thế kỷXVđến nay”, tháng 09/2009.

Trang 20

tiện trong việc áp dụng20 Một người nhận nuôi một đứa trẻ thì đương nhiên đứa trẻ sẽ làcon nuôi của người đó và đương nhiên được hưởng di sản ở hàng thừa ke thứ nhất củangười đó và ngược lại Nhưng đứa trẻ này không đương nhiên sẽ trở thành cháu của cha,

mẹ người nhận nuôi (người mà đứa trẻ gọi là ông, bà) Mặc dù vậy cũng có trường hợpông, bà và đứa trẻ này vẫn có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, khăng khít với nhau,không có một sự phân biệt nào cả Xét về hàng thừa ke thì đứa trẻ này và ông, bà khôngđược hưởng di sản theo pháp luật ở hàng thừa ke thứ hai của nhau Nhưng khi xét đenvấn đề thừa ke the vị có nên cho đứa trẻ này được hưởng thừa ke the vị không? Tác giảcho rằng nếu chứng minh được có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau thì nên cho đứa trẻnày được thừa ke the vị di sản của ông, bà Từ đó, đặt ra vấn đề liệu hàng cháu, chắtnuôi có nên được thừa ke the vị hay không? Thiết nghĩ thừa ke the vị là một trường hợprất đặc biệt của việc chia thừa ke theo pháp luật Bình thường di sản thừa ke khi đượcchia theo pháp luật cứ căn cứ vào các hàng thừa ke để xác định những người đượchưởng di sản thừa ke ở hàng thứ nhất, lần lượt đen hàng thừa ke thứ

hai, hàng thừa kế thứ ba Tuy nhiên, khi xảy ra các điều kiện đặc biệt thì sẽ linh hoạt đểchia thêm cho người the vào vị trí của người thừa ke để hưởng di sản thừa ke Từ đó,khi xem xét đen việc cháu, chắt nuôi có nên được thừa ke the vị hay không tác giả nghĩrằng nên có sự vận dụng linh hoạt để đảm bảo đúng ý nghĩa của quy định thừa ke the vị

Tham khảo các văn bản liên quan điều chỉnh đen vấn đề thừa ke the vị của cháu,chắt nuôi qua các giai đoạn quy định tương đối khác nhau Cụ thể tại Thông tư số

81/TAND ngày 14/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) quy định: “Người

đang làm con nuôi của người khác không được thừa ke theo luật đối với di sản của bố

mẹ đẻ”, nên trong thời kỳ này thì con của người đang làm con nuôi của người khác sẽkhông được thừa ke the vị để hưởng di sản của ông, bà dù cha hoặc mẹ đã chết trướcông, bà Tại Nghị quyết số 02/1990/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa ke năm 1990 ghi nhận

20 Lê Thị Hồng Vân, “Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Dự thảo BLDS sửa đổi”, Hội thảo Chế định

thừa kế trong Dự thảo BLDS sửa đổi - Trường ĐH Luật TPHCM, tháng 5/2015.

Trang 21

trường hợp thừa ke the vị của cháu, chắt nuôi, cụ thể: “Trong trường hợp con nuôi chếttrước cha nuôi, mẹ nuôi, thì con của người nuôi (tức là cháu của cha nuôi, mẹ nuôi)được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha, mẹ của chắt được hưởng nếu cha, mẹ của chắtcòn sống vào thời điểm mở thừa ke” Bên cạnh đó, tại Điều 678 BLDS năm 2005 quyđịnh “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa ke di sản của nhau và còn được thừa ke

di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này” Và hiện nay, Điều 653BLDS năm 2015 quy định: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa ke di sản củanhau và còn được thừa ke di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luậtnày” Nhìn chung, các quy định trên theo thời gian cho thấy pháp luật hiện hành đã vàđang thừa nhận quyền hưởng thừa ke the vị của con nuôi Tuy nhiên, cần xác đinhkhông phải trường hợp nào con nuôi cũng hưởng thừa ke the vị, cụ thể về mặt lý luận đaphần có quan điểm thống nhất giữa các tác giả21 về các trường hợp cơ bản sau:

21sự năm 2005 ”, NXB Chính tri Quốc gia và Nguyễn Minh Tuấn (2014), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự

nước CHXHCN Việt Nam, NXB Tư pháp, tr.895.

Trang 22

Trường hợp thứ nhất, nếu giữa các đời đều là quan hệ nuôi dưỡng (X nhận nuôi

Y và Y nhận nuôi Z) thì đương nhiên the vị không được đặt ra trong mọi trường hợp

Trường hợp thứ hai, nếu quan hệ giữa đời thứ nhất và đời thứ hai là nuôi dưỡngnhưng quan hệ giữa đời thứ hai với đời thứ ba lại là huyết thong (X nhận nuôi Y và Ysinh ra Z) thì được thừa ke the vị

Trường hợp thứ ba, nếu quan hệ giữa đời thứ nhất và đời thứ hai là huyết thốngnhưng quan hệ giữa đời thứ hai với đời thứ ba lại là nuôi dưỡng (X sinh ra Y và Y nhậnnuôi Z) thì không đương nhiên được thừa ke the vị Điều này được lý giải theo hướng:

“Con nuôi của một ngưởi không đương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ người nuôicon nuôi và quan hệ thừa ke theo pháp luật chỉ phát sinh giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi

mà không phát sinh quan hệ thừa ke giữa con nuôi với những người thân trong gia đìnhcha, mẹ nuôi nên người con nuôi không được thay vào vị trí của cha, mẹ nuôi của mình

mà nhận thừa ke the vị di sản thừa ke từ cha, mẹ ruột của cha mẹ nuôi mình Vì vậy, connuôi của một người không được thừa ke the vị di sản cha ruột, mẹ ruột người đó”* 22

