Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - 000 -
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ MÓNG GUỐC NGÓN CHẴN (ARTIODACTYLA) Ở
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã được đón nhận sự quan tâm giúp đỡvà tạo điều kiện của Ban Giám Hiệu Trường Đại học Vinh; Ban chủ nhiệm khoa SauĐại học; các thầy cô giáo tổ bộ môn Động vật - Sinh lý, khoa Sinh học Trường Đạihọc Vinh; Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống; chính quyền và nhân dâncác xã xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống; bạn bè, đồng nghiệp và nhữngngười thân Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng nhất đốivới những sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn GS.TS Lê Vũ Khôi, TS Cao Tiến Trung đã định
hướng và trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn; Quỹ học bổng sáng tạoĐacuyn đã hỗ trợ kinh phí để tác giả tiến hành nghiên cứu và thực hiện luận văn
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắcchắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những góp ý chânthành, thẳng thắn của các nhà chuyên môn, các cơ quan tổ chức, quý thầy cô, bạn bèvà đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày 22 tháng 12 năm 2011
Phạm Thị Huyền
Trang 3MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt Danh lục bảng Danh lục hình và biểu đồ MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Móng guốc 3
1.1.1 Hệ thống phân loại thú Móng guốc 3
1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Móng guốc ở Việt Nam……….5
1.1.3 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Móng guốc ở Nghệ An 7
1.2 Đặc điển tự nhiên - xã hội khu vực nghiên cứu 8
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.2.1.1 Vị trí địa lý 8
1.2.1.2 Địa hình 9
1.2.1.3 Khí hậu thủy văn 11
1.2.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng 12
1.2.1.5 Thảm thực vật 13
1.2.1.6 Hệ thực vật……….15
1.2.1.7 Hệ động vật 15
1.2.2 Đặc điểm dân sinh và kinh tế 15
Chương 2 Địa điểm, thời gian, tư liệu và phương pháp nghiên cứu 18
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu………… 18
2.2 Tư liệu nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu………… 20
2.3.1 Kế thừa có chọn lọc các tài liệu đã công bố 20
Trang 42.3.3 Thu thập các di vật thú trong nhà dân 21
2.3.4 Khảo sát theo tuyến 22
2.3.5 Nghiên cứu sinh cảnh 23
2.3.6 Phương pháp xử lý và định loại mẫu vật 23
2.3.7 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) 25
2.3.8 Phương pháp lập sơ đồ phân bố một số loài thú Móng guốc 25
2.3.9 Điều tra hiện trạng sử dụng thú rừng……… 25
2.3.10 Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Thành phần loài thú Móng guốc ngón chẵn ở KBTTN Pù Huống 26
3.1.1 Thành phần loài 26
3.1.2 Thực trạng bảo tồn các loài thú Móng guốc ngón chẵn KBTTN Pù Huống 27
3.2 Một số đặc điểm hình thái các loài thú Móng guốc ngón chẵn ở KVNC 28
3.2.1 Lợn rừng ……… 28
3.2.2 Cheo cheo java .30
3.2.3 Nai 31
3.2.4 Hoẵng ……… 33
3.2.5 Mang lớn ……… 35
3.2.6 Mang Trường Sơn ……….…… 36
3.2.7 Bò tót ……… ……….37
3.2.8 Sơn dương.……… … 38
3.2.9 Sao la……… 40
3.3 Thông tin về hiện trạng các loài TMGNC ở KBTTN Pù Huống 41
3.4 Sự phân bố thú Móng guốc ngón chẵn trong KBTTN Pù
Trang 53.4.1 Đặc điểm sinh cảnh các tuyến khảo sát……… ……….48
3.4.2 Kết quả phát hiện nơi phân bố của Lợn rừng, Hoẵng trong KVNC 49
3.4.3 Phân bố của các loài TMGNC tại khu vực nghiên cứu 50
3.5 Ảnh hưởng của cộng đồng đến TMGNC ở KBTTN Pù Huống 59
3.5.1 Ảnh hưởng trực tiếp 59
3.5.2 Ảnh hưởng gián tiếp 62
3.5.2.1 Khai thác gỗ trái phép 62
3.5.2.2 Phá rừng làm nương rẫy……….64
3.5.2.3 Khai thác sản phẩm ngoài gỗ 64
3.5.2.4 Các hoạt động khác 65
3.5.3 Sản phẩm thú Móng guốc và cách sử dụng……… 66
3.5.4 Hiện trạng quản lí của KBTTN Pù Huống 69
3.5.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn các loài thú Móng guốc ngón chẵn trong KBTTN Pù Huống 70
KẾT LUN VÀ ĐỀ XUẤT 73
KẾT LUẬN 73
ĐỀ XUẤT 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC
Trang 6Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt
CR: Rất nguy cấp (theo Danh lục Đỏ của IUCN (2008))
DD: Thiếu dẫn liệu (theo Sách Đỏ Việt Nam (2007 và Danh lục Đỏ của IUCN (2008))EN: Nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam (2007 và Danh lục Đỏ của IUCN (2008))IB: Nghiêm cấm khai thác sử dụng (theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP)
IIB: Khai thác, sử dụng hạn chế, có kiểm soát (theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP)IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
KBT: Khu bảo tồn
KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên
KVNC: Khu vực nghiên cứu
LR/Lc: Ít nguy cấp/Ít lo ngại (theo Danh lục Đỏ của IUCN (2008))
SĐVN: Sách đỏ Việt Nam (2007)
TMGNC: Thú Móng guốc ngón chẵn
VN: Việt Nam
VQG: Vườn Quốc gia
VU: Sẽ nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ của IUCN (2008))
Trang 7Danh lục bảng
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
Bảng 1.2 Dân số và thành phần dân tộc của các xã vùng đệm
Bảng 1.3 Dân số và thành phần dân tộc của các thôn, xã vùng lõi
Bảng 2.1 Các địa điểm và thời gian tiến hành điều tra, khảo sát
Bảng 2.2 Các tuyến điều tra trong KBTTN Pù Huống
Bảng 2.3 Tư liệu nghiên cứu thu được từ thực địa
Bảng 3.1 Các loài thú Móng guốc ngón chẵn ghi nhận được ở KBTTN Pù HuốngBảng 3.2 Mức độ xếp hạng bị đe dọa và quản lý các loài thú Móng guốcngón chẵn ở KBTTN Pù Huống
Bảng 3.3 Các số đo hình thái sừng Nai đực
Bảng 3.4 Chỉ số các số đo di vật sừng Nai tại KVNC
Bảng 3.5 Chỉ số kích thước di vật sừng Hoẵng ở KVNC
Bảng 3.6 So sánh một số đặc điểm hình thái sừng Hoẵng và sừng Mang lớnBảng 3.7 So sánh một số đặc điểm và chỉ số kích thước sừng Hoẵng và sừngMang trường sơn tại KVNC
Bảng 3.8 Chỉ số kích thước di vật sừng Sơn dương tại KVNC
Bảng 3.9 Chỉ số kích thước di vật sừng Sao la tại KVNC
Bảng 3.10 So sánh một số đặc điểm và chỉ số kích thước sừng Bò tót, sừng Sơndương và sừng Sao la
Bảng 3.11 Hiệu suất bắt gặp dấu vết Lợn rừng và Hoẵng trên các tuyến khảo sát
Trang 8Danh lục hình, biểu đồ và sơ đồ
Hình 1.1 Vị trí KBTTN Pù Huống trong tỉnh Nghệ An
Hình 1.2 Địa hình - địa mạo KBTTN Pù Huống và vùng phụ cận
Hình 2.1 Các tuyến điều tra chính tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
Hình 2.2 Cách đo các chỉ tiêu của cá thể thú Móng guốc ngón chẵn
Hình 2.3 Cách đo các chỉ tiêu của hàm dưới Lợn rừng
Hình 2.4 Cách đo các chỉ tiêu của sừng
Hình 2.5 Cách đo các chỉ tiêu chân, móng của thú Móng guốc ngón chẵn
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh hiệu suất bắt gặp dấu vết Lợn rừng và Hoẵng
Hình 3.2 Sơ đồ phân bố của Lợn rừng, Hoẵng, Sơn dương và Mang lớn trong
Khu BTTN Pù Huống - tỉnh Nghệ An (theo kết quả điều tra ngoài tự nhiên)
Hình 3.3 Sơ đồ phân bố một số loài thú Móng guốc ngón chẵn ở KBTTN Pù
Huống - tỉnh Nghệ An (theo kết quả điều tra ngoài tự nhiên và những thông tin phỏng vấn)
Trang 9MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong 16 nước trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao, trongđó có khu hệ thú, đến nay đã ghi nhận được 266 loài thú (307 loài và phân loài) thuộc
40 họ, 14 bộ [29]; riêng thú Móng guốc ngón chẵn (Artiodawectyla) có 17 loài
(không tính bò sừng soắn Novobos spiralis vì chưa đủ dẫn liệu) thuộc 5 họ [22].