Mặc khác, Điều 652 BLDS năm 2015 còn đặt ra vấn đề thừa ke the vị của concủa cháu nuôi (chắt nuôi) Hiện có nhiều quan điểm trái chiều nhau về vấn đề này, cóquan điểm cho rằng chắt phải là chắt ruột (tức là tất cả các quan hệ theo chiều dọc đềuphải là quan hệ huyết thống) thì mới được thừa ke the vị di sản của các cụ23 Quan điểmkhác cho rằng chỉ trong một số trường hợp thì chắt nuôi mới được thừa ke the vị của các

cụ Bên cạnh đó, có quan điểm khác cho rằng đã là cháu, chắt thì đều được hưởng thừa

ke the vị của ông bà, các cụ mà không phân biệt cháu ruột hay cháu nuôi, chắt ruột haychắt nuôi bởi lẽ việc thừa ke the vị không phải là người the vị nhận trực

22 Lê Minh Hùng (chủ biên) (2012), “Giáo trình pháp luật tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thưa

kế”,NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.380.

23 Phạm Văn Tuyến (2007), Thừa kế - quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, NXB Chính tri quốc

gia, Hà Nội, tr.101.

Trang 23

tiếp di sản của người chết mà họ chỉ thay vào vị trí của cha, mẹ mình để nhận phần disản trên Vì vậy, nếu cha mẹ của người thừa ke the vị có quyền hưởng di sản của ông, bàhoặc cụ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông bà hoặc cụ thì con của họ sẽ đượcthay vào vị trí của họ để nhận di sản của ông bà hoặc cụ mà không phân biệt con riênghay con con nuôi Ngoài ra, việc một người đã là con nuôi của người khác thì quan hệthừa ke the vị giữa người con nuôi đó với gia đình gốc tức cha, mẹ ruột và ông bà ruộtcũng được quan tâm Việc thừa nhận quyền thừa ke của người con đối với gia đình cha,

mẹ ruột đã đảm bảo cho quyền thừa ke the vị của các cháu không phụ thuộc vào việccha, mẹ của cháu có đang là con nuôi của người khác hay không Như vậy, một ngườimặc dù đã được người khác nhận nuôi, nhưng họ vẫn được thừa ke the vị di sản củaông, bà nội, ông, bà ngoại trong trường hợp cha, mẹ ruột chết trước hoặc chết cùng thờiđiểm với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại11 theo quy định tại Điều 651 và Điều 652BLDS năm 2015

1.2.2.2 Thừa ke the vị trong trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ ke

Điều 654 BLDS năm 2015 quy định về quan hệ thừa ke giữa con riêng và bốdượng, mẹ ke như sau: “Con riêng và bố dượng, mẹ ke nếu có quan hệ chăm sóc, nuôidưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa ke di sản của nhau và còn được thừa ke

di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”

Bên cạnh đó, Khoản 1, Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014quy định:

“1 Bố dượng, mẹ ke có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69,

71 và 72 của Luật này

2 Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng bố dượng, mẹ kecùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật này”

Như vậy, theo quy định như trên thì giữa con riêng và cha đượng, mẹ kế đều có

Trang 24

quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc nhau khi cùng chung sống Chỉ khigiữa họ thể hiện được mối quan hệ như cha - con, mẹ - con thì mới được quyền thừa ketheo pháp luật của nhau ở hàng thừa ke thứ nhất theo pháp luật và thừa ke the vị Vì the,quy định tại Điều 654 BLDS năm 2015 xuất phát từ thực tiễn và đạo lý khuyến khíchnhững người trong gia đình quan tâm giúp đỡ và có trách nhiệm với nhau Căn cứ đểxác định thừa ke the vị giữa con riêng với bố dượng, mẹ ke khi họ qua đời chỉ dựa trênđiều kiện thực te là giữa họ có quan hệ chăn sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con.Việc bố dượng, mẹ ke được thừa ke di sản của con riêng và ngược lại với điều kiện nuôidưỡng, chăm sóc nhau như cha con, mẹ con làm cho mối quan hệ giữa con riêng với bốdượng, mẹ ke không đơn thuần thể hiện về mặt tình cảm mà cao hơn còn ghi nhận bằngnghĩa vụ pháp lý Điều kiện để con riêng và bố dượng, mẹ ke được thừa ke theo phápluật của nhau chính là họ đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như chacon, mẹ con Những căn cứ trên được xác định khi con riêng của vợ, của chồng chếttrước hoặc chết cùng thời điểm với bố dượng, mẹ ke thì con của người con riêng đóđược thừa ke the vị như những người con, người cháu khác của người để lại di sản theoquy định tại Điều 652 BLDS năm 2015.