Trong đó có nhiều loài phổ biến và cũng có nhiều loài quý, hiếm, đặc hữu của ViệtNam và khu vực
Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, Nghệ An là tỉnh có tính đa dạng sinh học cao,trong đó khu hệ thú có đặc trưng của khu hệ thú Bắc Trung Bộ và rất đa dạng vềthành phần loài Phần lớn các loài thú, nhất là các loài thú quý hiếm đang được bảotồn ở ba Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: VQG Pù Mát; KBTTN PùHuống và KBTTN (được đề xuất) Pù Hoạt
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có Khu hệ thú đa dạng phong phú, là nơi cưtrú của nhiều loài động vật quý hiếm, đặc biệt là một số loài thú Móng guốc ngónchẵn mới phát hiện vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước như Sao la, Mang trườngsơn, Mang lớn Theo kết quả nghiên cứu trước đây [31], ở Pù Huống đã ghi nhậnđược 100 loài thuộc 28 họ, 10 bộ, trong đó bộ Móng guốc ngón chẵn có 9 loài đã vàđang sinh sống trong phạm vi của KBTTN Pù Huống Tuy nhiên, nghiên cứu nàykhông nói rõ về sự phân bố, hiện trạng và bảo tồn các loài thú nói chung, thú Móngguốc ngón chẵn nói riêng trong Khu bảo tồn, một trong những nhóm thú có nhiều ýnghĩa khoa học và kinh tế Mặt khác, các hoạt động của con người như săn bắt độngvật hoang dã, khai thác gỗ trái phép, phá rừng làm nương rẫy, đã làm cho các loàiđộng vật rừng, đặc biệt là các loài thú Móng guốc ngón chẵn tại đây ngày càng bị suygiảm nghiêm trọng
Để góp phần đánh giá đầy đủ hơn về khu hệ thú ở KBTTN Pù Huống và tạo cơ
sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài thú nói chung, thú Móng guốc
Trang 10ngón chẵn nói riêng trong Khu bảo tồn, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Đa dạng sinh học thú Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài được tiến hành nhằm:
- Xác định thành phần loài, hiện trạng, phân bố và một số đặc điểm sinh học, sinhthái TMGNC ở KBTTN Pù Huống
- Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của cộng đồng và đề xuất một số giải pháp quảnlí, bảo tồn TMGNC trong KBTTN Pù Huống theo hướng phát triển bền vững
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài:
- Xác định thành phần loài, mô tả đặc điểm hình thái cơ bản qua các di vật
- Xác định hiện trạng và lập sơ đồ phân bố của một số loài TMGNC trongKBTTN Pù Huống
- Tổng quan và nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học và sinh thái củamột số loài
- Điều tra hiện trạng ảnh hưởng của cộng đồng và quản lý thú rừng nói chungtrong KBTTN Pù Huống
- Đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn TMGNC trong KBTTN Pù Huống theohướng phát triển bền vững
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Bổ sung tư liệu về thành phần loài, đặc điểm hình thái qua các di vật, hiện trạng,phân bố và sinh cảnh sống của TMGNC trong KBTTN Pù Huống, phục vụ cho côngtác quản lý, bảo tồn
- Những giải pháp quản lý bảo tồn TMGNC được đề xuất sẽ góp phần bảo tồn vàphát triển bền vững đa dạng sinh học trong KBTTN Pù Huống
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ MÓNG GUỐC
1.1.1 Hệ thống phân loại thú Móng guốc
Vào nửa cuối thế kỷ XX, các loài thú móng guốc được xếp chung vào một bộMóng guốc (Ungulata), bao gồm 2 phân bộ: phân bộ Móng guốc ngón lẻ(Perissodactyla) và phân bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla)
Sau đó, trên cơ sở ngón chân và hình thái cơ thể của các loài trong 2 phân bộ rấtkhác nhau, nên bộ Móng guốc (Ungulata) được tách ra thành 2 bộ độc lập:
1) Bộ Móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla), gồm những loài thú móng guốc màbàn chân sau có một ngón hoặc ba ngón; trong trường hợp bàn chân có 3 ngón thìngón thứ 3 (ngón giữa) phát triển hơn các ngón bên
2) Bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) gồm những loài thú móng guốc màbàn chân sau có hai hoặc bốn ngón, nhưng ngón 3 và 4 phát triển bằng nhau và lớnhơn các ngón bên, 2 ngón bên thường lùi về phía sau
Theo Don E Wilson và Dee Ann M Reeder (1992) [50], bộ Móng guốc ngón lẻ(Perissodactyla) có 3 họ, 18 loài và bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) có 7 họ,
191 loài G.B Corbet và J E Hill [49] đã thống kê sắp xếp hệ thống phân loại thúmóng guốc ở miền địa động vật Ấn Độ - Ma Lai như sau:
Bộ Móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla) có 3 họ với 5 loài:
- Họ Heo vòi (Tapiridae) 1 loài,
- Họ Tê giác (Rhinocerrotidae) 2 loài,
- Họ Ngựa (Equidae) 2 loài
Bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) có 7 họ với 53 loài:
Trang 12- Họ Lợn (Suidae): 2 giống, 6 loài (Sus có 5 loài và Babyrousa 1 loài),
- Họ Hà mã (Hippopotamidae): 1 loài, nhưng đã bị tuyệt chủng,
- Họ Lạc đà (Camelidae): 1 loài,
- Họ Cheo cheo (Tragulidae): 2 giống với 3 loài (Tragulus 2 loài, Moschiola 1 loài),
- Họ Hươu xạ (Moschidae): 1 loài,
- Họ Hươu nai (Cervidae): 7 giống, 22 loài (Cervus 7 loài, Elaphurus 1 loài, Axis 4 loài, Muntiacus 7 loài, Elaphodus 1 loài, Hydropotes 1 loài, Giraffa 1 loài,
- Họ Trâu bò (Bovidae): 11 giống, 29 loài (Bos 6 loài, Babulus 5 loài, Boselaphus 1 loài, Tetracerus 1 loài, Antilope 1 loài, Gazella 2 loài, Budorcas 1 loài, Naemorrhedus 5 loài, Hemitragus 2 loài, Capra 3 loài, Ovis 2 loài
Theo Lekagul và J.A McNeely (1977) [48] đã xác định ở Thái Lan có 18 loài thúMóng guốc, trong đó bộ Móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla) có 3 loài và bộ Móngguốc ngón chẵn (Artiodactyla) có 15 loài
Những kết quả nghiên cứu khu hệ thú đến nay đã xác định được ở Việt Nam có 3loài Móng guốc ngón lẻ thuộc 2 họ:
- Họ Heo vòi - Tapiridae: 1 loài,
- Họ Tê giác - Rhinocerotidae: 2 loài
Và 17 loài Móng guốc ngón chẵn thuộc 5 họ [22]:
- Họ Lợn - Suidae: 1 loài, 1 giống,
- Họ Cheo cheo - Tragulidae: 2 loài, 1 giống,
- Họ Hươu xạ - Moschidae: 1 loài, 1 giống,
- Họ Hươu nai - Cervidae: 7 loài, 4 giống,
- Họ Trâu bò - Bovidae: 6 loài, 4 giống
Ngày nay hệ thống phân loại thú Móng guốc (Ungulata), nhất là hệ thống phânloại bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) đã có nhiều thay đổi Ví dụ, Nai và Naicà tông theo hệ thống của Corbet và Hill (1992) [49], Lekagul và McNeely [48] và
của nhiều người khác ở Việt Nam [3, 19, 26 ] được xếp trong giống Cervus với tên loài là Cervus unicolor và Cervus eldii Nhưng trong nhiều hệ thống phân loại mới
Trang 13Rusa unicolor và của Nai cà tông là Rucervus với tên loài là Rucervus eldii [8] Trong
những năm cuối thế kỷ 20 khoa học lại phát hiện ra nhiều loài TMGNC nên hệ thốngphân loại bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) của Corbet và Hill (1992) [49]không có tên các loài đó