1.2.2.3 Thừa ke the vị trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa họcViệc con sinh ra theo phương pháp khoa học hiện nay có thể hiểu là việc sinhcon bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm) vàmang thai hộ vì mục đích nhân đạo Vấn đề cần xem xét và nghiên cứu là quyền hưởngthừa ke the vị của trẻ sinh ra thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mụcđích nhân đạo Do việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ là haibiện pháp kỹ thuật khác nhau nên vấn đề thừa ke the vị cũng nên được phân tích riêngbiệt nhằm làm sáng tỏ vấn đề

Đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Theo quy định tại khoản 21Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Ngoài ra, tại

Trang 25

khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về sinh con bằng

kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đưa

ra nguyên tắc “Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹthuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô

sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Như vậy, để có thể tiến hành

thụ tinh trong ống nghiệm thành công thì các cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữđộc thân có thể phải nhận tinh trùng và noãn từ những người hiến tặng vô danh

Vấn đề trên cần xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp trẻ sinh ra bằngbiện pháp thụ tinh trong ống nghiệm từ những tinh trùng và noãn hiến tặng sẽ the nào?Căn cứ Điều 88 và Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014 thì cặp vợ chồng vô sinh được xácđịnh là cha, mẹ của trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngay cả khi đứa trẻ nàyđược sinh ra là nhờ nhận noãn hoặc tinh trùng từ người khác hiến tặng cho cặp vợ chồng

vô sinh, bởi nguyên tắc hiến tặng tinh trùng và noãn trong Nghị định số 10/2015/NĐ-CPcủa Chính phủ là giữ bí mật thông tin của người hiến tặng Tương tự, người phụ nữ độcthân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là mẹ của con được sinh ra

Trên cơ sở xác định được quan hệ cha mẹ con đối với trẻ được sinh ra bằng kỹthuật hỗ trợ sinh sản này, có thể kết luận rằng trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

có quyền hưởng thừa ke the vị đối với cha mẹ của trẻ là những cặp vợ chồng vô sinh vàkhông đặt ra vấn đề thừa ke the vị giữa trẻ với người đã cho noãn hoặc tinh trùng đểhình thành nên đứa bé đó, dựa vào nguyên tắc “vô danh” giữa người cho và người nhậnnoãn, tinh trùng tại Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP Tương tự, đứa trẻ là con củangười phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng có quyềnhưởng thừa ke the vị khi người mẹ này đã chết trước hoặc cùng thời điểm với cha, mẹhoặc ông, bà của mình

Đối với trẻ sinh ra nhờ đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì quyềnhưởng thừa ke the vị có các điểm lưu ý:

Trước het, cần làm rõ khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Theo quy

Trang 26

định tại khoản 22, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì: “Mang thai hộ vì mục đích nhânđạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thaicho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹthuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng đểthụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang

thai để người này mang thai và sinh con”.

Ngoài ra, Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2014 đề ra nguyên tắc xác định cha, mẹtrong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: “Con sinh ra trong trường hợpmang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ

thời điểm con được sinh ra” Bên cạnh đó, áp dụng tương tự pháp luật quy định tại Điều

613 BLDS năm 2015 thì trẻ vẫn coi là con của vợ, chồng mang thai hộ ngay cả khi trẻđược thành thai trong cơ thể người phụ nữ mang thai hộ nhưng được sinh ra và còn sốngsau khi cha, mẹ, con là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ chết trước đó

Dựa vào nguyên tắc xác định cha, mẹ, con nói trên, có thể kết luận rằng conđược sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có quyền hưởng thừa

ke the vị khi cha, mẹ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ chết trước hoặc cùng thời điểmvới ông, bà hoặc cụ Giữa trẻ được mang thai hộ và người được nhờ mang thai hộ khônglàm phát sinh quan hệ cha, mẹ, con nên vấn đề thửa ke the vị đương nhiên không phátsinh Vì vậy, trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có quyền hưởng thừa ke the

vị từ cha, mẹ của trẻ là cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân sinh con bằng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Ngoài ra, trẻ được mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng cóquyền hưởng thừa ke the vị khi cha, mẹ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ đã chết trướchoặc cùng thời điểm với ông bà hoặc cụ

Như vậy, ngoài trường hợp thừa kế thế vị của cháu, chắt trực hệ thì quyền thừa

ke the vị có thể phát sinh trong một số trường hợp đặc biệt giữa cha, mẹ nuôi với connuôi; con riêng với bố dượng, mẹ ke; quyền thừa ke the vị của con sinh ra bằng phươngpháp khoa học

Trang 27

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THẾ VỊ

Quyền thừa ke là quyền Hiến định và được cụ thể hóa tại Điều 609 BLDS năm

2015 Mỗi cá nhân đều có quyền thừa ke Tuy nhiên, căn cứ vào những điều kiện để trởthành người thừa ke hợp pháp, căn cứ vào những quyền liên quan đen thừa ke của ngườithừa ke, căn cứ vào quy định về những trường hợp không được quyền hưởng di sảntrong BLDS năm 2015 sẽ có những trường hợp cá nhân không được hưởng di sản thừa

ke Bản thân quyền thừa ke the vị cũng là một quyền thừa ke, vì vậy người thừa ke the

vị phải thỏa những điều kiện cơ bản để trở thành người thừa ke nói chung theo quy địnhcủa BLDS năm 2015 Cụ thể, BLDS năm 2015 quy định người thừa ke muốn hưởng disản thì phải thỏa những điều kiện sau:

Người thừa ke phải tồn tại vào thời điểm mở thừa ke;

Người thừa ke không từ chối nhận di sản;

Người thừa ke không thuộc các trường hợp không có quyền hưởng di sản;

Người thừa ke không bị truất quyền hưởng di sản

Do đó, người thừa ke the vị cũng phải thỏa những điều kiện nói trên khi muốnnhận di sản từ ông, bà hoặc cụ mất Ngoài ra, đối với người được thừa ke the vị, về cơbản thừa ke the vị xảy ra thì người được thừa ke the vị phải thỏa điều kiện không từ chốinhận di sản, không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản và không bị người

để lại di sản truất quyền hưởng di sản Tuy nhiên, khác với người thừa ke the vị, nếungười thừa ke the vị phải thỏa điều kiện là còn sống vào thời điểm mở thừa ke củangười để lại di sản thì người được thừa ke the vị phải thuộc trường hợp chết trước hoặcchết cùng thời điểm với người để lại di sản

1.3.1 Người thừa kế thế vị tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Theo Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải làngười còn sống vào thời điểm mở thừa ke hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở

thừa ke nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết ” Như vậy, người thừa

ke the vị phải thuộc một trong hai trường hợp: còn sống vào thời điểm mở thùa ke hoặc

Trang 28

sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa ke nhưng đã thành thai trước khi người để lại

di sản (ông, bà hoặc cụ) chết

Trường hợp thứ nhất, người thừa ke the vị còn sống vào thời điểm mở thừa ke:theo quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS năm 2015 thì “Thời điểm mở thừa ke là thờiđiểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thờiđiểm mở thừa ke là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này” Tức làmuốn trở thành người thừa ke the vị thì bản thân người này phải thỏa điều kiện là cònsống vào thời điểm người để lại di sản chết

Trường hợp thứ hai, người thừa ke the vị sinh ra và còn sống sau thời điểm mởthừa ke nhưng đã thành thai trước người để lại di sản chết Quy định này xuất phát từbản chất của quan hệ thừa ke trước hết là sự dịch chuyển tài sản cho những con, cháu cóquan hệ thân thuộc bề dưới, qua đó góp phần củng cố quan hệ hôn nhân gia đình Đốivới vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con căn cứ ghi nhận tại khoản 3 Điều 88 Luật Hônnhân và gia đình năm 2014 Theo đó, con sinh ra trong vòng 300 ngày từ ngày ngườichồng chết được công nhận là con chung của vợ chồng Do đó, khi người vợ sinh con ra

và còn sống trong vòng 300 ngày sau khi người chồng chết thì người con đó đươngnhiên là chủ thể được hưởng thừa ke (quy định này không phải hiểu như the mà là 300ngày kể từ ngày người chồng chết trở về trước, chứ không phải trở về sau) Neu sau 300ngày mới sinh con mà muốn trở thành người thừa ke di sản của người chết thì phải cócăn cứ chứng minh người con đó là con của người chồng đã chet Neu thai đã chết lưuhoặc sinh ra rồi chết ngay thì cũng không được hưởng thừa

kế, trừ trường hợp người sinh ra sau thời điểm mở thừa kế được thụ tinh trong ốngnghiệm hay bằng phương pháp khoa học mà tác giả sẽ đề cập ở phần sau

1.3.2 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không từ chối nhận

di sản

Theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015 về từ chối nhận di sàn:

“1 Người thừa ke có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối

Trang 29

nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2 Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đen người quản

lý di sản, những người thừa ke khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết

3 Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”.Theo quy định này, thì người thừa ke the vị có quyền từ chối nhận di sản, trừtrường hợp việc từ chối đó là nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba, ở đâyngười thứ ba là chủ nợ của người thừa ke Như vậy, để hưởng thừa ke the vị thì ngườithừa ke the vị phải không từ chối nhận di sản của người để lại di sản Cụ thể, cháu, chắtmuốn hưởng thừa ke the vị thì phần từ chối này sẽ được phận chia giữa các thừa ke the

vị còn lại trong cùng một chi Ví dụ: “A có hai con M và N đều chết trước và đều để lạimỗi người hai con Neu cả bốn cháu chấp nhận di sản thì mỗi người được hưởng 1/4.Neu giả định một trong hai con của M từ chối nhận di sản, thì người con còn lại sẽhưởng được trọn phần do người từ chối bỏ lại, nghĩa là con còn lại nhận di sản của M;phần của mỗi con của N không thay đổi là 1/4”12

Bên cạnh đó, nếu người thừa ke the vị chỉ từ chối một phần di sản xác định củangười được the vị hoặc chỉ từ chối phần thừa ke the vị do ông bà hoặc cụ để lại màkhông từ chối di sản do cha mẹ trực tiếp để lại thì như the nào? Trong trường hợp này,

sẽ chia thừa ke theo nguyên tắc: nếu từ chối phần di sản nào thì chỉ phần di sản đó không được thừa kế mà thôi Ví dụ: X có con là Y, Y có con là Z Y lập di chúc cho Zhưởng 1/4 di sản của Y và Z từ chối hướng di sản theo di chúc Y chết năm 2016 và Xchết năm 2017 Trong trường hợp này, Z từ chối hưởng thừa kể theo di chúc trong disản của Y nhưng vẫn được hưởng thừa ke theo pháp luật đối với di sản của Y Đối với

di sản của X , Z vẫn được hưởng thừa ke the vị thay cho Y trong di sản của ông X Tuynhiên, nếu cháu, chắt - người thừa ke thể vị không từ chối nhận di sản của ông, bà hoặc

cụ mất mà cháu, chắt lại từ chối nhận di sản của cha, mẹ của cháu, chắt thì liệu việc từchối này có ảnh hưởng đen quyền hưởng thừa kể thể vị của cháu, chắt trong di sản củaông bà hoặc cụ không, bởi vì cháu, chắt hưởng thừa kể the vị là trên suất hưởng mà cha,