1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Móng guốc ở Việt Nam
Trong những loại sách về sử học, địa lý…, đặc biệt trong bộ Đại Nam nhất thốngchí có ghi chép những loài thú quý và lạ trong đó có các loài thú Móng guốc như Têgiác, Hươu…, các sản phẩm của chúng thường được dùng để cống tiến vua chúa Kết quả của những nghiên cứu từ trước tới nay đã xác định được ở Việt Nam bộMóng guốc ngón lẻ (Perissodactyla) có 2 họ với 3 loài và bộ Móng guốc ngón chẵn
(Artiodactyla) có 5 họ với 17 loài [3], trong đó loài Heo vòi (Tapirus indicus), Tê giác hai sừng (Diceroohinus sumatraenssis) và Bò xám (Bos sauveli) đã bị tuyệt chủng (EX), còn Tê giác một sừng (Rhinocerros sondaicus), Hươu xạ (Moschus berezovski) và Trâu rừng (Babulus bubalis) ở mức Rất nguy cấp (CR) [2] Các loài Lợn rừng trường sơn (Sus bucculentus), Mang pù hoạt (Muntiacus puhoattensis), Mang rô se ven (Muntiacus rooseveltorum) chưa có dẫn liệu đầy đủ nên trong nghiên
cứu này không đưa vào danh sách các loài Móng guốc ngón chẵn ở Việt Nam
Nghiên cứu thú ở Việt Nam (trong đó có thú Móng guốc) được bắt đầu từ cuốithế kỷ XIX đầu thể kỷ XX chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài tiến hành Cáccông trình của De Pousargues (1904), E Boutan (1906), W.H Osgood (1932), J.Delacour (1940), R Bourrer (1932, 1944),… đã thống kê được 172 loài và phân loàithú ở Việt Nam, trong đó đã ghi nhận nhiều loài thú Móng guốc Năm 1928 C.B
Kloss đã công bố một phân loài hoẵng mới: Hoẵng an nam (Muntiacus munjak annamensis) ở Lang Biang Năm 1937, A Urbain công bố loài bò mới: Bò xám kuprei (Bos sauveli) ở Campuchia (sau này phát hiện Bò xám phân bố ở Campuchia,
Đông Nam Thái Lan, Nam Lào, Tây Nam Việt Nam)
Các nghiên cứu thú Móng guốc trong giai đoạn này mới chỉ ghi nhận được sự cómặt của chúng ở một số địa điểm, mà chưa xác định được vùng phân bố của loài
Năm 1962, lần đầu tiên Đào Văn Tiến [42] đã xác định hai loài Hươu sao (Cervus
Trang 14nippon), Hươu xạ (Moschus moschiferus) ở Việt Nam Trong “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, Tập I, Lê Hiền Hào (1973) [13] đã đề cập tới sự phân bố, một số đặc điểm sinh học, sinh thái của 5 loài Móng guốc ngón chẵn “Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình” (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1975)) [15] - một chuyên khảo điều tra nguồn
lợi động vật ở một tỉnh, đã cho biết hiện trạng, phân bố, sinh học, sinh thái của 7 loài
TMGNC Trong công trình “Kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam” đã
xác định được ở miền Bắc Việt Nam có 8 loài thuộc 4 họ, thuộc bộ Móng guốc ngón
chẵn (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1981)) [17] Năm 1985, khi “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam”, Đào Văn Tiến và cộng sự đã xác định được 7 loài thú thuộc bộ Móng guốc ngón chẵn [42] Trong “Sinh học và sinh thái các loài thú Móng guốc ở Việt Nam” Đặng Huy Huỳnh và cộng sự đã nghiên cứu về hình thái phân loại, phân
bố, sinh học, sinh thái của các loài thú Móng guốc thuộc cả 2 bộ Móng guốc ngón lẻ(Perissodactyla) và Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) ở Việt Nam (Đặng HuyHuỳnh ,1986) [18]
Ở miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, nghiên cứu thú chủ yếu do người nướcngoài thực hiện P.F.D Van Peneen và cộng sự (1969), đã thống kê được 164 loài,trong đó có 13 loài thú Móng guốc: 11 loài thuộc bộ Móng guốc ngón chẵn và 2 loàibộ Móng guốc ngón lẻ [52]
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1975), công cuộc điều tra khảosát khu hệ thú được thực hiện trên khắp cả nước Nhiều công trình nghiên cứu khu
hệ thú ở từng vùng, từng địa phương đã xác định sự có mặt của một số loài thúMóng guốc và đặc điểm sinh học sinh thái của chúng [16, 46, 47, 24, 36, 27, 30, 28,21] Vào những năm 90 của thế kỷ XX, tại miền Bắc Trung Bộ đã phát hiện ra các
loài thú Móng guốc mới cho khoa học, đó là: Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Sao la (Pseudoxyx nghetinhensis), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis) [9, 43, 44, 45] Sau đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phân bố, sinh học sinh thái của Sao la [11, 20], Bò tót (Bos gaurus) [12, 23]… Theo
Lê Vũ Khôi [25] các loài thú Móng guốc lớn thuộc họ Trâu bò (Bovidae) không
Trang 15Tổng hợp các kết quả điều tra nghiên cứu khu hệ thú đến nay đã có một số côngtrình về thành phần loài và hệ thống phân loại thú, trong đó có khu hệ thú Móng guốc[3, 8, 19, 26] Nhưng các tài liệu này không thống nhất về hệ thống phân loại bộMóng guốc ngón chẵn ở Việt Nam.
Theo “Sách Đỏ Việt Nam, 2007 [2] đã ghi nhận 90 loài và phân loài thú xếp hạng
ở mức độ đe dọa khác nhau, trong đó có Móng guốc ngón lẻ (3 loài ) và Móng guốcngón chẵn (16 loài)
Rõ ràng thú Móng guốc ở Việt Nam có thành phần loài khá phong phú và đadạng, có ý nghĩa lớn về kinh tế và khoa học
1.1.3 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Móng guốc ở Nghệ An
Nghệ An có 3 khu vực bảo tồn đa dạng sinh học: VQG Pù Mát, KBTTN PùHuống và khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt Vì vậy, những nghiên cứu khu hệthú ở tỉnh Nghệ An đều tập trung ở 3 khu vực này
Tại VQG Pù Mát đã có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thú [4, 37, 38] Năm
2001, Phạm Nhật và Nguyên Xuân Đặng (2001) [37] giới thiệu những đặc điểm nhậndiện của 64 loài thú, trong đó có 10 loài thú Móng guốc ngón chẵn, đặc biệt có loài
Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Sao la (Pseudoxyx nghetinhensis), là những loài thú lớn mới phát hiện vào những năm 90 của thế kỷ XX và Lợn rừng trường sơn (Sus buculentus) còn ít
được biết đến ở Việt Nam Đặng Công Oanh [38] đã hoàn thiện danh lục và cung cấpnhiều thông tin về sinh học, sinh thái, phân bố của các loài thú ở Pù Mát, trong đó có
10 loài thú Móng guốc ngón chẵn
Khu hệ thú ở Pù Hoạt còn ít được nghiên cứu Năm 2002, Vũ Đình Thống đãthống kê ở Pù Hoạt có 23 loài Dơi Kế thừa những kết quả nghiên cứu từ trước vànhững dẫn liệu thu được trong thời gian điều tra thực địa từ tháng 4 đến tháng 8 năm
2009, Lê Vũ Khôi, Hoàng Xuân Quang và Nguyễn Đức Lành [32, 33, 34] đã thống
kê được 96 loài thú đã và đang sinh sống ở khu vực Pù Hoạt, trong đó có 8 loài thú
Móng guốc ngón chẵn (Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis và Bò tót - Bos gaurus…) Tuy nhiên số lượng cá thể
Trang 16-của các loài Móng guốc ngón chẵn ở Pù Hoạt bị giảm sút theo thời gian, nên rất ít khigặp chúng trong tự nhiên
KBTTN Pù Huống cũng như các khu vực bảo tồn khác của tỉnh Nghệ An, có tiềmnăng đa dạng sinh học cao nên được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước chú ý
nghiên cứu Sự có mặt của Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) trong vùng được ghi
nhận năm 1995 thông qua phỏng vấn và định loại mẫu tiêu bản (Kemp et al.1997).Năm 2003 đã ghi nhận được 63 loài thú thuộc 24 họ, 9 bộ, trong đó có các loài Móngguốc ngón chẵn [4] Năm 2004, Katja Wolfhechel Christensen (Bảo tàng Động vật,Trường Đại học Copenhagen Đan Mạch) và Cao Tiến Trung (Tổ Động vật, TrườngĐại học Vinh) đã có nghiên cứu về phân bố, số lượng, các yếu tố đặc trưng và cácsinh cảnh chính của Sao la, Nai và ba loài Mang tại đây [7] Năm 2007, Trần MạnhHùng và những người khác đã thống kê được 100 loài thú trong đó có 9 loài Móngguốc ngón chẵn [14, 31]
Như vậy, việc nghiên cứu về thú ở Nghệ An còn ít, trong đó thú Móng guốc cònchưa nhiều và chưa đầy đủ Trong khi đó thú Móng guốc ở Nghệ An nói chung, ở PùHuống nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng và nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng(đặc biệt là Sao la và Mang trường sơn) Vì vậy cần có những nghiên cứu cơ bản làm
cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài thú Móng guốc nói riêng và cácloài thú nói chung trong KBTTN Pù Huống
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
KBTTN Pù Huống (còn có tên gọi khác là Bù Huống hoặc Phù Huống) có diệntích 50.075 ha là vùng sinh thái nông nghiệp Bắc Trung Bộ, nằm ở trung tâm tỉnhNghệ An, cách thành phố Vinh 150km về phía Tây Bắc, cách quốc lộ 1A theođường 48 đi vào từ huyện Diễn Châu khoảng 60km (hình 1.1)
Tọa độ địa lý: 19o15' - 19o29’ vĩ độ Bắc
104o13’ - 105o16’ kinh độ Đông
Trang 17Khu BTTN Pù Huống nằm trên địa phận hành chính của 11 xã thuộc 5huyện, bao gồm các xã:
- Cắm Muộn, Quang Phong, huyện Quế Phong
- Diên Lãm, Châu Hoàn, huyện Quỳ Châu
- Châu Thành, Châu Thái, Châu Cường, Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp
- Nga My, Xiềng My, huyện Tương Dương
- Bình Chuẩn, huyện Con Cuông
Hình 1.1 Vị trí KBTTN Pù Huống trong tỉnh Nghệ An
1.2.1.2 Địa hình
Trang 18KBTTNPù Huống cách 30 km về phía bắc của dải núi Bắc Trường Sơn, bị ngăncách bởi thung lũng sông Cả, có địa hình đồi núi dốc và hiểm trở, trải dài ở hai máigiông chính chạy từ tam giác Pù Huống đến Pù Lon với chiều dài 43km Độ caotrong vùng dao động trong khoảng từ 200 đến 1447m so với mặt nước biển; có đỉnhcao nhất là đỉnh Pù Lon (1447m) và đỉnh Pù Huống (1200m) Kiểu địa hình phổbiến là các ngọn núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hình thành nên ranh giớigiữa các huyện Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp về phía Đông Bắc với các huyệnTương Dương, Con Cuông về phía Tây Nam
Từ giông chính có các đường phân thuỷ đồ về các mái tạo nên các dòng chảydốc và hiểm trở Mái giông chảy về hướng Đông Bắc có các dòng chảy NậmQuang, Nậm Gương, Huồi Bô, Huồi Phạt, Huồi Phùng Căm, Huồi Lắc, Huồi MụcPán, tạo nên lưu vực và đổ nước về sông Hiếu Mái giông phía Tây Nam có cácdòng chảy Nậm Líp, Nậm Cheo, Huồi Kít, Nậm Ngàn, Nậm Chon, Huồi Ôn tạonên các dòng chảy đổ về khe Bố sau đổ vào sông Cả
Trang 19Hình 1.2 Địa hình - địa mạo KBTTN Pù Huống và vùng phụ cận
(Nguồn: Ban quản lý khu BTTN Pù Huống, 2010)
Địa hình Pù Huống có tính chất phân bậc khá rõ rệt
- Địa hình có bậc độ cao 900m đến 1500m: Nằm chủ yếu ở các hướng giôngchính từ tam giác giữa 3 huyện Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ Châu đến đỉnh Pù Lon
- Địa hình có bậc độ cao 300m đến 900m: Gồm các đồi đất đỏ ba zan ở vùng đệm
từ Quỳ Châu đến Quỳ Hợp và các đầu bậc phân thủy thấp tỏa hai bên giông chính
- Địa hình có bậc độ cao dưới 300m: Bao gồm chủ yếu lưu vực sông suốinhỏ ở hai bên Sông Cả và Sông Hiếu xen kẽ các đồi núi thấp (bản đồ 1.2)
1.2.1.3 Khí hậu thủy văn
Do ảnh hưởng của đặc điểm địa hình mà khí hậu ở đây có những nét riêng Khíhậu vừa phân hóa theo độ cao, vừa phân hóa do ảnh hưởng giảm dần của gió mùaĐông Bắc tới sườn phía Bắc Pù Huống Ngoài ra, sự mạnh lên của gió mùa Tây Namcũng làm cho khí hậu của vùng có những đặc trưng riêng
Các dãy núi của Pù Huống cũng hình thành đường phân thủy của sông Hiếu về
phía Bắc và sông Cả về phía Nam Sông Hiếu nhập vào sông Cả ở phần Nam của tỉnhNghệ An, tạo nên phần lưu vực chính sông Cả Sông Cả là sông có lưu vực lớn thứ tưcủa Việt Nam, lưu vực của nó bao gồm ba tỉnh của Lào Sông Cả đổ ra cửa biển gầnThành phố Vinh
Sự phân cách về hai phía của các dãy núi đã tạo nên sự khác biệt về khí hậu ở haikhu vực này Khi gió mùa Đông Bắc di chuyển từ phía Bắc xuống phía Nam phảivượt qua dãy Phu Lon - Pù Huống nên sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc ở sườnphía Nam giảm đi đáng kể
Khí hậu ở KBTTN Pù Huống có sự phân hóa theo độ cao và vị trí so với dải PhuLon - Pù Huống Chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm, số ngày mưa… khác nhau giữacác vùng Nhìn chung, có sự khác biệt rõ ràng giữa hai bên của dãy Pù Huống: phíaBắc có độ ẩm và lượng mưa cao hơn vùng phía Nam do có sự ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc và gió mùa Tây Nam (bảng 1.1) Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp tới
Trang 20thành phần loài và sự phân bố của các loài thực vật, từ đó ảnh hưởng tới sự phân bốcủa các loài động vật trong khu bảo tồn.
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống*
Nhân tố khí hậu Châu Quỳ Quỳ Hợp Cuông Con Tương Dương
Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối (oC) 41,3 40,8 42,0 42,7Nhiệt độ tối thấp bình quân tuyệt đối (oC) 0,4 - 0,3 2,0 1,7Nhiệt độ mặt đất trung bình (oC) 26,4 26,7 26,4 27,0
Số ngày mưa phùn trung bình năm (ngày) 19,6 17,9 22,0 5,6
Lượng mưa trung bình ngày lớn nhất
*Theo báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Huống, Nghệ An, tháng 5 năm 2002.
Do địa hình bị chia cắt, phân hoá mạnh nên các khe suối ở Pù Huống đều dốcvà ngắn Mùa khô các khe nhánh đều kiệt nước, các suối chính ít nước; mùa mưanước dâng nhanh dễ tạo nên lũ ống, lũ quét gây ảnh hưởng đến đời sống của cácloài thú ở đây
1.2.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng
Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng ở khu vực này rất đa dạng, gồm các kiểu lập địa sau:
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá macma axit (Fa)
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá vôi (Fv)
- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá phun xuất (Fha)
- Kiểu phụ đất hình thành từ phù sa mới (DP)
Trang 21- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu mịn (F3).
- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn (HF)
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (F9)
- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (FHq)
1.2.1.5 Thảm thực vật
- Diện tích đất có rừng ở Pù Huống là 36.458 ha, chiếm 73,2% tổng diện tích tựnhiên của Khu bảo tồn
- KBTTN Pù Huống có 2 kiểu rừng chính :
+ Rừng nguyên sinh (còn gọi là rừng thường xanh núi thấp): Đây là loại rừng kínthường xanh ẩm á nhiệt đới, phân bố ở độ cao trên 900m tạo thành một dải dọc theogiông núi từ Pù Lon tới Pù Huống và một phần rất nhỏ trên núi Phu - Chay - Ngô ởphía Nam Kiểu rừng này chỉ chiếm 10% diện tích, có cấu trúc nhiều tầng tán, trên 75%cây xanh quanh năm Trong tổ thành thực vật có từ 30 - 35% cây lá kim với các loài
điển hình là Pơ mu (Fokienia hodginsii) có đường kính đạt tới 100 - 200 cm, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) và Sồi lá mỏng (Quercus blakei), chủ yếu tập trung ở đỉnh Pù Lon Ngoài ra còn có các loài Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu muối (Vatica diospyroides)… Tầng thực vật mục khá dày, đôi chỗ xen lẫn các loài Giang (Dendrocalamus patellaris), Sặt (Arundinaria) Thành phần thực vật tầng cao chủ yếu là Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu (Hopea mollissima), Giổi xanh (Michelia mediocris), Trường mật (Amesiodendron chinense)… Tầng dưới tán gặp các loài Bời lời ba vì (Litsea baviensis), Bời lời lá tròn (Actinodaphne chinensis), Côm (Elaeocarpus sp.), Máu chó bắc bộ (Knema tonkinensis), Sồi sim (Quercus glauca), Cà ổi (Castanopsis ferox), Ràng ràng (Ormosia pinnata)… Vùng này gần như chưa thấy
hoạt động khai thác gỗ, sự tác động chỉ xảy ra đối với những vùng dễ dàng tiếp cận ởnhững đai độ cao thấp
Trong loại hình rừng nguyên sinh thì rừng lùn thường gặp ở đỉnh tam giác PùHuống có diện tích hẹp, chỉ phân bố ở độ cao trên 1.200m Do phân bố trên các đỉnhgiông, chịu sự tác động lớn của gió bão nên các loài thực vật ở đây thường thấp, gốccó bành vè, có thân cây cằn cỗi, cây có Rêu, Phong lan bám đầy Các loại cây điển
Trang 22hình là: Đỗ Quyên (Rhododendron arboreum), Sơn liễu (Clethra sp), Sặt (Arundinaria), Truông treo (Enkianthus sp.)… Tầng rừng chỉ cao không quá 5m,
đường kính cây gỗ nhỏ dưới 30 cm, cây lá nhỏ gỗ cứng Kiểu rừng này có tầng thảmmục chưa phân hoá, luôn có mây che phủ ẩm ướt và lạnh
Ngoài ra rừng núi đá phụ ít bị tác động chiếm khoảng 850 ha phân bố trên dải núiđá chạy từ khe Nước Mọc (xã Nga My) qua xã Xiềng My rồi khe Mét (xã BìnhChuẩn) tới Châu Thái Kiểu rừng này vẫn còn giữ nhiều nét nguyên vẹn và hiểm trở,
có các loài thực vật phổ biến như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Sến mật (Madhuca pasquieri), Trâm núi (Syzygium sp.), Gội núi (Aglaia perviridis)… Đây là điểm phân bố và cư trú chủ yếu của các loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis)…
+ Rừng thứ sinh (rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới), còn gọi là rừngthường xanh đất thấp Ở độ cao 200 - 900m, rừng có cấu trúc nhiều tầng tán, cây lá
rộng, trên 75% cây xanh quanh năm Các họ thực vật ưu thế là họ Re (Lauraceae),
Dẻ (Fagaceae), 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), Đậu (Fabaceae), Cà phê (Rubiaceae), Dầu (Dipterocarpaceae) Số loài tuy ít nhưng có loài chiếm ưu thế như Sao mặt quỷ (Hopea mollissima) ở sườn Bắc, phân bố ở độ cao 400 - 900m và ở sườn Nam với độ cao 700 - 1000m Còn ở vành đai dưới 400m, Chò chỉ (Parashorea chinensis) chiếm
ưu thế trên đất ven suối, nhiều nơi chò chỉ tạo thành tầng vượt tán, nhưng gần đâyloài này bị khai thác trộm nhiều ở ven suối sườn phía Bắc
Kiểu rừng này có các loài ưu thế tầng cao như Trường mật (Amesiodendron chinense), Lát (Chukrasia tabularis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi xanh (Michelia mediocris) Thành phần thực vật tán cao gặp chủ yếu là Sến mật (Madhuca pasquieri), Re (Cinnamomum sp.), Trường mật (Amesiodendron chinense), Cà ổi (Castanopsis ferox) Ở tầng thấp gặp chủ yếu các loài Giang (Dendrocalamus patellaris), Sặt (Arundinaria)
Dưới tán các loài ưu thế có các loài cây gỗ nhỡ điển hình như Đái bò, Bời lời,Bộp, Chắp, Máu chó, Bứa, Đẻn, Côm, Bồ hòn, Lòng trứng, Nhọc Nhưng phổ biến
Trang 23Trong loại rừng thứ sinh có các kiểu rừng phụ sau:
Rừng phục hồi sau khai thác: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Kiểu phụ này phân bố
rải rác trong khu bảo tồn và là sản phẩm của hình thức khai thác chọn Bao gồm cáctrạng thái rừng: IIIA1, IIIA2
Rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Kiểu phụ này
phân bố gần các khu dân cư, trước đây là nương rẫy nhưng đã được khoanh nuôibảo vệ Bao gồm các trạng thái rừng: IIA, IIB
Rừng tre nứa: Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Trước đây là kiểu phụ rừng phục hồi
sau khai thác hoặc sau nương rẫy nhưng tầng cây gỗ không tái sinh, phát triểnđược do bị các loài tre nứa xâm lấn Đến nay các loài tre nứa đã chiếm ưu thế, phânbố rộng, rải rác khắp hai sườn núi Xen lẫn với rừng tre nứa vẫn có các loại thân gỗ
nhỏ, một số các loài thực vật khác: Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Bời lời ba vì (Litsea baviensis), Sim (Rhodomyrtus), Mua (Melastomataceae)…
1.2.2 Đặc điểm dân sinh và kinh tế [10]
Trang 24Với hơn 43.510 nhân khẩu sống trong vùng lõi và vùng đệm của KBTTN PùHuống thuộc 112 thôn của 11 xã và 5 huyện, nhiều nhất là Châu Thái (18 thôn) và ítnhất là Nam Sơn (6 thôn); Rộng nhất là xã Nga My (18.885 ha), nhỏ nhất là xã NamSơn (6.153 ha) Trung bình mỗi hộ có 4,8 nhân khẩu Khu vực này đồng bào dân tộcthiểu số chiếm phần lớn (97,09%), hầu hết là người Thái (bảng 1.2).
Người dân trong vùng đệm Khu bảo tồn trồng cây lúa nước, lúa khô, ngô, sắn,khoai lang, lạc và các loại rau Diện tích trung bình lúa nước là từ 0,03ha/hộ ở xãXiềng My đến 0,3 ha/hộ ở xã Châu Thái Diện tích cây lương thực xấp xỉ bằng diệntích cây lâu năm, và chủ yếu là độc canh cây công nghiệp (keo, cao su và bạch đàn).Diện tích cây keo lớn nhất là ở xã Châu Hoàn, xã Châu Thái cây cam được trồng phổbiến Ba xã có diện tích rừng đặc dụng lớn là Nga My (11.223 ha), Diên Lãm (7.935ha) và Bình Chuẩn (6.929 ha) Ngoài ra còn chăn nuôi gia súc, gia cầm; săn bắt độngvật rừng, khai thác gỗ và lâm sản phi gỗ (song, mây, cỏ hương bài bán làm hương liệu)
Bảng 1.2 Dân số và thành phần dân tộc của các xã vùng đệm*
Diện tích (ha)
Số thôn
Số hộ
Số nhân khẩu
Kinh (%)
Trang 25Theo thông tin mới nhất, 3 thôn vùng lõi và tổng cộng 1.970 ha đất sẽ sớmđược tách khỏi vùng lõi khu BTTN Pù Huống.
Bảng 1.3 Dân số và thành phần dân tộc của các thôn, xã vùng lõi*
Số hộ
nghèo
Kinh(%)
DTthiểusố
(%)
TênDTthiểusố1
Trang 26Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện tại KBTTN Pù Huống của tỉnh Nghệ An tại 6 địa điểm, 4tuyến thuộc vùng lõi và vùng đệm (bảng 2.1; 2.2 và hình 2.1)
Bảng 2.1 Các địa điểm và thời gian tiến hành điều tra khảo sát
1 Bản Cướm xã Diên Lãm, huyện
Quỳ Châu
19o24’584’’N
-104o58’221’’E
Từ 01 - 05/11/2010 và 18 - 22/2/2011
2 Bản Mét và bản Tông xã Bình
Chuẩn, huyện Con Cuông
19o16’554’’N
-104o47’552’’E
Từ 23 - 27/3/2011 và 30/3 - 02/4/2011
3 Bản Na Kho xã Nga My, huyện
Tương Dương
19o20’733’’N
-104o51’673’’E Từ 27 - 31/5/2011
4 Bản Khì và bản Tèo xã Châu
Cường, huyện Quỳ Hợp
19o22’155’’N
-105o04’559’’E
Từ 09 - 14/6/2011và 27 - 30/6/2011
5 Bản Cố xã Châu Thái, huyện Quỳ
-Trảng cây bụi, nương rẫy, rừng phục hồi saunương rẫy, rừng tre nứa, rừng phục hồi saukhai thác, rừng trung bình, rừng giàu
Quỳ Châu Bản Khì - Làng bản, nương rẫy, trảng cây bụi, rừng tre
Trang 27Cố bình, rừng giàu.