Trang 30

mẹ của cháu, chắt được hưởng trong di sản của ông bả Theo đó, người thừa ke the vịnhận di sản của ông, bà hoặc cụ mất là tương ứng trên phần mà cha, mẹ của họ đượchưởng trên di sản của ông bà hoặc cụ khi cha, mẹ chết trước hoặc cùng thời điểm vớiông, bà, do vậy nếu người thừa ke the vị từ chối nhận di sản của người được the vị (tứccha, mẹ của người the vị) thì họ cũng không có quyền hưởng thừa ke the vị trong di sảncủa ông, bà hoặc cụ mất Bởi vì, người the vị một khi từ chối nhận di sản của ngườiđược the vị thì bản thân họ không được xem là người thừa ke của người được the vị thì

họ cũng không thể thay the vị trí của người được the vị để nhận di sản của ông, bà hoặc

cụ (tức người để lại di sản trong quan hệ thừa ke the vị)13 Ví dụ A có con là B và C, B

có con là X Neu B chết trước A thì di sản của A sẽ chia 1/2 cho C và 1/2 cho X Neugiả định X từ chối nhận di sản của B vào thời điểm B chết thì X cũng không thể the vị Bnhận di sản của A vào thời điểm A chết, tức di sản của A sẽ để lại cho C hưởng trọn.Ngoài ra, nếu người the vị không từ chối nhận di sản của người để lại di sản, nhưngngười được the vị trước khi chết lại từ chối nhận di sản của người để

Trang 31

14 Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 3, NXB Chính tri quốc

gia, Hà Nội, tr 114 và Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam NXB

Chính tri Quốc gia, Hà Nội, tr.94.

lại di sản thì liệu thừa kế thể vị có xảy ra? Đa phần các ý kiến14 đều cho rằng thừa kế the

vị cũng không xảy ra trong trường hợp này, bởi người the vị không thể thay the vị trícủa người được the vị để nhận di sản một khi bản thân người the vị không còn là ngườithừa ke đối với người để lại di sản do đã từ chối nhận di sản

1.3.3 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản

Khi một người dù đã thỏa mãn điều kiện về sự “tồn tại” vào thời điểm mở thừa

ke, người này cũng không từ chối nhận di sản, tuy nhiên để nhận di sản thì người thừa

kể cũng phải thỏa điều kiện là không vi phạm các trường hợp là người không đượcquyền hưởng di sản tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015, cụ thể:

Thứ nhất, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc

về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêmtrọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

Thứ hai, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.Bên cạnh đó, nghĩa vụ nuôi dưỡng được quy định tại Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2014,như sau:

“1 Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡngcon chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khảnăng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

2 Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹmất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiềucon thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”

Tuy nhiên, mức độ được coi là nghiêm trọng thì pháp luật dân sự Việt Nam chưaquy định và giải thích cụ thể bằng văn bản

Thứ ba, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khácnhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa ke đó có quyền hưởng

Ở đây cần lưu ý lỗi ở hành vi xâm phạm tính mạng người thừa ke khác là lỗi cố ý Neu

Trang 32

Thứ tư, người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sảntrong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúcnhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Đối với thừa ke the vị, vấn đề đặt ra là nếu người the vị thuộc các trường hợp tạikhoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 đối với người để lại di sản thì họ có thể thưởng disản của người này được không? Theo đó, người the vị phải có đầy đủ khả năng thừa keđối với người có di sản, việc người the vị thuộc một trong các trường hợp lại khoản 1Điều 621 BLDS năm 2015 đối với người để lại di sản thì họ sẽ không có quyền thưởng

di sản của người để lại di sản Bởi “người không có quyền hưởng di sản không thể the vịngười chết trước để nhận lấy phần mà người chết trước được hưởng nếu còn sống mộtkhi không tồn tại quyền thừa ke của một cá nhân đối với một di sản, thì không cần thiếtđặt câu hỏi liệu cá nhân có thể mượn thứ bậc của người khác để thực hiện quyền đó”15

Tương tự, như tác giả lý giải trường hợp người thừa ke the vị từ chối nhận di sảncủa người được the vị, khi người the vị thuộc một trong các trường hợp tại Điều 621BLDS năm 2015 đối với người được the vị thì họ cũng không thể the vị người này đểnhận di sản của ông, bà Ngoài ra, nếu người được the vị thuộc một trong các trườnghợp tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 đối với người để lại di sản thì người thừa kethe vị có thể nhận di sản của người để lại di sản được hay không? Thông thường, người

Trang 33

được thế vị, nếu còn sống ở thời điểm mở thừa kế, phải có quyền hưởng di sản củangười chết Người không có quyền hưởng di sản không phải là người thừa ke; do đó,không được xếp vào một hàng nào cũng không nằm trong một thứ bậc nào Thừa ke the

vị không thể áp dụng trong trường hợp này vì không đầy đủ các chủ thể (không cóngười được the vị) và không có đối tượng (không có phần di sản mà người chết trước cóquyền hưởng nếu còn sống)

Ví dụ: “A có bố, mẹ, vợ và hai con là B và C B có con là B1 và C có con là C1

B và C đều đã chết trước A, riêng B trước khi chết đã có hành vi xâm phạm tính mạngcủa A (đã bị kết án hình sự) Do đó, B không có quyền hưởng di sản của A Phần di sản

mà đáng lẽ B được hưởng thừa ke (1/5 khối di sản của A) sẽ chia đều cho bố, mẹ, vợcủa A và con của C (C chết trước A nên C1 sẽ là người thừa ke the vị thay C nhận 1/4khối di sản của A)24

1.3.4 Người thừa kế thế vị và người được thừa kế thế vị không bị truất quyền hưởng di sản:

Quyền này của người để lại di sản được quy định tại Điều 626 BLDS năm 2015

Cụ thể, nếu người có di sản truất quyền hưởng di sản của một trong các thừa kể the vịthuộc cùng một chi mà không chỉ định người nhận phần của người bị truất quyền, thìphần này cũng được phân chia giữa các thừa ke the vị khác trong cùng một chi (hoặctiểu chi) Tuy nhiên, tất cả những người thừa ke và thừa ke the vị trong trường hợp vừanêu nhận di sản không phải theo pháp luật mà theo di chúc, do sự chỉ định gián tiếp25.Cần lưu ý rằng nếu người có di sản truất quyền hưởng di sản của

24 Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 3, NXB Chính tri quốc gia, Hà Nội, tr.114.

25 Cần nói thêm theo quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Điện thì truất quyền hưởng di sản có thể là truất quyền hưởng di sản được nói rõ (ví dụ: có một con và một anh trai Người lập di chúc tuyên bố rằng con không có quyền hưởng di sản Vậy, anh trai coi như được chỉ định là người thừa kế và được hưởng trọn di sản, nhưng với tư cách thừa kế theo di chúc được chỉ định gián tiếp, không phải thừa kế theo pháp luật được gọi ở hàng thứ hai) hoặc truất quyền hưởng di sản không được nói rõ (ví du: A có hai con Di chúc của A nói rằng tài sản của A giao cho bạn gái Bằng quyết định đó, người lập di chúc đã truất quyền hưởng di sản của hai con, dù việc truất quyền không

được nói rõ) Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả khác được trong Giáo trình Đại học Luật thành phố Hồ Chí

Minh về Quyền tài sản, quyền sở hữu và quyền thừa kế thì truất quyền hưởng di sản nên là truất quyền

Trang 34

có một con A1 và một cháu nội X, con của A1 A chết trước người có di sản Bằng dichúc, người có di sản quyết định rằng A1 truất quyền hưởng di sản Vậy di sản sẽ đượcgiao trọn cho B - thừa ke thuộc hàng thứ nhất, còn X không nhận được gì bởi A1 cònsống26.

Tương tự, để thừa ke the vị xảy ra, tác giả cho rằng người được thừa ke the vịcũng phải thỏa điều kiện là không bị người để lại di sản tuyên bố truất quyền hưởng disản trước khi người được thừa ke the vị chết Bởi, nếu việc truất quyền xảy ra thì người

bị truất quyền sẽ không được xem là người thừa ke của người để lại di sản Vì vậy,cháu, chắt của người bị truất quyền hưởng di sản không thể the vị họ để hưởng di sản

1.3.5 Người được thế vị và người thừa kế thế vị phải là người cùng huyết thống, trực hệ, bề dưới của người để lại di sản:

Cả người được the vị và người thừa ke the vị đều phải là trực hệ của người để lại

di sản Ngoài ra, người thừa ke the vị và người được the vị phải là con, cháu (bề dưới)của người để lại di sản Đây có thể xem là điều kiện cơ bản để thừa ke the vị xảy ra Cụthể, người thừa ke the vị chỉ có thể là cháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản Neucháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểmthi con của người đó, tức là chắt của người để lại di sản là người thừa ke the vị Ngoàihai trường hợp trên, việc thừa ke the vị không được áp dụng trong các hàng thừa kekhác Ví dụ, cháu gọi người chết là bác ruột, chủ ruột, cô ruột không được the

26được nói rõ Theo đó, “truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản xác định rõ trong di chúc về việc không cho ai được hưởng di sản của mình Chỉ những người bị truất quyền thừa kế minh thị (nói rõ trong di chúc) mới ị mất quyền hưởng di sản Đối với những người không được di chúc chỉ định hưởng di sản thì vẫn có thể được hưởng thừa kế theo pháp luật phần di sản liên quan đến di chúc bị thất hiệu và các phần di sản khác không được định đoạt trong di chúc.”

Trang 35

vị vào vị trí của cha mẹ mình để nhận di sản thừa kế của bác ruột, chú ruột, cỏ ruột với

tư cách là người thừa ke the vị Những người này nếu có được hướng di sản thì chỉ đượchưởng với tư cách là người ở hàng thừa ke thứ ba (trường hợp ngoại lệ, quyền thừa kethe vị đối với con nuôi, con riêng đã được tác giả phân tích trong mục 1.2) Nhìn chung,trong mối liên hệ giữa người để lại di sản với người được thể vị thì người để lại di sảnphải là người ở đời trước, người được the vị là người ở đời sau27

1.3.6 Người được thế vị chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại

1.3.7 Thừa kế thế vị chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng:

Quan hệ thừa ke the vị phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống làtrường hợp cha ruột, mẹ ruột chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông ruột, bà ruộtthì cháu ruột, chắt ruột sẽ thể vị cha, mẹ nhận di sản của ông, bà hoặc cụ Quyền thừa kethe vị phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống và trực hệ là hoàn toàn phùhợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho concháu trực hệ một khi cha, mẹ của cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà Đốivới quan hệ nuôi dưỡng thi thửa ke the vị có thể xảy ra giữa cha mẹ nuôi với con nuôi,con riêng hưởng thừa ke the vị của bố dượng, mẹ ke Tuy nhiên, như đã phân tích trong

27 Phạm Văn Tuyết - Lê Kim Giang (2015), Hướng dẫn môn học Luật dân sự, NXB Tư pháp tr.378.

Trang 36

mục 1.2.2 thì đối tượng thừa kế thế vị là con nuôi sẽ giới hạn trong một số trường hợp

cụ thể, bởi tính ưu tiên dành cho con cháu trực hệ trong quan hệ thừa ke the vị Tương

tự quyền thừa ke the vị của con riêng đối với bố dượng, mẹ ke chỉ phát sinh khi thỏa căn

cứ tại Điều 654 BLDS năm 2015 mà thôi Nhìn chung, để thừa ke the vị phát sinh thìđòi hỏi người thừa ke the vị và người được the vị phải thỏa một số điều kiện cơ bản nhấtđịnh, bên cạnh những điều kiện đặc thù của thừa ke the vị Qua đó, làm cơ sở để thểphân biệt giữa thừa ke the vị với các dạng thừa ke khác (thừa ke theo pháp luật, thừa ketheo di chúc, thừa ke chuyển tiếp)

Khi phân tích những quy định của pháp luật dân sự Việt Nam cũng như với sự sosánh, đối chiếu với quy định của pháp luật một số nước tác giả cho rằng quy định vềthừa ke the vị của Việt Nam nên có sự cởi mở hơn để đảm bảo tốt quyền lợi của nhữngngười the vào vị trí của người thừa ke để hưởng di sản thừa ke từ người đã chết Đối vớiđiều kiện về việc xác định người con, cháu của người để lại di sản thừa ke phải là người

có quyền thừa ke Sau đó, người thừa ke này phải là người không bị tước quyền hưởng

di sản thừa ke thì họ mới được thừa ke the vị nên xem xét lại Điều kiện này nên đượcxem xét một cách cởi mở hơn để đảm bảo nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật dân

sự “mỗi người phải tự chịu trách nhiệm dân sự bằng hành vi của mình” Và từ đó đảmbảo sự công bằng hơn cho những người thừa ke, tránh trường hợp vì hành vi trái phápluật của cha, ông của họ mà người con, cháu lại không được hưởng phần này nếucha/ông của họ đã chết đi

1.4 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ở nước ta pháp luật thành văn về thừa ke đã có từ rất sớm, trong đó Bộ luậtHồng Đức là văn bản sớm nhất hiện còn lưu giữ được, đã chứa đựng nhiều quy định kháhoàn chỉnh về thừa ke Đe có cơ sở cho việc đối chiếu, so sánh những quy định củapháp luật hiện hành, nên tác giả nghiên cứu về lịch sử của nó Tuy nhiên, tác giả khôngnghiên cứu toàn diện về vấn đề này mà chỉ xin điểm qua những mốc thời gian quan

Trang 37

trọng có ý nghĩa liên quan đến lịch sử xây dựng và phát triển các quy định về thừa kếmột cách khái quát, sau đó đi sâu vào tìm hiểu quy định về thừa ke the vị Việc hìnhthành và phát triển thừa ke và thừa ke the vị ở Việt Nam có thể chia làm các giai đoạnsau:

1.4.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1990

Trong giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam:

Đe xác định chính xác thời điểm xuất hiện những quy định về thừa ke trong phápluật Việt Nam là một điều rất khó Có ý kiến cho rằng: “Pháp luật về thừa ke nước ta đã

có từ thời Hùng Vương - trước Công nguyên” Thời Hùng Vương đã quy định việc chiatài sản luật dân sự và tranh chấp dân sự dưới thời Hùng Vương đã có những quy địnhbắt buộc”28 Tuy nhiên, ý kiến trên lại chưa có đủ dữ liệu để khẳng định, mà chỉ là sựsuy đoán logic của quá trình luật hóa các quan hệ thừa ke Một ý kiến khác lại khẳngđịnh dưới thời Trưng Vương (40 - 43) đã có pháp luật, ông Vũ Văn Mẫu đã dựa vàosách Hậu Hán Thư, quyển Cổ luật Việt Nam Thông khảo quyển 1, ông có trích “Mãviện đi xứ nào, liền đặt thành quận, huyện, xây thành quách.” “Có điều trần tấu về luậtviết của người Việt, so sánh với luật Hán hơn mười điều” và ông kết luận “Thời ấy đã

có luật thành văn như nhà Hán” Đen thời Trần, nhà nước cũng rất chú trọng đến banhành pháp luật như: “Quốc Triều Thống Chế”, “Quốc Triều Tống Lê”, “Bộ Vinh Thư”.Đáng tiếc, các bộ luật này đến nay đã bị thất truyền Vì vậy, không có căn cứ để xácđịnh xem quy định thừa kể the vị đã xuất hiện hay chưa vào thời gian này

Có thể nói, chỉ đen thời nhà Lê (1428 - 1787) với những thành tựu rực rỡ trênnhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh te, ngoại giao, đặc biệt trong lĩnh vực lập pháp vàđiển che đã để lại nhiều văn bản pháp lý Theo thứ tự thời gian, có thể kể tên các sáchsau Quốc triều đình luật, Luật Thư (1440 - 1442), Quốc Triều Chiểu Lệnh Thiện Chỉnh(1619 - 1705), Cảnh Hưng Điều luật (1740 - 1786) Trong tất cả các bộ sách nói trên,Quốc triều hình luật được xem là bộ luật quan trọng và chính thống nhất, đồng thời là

28 Viện Nhà nước và Pháp luật (1994), Tập bài giảng Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Hà Nội,

tr.40.

Trang 38

bộ luật có niên đại xưa nhất còn giữ được Chính vì lẽ đó, nên khi nghiên cứu nhữngquy định về thừa ke của pháp luật Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý đã lấy Quốctriều đình luật làm cơ sở để kết luận rằng: “Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam được hìnhthành chính thức từ triều Hậu Lê (1428 - 1788), cụ thể được ghi nhận trong Quốc triềuhình luật”29 Trong Quốc triều hình luật, các quy định thừa kể được quy định trongchương Điền sản từ Điều 374 đen Điều 399 Theo bộ luật này, thừa nhận hai hình thứcthừa ke, đó là thừa kể theo di chúc (phần chia di sản theo chúc thư) và thừa ke theo phápluật (phân chia di sản theo pháp luật)” Tuy nhiên, quy định về thừa ke theo pháp luậttrong giai đoạn này chỉ mang tính sơ khai và chưa có căn cứ cho thấy quyền thừa ke the

vị đã được ghi nhận trong giai đoạn này Mặc dù, Điều 389 Quốc triều hình luật quyđịnh về the vị dường như đã được hình thành một cách sơ khai, làm cơ sở để quy địnhnên che định thừa ke the vị trong giai đoạn sau Cụ thể, việc the vị này có quy định đặcbiệt là chọn người thừa tự để hưởng di sản hương hỏa, nhưng bước đầu đã cho thấy quyđịnh thừa ke the vị đã có cơ sở hình thành

Trong giai đoạn Pháp thuộc đến tháng 8 năm 1945

Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửaphong kiến Do vậy, pháp luật nói chung và pháp luật về thừa ke nói riêng thể hiện hệ tưtưởng phong kiến lạc hậu và ảnh hưởng tư tưởng tư sản “nền cộng hòa Pháp” với chínhsách “chia để trị”; trong đó Bộ dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ đều quy định chi tiết haihình thức thừa ke, đó là thừa ke theo di chúc và thừa ke theo pháp luật và quyền thừa kethe vị Cụ thể đã ghi nhận quyền thừa ke the vị “khi di sản truyền cho trực hệ ti thuộc thìcon cháu được thay the cha, mẹ chết trước để chia nhau phần của cha mẹ”30 Tóm lại,pháp luật về thừa ke trong giai đoạn này đã hình thành, nhưng còn mang tính sơ lược.Tuy nhiên, vấn đề thừa kế thế vị đã được quy định trong giai đoạn này, bên cạnh quyềnthừa ke theo di chúc và thừa ke theo pháp luật nói chung

29 Chế Mỹ Phương Đài (1997), Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật, Viện

Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, tr.9.

30 Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (2008), Một số vấn đề về pháp luật di sản Việt Nam từ thế kỉ XV đến

thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 164.

Trang 39

Giai đoạn năm 1945 - 1975

Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 90/SL ngày10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ cũ, nếu nó không trái với nguyên tắc “Độc lập củanước Việt Nam và chủ thể dân chủ cộng hòa” Như vậy, khi giải quyết tranh chấp vềthừa ke trong thời kỳ này chủ yếu vẫn áp dụng những quy định trong Bộ dân luật Bắc

kỳ và Trung kỳ Mặc khác, sự ra đời của Hiến pháp năm 1946 với mục tiêu đề ra là từngbước xóa bỏ tàn tích của che độ phong kiến, xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,hướng tới bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 97/

SL ngày 22/5/1950 để sửa đổi một số quy lệ về chế định trong dân luật cũ, trong đó quyđịnh về thừa ke ở Việt Nam đã có những nguyên tắc tiến bộ, phá vỡ sự lỗi thời trongpháp luật về thừa ke trước đó, như con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũng khôngbắt buộc phải nhận thừa ke của người ấy, Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã ban hànhThông tư số 1742 ngày 18/9/1956 trong đó quy định vấn đề thừa kế thế vị được ghinhận cho cháu khi cha, mẹ cháu chết trước ông, bà Tuy nhiên, vấn đề thừa ke the vịcũng chỉ được đề cập rất ít trong văn bản này31 Sau đó, trong Thông tư số 594 ngày27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa ke, theo đó quyềnthừa ke the vị của cháu khi cha, mẹ cháu chết trước ông bà tiếp tục được ghi nhận32

Giai đoạn 1975 - 1990

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang giaiđoạn mới, đất nước độc lập thống nhất, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiếnnhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Cùng với sự thống nhất về chínhtrị, kinh te, đòi hỏi tất yếu phải có sự thống nhất về pháp luật và việc áp dụng pháp luật

Đe khắc phục sự cách biệt về pháp luật giữa hai miền Bắc, Nam nên Hội đồng Chínhphủ đã ban hành Nghị quyết số 76/CP ngày 25/3/1977 hướng dẫn việc thi hành phápluật thống nhất trong phạm vi cả nước Qua đó, để phù hợp tình hình mới trong sự thay

31 Phùng Trung Tập (2002), Thừa kế theo pháp luât của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận văn

Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr.30-50.

32 Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, Hà Nội, tr.50-60.

Trang 40

ke của ai, di sản của người nào chia cho người thừa ke của người đó Có thể khẳng địnhThông tư số 81/TAND-TC ngày 24/7/1981 là văn bản đầu tiên quy định khá chi tiết vềthừa ke và thừa ke the vị từ sau Cách mạng Tháng 8 đen trước khi có Pháp lệnh Thừa kếnăm 1990.

1.4.2 Giai đoạn từ sau năm 1990 đến năm 2005.

Pháp lệnh về thừa kế năm 1990

Vào những năm cuối thập kỷ 80, the kỷ XX, Nhà nước ta phát triển nền kinh tehàng hóa nhiều thành phần theo cơ che thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chính sách pháp luậtnhằm giải phóng mọi năng lực sẳn xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phầnkinh te và cho phép nhiều hình thức sở hữu khác nhau tồn tại, trong đó hình thức sở hữu

cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân được thừa nhận Pháp lệnh Thừa ke năm 1990 có hiệulực từ ngày 10/9/1990 gồm 6 chương, 38 điều trong đó xác định được những nguyên tắc

cơ bản về thừa ke, thừa ke theo di chúc về thừa ke the vị, khác với Thông tư số81/TAND-TC ngày 24/7/1981 quy định “trong trường hợp con của người để lại di sảnchết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w