Nương rẫy, rừng phục hồi, rừng tre nứa, rừngtrung bình, rừng giàu
Hình 2.1 Các tuyến điều tra chính tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù HuốngTổng thời gian điều tra khảo sát là 42 ngày Mẫu được xử lý, phân tích tại phòngthí nghiệm Động vật khoa Sinh học, trường Đại học Vinh và hoàn thiện luận văn đượcthực hiện từ tháng 10/ 2011 đến tháng 12/ 2011
2.2 TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
- Nhật kí điều tra phỏng vấn: những thông tin thu được trong khi phỏng vấnngười dân ở các bản theo các mẫu phiếu điều tra (Phụ lục 1)
Trang 28- Nhật kí điều tra thực địa: thu được khi khảo sát theo các tuyến: đặc điểm đặctrưng của sinh cảnh, toạ độ địa lý, nơi mà thợ săn đã từng gặp loài thú Móng guốcngón chẵn; các dấu vết thu được (phân, dấu chân…), đặc điểm sinh học của các loài(thức ăn, loại thức ăn ưa thích,…)
- Tư liệu mẫu gồm 92 mẫu vật, di ảnh mẫu (da, sừng, nanh, xương, mẫu nhồi, )của các loài nghiên cứu còn lưu lại trong các nhà dân ở các bản (bảng 2.3), ảnh chụpcác di vật để làm tư liệu nghiên cứu, mô tả đặc điểm và đo các chỉ số… của các sảnphẩm này
Bảng 2.3 Tư liệu nghiên cứu thu được từ thực địa
TT Loài Dấu vết Ảnh Nhồi Không nhồi Số di vật Tổng
- Ảnh chụp trong quá trình điều tra thực địa
- Tài liệu tham khảo của các tác giả khác đã được công bố có nội dung liên quan(phần tài liệu tham khảo ở cuối luận văn)
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Kế thừa có chọn lọc các tài liệu đã công bố
Thu thập và tổng hợp các tài liệu (đã công bố và chưa công bố) về kết quả nghiêncứu khu hệ thú ở KBTTN Pù Huống và các vùng lân cận
2.3.2 Phỏng vấn, thu thập thông tin trong nhân dân
Trang 29Phương pháp này còn gọi là khảo sát xã hội học, có hai hình thức phỏng vấn đó làphỏng vấn theo nhóm và phỏng vấn tự do Mỗi điểm khảo sát, ở mỗi bản tác giả đềutiến hành phỏng vấn với cả hai hình thức này.
- Với phỏng vấn theo nhóm: phỏng vấn từ 1 - 2 nhóm, mỗi nhóm từ 5 - 10 ngườidân trong bản thường hay đi rừng, đã và đang đi săn hay khai thác gỗ là những ngườihiểu biết về đặc tính của các loài thú Móng guốc Các bước phỏng vấn như sau:
+ Liệt kê nhanh những thông tin: Yêu cầu các thành viên trong nhóm tự kể tênnhững loài thú mà họ đã săn hoặc biết được Sau đó dùng phương pháp hạt đậu chomỗi nội dung cần đạt được như ước lượng, so sánh số lượng cá thể hiện có và so sánhgiá trị của các loài thú Móng guốc ngón chẵn trong khu vực nghiên cứu v.v
+ Phỏng vấn có cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn theo các câu hỏi đãđược chuẩn bị theo các nội dung cần đạt - mẫu phiếu điều tra (Phụ lục 1) Sử dụng cáccâu hỏi phụ để hiểu sâu hơn, rõ hơn về nội dung chính, trong đó có gợi ý người đượcphỏng vấn mô tả đặc điểm của từng loài, cách nhận biết và địa điểm bắt gặp hoặc sănđược các loài TMGNC, Nhận diện các loài thú thông qua bộ ảnh màu và các tài liệu[37] và một số ảnh màu khác để họ phân biệt từng loài và cung cấp hoặc bổ sung thôngtin về tên địa phương, nơi gặp, địa điểm săn và sinh cảnh sống của chúng
+ Lập bản đồ cộng đồng: Sau khi phỏng vấn, yêu cầu người được phỏng vấn vẽ bảnđồ nơi người dân sống, đi săn, khai thác gỗ và các sản phẩm khác Dựa theo hiểu biếtcủa người dân tìm những kí hiệu cho mỗi loài thú Móng guốc ngón chẵn, điền lần lượtcác kí hiệu cho mỗi loài lên bản đồ theo đúng vị trí mà họ đã gặp, đã săn hay nhìn thấychúng trong những lần đi rừng gần đây ứng với số lượng bắt gặp ít hay nhiều
- Phỏng vấn tự do: tìm hiểu những gia đình đã hoặc đang còn đi săn có am hiểu
về rừng và các loài TMGNC
+ Phỏng vấn với nội dung đã thực hiện trong phỏng vấn theo nhóm
+ Tìm hiểu thông tin về văn hoá, đời sống, tập quán sinh sống, tình hình địa phương,kinh tế gia đình, thông tin về các chuyến đi săn, trí thức bản địa sử dụng các bộ phận cơthể khi săn được thú Móng guốc, giá trị của các sản phẩm từ thú, (Phụ lục 1)
2.3.3 Thu thập các di vật thú trong nhà dân
Trang 30Thu thập các di vật (sừng, da, lông, đuôi, móng, vuốt, ) lưu giữa tại nhà các thợ săn,các cửa hàng nhồi thú, các nhà hàng đặc sản ở vùng quanh KBTTN Pù Huống Tiếnhành do kích thước một số chỉ tiêu về hình thái, chụp ảnh, mô tả các di vật, mẫu vậtcòn lưu giữ trong gia đình hay cửa hàng (gồm 85 mẫu của 7 trong số 9 loài thú Móngguốc ngón chẵn; 7 mẫu (ảnh và sừng) chưa rõ của loài nào trong họ Hươu nai (bảng 2.3).
2.3.4 Khảo sát theo tuyến
Quá trình khảo sát thực địa đã được thực hiện trên 4 tuyến, được thể hiện trongbảng 2.2 và hình 2.1
Khảo sát theo tuyến:
Trên các tuyến dự kiến người đi điều tra đi bộ dọc theo đường mòn có sẵn(thường là đường đi rừng của người dân địa phương, đường khai thác gỗ chạy quakhe, suối hoặc băng qua rừng), để quan sát các cá thể hoặc tìm các dấu vết hoạt độngcủa các loài thú Móng guốc ngón chẵn
Đến nơi mà trước đây người dân địa phương đã từng bắt gặp các loài TMGNC đểtìm kiếm dấu vết và xác định vị trí tọa độ trên bản đồ
Phương pháp điều tra dấu vết:
Thú Móng guốc đa số là các loài thú lớn, khó nhìn thấy ngoài thực địa (số lượngcòn lại ít), nên việc điều tra qua dấu vết (dấu chân, lông, phân, móng, sừng…) đượcxem là phương án khả thi nhất Các điểm ghi nhận được các dấu vết này được xácđịnh tọa độ và đánh dấu rõ trên bản đồ địa hình đồng thời mô tả hiện trạng rừng củakhu vực nghiên cứu, ước tính số lượng nhiều hoặc ít các dấu vết ở khu vực
Phương pháp điều tra dấu chân
- Nhận dạng dấu chân của các loài thú Móng guốc gặp trong quá trình khảo sátbằng cách so sánh dấu chân đó với hình trong các tài liệu nhận dạng vết chân thú [37]
- Cách đo vẽ kích thước dấu chân: Dùng compa đo các chỉ số sau (xem hình 2.5): Chiều dài: Đo chiều dài từ điểm sâu nhất của móng đến điểm sau cùng của dấu chân.Chiều rộng: Đo chiều rộng nhất từ mép phải sang mép trái của hai móng
Sau đó chuyển compa đo số đo trên sang đo trên thước kẻ ly
Trang 31Các dấu chân có kích thước và hình dạng khác nhau cũng được đo vẽ trên giấyđể phân tích số liệu chính xác hơn Ghi chú tình trạng dấu chân mới hay cũ
Phương pháp khai thác thông tin khác trên đường đi theo tuyến:
Trên tuyến khảo sát đồng thời thu thập và ghi chép lại các thông tin về:
- Tác động của cộng đồng đến sinh cảnh sống của thú nói chung và TMGNC nóiriêng thông qua các dẫu hiệu về các hoạt động khai thác gỗ, lấy củi, săn bắt,
- Thu thập những dấu vết và các di vật của thú Móng guốc để lại khi hoạt động(lông, móng, phân, dấu chân, dấu vết kiếm ăn, những khu đất bị đào, ủi ) Chụpảnh, thu và bảo quản để đưa về phòng thí nghiệm phân tích và xử lý
2.3.5 Nghiên cứu sinh cảnh
Nghiên cứu các sinh cảnh trên các tuyến khảo sát các loài thú Móng guốc như:Độ cao, thổ nhưỡng, thảm thực vật, loại rừng và thông qua việc điều tra phỏng vấnngười dân
2.3.6 Phương pháp xử lý và định loại mẫu vật
Các di vật được chụp ảnh, đo các chỉ tiêu theo các tiêu chí sau:
Với cơ thể hươu nai (hình 2.2)
Trang 32Hình 2.2 Cách đo các chỉ tiêu của cá thể thú Móng guốc ngón chẵn
Với xương hàm dưới - di vật trong nhà dân (hình 2.3)
Cao hàm dưới
Dài răng hàm Dài răng nanh
Dài hàmHình 2.3 Cách đo các chỉ tiêu của hàm dưới Lợn rừng
Với cặp sừng Hươu nai, Trâu bò (hình 2.4)
Trang 33Chu vi gốc sừng
Dài nhánh chính
Dài nhánh phụ
Khoảng cách hai mút sừng
Dài gốc sừng
Khoảng cách gốc giữa hai sừng
Hình 2.4 Cách đo các chỉ tiêu của sừng
Với chân, móng thú Móng guốc ngón chẵn
Dài bàn chân
Ngang móng Dài móng
Hình 2.5 Cách đo các chỉ tiêu chân, móng của thú Móng guốc ngón chẵnCác chỉ tiêu kích thước của sừng, nanh và cá thể được đo bằng thước dây áp sáttheo đường cong của mẫu
Định loại và xác định tên loài thông qua các di vật, dấu vết dựa vào tài liệu củaĐặng Huy Huỳnh [22] và Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng [37], có thẩm định nhờchuyên gia Lê Vũ Khôi
2.3.7 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có
sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập các số liệu về các hoạt động sản xuấtnông - lâm nghiệp, thu nhập bình quân của người dân thuộc khu vực nghiên cứu
2.3.8 Phương pháp lập sơ đồ phân bố một số loài thú Móng guốc
Trang 34Dựa trên cơ sở bản đồ hiện trạng thảm thực vật, các dấu vết tìm thấy được định vịbằng GPS trên những tuyến khảo sát và đánh dấu trên bản đồ; những thông tin từngười dân về những địa điểm đã bắt gặp thú, chúng tôi lập sơ đồ phân bố các loài thúMóng guốc ngón chẵn hiện có trong Khu bảo tồn.
2.3.9 Điều tra hiện trạng sử dụng thú rừng
Trong quá trình phỏng vấn và thu thập di vật thú rừng trong nhân dân kết hợpđiều tra phong tục người dân địa phương đã sử dụng sản phẩm từ thú Móng guốcngón chẵn Tìm hiểu hiện trạng buôn bán động vật hoang dã, trong đó có thú móng
guốc ngón chẵn thông qua người dân, những người buôn thú rừng, các nhà hàng ăn ở
thị trấn
2.3.10 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu về hiệu suất bắt gặp các loài TMGNC được tính theo công thức sau:
X = H m
Trong đó: X: Hiệu suất bắt gặp
m: Số cá thể bắt gặp của loài
H: Tổng thời gian tìm kiếm
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC NGÓN CHẴN Ở KBTTN PÙ HUỐNG 3.1.1 Thành phần loài.
Từ kết quả điều tra khảo sát cùng với sự kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu củacác tác giả khác [1, 4, 10, 14], danh lục các loài thú thuộc bộ Móng guốc ngón chẵn ởKBTTN Pù Huống tỉnh Nghệ An đã được xây dựng, gồm 9 loài thuộc 4 họ (bảng 3.1) Bảng 3.1 Các loài thú Móng guốc ngón chẵn ghi nhận được ở KBTTN Pù Huống
Trang 35phương* Ảnh DV TL DiV
1 Suidae Gray, 1821 - Họ Lợn
1 Sus scrofa Linnaeus,1758 - Lợn rừng Tô mu pá 11,129,10, [1,4,10,14] 2,3,4,5,6,8
2 Tragulidae Milne - Edwards, 1864 -
Họ Cheo cheo
2 Tragulus javanicus Osbeck, 1765 - Cheo cheo java Tô phan cày [1, 4, 14]
3 Cervidae Gray,1821 - Họ Hươu nai
3 Rusa unicolor Kerr, 1792 - Nai Tô quang [1,4,10,14] 2, 5,6
4 Muntiacus muntjack Zimmermann, 1780 - Hoẵng Tô phan 11,129,10, 10,14][1,4, 1 - 8
5 Megamuntiacus vuquangensis DoTuoc etal, 1994 - Mang lớn Tô phan [10] [4,10,14]
6 Canimuntiacus truongsonensis Giao
et al., 1997 - Mang trường sơn Tô phan
[4,10,14]
4 Bovidae Gray, 1821 - Họ Trâu bò
7 Bos gaurus Smith, 1827 - Bò tót Tô ngua pá [1,4,10,14] 8
8 Naemorhedus sumatraensis Bechstein, 1799 - Sơn dương Tô nhương [1,4,10,14] 2, 3,5, 7
9 Pseudoxyx nghetinhensis Dung et al., 1993 - Sao la Tô sau la [1,4,10,14] 2, 5
Ghi chú: Nguồn và nơi ghi nhận: DV - Dấu vết; TL - Tư liệu; DiV - Di vật; 1 - Bản
Cướm, xã Diễn Lãm, huyện Quỳ Châu; 2 - Bản Mét và bản Quẽ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông; 3 - Bản Na Kho, xã Nga My, huyện Tương Dương; 4 - Bản Tạ, xã Quang Phong, huyện Quế Phong; 5 - Bản Khì và bản Tèo, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp; 6 - Bản Cố, xã Châu Thái, huyện Quỳ Hợp 7 - Cửa hàng nhồi thú, thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp 8 - Cửa hàng nhồi thú, thị trấn Quỳ Châu, huyện Quỳ Châu 9 - Khe Bô 10 - Khe Mét 11 - Khe Khai 12 - Khe Cô * Tên địa phương là tiếng dân tộc Thái địa phương.
Trong 9 loài TMGNC ghi nhận được, có 2 loài điều tra được trong môi trường tựnhiên là Lợn rừng và Hoẵng; 6 loài có di vật tại nhà dân là: Lợn rừng, Hoẵng, Nai,Bò tót, Sơn dương, và Sao la; Cheo cheo, Mang lớn và Mang trường sơn chỉ ghinhận qua tài liệu và phỏng vấn nhân dân; riêng Cheo cheo, rất nhiều thợ săn mô tảchính xác và khẳng định loài này còn tồn tại trong khu bảo tồn
3.1.2 Thực trạng bảo tồn các loài thú Móng guốc ngón chẵn KBTTN Pù Huống
Trong 9 loài TMGNC ghi nhận được ở KBTTN Pù Huống thì cả 9 loài đều có giátrị bảo tồn (bảng 3.2) Tất cả đều có tên trong: Sách Đỏ Việt Nam (2007) [2], Danhlục Đỏ IUCN (2008) [48], Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ [6], Phụ lục của
Trang 36CITES, cần được ưu tiên bảo tồn với các mức độ khác nhau (chiếm 100% số loài ghinhận được).
Bảng 3.2 Mức độ xếp hạng bị đe dọa và quản lý
các loài thú móng guốc ngón chẵn ở KBTTN Pù Huống
TT Tên khoa học Việt Nam Tên VN IUCN NĐ CITESTình trạng bảo tồn
6 Canimuntiacus truongsonensis Mang trườngsơn DD DD IB
Ghi chú: Hiện trạng bảo tồn: VN - Việt Nam: Sách Đỏ Việt Nam (2007): EN - Nguy
cấp, VU - Sắp nguy cấp, DD - Thiếu dẫn liệu để xếp hạng; IUCN - Danh lục Đỏ IUCN (2008): CR - Rất nguy cấp, VU - Sẽ nguy cấp, LR/Lc - Ít nguy cấp/Ít lo ngại; DD - Thiếu dẫn liệu để xếp hạng; NĐ - Nghị định 32/2006/NĐ-CP: IB - Nghiêm cấm khai thác, sử dụng, IIB - Khai thác sử dụng hạn chế và có kiểm soát CITES (2009): I - Phụ lục 1: Cấm mua bán.
Như vậy: Số loài TMGNC ở KBTTN Pù Huống có tên trong Sách Đỏ Việt Nam(2007) là 7 loài (chiếm 77,8%); 3 loài ở mức nguy cấp (EN) gồm Bò tót, Sơn dươngSao la; 3 loài sẽ nguy cấp (VU) gồm Nai, Mang lớn, Cheo cheo java; và loài Mangtrường sơn thiếu dẫn liệu xếp hạng (DD)
- 8 loài ghi trong danh lục Đỏ IUCN, 2008 (chiếm 88,9%), trong đó có 1 loài (Saola) ở mức rất nguy cấp (CR), 2 loài (Bò tót, Sơn dương) ở mức sẽ nguy cấp (VU), 3loài (Lợn rừng, Nai, Hoẵng) ở mức ít nguy cấp/ít lo ngại (LR/Lc) và 2 loài thiếu dẫnliệu đánh giá (DD) (Mang lớn và Mang trường sơn)
Trang 37- 6 loài ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (chiếm 66,7%), trongđó có 5 loài (Mang lớn, Mang trường sơn, Bò tót, Sơn dương, Sao la) ở mức
"Nghiêm cấm khai thác sử dụng" (IB) và 1 loài (Cheo cheo java) ở mức "Khai thác
sử dụng hạn chế và có kiểm soát" (IIB)
- 4 loài (Mang lớn, Bò tót, Sơn dương, Sao la) có tên trong CITES, 2009 (chiếm44,4%), tất cả đều ở mức Cấm mua bán (I)
- Trong số 9 loài nói trên, Sao la (Pseudoxyx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) và Mang trường sơn (Canimuntiacus truongsonensis)
là những loài đặc hữu cho Việt Nam và Đông Dương
Như vậy, các loài TMGNC ở KBTTN Pù Huống đều là những loài thú có giá trịbảo tồn, quý hiếm cần được bảo vệ, đây là nguồn gen có ý nghĩa bảo tồn rất cao
3.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÁC LOÀI THÚ MÓNG GUỐC NGÓN CHẴN Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở 92 di vật lưu thu hoặc được xem trực tiếp, chụp ảnh lưu giữ trong cácnhà dân ở KVNC và kế thừa các tài liệu tham khảo, một số đặc điểm hình thái của 9loài thú móng guốc ghi nhận được ở KBTTN Pù Huống như sau:
3.2.1 Lợn rừng
Tên khoa học: Sus scrofa Linnaeus, 1758.
Sus scrofa Linnaeus 1758 Syst Nat 10th , et 1 : 49 Germani
Tên đồng vật: Sus cristatus Wagner, 1839
Sus scrofoides Meude, 1892
Sus jubatus Miller, 1906
Sus taininnensis Meude, 1888
Tên khác: Lợn rừng, Lợn lòi (Việt), Tô mu pá (Thái địa phương), Tu mu long
(Thái), Tu mu dông (Tầy), Loi (Mường)
Đặc điểm hình thái:
- Kích thước cơ thể: Dài thân: 120 - 190cm, Dài đuôi: 30 - 35cm, Dài bàn chân
Trang 38- Hình thái: Lợn rừng có hình dáng giống lợn nhà Đầu to, mõm dài, tai lớn, kháclợn nhà là có hai răng nanh hàm dưới phát triển ở con trưởng thành, con vật già, răngnanh dài tới 8 - 10cm thò ra ngoài miệng uốn cong lên phía trên Răng nanh hàm trêncó tác dụng tự vệ khi cần thiết và có thể tấn công kẻ thù nên được gọi là “răng tự vệ”.Hai răng nanh hàm trên kém phát triển hơn ít thò ra ngoài miệng có tác dụng mài vàorăng nanh hàm dưới làm cho chúng sắc nhọn khi chưa thò ra khỏi miệng nên còn gọilà "răng mài" Lưng thẳng, bụng nhỏ nên có thân hình thon về phía sau, da rất dày,lông thưa, khô cứng màu xám đen Lông rất dài, tới trên 7cm từ sau gáy qua hai vaivà dọc sống lưng tạo thành bờm Đuôi ngắn, mút đuôi có túm lông dài, thô cứng Bốnchân cao, mảnh, có các cơ bắp rất rắn chắc, bàn chân 4 ngón với móng guốc Haingón trước dài, hai ngón ở phía sau nhỏ bé, chỉ chạm đất khi con vật di chuyển trênđất mềm Con đực và con cái trưởng thành hầu như không khác nhau về hình dạng,màu sắc Con non mới sinh có các vệt màu trắng hoặc vàng nhạt chạy dọc cơ thể, khiđược 2 - 3 tháng tuổi các vệt trắng mất dần, bộ lông chuyển thành màu xám đen [22].
- Các di vật:
Đã thu được 18 di vật Lợn rừng chủ yếu là hàm dưới, răng nanh và 1 đầu lợnnhồi tại Cửa hàng nhồi thú ở thị trấn Quỳ Châu (ảnh Phụ lục 5) Đầu lợn nhồi là củacá thể đực, có lông cứng, màu xám tro, mõm dài, tai lớn, trọng lượng cơ thể ước tới150kg
Kích thước của 17 di vật xương hàm dưới (bảng Phụ lục 3.1): Dài hàm: 21 32cm; Cao hàm dưới: 5 - 7cm; Dài răng hàm: 11 - 13cm; Dài răng nanh trái: 4 -17cm; Dài răng nanh phải: 4 - 20cm
-Nhận xét: Chiều dài răng nanh Lợn rừng biến động lớn (4 - 20cm) tùy theo cáthể,
trong khi đó các chỉ số dài răng hàm (11 - 13cm) và cao hàm dưới (5 - 7cm) biến đổikhông nhiều Trong cùng một bộ hàm và răng ở đa số các cá thể, độ dài của hai răngtrái và phải không bằng nhau, dao động khoảng 0,5 - 3cm Chiều dài lớn nhất củarăng nanh trái (17cm) và phải (20cm), nhưng chiều dài nhỏ nhất lại bằng nhau (4cm)
Trang 393.2.2 Cheo cheo java
Tên khoa học: Tragulus javanicus (Osbeck, 1765)
Cervus javanicus Osbeck, 1765 Reince Nach Stidien und China, 357
Tên đồng vật: Tragulus kanchill (Raffles, 1821)
Tragulus affinis Gray,1861.
Tên khác: Cheo cheo, Cheo cheo java (Việt), Tô phan cày (Thái địa phương),
Chơ roi (Bana, Êđê)
Đặc điểm hình thái:
- Kích thước cơ thể: Dài thân: 33 - 52cm, Dài đuôi: 5 - 10cm, Dài bàn chân sau: 8
- 14cm, Cao tai: 3 - 5cm, Trọng lượng: 1,6 - 2,2kg [22]
- Hình thái: Loài này có đầu thon nhỏ, đôi tai lớn, cả con đực và cái đều không cósừng Dưới cằm có vệt lông trắng hình chữ "V" Hàm trên không có răng cửa, hairăng nanh phát triển, dài 4 - 5 cm thò ra ngoài miệng ở con đực Bộ lông ngắn, mịn,lưng màu xám hoặc xám đen, hai bên sườn xám nhạt, bụng trắng Đuôi ngắn, mặttrên xám, mặt dưới trắng [22]
Bốn chân mảnh khảnh, hai chân trước ngắn hơn hai chân sau, bàn chân 4 ngón, khi
di chuyển thường chỉ có hai ngón giữa in dấu xuống đất ẩm, chiều dài dấu chân 1,8 2,7cm, chiều rộng 0,6 - 1,5cm Phân Cheo cheo nhỏ (0,5 - 0,2cm) màu đen, rời rạckhông thành từng đống Con đực và con cái không có sự khác nhau về màu sắc, hìnhdáng Về kích thước và trọng lượng cơ thể ở con đực thường nhỏ hơn ở con cái [22]
Các di vật:
Cheo cheo là loài không tìm thấy di vật trong các nhà dân xung quanh KBT Tuynhiên, các thợ săn mô tả loài này rất chính xác về màu sắc, hình dạng, trọng lượng
3.2.3 Nai
Tên khoa học: Rusa unicolor (Kerr, 1792.)
Cervus unicolor Kerr, 1792 Anim Kingd 300 Ceylon
Tên đồng vật: Cervus equinus Cuvier, 1823.
Trang 40Tên khác: Nai (Việt), Tô quang (Thái địa phương), Tu quang (Thái, Tầy), Zơ zoi
(Bana, Ê đê), Dun (Mạ)
cơ thể Nai có nhiều tuyến ngoại tiết ở kẽ ngón chân, tuyến cận hậu môn, tuyến ở mép,tuyến ở đuôi [22]
Vào mùa khô, phân Nai rời rạc từng viên to bằng đầu ngón tay cái, hình trụ, kíchthước từ 2 - 3cm x 1 - 1,5cm, một đầu hơi nhọn, một đầu lõm Mùa mưa các viên phâncó thể dính lại với nhau thành từng chuỗi Dấu chân hình bầu dục, đầu mũi móng hơi tù,phía sau hơi tròn Kích thước dấu chân: dài 5 - 10cm, rộng 3 - 7,5cm [22]
Sọ lớn, thon dài Xương trán hơi lõm nhưng không tạo đường gờ hình chữ "V" [22].Nai cái không có sừng, con đực có sừng (gạc) đặc, cấu tạo hoàn toàn bằng chấtsừng mọc trên gốc sừng bằng xương dài 5 - 6cm gắn liền với hộp sọ Sừng đầu tiênmọc lúc 10 - 12 tháng tuổi có một nhánh thẳng gọi là sừng chìa vôi Năm sau (2 nămtuổi) sừng chìa vôi rụng thay sừng khác có một nhánh Năm thứ ba (3 năm tuổi) sừngmột nhánh rụng thay sừng khác có hai nhánh đặc trưng cho loài Sừng bình thường cóhai nhánh phụ ở những con đực trưởng thành (bảng 3.3) [22]: