1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đông nam á (luận văn thạc sỹ luật)

84 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 187,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kinh tế phát triển và đang phát triển, vấn đề so sánh tác động của chính sách tài khoáđến tăng trưởng kinh tế đã được thảo luận nhưng có rất ít nghiên cứu ứng dụng phươngpháp định lượng,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUÔC GIA THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐẶNG THỊ THÚY HẰNG

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC

QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - 2018 ĐẠI HỌC QUÔC GIA THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: TS DƯƠNG NHƯ HÙNG

TP HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ

ĐẶNG THỊ THÚY HẰNG

Trang 4

ÁCEIC Dữ liệu kinh tế toàn cầu

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế

S - VAR Mô hình Véc tơ tự hồi quy có cấu

trúc

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

• DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tên bảng Trang

Bảng 3.3: Các kỳ vọng dấu trong bài nghiên cứu 29

Bảng 4.10: Kết quả ước lượng các tham số từ kỹ thuật PMG 45 (trongngắn hạn)

Trang 6

• DANH MỤC ĐỒ THỊ

Tên biểu đồ

Biểu đồ 2.2: Minh họa CSTK thu hẹp 11

Trang

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ iii

Mục lục v

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu: 3

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 3

1.5 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5

2.1 Chính sách Tài khóa 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Mục tiêu 6

2.1.3 Công cụ 6

2.1.4 Chính sách tài khóa trong thực tế 7

2.2 Cơ sở lý thuyết tăng trưởng kinh tế 8

2.2.1 Khái niệm 8

2.2.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 8

2.3 Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế

10 2.3.1 Chính sách tài khóa mở rộng (nới lỏng)

10 2.3.2 Chính sách tài khóa thu hẹp (thắt chặt)

11 2.3.3 Chính sách tài khóa cân bằng (trung lập hay dung hòa) 11

2.4 Các nghiên cứu liên quan 12

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 26

3.3 Các kỳ vọng dấu trong nghiên cứu 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 30

3.5 Các bước tiến hành 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Thống kê mô tả các biến 36

Trang 8

4.2 Các kiểm định 39

4.2.1 Kiểm định tính dừng 39

4.2.2 Kiểm định tính đồng liên kết 39

4.3 Kết quả nghiên cứu 41

4.4 Thảo luận kết quả 42

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47

5.1 Hạn chế của nghiên cứu 47

5.2.1 Điều hành chính sách tài khóa 47

5.2.2 Chính sách thuế 48

5.2.3 Kiểm soát lạm phát 49

5.2.4 Điều hành lãi suất 50

5.2.5 Chính sách vay nợ và quản lý nợ Chính phủ 50

5.2.6 Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài 51

5.2.7 Chính sách thương mại 51

5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 51

5.4 Kết luận 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Các nghiên cứu điển hình về Chính sách tài khóa tác động đến tăng trưởng kinh tếđược thực hiện ở nhiều quốc gia và khu vực Theo Barro (1989) khi Chính phủ gia tăngchi tiêu sẽ làm giảm thu nhập khả dụng của khu vực tư nên làm giảm chi tiêu và đầu tưcủa khu vực này Thậm chí nếu Chính phủ gia tăng chi tiêu bằng cách lạm dụng việcthu thuế của khu vực tư sẽ có ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng của toàn bộ nền kinh

tế (Kormendi và Meguire, 1985; Grier và Tullock, 1989) Tuy nhiên hầu hết các nghiêncứu khác khẳng định rằng tác động của chính sách tài khóa lên tăng trưởng kinh tế phụthuộc vào thành phần trong tổng chi tiêu và nguồn tài trợ của chính sách tài khóa(Easterly và Rebelo, 1993; Devarajan và Swaroop và Zou, 1996; Muhammad IrfanJavaid Attaria và Attiya Y Javed, 2013; Franẹois Facchini và Elena Seghezza, 2017).Trong những trường hợp cụ thể chính sách tài khóa lại giúp kích thích đầu tư vàthúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi Chính phủ tăng cường chi tiêu vào giao thông và cơ sở

hạ tầng bởi cơ sở hạ tầng được xem như nền tảng để các thành phần khác trong nềnkinh tế có điều kiện đầu tư và kinh doanh (Aschauer, 1989; Bairam và Ward, 1993;Easterly và Rebelo, 1993) Tại các quốc gia phát triển thường có cơ sở hạ tầng hoànthiện cho nên chi tiêu của Chính phủ vào khu vực này không có tác động mạnh như ởcác nước đang phát triển hay các nước có nền kinh tế mới nổi đầu tư vào cơ sở hạ tầng

để thúc đẩy khu vực tư phát triển

Những nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên thế giới đều trên những nền

Trang 10

kinh tế phát triển và đang phát triển, vấn đề so sánh tác động của chính sách tài khoáđến tăng trưởng kinh tế đã được thảo luận nhưng có rất ít nghiên cứu ứng dụng phươngpháp định lượng, sử dụng dữ liệu bảng về vấn đề này trong trường hợp các nước khuvực Đông Nam Á Kinh tế các nước Đông Nam Á đã trải qua thử thách khốc liệt bởikhủng hoảng kinh tế tài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạnnăm 2007 - 2009 và giai đoạn đình đốn sau khủng hoảng 2010 đến nay trong đó Chitiêu Chính phủ, thuế, thâm hụt ngân sách, nợ công thường có những tác động mạnh

mẽ đến tăng trưởng kinh tế tại các Quốc gia khu vực này

Trên cơ sở những lý do đó, em lựa chọn đề tài “Tác động của chính sách tài

khóa đến tăng trưởng kinh tế tại các Quốc gia Đông Nam Á” làm đề tài luận văn.

Luận văn cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này tại các Quốcgia khu vực Đông Nam Á nhằm cung cấp thêm những khuyến nghị để Chính phủ có thểđiều tiết chính sách tài khóa một cách hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng nhằm đánh giá tác động của chínhsách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại các Quốc gia khu vực Đông Nam Á giai đoạn

2000 -2016 nhằm đưa ra những nhận xét, những khuyến nghị cho các nhà hoạch địnhchính sách trong việc điều hành chính sách vĩ mô trong tương lai cho phù hợp với tìnhhình kinh tế của khu vực

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm trả lời hai câu hỏi:

(1) CSTK đã có tác động đến TTKT tại các Quốc gia khu vực Đông Nam Á tronggiai đoạn 2000 - 2016 như thế nào?

(2) Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính phủ các nước nên tăng (giảm) thu thuếhay tăng (giảm) Nợ của Chính phủ hay cả hai để từ đó hàm ý chính sách quản lý đặt racho chính phủ như thế nào?

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng

kinh tế

Trang 11

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm 09 quốc gia khu vực Đông Nam Á (trừ

Singapore vì đây là Quốc gia có nền kinh tế phát triển)

Không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng chính sách tài khóa và tăng trưởng

kinh tế tại 09 Quốc gia khu vực Đông Nam Á

Thời gian: Sử dụng số liệu được công bố hàng năm trong khoảng thời gian từ

năm 2000 đến năm 2016 của Asian Development Bank và WorldBank cũng như cácnguồn dữ liệu uy tín khác được công nhận khác

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên

cứu là phân tích, so sánh, thống kê, và phương pháp nghiên cứu định lượng Phươngpháp thống kê chủ yếu được sử dụng ở phần tổng quan lịch sử nhằm mục đích hệ thốnghóa những nghiên cứu trước để một mặt vừa kế thừa, mặc khác đóng góp thêm nhữngđiểm mới cho đề tài nghiên cứu của chính tác giả Về mặt phương pháp định lượng, đềtài xây dựng mô hình trên nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu được công bố, ứng dụng

mô hình Pooled OLS, Random Effects, Fixed Effects, GMM, Pool mean Group để lựachọn mô hình phù hợp nhất hỗ trợ cho việc nhận xét, đánh giá các tác động và đưa racác khuyến nghị chính sách hiệu quả hơn Cùng với phương pháp nghiên cứu địnhlượng và phương pháp nghiên cứu thống kê, việc sử dụng thêm hai phương phápnghiên cứu phân tích và so sánh giúp cho đề tài nghiên cứu được chặt chẽ hơn

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Thứ nhất, luận văn đã tổng hợp hệ thống hóa được những vấn đề lí luận cơ bản

về chính sách tài khóa (CSTK) và tăng trưởng kinh tế nhằm làm sáng tỏ tác động củachính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, bài nghiên cứu đã đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm, sử dụngđịnh lượng để phân tích, đánh giá thực trạng CSTK gắn với tình hình tăng trưởng kinh

tế tại các Quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000 - 2016, nơi mà hiệu quả của chính sáchđang có nhiều tranh luận

Thứ ba, trên cơ sở các nội dung lí thuyết, tình hình thực tiễn của CSTK trongthời gian vừa qua tại các Quốc gia khu vực Đông Nam Á, tác giả đưa ra một số gợi ýchính sách nhằm nâng cao hiệu quả khi sử dụng chính sách tài khóa cho mục tiêu tăngtrưởng kinh tế ở các nước Đông Nam Á trong thời gian tới

Trang 12

1.5 Bố cục của đề tài

CHƯƠNG 1: Giới thiệu

CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết của chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tếCHƯƠNG 3: Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ VÀ

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Chính sách Tài khóa

2.1.1 Khái niệm

Chính sách tài khóa được đề cập đến nhiều trong nghiên cứu khoa học, giáo trình,văn bản quản lý của Nhà nước các khái niệm từ các nguồn trên hầu như thống nhất vềnội dung cơ bản, các yếu tố cấu thành chính sách tài khóa

Trong cuốn giáo trình kinh tế phát triển của PGS.TS Ngô Thắng Lợi (2012, 601) cónêu: “Chính sách Tài khóa là những định hướng cơ bản của Nhà nước về huy động nguồntài chính và chi tiêu của ngân sách trong khoảng thời gian nhất định( thường là 1 năm).”Chính sách tài khóa bao gồm hai nội dung cơ bản là chính sách thuế và chính sách chitiêu chính phủ

Theo Clarence L BarBer, Chính sách tài khóa có thể được định nghĩa là việc sửdụng thuế, vay và chi tiêu của chính phủ để tác động đến mức độ của hoạt động kinh tế.Thuế suất có thể được tăng lên và chi tiêu giảm với mục đích làm chậm tốc độ hoạt độngkinh tế, hoặc thuế suất có thể được giảm và chi tiêu tăng để kích thích nền kinh tế Hoặcmột lần nữa, các thỏa thuận thuế đặc biệt có thể được nghĩ ra được thiết kế để kích thíchđầu tư tư nhân hoặc các chi tiêu khác Vì chính sách tài khóa chỉ là một nhánh của chínhsách kinh tế của chính phủ, nếu nó có hiệu quả, việc sử dụng nó phải được phối hợp khéoléo với các vũ khí chính sách khác như chính sách tiền tệ, chính sách quản lý nợ và chínhsách thương mại

Theo Culbarston, về chính sách tài khóa, chính sách tài khóa đề cập đến các hànhđộng của chính phủ ảnh hưởng đến các khoản thu và chi tiêu của nó, thông thường được

đo bằng các khoản thu của chính phủ, thặng dư hoặc thâm hụt của chính phủ và thuế.Theo David N Weil, Chính sách tài khóa là việc sử dụng chi tiêu của chính phủ và thuế để tác động đến nền kinh tế Khi chính phủ quyết định về hàng hóa và dịch vụ mà họ mua, khoản thanh toán chuyển khoản mà họ phân phối hoặc thuế mà

họ thu được, đó là tham gia vào chính sách tài khóa Tác động kinh tế chính của bất

kỳ thay đổi nào trong ngân sách chính phủ được cảm nhận bởi các nhóm cụ thể

Trang 14

thay đổi thuế cho các gia đình có trẻ em, chẳng hạn, làm tăng thu nhập khả dụng của họ

Khái niệm chính sách tài khóa trong một năm tài chính là tương đồng với địnhnghĩa về ngân sách nhà nước theo quy định của Luật NSNN năm 2015 quy định: NSNN

là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảngthời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Điều này cho ta cụ thể hóa chính sách tài khóavới các chỉ tiêu thu, chi, bội chi ngân sách trong một năm, được Quốc hội quyết định, phêduyệt tổng thể dự toán NSNN hàng năm; trường hợp trong năm có phát sinh các khoảnthu, chi ngân sách không làm biến động lớn đến tổng thu, tổng chi NSNN thì Ủy banthường vụ Quốc hội có thẩm quyền xem xét quyết định

2.1.2 Mục tiêu

Mục tiêu chung của chính sách tài khóa là thông qua các kế hoạch, tổ chức, điềuhòa và giảm sát đối với hoạt động thu, chi ngân sách, thúc đẩy kinh tế phát triển bềnvững, nhanh, lành mạnh và phát triển toàn bộ xã hội Vì vậy, chính sách tài khóa cầnhướng tới các mục tiêu lớn như sau:

* Bảo đảm cung cấp các hang hóa công cộng, phúc lợi xã hội

* Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức độ thích hợp

* Duy trì ổn định xã hội - từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống

2.1.3 Công cụ

Hai công cụ chủ yếu được Chính phủ sử dụng để điều hành chính sách tài khóa làthuế và chi tiêu chính phủ Chúng ta thấy rằng, thuế chính là nguồn thu chủ yếu của chínhphủ bên cạnh các nguồn thu khác Nếu chênh lệch giữa nguồn thu và nguồn chi dương sẽlàm cán cân ngân sách thặng dư và ngược lại nếu chênh lệch giữa nguồn thu và chi tiêuchính phủ âm sẽ làm cán cân ngân sách thâm hụt, còn các khoản thu bằng các khoản chi

sẽ làm cán cân ngân sách cân bằng

Khi nền kinh tế suy thoái , để kích thích tổng cầu tăng lên,làm tăng sản lượng quốcgia, chính phủ cần tăng thâm hụt ngân sách bằng cách tăng chi tiêu G, hoặc giảm thuếròng T, hoặc vừa tăng chi tiêu G vừa giảm thuế ròng T Người ta gọi đây là chính sách tài

Trang 15

khoá mở rộng.

Ngược lại, khi nền kinh tế có lạm phát cao để giảm tổng cầu, điều tiết sản lượngquốc gia về mức sản lượng tiềm năng, chính phủ cần giảm thâm hụt ngân sách bằng cáchgiảm chi tiêu G, hoặc tăng thuế ròng T, hoặc vừa giảm chi tiêu G vừa tăng thuế ròng, đây

là chính sách tài khoá thu hẹp

2.1.4 Chính sách tài khóa trong thực tế

Trong thực tế, tác động của chính sách tài khoá có nhiều hạn chế do các nguyênnhân sau:

Khó định lượng chính xác các đại lượng của chính sách tài khoá (m, m', AY, AT,

AI, AG ) trong đó : m là số nhân chi tiêu, m' là số nhân thuế , AY là sự thay đổi về sảnlượng hay thu nhập , AT là sự thay đổi về thuế, AI là sự thay đổi trong đầu tư, AG là sựthay đổi về chi tiêu chính phủ do có sự khác nhau về quan điểm, cách đánh giá và nhìnnhận khác nhau trước các sự kiện kinh tế, sự không chắc chắn cố hữu trong các quan hệkinh tế

Chính sách tài khoá có độ trễ khá lớn: bao gồm độ trễ bên trong và bên ngoài Độtrễ bên trong bao gồm: thời gian thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định

Độ trễ bên ngoài bao gồm: quá trình phổ biến, thực hiện và phát huy tác dụng

Cả 2 độ trễ khá dài, phụ thuộc vào các yếu tố chính trị và cơ cấu tổ chức bộ máy.Bởi vậy, những quyết định đưa ra không đúng lúc có thể làm rối loạn thêm nền kinh tếthay vì ổn định nó

Chính sách tài khoá thường được thực hiện thông qua các dự án công cộng xâydựng cơ sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã hội Thực tế cho thấy, ngoài một số

dự án công cộng thực hiện thành công, đa số các dự án tỏ ra kém hiệu quả kinh tế

2.2 Cơ sở lý thuyết tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nềnkinh tế ở năm này so với năm trước đó hay ở thời kỳ này so với thời kỳ trước đó Tăngtrưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GDP bình quân đầu người trong một thời giannhất định, sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Sự gia tăng này thể hiện sự thay đổi cả về

Trang 16

quy mô và tốc độ, quy mô thể hiện sự tăng nhiều hay ít còn tốc độ thể hiện sự tăng nhanhhay chậm.

Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu về tốc độ tăngtrưởng kinh tế, thường được tính bằng mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thờigian hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người theo thời gian

2.2.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển của Adam Smith

Adam Smith cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầungười hoặc tăng sản phẩm lao động tức là tăng thu nhập ròng xã hội Ông chỉ ra nămnhân tố tăng trưởng kinh tế gồm: lao động, vố, đất đai, tiến bộ kĩ thuật và môi trường chế

độ kinh tế - xã hội Xuất phát từ lý luận giá trị lao động Adam Smith coi lao động là nhân

tố tăng trưởng cực kì quan trọng

Lý thuyết tăng trưởng của Ricardo

David Ricardo kế thừa tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng của tư tưởngdân số học của T.R Malthus (1776-1834), cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quantrọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế Xuất phát từ góc độ phân phối thu nhập để nghiêncứu tăng trưởng kinh tế, D Ricardo nhấn mạnh yếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất đai,lao động và vốn trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu

tố này kết hợpvới nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi Ông đặc biệt nhấn mạnhtích lũy vốn là nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế còn các chính sách củachính phủ không có tác động quan trọng tới hoạt động của nền kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của K Marx:

Theo Marx những yếu tố tác động tới tăng trưởng là đất đai, lao động, vốn, tiến bộ

kỹ thuật Trong đó ông đặc biệt quan tâm tới yếu tố lao động và vai trò của nó trong việcsáng tạo ra giá trị thặng dư Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản là một hàng hóađặc biệt, nó cũng như các hàng hóa khác, được các nhà tư bản mua trên thị trường và tiêuthụ trong quá trình sản xuất Nhưng trong quá trình tiêu thụ, giá trị sử dụng của hàng hóasức lao động không giống với giá trị sử dụng hàng hóa khác Nó có thể tạo ra giá trị lớnhơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư

Về yếu tố kỹ thuật: mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư, nên họ tìm mọi

Trang 17

cách tăng thời gian làm việc của công nhân, giảm tiền công của công nhân, hoặc nâng caonăng suất lao động bằng cải tiến kỹthuật Marx cho rằng, tiến bộ kỹ thuật làm tăng sốmáy móc và dụng cụ lao động giành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản có

xu hướng ngày càng tăng Do đó các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn đề khai thác sựtiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của phái tân cổ điển

Các nhà kinh tế học cổ điển mới đã giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thôngqua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sựtăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ Quanđiểm này cũng cho rằng để tăng trưởng thì các nhà sản xuất có thể lựa chọn công nghệ sửdụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều lao động Ngoài vai trò tích cực của vốnđối với tăng trưởng, mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và tiến bộ công nghệvào phương trình tăng trưởng Mô hình này cho biết tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộcông nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trưởng của mộtnền kinh tế theo thời gian

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow

Solow lập ra mô hình tăng trưởng kinh tế mới trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật Ông

đã chỉ ra rằng: nếu nền kinh tế nằm ở trạng thái ổn định thì nó sẽ đứng nguyên tại đó, vànếu nền kinh tế chưa nằm tại trạng thái ổn định thì nó sẽ có xu hướng tiến về đó Do vậy,trạng thái ổn định chính là cân bằng dài hạn của nền kinh tế

Vậy mô hình Solow cho thấy, nếu tỷ lệ tiết kiệm cao thì nền kinh tế sẽ có mức sảnlượng lớn hơn Tuy nhiên việc tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ đưa đến tăng trưởng nhanh hơntrong một thời gian ngắn, trước khi nền kinh tế đạt tới trạng thái ổn định nếu một nềnkinh tế duy trì một tỷ lệ tiết kiệm cao nhất định nó sẽ duy trì được mức sản lượng caonhưng không duy trì được tốc độ tăng trưởng cao

Như vậy, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ các yếu tố của tăng trưởngkinh tế Động lực phát triển kinh tế được kết hợp từ bốn yếu tố của tăng trưởng là nguồnnhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốcgia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau tạo nên kết quả tương ứng là khác nhau

ở mỗi nước Tuy nhiên có thể nói, trong bốn yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế thì

Trang 18

nhóm các yếu tố liên quan đến con người (nguồn nhân lực) có vai trò quyết định Nhữngyếu tố thể hiện nguồn lực này là khả năng cung lao động với quy mô và chất lượng laođộng, cách thức phân công lao động trong hoạt động kinh tế - hay là cơ cấu cầu lao động

là những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế Chất lượng đầu vào của lao động thể hiệnqua kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất cho tăngtrưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thểmua hoặc vay mượn, nhưng nguồn nhân lực khó có thể làm tương tự Các yếu tố như máymóc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệuquả bởi đội ngũ lao động có trình độ, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Nhiều nghiêncứu thực nghiệm trên thế giới đã cho thấy ngay cả những nước bị tàn phá nặng nề trongchiến tranh (như Đức sau thế chiến thứ II) và nghèo nàn về tài nguyên (như Nhật Bản)vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục nhờ có được nguồn nhânlực dồi dào và chất lượng

2.3 Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế

2.3.1 Chính sách tài khóa mở rộng (nới lỏng)

Là chính sách tài khoá có tác dụng làm tăng tổng cầu và vì vậy làm tăng sản lượng

Sử dụng chính sách này khi nền kinh tế suy thoái, sản lượng thực tế thấp hơn sản lượngtiềm năng (Yt < Y*)

Trang 19

Biểu đồ 2.1: Minh họa CSTK mở rộng 2.3.2 Chính sách tài khóa thu hẹp (thắt chặt)

Là chính sách tài khoá có tác dụng làm giảm tổng cầu và vì vậy làm giảm sản lượng Sử dụng chính sách này khi nền kinh tế trong trạng thái quá nóng, sản lượng

Biểu đồ 2.2: Minh họa CSTK thu hẹp

Tuỳ theo tình hình cụ thể của đất nước trong mỗi thời kỳ mà chính phủ có thể sử dụng một trong hai loại chính sách tài khoá (2 nguyên lý) như đã nêu trên Hai nguyên lý này gọi là chính sách tài khoá chủ động

2.3.3 Chính sách tài khóa cân bằng (trung lập hay dung hòa)

Là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên

Trang 20

mức độ các hoạt động kinh tế Điều này không có nghĩa sự bằng nhau tuyệt đối về thu - chi ngân sách, mà là sự cân đối tương đối Thu lớn hơn chi, hoặc thu ít hơn chi, bội chi trong khoảng nhất định đều có thể xem cơ bản là cân đối.

Một thực tế là trong nhiều thập kỷ trở lại đây, ở hầu hết các nước trên thế giới, đặcbiệt là các nước đang phát triển, tổng chi ngân sách nhà nước thường là lớn hơn tổng thungân sách nhà nước, từ đó dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước Ngoại trừ một số rất ítquốc gia vẫn duy trì được bội thu hay cân bằng ngân sách nhà nước, ở hầu hết các nướcđều trong xu thế bội chi NSNN ngày càng tăng và kéo dài Một cường quốc kinh tế sốmột và có chính sách kinh tế vĩ mô tiên tiến hàng đầu thế giới như Mỹ cũng không thoátkhỏi tình trạng này, với mức bội chi ngân sách nhà nước hàng năm khoảng 3% GNP ỞViệt Nam, Luật Ngân sách nhà nước mặc dù hướng tới cân bằng thu - chi ngân sách nhànước, nhưng cũng vẫn cho phép bội chi

2.4 Các nghiên cứu liên quan

Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đối với tăng trưởng kinh tế là một chủ đề gâytranh cãi và lâu dài trong lý thuyết kinh tế, nghiên cứu thực nghiệm và hoạch định chínhsách kinh tế Lý thuyết truyền thống gợi ý rằng, khi các yếu tố khác không đổi, việc giảmtiết kiệm của chính phủ khiến lãi suất tăng, đầu tư giảm, và tăng trưởng kinh tế chậm lại

Có một số bằng chứng thực nghiệm từ dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu bảng đã phântích tác động của thâm hụt tài khóa đối với tăng trưởng kinh tế Những ảnh hưởng có hạicủa chính sách tài khóa mất cân đối với tăng trưởng kinh tế đã được chứng minh bằngthực nghiệm trong một số nghiên cứu, như Rubin và cộng sự (2004), Gale và Orszag(2002), Fischer (1993), Easterly và Rebelo (1993), Easterly et al (1994), Bleaney và cộng

sự (2001) và Borcherding và cộng sự (2004), Roy và Berg (2009) đã tìm thấy kết quảkhông rõ ràng Không chỉ dừng lại ở việc xem xét tác động của CSTK nói chung đến tăngtrưởng kinh tế, các nghiên cứu còn hướng đến việc tìm kiếm kết quả thực nghiệm về hiệuquả của các công cụ Cụ thể là công cụ nào có tác động lớn hơn đến tăng trưởng kinh tế(GDP): cắt giảm hay gia tăng nguồn thu Chính phủ (Thuế) hay gia tăng Nợ Chính phủ để

bù đắp cho sự mất cân bằng đó?

Cùng với sự phát triển của các mô hình lý thuyết trong lĩnh vực này, các nghiên cứuthực nghiệm được thực hiện bởi nhiều nhà kinh tế như Aschauer (1989), Barro (1990,

Trang 21

1991) và Easterly and Rebelo (1993) Nói chung, hầu hết các bài viết cho thấy sự gia tăngđầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, sự gia tăng trong chitiêu chính phủ có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế.

Fischer (1993) đã kết luận rằng điều hành Chính sách tài khóa mất cân bằng hay đểdiễn ra tình trạng thâm hụt tài khóa và tăng trưởng có tương quan nghịch Gale và Orszag(2002) kết luận rằng, thâm hụt tài khóa có khả năng làm chậm tăng trưởng kinh tế bởi vì

“dòng vốn đổ vào đại diện cho sự suy giảm trong đầu tư nước ngoài ròng của quốc gia và

do đó giảm vốn của quốc gia và giảm thu nhập quốc gia trong tương lai”

Nghiên cứu của Gavin M và Perotti R (1997) dùng bộ dữ liệu về tài chính côngcủa 13 Quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 1968 - 1995, họ chia tập dữ liệu làm haiphần, phần thứ nhất trình bày mức trung bình của các tập hợp tài khóa của các chính phủnói chung ở Mỹ Latinh và các nước công nghiệp hóa, trong suốt giai đoạn 1970-1995 vàtrên từng thập kỷ riêng biệt 1970 - 1995, 1970 - 1979, 1980 - 1989, 1995 - 1995; Với cácbiến tổng thâm hụt/GDP, tổng chi tiêu/ GDP Cho thấy thâm hụt tài khóa trung bình ởchâu Mỹ Latinh đã lớn hơn đáng kể so với các nước công nghiệp hóa nếu được tính nhưmột phần của doanh thu thuế, có thể là một chỉ báo tốt về khả năng của một quốc gia đểtài trợ cho nợ của mình Phần thứ hai trình bày biến động các kết quả của chính sách tàikhóa với các biến là tổng thâm hụt, thâm hụt chính, tổng lợi nhuận, tổng chi tiêu, chi tiêuchính phủ, chi chuyển nhượng chi trả lãi vay, chi tiêu vốn Nghiên cứu đã chỉ ra độ lệchchuẩn trung bình của tốc độ tăng trưởng của từng hạng mục ngân sách, bởi giảm phátGDP cho tổng thặng dư và thặng dư sơ cấp với thặng dư sơ cấp là khoản thặng dư khôngtính khoản thanh toán lãi suất của khoản nợ chưa trả) Kết quả tài khóa đã biến độngnhiều hơn ở Mỹ Latinh so với thế giới công nghiệp hóa Mỗi thành phần chi tiêu đã biếnđộng đáng kể hơn ở châu Mỹ Latin, với sự khác biệt lớn nhất trong chuyển nhượng vàtiêu dùng của chính phủ Mục đích chính của hai tác giả trong bài viết này là để đưa ramột cái nhìn hoàn chỉnh về chính sách tài khóa ở Mỹ Latinh và đưa ra một số giải thíchcho những sự kiện trong thời gian nghiên cứu Các tác giả nhận thấy rằng trong một sốkhía cạnh, kết quả tài khóa khác nhau về mặt chất lượng so với những gì được quan sátthấy ở các nước công nghiệp Sự tuần hoàn này có thể liên quan đến các hiệu ứng khácnhau dẫn đến méo mó về chính trị là trọng tâm của một số bài báo lý thuyết gần đây và

Trang 22

kinh nghiệm Mỹ Latinh có thể giúp phân biệt giữa các mô hình khác nhau.

Hemming (2002) và ctg, đã tổng quan lý thuyết và thực nghiệm về hiệu quả củachính sách tài khóa Nghiên cứu đã mô tả các ảnh hưởng khác nhau về của chi tiêu Chínhphủ, tăng và cắt giảm thuế Mục đích là để xác định các trường hợp mà tài khóa mở rộng

sẽ có xu hướng tương đối hiệu quả hoặc tương đối không hiệu quả trong việc kích thíchhoạt động kinh tế Các tác giả đã trình bày ảnh hưởng của CSTK lên tổng cầu, cách tiếpcận Keynes và hiệu ứng lấn át, ảnh hưởng phi Keynes của CSTK, cũng như sự ảnh hưởngcủa CSTK bên phía cung va quan trọng là các tác động của chính sách tài khóa cũng cóthể phụ thuộc vào yếu tố thể chế

Với tần suất quý thì có nghiên cứu của Blanchard và Perotti (2002), xem xét những

cú sốc trong chi tiêu chính phủ trên dữ liệu của Mỹ từ quý I/1960 đến quý IV/1997, bằngcách sử dụng mô hình S - VAR và nghiên cứu sự kiện, kết quả cho thấy cú sốc tăng chitiêu chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng Nghiên cứu cũng nhận thấy rằngviệc tăng thêm thuế và chi tiêu chính phủ có tác động mạnh mẽ lên đầu tư tư nhân, qua đóthúc đẩy tăng trưởng

Một cách tiếp cận VAR khác được Perotti (2005) sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởngcủa chính sách tài khóa đối với GDP và biến kinh tế Vĩ mô ở năm nước OECD Ông kếtluận rằng các tác động của chính sách tài khóa có xu hướng nhỏ, và ảnh hưởng của các cúsốc chi tiêu của chính phủ và cắt giảm thuế đối với GDP đã trở nên yếu hơn

Sau đó thì TalVi Và Vegh (2005) trên cơ sở mẫu của 56 quốc gia, bài nghiên cứucho thấy chính sách tài khóa của các quốc gia G7 dường như thường không thuận chu kỳ,trong khi chính sách tài khóa ở các nước đang phát triển là thuận chu kỳ Để thực hiệnchính sách tài khóa nghịch chu kỳ, khi sử dụng thuế các quốc gia sẽ đối mặt với thặng dưngân sách lớn trong những thời điểm tốt và thâm hụt ngân sách trong những thời điểmxấu Tuy nhiên, khả năng thặng dư ngân sách lớn trong những thời điểm tốt sẽ bị cản trởbởi áp lực chính trị, thường gia tăng khi ngân sách thặng dư, do đó các nguồn lực tàichính có thể bị lãng phí cho các mục tiêu của cơ quan chính phủ hơn là việc trả nợ hoặctài trợ thâm hụt Các nước đang phát triển thường phải đối mặt sự biến động lớn về cơ sởtính thuế của họ so với các nước phát triển, việc thực hiện chính sách tài khóa thuận chu

kỳ dường như là một cách gián tiếp để chống lại các áp lực chi tiêu

Trang 23

Karim (2006) xem xét mối quan hệ lâu dài giữa tổng chi tiêu của chính phủ, tổngthu thuế và tăng trưởng kinh tế ở các nước Asean-5 là Malaysia, Indonesia, Thái Lan,Singapore và Philippines Nghiên cứu này sử dụng phân tích đồng liên kết và phân tíchphương sai Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, họ kết luận rằng có tồn tại mối quan hệlâu dài giữa chi tiêu chính phủ, tổng thu thuế và tăng trưởng kinh tế cho tất cả các nướcASEAN-5 Kết quả phân tích phương sai cũng cho thấy rằng chi tiêu Chính phủ khôngđóng vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan, Singapore vàPhilippines, ngoại trừ Indonesia.

Theo Willi Semmler và ctg (2007), sử dụng hàm Cobb Douglas với các biến Nợcông, Tiêu dùng, Nguồn nhân lực, Vốn công và vốn tư nhân Mô hình được trình bàydựa trên công trình của Greiner và các cộng sự (2005) nhưng đưa vào thêm một số cácbiến được đưa ra bởi Corsetti và Roubini (1996) Bài báo này phát triển một mô hình tăngtrưởng với khu vực tư nhân và khu vực tư, sau đó được mô tả bởi một Chính phủ có thểchọn để tăng nguồn lực thông qua thuế, vay, hoặc viện trợ nước ngoài Trong mô hìnhtrên, các tác giả giả định rằng thuế suất được chọn tối ưu và có ràng buộc ngân sách vớithời gian được xác định rõ ràng Các tác giả cho phép nợ nước ngoài và các quy tắc chínhsách tài khóa đảm bảo tính bền vững của nợ Bên cạnh sự tích lũy vốn vật chất của khuvực tư nhân, mô hình bao gồm đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục

Caldara và Kamps (2008) đã sử dụng mô hình VAR để đánh giá tác động của các cúsốc chính sách tài khóa đến các biến kinh tế vĩ mô quan trọng đối với chi tiêu chính phủ

và các cú sốc thuế Họ cung cấp bằng chứng mới cho Hoa Kỳ trong giai đoạn 1955-2006.Hai tác giả chỉ ra rằng, kiểm soát sự khác biệt trong đặc điểm kỹ thuật giảm sút trong môhình, tất cả các phương pháp ước lượng được sử dụng cho kết quả về định lượng liênquan đến các cú sốc trong chi tiêu của chính phủ Để đối phó với những cú sốc thực tếnhư vậy GDP, tiêu dùng tư nhân thực và tiền lương thực tăng đáng kể, trong khi việc làmkhông phản ứng Ngược lại, họ nhận thấy các kết quả phân tích về ảnh hưởng của cú sốcthuế, với các hiệu ứng từ chính sách tài khóa không tùy ý đến tùy ý mạnh Sự khác biệttrong kết quả có thể ở một mức độ lớn về kích thước của tính ổn định tự động Nhữngkhác biệt này cũng chuyển thành không chắc chắn về tác động của các thử nghiệm chínhsách thường được xem xét trong các mô hình lý thuyết

Trang 24

Một số nghiên cứu khác lại xoay quanh vấn đề chính sách tài khóa đồng chu kỳ haynghịch chu kỳ Ilzetzki và Vegh (2008) sử dụng dữ liệu quý của 49 quốc gia trong giaiđoạn 1960 - 2006, kết quả cho thấy chính sách tài khóa, đặc biệt là chi tiêu Chính phủ cótính đồng chu kỳ ở các nước đang phát triển Các ước lượng GMM và OLS, các kiểmđịnh về mối quan hệ nhân quả Granger và các hàm phản ứng đẩy đều hỗ trợ mạnh mẽ chokết quả này Các bằng chứng kinh tế lượng ở các nước có thu nhập cao là hỗ hợp và phụthuộc và phương pháp kinh tế lượng Mặc dù ước lượng GMM cho thấy chính sách tàikhóa không theo chu kỳ ở quốc gia có thu nhập cao, nhưng ước lượng OLS và VARdường như cho thấy chính sách tài khóa thực tế là thuận chu kỳ.

Ghosh và Hendrik (2009) đã tìm thấy kết quả ngược lại bằng cách sử dụng dữ liệu

chuỗi thời gian từ 1973-2004 trên nền kinh tế Mỹ Kết quả của họ chỉ ra rằng, khi các yếu

tố khác không đổi, sự gia tăng trong thâm hụt tài khóa hay Chính phủ thực hiện Chínhsách tài khóa mất cân bằng, tổng chi nhiều hơn tổng thu sẽ làm chậm tăng trưởng Tuynhiên, thâm hụt tài khoản vãng lai "đôi", mà mô hình của họ cho thấy có xu hướng đikèm thâm hụt, gia tăng tăng trưởng Do đó, mối quan hệ tổng thể giữa thâm hụt ngân sách

và tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng

Hsiao, Liu và C Cheung (2010) nghiên cứu hiệu quả của chính sách tài khóa trongHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) của Indonesia, Malaysia, Philippines,Singapore và Thái Lan Thông qua mô hình vector tự hồi quy có cấu trúc (S - VAR), chitiêu của chính phủ được cho là có tác động yếu và không đáng kể đến đầu ra, trong khicác loại thuế được tìm thấy có kết quả trái ngược với các lý thuyết thông thường Mặtkhác, đối với Singapore và Thái Lan, có bằng chứng cho thấy chi tiêu của chính phủ đôikhi có thể hữu ích như một công cụ cho chính sách tài khóa nghịch chu kỳ

Hai năm sau, Afonso A và Sousa R (2012), sử dụng phương pháp B - SVAR với

dữ liệu quý ở 4 quốc gia Mỹ, Anh, Đức, Ý Công cụ chính sách tài khóa sử dụng là chitiêu chính phủ hoặc tổng thu chính phủ Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các

cú sốc chi tiêu chính phủ, chỉ một tác động nhỏ nhưng tích cực vào GDP, thứ hai, chínhnhững cú sốc trong chi tiêu chính phủ có tác động tích cực đến tiêu dùng cá nhân và đầu

tư tư nhân, có ảnh hưởng tích cực đến giá nhà ở dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng của giá

cổ phiếu, tác động đến lãi suất tái cấp vốn các khoản nợ Trong đó, cú sốc về tổng thu

Trang 25

chính phủ có hiệu ứng ban đầu về GDP, sau đó trở nên tích cực, một tác động tiêu cựcđến giá nhà ở tại Mỹ và Ý và một tác động tích cực ở Anh và Đức, một hiệu ứng nhỏ vàtích cực đến giá cổ phiếu, ảnh hưởng tiêu cực và kiên trì đến mức giá, tác động tích cực

và lâu dài đến tỷ lệ thất nghiệp

Buscemi và Yallwe (2012) nghiên cứu tác động của thâm hụt tài khoá đối với sự ổnđịnh của tăng trưởng kinh tế, trong đó có xem xét thêm ảnh hưởng của tình trạng thâmhụt ngân sách với tiết kiệm quốc gia theo những gì mà Laurance Ball và Mankiw (1995)lập luận về những tác động của thâm hụt Với việc sử dụng phương pháp ước lượngGMM đối với dữ liệu bảng của ba quốc gia là Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi trong thời

kỳ 1988 - 2007 Các tác giả kết luận về tác động thuận chiều của thâm hụt tài khóa vàtăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó các tác giả cũng tìm thấy rằng sự gia tăng thâm hụt tàikhóa có thể làm gia tăng tổng tiết kiệm quốc gia, qua đó tạo cơ hội cho các nhà đầu tư vàgia tăng tăng trưởng kinh tế

Đến năm 2014, Jawadi.F, Mallick S.K, Sousa.R.M đã thực hiện đề tài “Chính sáchtài khóa tại BRICS” bằng cách sử dụng phương pháp B -SVAR với dữ liệu quý giai đoạnquý I/1990 đến quý III/2008 do các quốc gia khu vực BRICS ( Brazil, Nga , Ấn Độ,Trung Quốc Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu là GDP thực tế, tỷ lệ lạm phát,lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cổ phiếu, chi tiêu chính phủ và doanh thu chính phủ Kết quảthực nghiệm cho thấy việc mở rộng chi tiêu chính phủ tại BRICS có kết quả nghiên cứunhư trước đây: có tác động mạnh mẽ và tích cực về sản lượng, điều này cung cấp nhữngbằng chứng hỗ trợ cho sự tồn tại quan trọng của chính sách tài khóa của học thuyếtKeyness trong BRICS, dẫn đến một sự gia tăng mạnh về giá cả hàng hóa nhưng dườngnhư không tác động đáng kể vào mức giá, làm gia tăng lãi suất và có thể lấn át chi tiêu cánhân, giải thích lý do vì sao chính sách tài khóa tác động ngắn và tác động tiêu cực đếnthị trường chứng khoán Bên cạnh đó, một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ gây ragiảm tỷ giá hối đoái Ngược lại một cú sốc tiêu cực trong chi tiêu chính phủ theo sau bởimột sự giảm thuế, một cú sốc thuế tích cực có xu hướng liên kết với một sự gia tăng chitiêu chính phủ Do vậy thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có xu hướng khuếch đạinền kinh tế do sự gia tăng trong chi tiêu và giảm thuế

Tại Việt Nam cũng có những tác giả theo về chủ đề này như Nguyễn Quang Trung

Trang 26

và Trần Phạm Khánh Toàn (2014), nghiên cứu phân tích hồi quy dữ liệu bảng về tác độngcủa Chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các Quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1995 -

2012, cho thấy tổng chi tiêu cho y tế, quốc phòng có tác động cùng chiều và chi tiêu chogiáo dục có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra trong quá trình phântích, kết quả cho thấy lực lượng lao động, đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài tácđộng cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế và lạm phát, độ mở nền kinh tế có tác độngngược chiều Hai tác giả thu thập số liệu nghiên cứu cho 09 quốc gia Đông Nam Á, loạitrừ Myanmar từ ấn phẩm “Key Indicators for Asia and the Pacific” của ADB (Ngân hàngphát triển Châu Á) Các tác giả đã dùng phân tích hồi quy dữ liệu bảng nhằm đánh giá tácđộng của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế với các biến GDP đại diện cho tăngtrưởng, Laf là lực lượng lao động, Pe là tổng chi tiêu của Chính phủ, Inv là đầu tư tưnhân, FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài, Inf là lạm phát và Op đại diện cho độ mởthương mại Các biến FDI, Inf, Op là nhóm biến độc lập bên ngoài chi tiêu công Bàinghiên cứu cho thấy chi tiêu công có vai trò quan trọng trong chính sách tài khóa củaChính phủ để kích thích nền kinh tế tăng trưởng, phương pháp hồi quy tác động cố định(Fixed Affect) đã tìm thấy tác động tích cực của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tếtại các quốc gia trên Ngoài ra nghiên cứu cũng tìm thấy lạm phát, độ mở nền kinh tế tácđộng nghịch chiều đến tăng trưởng còn vốn đầu tư nước ngoài thì nghịch lại

Trần Thị Xuân Hương, Nguyễn Thanh Phong cùng các cộng sự (2015), tác giả sửdụng biến tổng chi tiêu của Chính phủ để đại diện cho chính sách tài khóa và sử dụng dữliệu bảng giai đoạn 2000 - 2012, các tác giả đã sử dụng kỹ thuật ước lượng cho dữ liệubảng từ phương pháp OLS đến FEM và REM Bởi vì hạn chế của OLS trong ước lượng

dữ liệu bảng với các hiện tượng bị chệch do phương sai thay đổi, tự tương quan hay nộisinh (Kiviet (1995)) do đó ước lượng FEM và REM có thể được sử dụng để xử lý phươngsai thay đổi (Ahn và Schmidt (1995)) Trong nghiên cứu này các tác giả thu thập dữ liệu

từ báo cáo Key Indicators của 6 nước trong khu vực từ ADB (Ngân hàng phát triển ChâuÁ), không sử dụng dữ liệu của Myanmar, Laos và Singapore Trường hợp Singaporekhông nằm trong nghiên cứu vì họ cho rằng quốc gia này có nền kinh tế phát triển cao do

đó đặc điểm có sự khác biệt nhất định với các quốc gia còn lại và để tránh trường hợp ướclượng bị chệch do dữ liệu bị nằm ngoài (outlier) Trước tiên các tác giả sử dụng biến tổng

Trang 27

chi tiêu chính phủ để đại diện cho chính sách tài khóa, các ước lượng lần lượt được thựchiện qua các phương pháp OLS, sau đó là FEM và REM, trong đó kiểm định Hausmanđược dùng để xác định sự ưu việt của FEM hay REM và lựa chọn mô hình phù hợp Bêncạnh đó các tác giả còn tách bộ dữ liệu ra làm hai nhóm: trước khủng hoảng 2008 vàtrong và sau khủng hoảng 2008 Phát hiện của nghiên cứu cho thấy chính sách thuế cóhiệu ứng phi Keynes lên tiêu dùng tư nhân, hiệu ứng này không thay đổi cho dù có khủnghoảng Chi tiêu của Chính phủ đều có hiệu ứng phi Keynes lên tiêu dùng tư nhân, nhưngđiều đặc biệt là chi thường xuyên thay đổi tác động của mình trong giai đoạn có khủnghoảng kinh tế, đồng thời khoản chi này có tỷ trọng lớn trong tổng chi của Chính phủ cácnước Đông Nam Á nên tổng chi của Chính phủ cũng thay đổi từ hiệu ứng phi Keynessang hiệu ứng Keynes trong giai đoạn khủng hoảng.

Cuối cùng là theo Nguyễn Thị Kim Hiền (2016), lần đầu tiên giới thiệu một cuộcđiều tra thực nghiệm về các công cụ tài khóa tại Việt Nam, sử dụng mô hình phân phốitrễ tự hồi quy (ARDL) Trong mô hình ARDL, ngoài các tác động ngắn hạn, mối quan

hệ trong dài hạn giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực, nợ công, dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài và cán cân tài khóa được giải quyết Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp từWorldbank, ADB trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2014 với các biến tăng trưởngGDP, nợ công và đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặc dù những phát hiện mang tính chu

kỳ không thể đúc kết về mặt kỹ thuật, nhưng gợi ý của tác giả là chính phủ Việt Namnên thực hiện một chính sách tài khóa theo chu kỳ để điều tiết nền kinh tế tốt hơn.Nhìn chung, tất cả các nghiên cứu trong nước và quốc tế được trình bày ở trênđều là những bài được đăng trên các tạp chí có uy tín cho nên mức độ tin cậy rất cao,những ưu điểm của các nghiên cứu này là nguồn dữ liệu để thực hiện theo tần suất quý,nghiên cứu ở các quốc gia có số liệu được ghi nhận từ nhiều năm và rõ ràng, do đó quacác kỹ thuật ước lượng của kinh tế lượng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những mô hình

có độ tin cậy cao, giúp cho các nhà hoạch định chính sách lên những kế hoạch trongchương trình hành động của mình trong thời gian dài vì nếu có những xáo trộn haynhững cú sốc họ cũng sẽ dễ dàng điều chỉnh Tuy nhiên, nhược điểm của những nghiêncứu đó cũng là động lực của đề tài này vì ở những nơi mà các quốc gia có sự phát triểnkinh tế không có đồng đều, khác biệt từ văn hóa đến chính trị, các chỉ số kinh tế vĩ mô

Trang 28

chỉ mới được ghi nhận lại trong chừng 20 năm trở lại, và có chỉ số có chỉ số không, cóchỉ số theo tần suất tháng, quý, năm không nhất quán giữa các nước dù cùng khu vựcthì những nghiên cứu riêng lẽ về

Trang 29

chi tiêu công, đầu tư tư nhân hay lạm phát và đầu tư trựctiếp nước ngoài có đem đến những kết luận chính xác cho cácchính sách vĩ mô và do đó những chính sách được đề ra liệu cóđem đến hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dàihạn hay không ? Đây cũng là một trong những để làm nên nghiêncứu này.

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu nước ngoài

rr r • *>

Tác giả Quốc gia và

giai đoạn nghiên cứu

Kỹ thuật phân tích

Các biến sử dụng trong nghiên cứu

gia, 1960 1985

-Tăngtrưởngnội sinh

Thu nhập Bình quân đầu người trênGDP là biến phụ thuộc, nguồn nhânlực, chi tiêu Chính phủ, đầu tư tư nhân,bất ổn chính trị, Biến dạng thịtrường là biến độc lập

Gavin M và

Perotti R (1997)

13 Quốc giaChâu MỹLatinh, giaiđoạn 1968-

1995 và trêntừng thập kỷriêng biệt

OLS Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực là biến phụ

thuộc , Thâm hụt tài khóa bán niên,Tổng thâm hụt ngân sách/ GDP, tổngchi tiêu/GDP, chi tiêu Chính phủ, Chitrả lãi vay là biến độc lập

Perotti R., (1999) 19 nước

trong khốiOECD, từnăm 1965đến 1994

OLS Tỷ lệ tăng trưởng GDP là biên phụ

thuộc, Thu thuế, Chi tiêu Chính phủ,tiêu dùng/GDP, Thâm hụt Ngân sách,tiêu dung tư nhân, ràng buộc tín dụng.làbiến độc lập

Mahfouz S., 2002

S - VAR Chi tiêu Chính phủ, Thu Thuế, Đầu tư

tư nhân, Tỷ giá hối đoái, Tài khoảnvãng lai

Blanchard và Mỹ trong S - VAR Biến phụ thuộc là biến sản lượng, đại

Trang 30

Perotti (2002) thời kỳ hậu

chiến từ quýI/1960 đếnquý

S - VAR Nợ công, Tiêu dùng, Nguồn nhân lực,

Chi tiêu công và vốn tư nhân

Kamps (2008)

trong giaiđoạn 1955-2006

VAR Tiêu dùng tư nhân, tiền lương, thuế

Ilzetzki và Vegh

(2008)

49 quốc giatrong giaiđoạn 1960 -2006

GMM,OLS,VAR

Chi tiêu Chính phủ, Tiêu dùng Chính phủ, Chi trả lãi vay,

1985 - 2001

OLS,DGMM,SGMM

Chi tiêu chính phủ, Tổng thu thuế/GDP

Yallwe (2012)

TrungQuốc, Ấn

Độ và NamPhi, từ 1990

- 2008

RE, FE,POLS,DGMM

GDP là biến phụ thuộc, Thâm hụt tàikhoá, Thuế, Nợ quốc gia, Chi tiêu chínhphủ, Lạm phát, Độ mở thương mại, Lãisuất, Tiết kiệm quốc gia là biến độc lập

-Công cụ chính sách tài khóa sử dụng làchi tiêu chính phủ hoặc doanh thu chính

Trang 31

Đức, Ý phủJawadi.F,

Mallick.S.K,

Sousa.R.M, 2014

Dữ liệu quýgiai đoạnquý I/1990đến quý III/

2008 do cácquốc gia

BRICS

B -SVAR GDP thực tế là biến phụ thuộc , tỷ lệ

lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cổphiếu, chi tiêu chính phủ và doanh thuchính phủ là biến độc lập

Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu trong nước

FT1 r

• Quốc gia và giai đoạn nghiên

Kỹ thuật phân tích

Các biến sử dụng trong nghiên cứu

REM,FEM

GDP là biến phụ thuộc , lực lượng laođộng, tổng chi tiêu của Chính phủ, đầu

tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài,lạm phát và độ mở thương mại là biếnđộc lập

2000 - 2012

OLS,FEM,REM

Các tác giả sử dụng biến tổng chi tiêuChính phủ để đại diện cho Chính sáchtài khóa là biến phụ thuộc,

Trang 32

chính sách tài khóa, tăng trưởng kinh tế cũng như tác động của chính sách tài khóa đếntăng trưởng kinh tế Về phần tổng quan các nghiên cứu, đề tài đã hệ thống hóa các nghiêncứu thực nghiệm trong nước và trên thế giới, xác định được các biến mà hầu hết cácnghiên cứu trên thường dùng cũng như phương pháp tiến hành để làm cơ sở mang tínhkhả thi cao cho đề tài nghiên cứu.

Trang 33

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu

Để phân tích tác động của chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế, tác giả sửdụng mô hình mà Buscemi và Yallwe (2012) đã xây dựng dựa trên bài nghiên cứu củaKneller và các cộng sự (1999), trong đó bao gồm các biến số kinh tế vĩ mô và các biến

số tài khoá Trong mô hình này, biến thâm hụt tài khóa (bằng tổng thu Chính phủ trừcho tổng chi Chính phủ), tỷ lệ Lạm phát, Lãi suất cho vay ngắn hạn và Thuế là các biếnđộc lập chính

Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình như sau:

Biến phụ thuộc: GDP thực tế

Biến độc lập gồm: lãi suất cho vay ngắn hạn, thâm hụt ngân sách Chính phủ,

đầu tư nước ngoài, độ mở thương mại, tỷ lệ lạm phát, Thu thuế của Chính phủ, NợChính phủ

Mô hình kinh tế lượng được xây dựng như sau:

Mô hình: GDP ít = Po + SGDP it-1 + PiIRĩt + P2FD + P3FDI +

P4.0PE + P5CPI + p 6 Tax + pyGD + ữị + En

Bảng 3.1: Đo lường các biến và nguồn dữ liệu

a i Đặc điểm riêng của quốc gia

thứ i không phụ thuộc vàothời gian t

GDP it , Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm

của GDP tại quốc gia thứ ivào thời điểm t, đơn vị tính

Trang 34

FD Tỷ lệ phần trăm thâm hụt tài

khóa theo GDP, đơn vị tính

WB

GD Tỷ lệ nợ chính phủ theo

GDP, đơn vị tính là %

WB,Tradingeconomics

£ it Sai số đo lường tại quốc gia

i thời điểm t

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Đứng trên quan điểm tổng quan các nghiên cứu trước đây, có thể thấy các nghiêncứu về mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế chỉ dừng lại ở việcphân tích mối quan hệ nhân quả giữa các biến số Để tìm câu trả lời cho những câu hỏinghiên cứu về tác động của Chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế, tác giả dựa theo

mô hình của Buscemi và Yallwe (2012) và theo đó sử dụng biến thâm hụt tài khóa(Fiscal Deficit - FD) đại diện cho sự khác biệt của tổng Chi và tổng Thu của Chính phủnhư là hiệu quả của việc thực hiện Chính sách tài khóa, biến này sẽ dễ dàng trong việcthu thập dữ liệu từ ADB và tập trung vào một tập hợp cốt lõi của các biến giải thíchkhác đã được chứng minh phù hợp với tăng trưởng kinh tế sau đó đánh giá lần lượt cácbiến số đưa thêm vào mô hình Các biến được sử dụng trong bộ dữ liệu nghiên cứu củahai tác giả mà đề tài có thể thu thập được để sử dụng cho mục đích này là tốc độ tăngtrưởng GDP thay cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, FD đại diện cho

Trang 35

thâm hụt hay thặng dư trong tổng chi tiêu và thu nhập của Chính phủ, TAX là tổng thu

từ Thuế trên GDP, OPE là biến đại diện cho độ mở thương mại, GD là tổng Nợ Chínhphủ, RIR là lãi suất thực được điều chỉnh theo lạm phát, CPI đại diện cho lạm phát vàcuối cùng là FDI đại diện cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (đây là biến được tác giả đưa

vô mô hình như là một bước kế thừa cùa các nhóm tác giả nghiên cứu trong nước).Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website được các nhà nghiên cứucông nhận như Worldbank (WB), tradingeconomics, Asian Development Bank(ADB),

International Monetary Fund (IFM), ARIC, CEIC và các biến được trong được sửdụng trong bài là các biến mà các nghiên cứu đã trình bày trong phần tổng quan nghiêncứu và các nghiên cứu liên quan, sau đó tác giả chọn lọc ra những biến có dữ liệu theotần suất năm của chín quốc gia trong khu vực Asean từ năm 2000 đến 2016 Trong bàinghiên cứu, tác giả không sử dụng biến thu thuế chính phủ để tìm ra những cú sốc vềthuế do tần suất của dữ liệu là theo năm, và những cú sốc về thuế thường diễn ra theoquý

Các biến đo lường được trình bày trong bảng 3.1 bên dưới

Bảng 3.2: Các biến trong nghiên cứu

GDP Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế Là tổng sản phẩm quốc nội tính theo sản

lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tínhtheo năm gốc GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh những sai lệch như

sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ướclượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hoá và dịch vụ tạo thành GDP

FD Thâm hụt tài khóa, dùng để đo lường hiệu quả điều hành chính sách tài khóacủa Chính phủ Chỉ tiêu này có được từ sự chênh lệch giữa Tổng thu và tổngchi của Chính phủ

OPE Độ mở thương mại Độ mở thương mại của nền kinh tế được đo bằng tỷ lệ

giữa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Độ mở thương mại ảnh hưởng quantrọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong đó, đặc biệt chú trọng đến mức

Trang 36

xuất khẩu vì xuất khẩu của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởngkinh tế, đặc biệt là các nước đang phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làmgia tăng nguồn vốn đầu tư quốc tế chảy vào trong nước và thông qua đó màtích lũy vốn và gia tăng nguồn lực con người.

CPI Chỉ số giá tiêu dùng đại diện cho biến Lạm phát Có rất nhiều lý thuyết và

quan điểm đề cập đến mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Lạmphát ảnh hưởng đến tăng trưởng, làm nhiễu các tín hiệu giá cả và hạn chếchất lượng cũng như khối lượng đầu tư, tính cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu

Ở mức lạm phát thường (một con số) thì lạm phát không có tác động tiêu cựclên tăng trưởng kinh tế, nhưng khi đạt một ngưỡng cao thì có thể gây ra tácđộng tiêu cực

IR12 Lãi suất cho vay được điều chỉnh lạm phát sử dụng chỉ số giảm phát GDP

GD Nợ chính phủ là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị

các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đivay Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách

TAX Tổng thu Thuế

FDI Đầu tư nước ngoài Phản ánh luồng vốn lưu chuyển quốc tế được kiểm soát

và quản lý bởi các công ty quốc gia FDI tác động rất nhiều lên nước chủ nhànhư: bổ sung nguồn vốn; chuyển giao công nghệ; tạo việc làm phát triểnnguồn nhân lực; góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế vàcủng cố mở rộng quan hệ hợp tác, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế, phát triển năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)

3.3 Các kỳ vọng dấu trong nghiên cứu

Bảng 3.3 dưới đây sẽ trình bày các kỳ vọng dấu của các biến trong bài nghiên cứu, đây là những kết quả mà các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước đã thực nghiệm bằng nhiều phương pháp, kỹ thuật ước lượng hồi quy thu được

Trang 37

Bảng 3.3: Các kỳ vọng dấu trong bài nghiên cứu

(2014), Buscemi và Yallwe (2012)

FD

+ Al - Khedair (1996), Ghali và Alshamsi

(1997), Bahmani (1999), Adam và Bevan(2004), Buscemi và Yallwe (2012)

Fisher (1993), Easterly và Rebelo (1993),Bleaney et al (2001), Gale và Orszag(2002), Rubin et al (2004), Đỗ NgọcHuỳnh (2007), Ghosh và Hendrik (2009)

Khánh Toàn (2014), Nguyễn Văn Bổn vàNguyễn Minh Tiến (2014)

OPE - / + Buscemi và Yallwe (2012), Nguyễn

Quang Trung và Trần Phạm Khánh Toàn (2014),

Trung và Trần Phạm Khánh Toàn (2014),

TAX

+ Baunsgaard và Keen (2010), Hakim và

Bujang (2011), Lee và Gordon (2004)Gallaway và Vedder (1998), Gale vàSamwick (2014)

GD

+ Roberto Perotti (1998), Kumar và Woo

(2010), Nguyễn Thị Kim Hiền (2016)Harabi et al (2007), Arnone và Presbitero (2010)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh, thống kê, kết hợp định lượng

Trang 38

Phần lớn những nghiên cứu thực hiện trong kinh tế hướng đến giải thích mốiquan hệ giữa các đại lượng độc lập đối với biến phụ thuộc, đồng thời với việc xem xét

sự tác động của Xi lên Y theo chiều hướng lẫn độ tác động như thế nào Trả lời đượccâu hỏi này ta phải dựa vào mẫu dữ liệu thu thập để có một kết quả ước lượng khôngchệch của biến độc lập đối với biến phụ thuộc Muốn kiểm soát được các tham số ướclượng của mô hình để không bị nhiễu thì điều kiện đầu tiên là phải kiểm soát đượcphần nhiễu của dữ liệu, bao gồm những biến quan sát được và không quan sát được.Đối với những thành phần nhiễu quan sát được thì mô hình tuyến tính cổ điển GAUSS(CLRM) có thể giải quyết được những vấn đề thường xuyên gặp phải trong mô hìnhnhư: phương sai của nhiễu, tương quan phần dư của nhiễu, tính đa cộng tuyến Đồngthời ước lượng OLS trên mô hình thuộc dạng dữ liệu quan sát nhiễu được như thế này

sẽ mang ước lượng không có độ chệch hay sai số đặc trưng, có tính nhất quán và hiệuquả nhất

Còn đối với các biến nhiễu không quan sát được, điều đó tùy vào đặc điểm, tínhchất khác nhau của từng lớp đối tượng và thời gian mà lựa chọn mô hình hồi quyPooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effect Model) hay mô hình hồiquy tác động ngẫu nhiên (REM - Random Effect Model) cho phù hợp Cả ba mô hìnhnày đều sử dụng dữ liệu đầu vào vào theo kiểu dữ liệu bảng để ước lượng

Dữ liệu bảng còn có tên gọi khác là dữ liệu gộp chung, mô tả nhiều đại lượngtương ứng với tần số quan sát qua nhiều đối tượng (ví dụ: cá nhân, doanh nghiệp, quốcgia) theo một chuỗi thời gian xác định cho từng đối tượng trong giai đoạn chung Cóthể nói dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo (Cross - Session Data) và dữ liệutheo thời gian (Time Series Data) Dữ liệu bảng có nhiều ưu thế hơn so với nhóm dữliệu thông thường, điển hình dữ liệu bảng có hai ưu điểm như sau:

Trang 39

Đầu tiên các ước lượng tham số trong mô hình hồi quy bằng dữ liệu bảng sẽ chokết quả có độ tin cậy cao hơn, điều này thể hiện qua 3 yếu tố:

Dữ liệu Bảng sẽ kiểm soát được những thành phần không quan sát được Cácthành phần này có thể không giống nhau giữa các đối tượng nhưng không thay đổi theothời gian hoặc có thay đổi theo thời gian nhưng giống nhau giữa các đối tượng Điềunày phần nào đã làm thay đổi để giảm sự chênh lệch trong ước lượng tham số mô hình.Thông thường sự biến động trong dữ liệu bảng thường nhiều hơn so với dữ liệuchéo hoặc dữ liệu thời gian Sự biến động cho một đặc điểm trong dữ liệu càng nhiềuthì hiển nhiên độ chính xác của các ước lượng đó càng tăng, tức là có nhiều biến độngthì càng có nhiều giải thích cho việc ước lượng tham số

Có ít vấn đề đa cộng tuyến trong các biến giải thích ở dữ liệu bảng hơn so với dữliệu chéo hoặc dữ liệu thời gian Vì vậy độ chính xác trong các kết quả ước lượng của

mô hình dữ liệu bảng cao hơn

Thứ hai dữ liệu bảng xác định và đo lường được những tác động mà những tácđộng đó không được tìm thấy hay không xác định khi sử dụng dữ liệu chéo hoặc theo

dữ liệu thời gian riêng lẻ Chẳng hạn xét một ví dụ cụ thể về đánh giá tăng trưởng kinh

tế của quốc gia theo đóng góp của nguồn vốn con người và nguồn vốn tài nguyên thiênnhiên của nhiều quốc gia trong một nền kinh tế cụ thể (nhỏ, mở) Với dữ liệu chéo ta cóthể dự báo được sự thay đổi của vốn con người và vốn tài nguyên thiên nhiên của từngquốc gia Đối với dữ liệu theo thời gian, thì không thể xem xét được tăng trưởng kinh

tế của các quốc gia theo đóng góp chung của nguồn vốn con người và nguồn vốn tàinguyên thiên nhiên, mà chỉ có thể xem xét riêng từng góc độ Giả định nghiên cứutrong điều kiện là nguồn vốn con người không đổi hay nguồn vốn tài nguyên thiênnhiên không đổi Tuy nhiên phương pháp này đưa ra kết quả không đáng tin cậy Với

dữ liệu bảng ta có thể xác định và đo lường cả hai yếu tố vốn con người và vốn tàinguyên thiên nhiên có ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.Việc sử dụng mô hình nào là phù hợp sẽ được kết luận dựa vào kiểm định môhình của tác giả, cụ thể chúng ta bắt đầu kiểm định lần lượt các mô hình hối qui PooledOLS, FEM, REM Sau đó nếu các mô hình trên vẫn còn tồn tại những khuyết điểmchúng ta tiếp tục tiến hành phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp sai phân

Trang 40

GMM Mô hình hồi quy bằng phương pháp GMM có thể khắc phục những yếu điểmtồn tại tại mô hình FEM và REM Cụ thể hơn với phương pháp hồi quy GMM sẽ khắcphục những nhược điểm của các mô hình trên bao gồm các vấn đề phương sai sai sốthay đổi (Hetoroskedasticity), tự tương quan của nhiễu (Autocorrelation Noise) và kể

cả vấn đề nội sinh trong mô hình Phương pháp ước lượng GMM sai phân (DifferenceGeneralized Method of Moment) của Arellano - Bond (1991) với bộ dữ liệu nói trên donhững đặc tính ưu việt của phương pháp này so với các phương pháp khác Mặc dùcũng có các nghiên cứu về tác động của chính sách tài khoá đến tăng trưởng kinh tế sửdụng các phương pháp như OLS, FEM hay REM, nhưng kết quả có thể bị chệch(unbiased) hay không còn hiệu quả (inefficient) khi mô hình hồi qui vi phạm các giảđịnh của OLS Chẳng hạn biến FDI và OPE trong mô hình có thể làm biến nội sinh vìmối quan hệ nhân quả giữa FDI cùng OPE với tăng trưởng kinh tế Quan hệ nhân quảvới chiều ngược lại bị nghi ngờ bắt nguồn từ thực tế FDI tác động đến tăng trưởng củaquốc gia tiếp nhận đầu tư, sau đó tăng trưởng kinh tế có thể tiếp tục ảnh hưởng đếnnguồn FDI trong tương lai Tương tự, khi quốc gia không có thâm hụt trong thươngmại thì tăng trưởng sẽ bền vững và khi được mục tiêu như vậy thì chính sách đó cũng

sẽ tiếp tục được duy trì.Mô hình sử dụng hồi quy dữ liệu bảng gồm nhiều quốc giatrong khoảng thời gian 2000 đến 2016, do đó các hiệu ứng chu kỳ kinh tế có thể lantruyền cho nhiều hơn một năm (tính quán tính của số liệu) dẫn đến hiện tượng tự tươngquan trong sai số Những tác động cố định nằm trong phần sai số của mô hình hồi quykhông thay đổi theo thời gian như: vị trí địa lý, dân số học ở các quốc gia có thểtương quan với biến giải thích Thứ tư, các tác động cố định không giống nhau ở cácquốc gia khác nhau có thể dẫn đến hiện tượng phương sai thay đổi trong sai số ngẫunhiên Dữ liệu bảng sử dụng trong nghiên cứu có thời gian ngắn t = 17 Do đó luận văn

sử dụng ước lượng GMM sai phân để đánh giá tác động của chính sách tài khóa đếntăng trưởng kinh tế trong điều kiện xử lý các vấn đề nội sinh, tự tương quan và phươngsai sai số thay đổi trong mô hình Bằng cách biến đổi sang hồi quy ở sai phân bậc nhất,tác động cố định đặc thù của địa phương sẽ bị loại trừ vì nó có tính không đổi theo thờigian Ước lượng GMM sai phân cảu Arellano - Bond (1991) được thiết kế thích hợpcho dữ liệu bảng với t nhỏ (theo Judson te al (1996) và Roodman (2006))

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Blanchard O., Perotti R., (2002) - “An Empirical Characterization of the Dynamic Effects of Changes in Government Spending and Taxes on Output” - The Quarterly Journal of Economics, 2002, vol. 117, issue 4, 13291368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Empirical Characterization of theDynamic Effects of Changes in Government Spending and Taxes on Output
17. Bleaney et al (2001) - “Testing the endogenous growth model: public expenditure, taxation and growth over the long-run”. Canadian Journal of Economics 34, 36 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testing the endogenous growth model: publicexpenditure, taxation and growth over the long-run
18. Buscemi A., Yallwe A. H., (2012) - “ Fiscal Deficit, National Saving and Sustainability of Economic Growth in Emerging Economies: A Dynamic GMM Panel Data Approach ” - International Journal of Economics and Financial Issues 2 (2), 126 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal Deficit, National Saving andSustainability of Economic Growth in Emerging Economies: A Dynamic GMMPanel Data Approach
19. Caldara D., Kamps C., (2008) - “What are the Effects of Fiscal Policy Shocks?A VAR-based Comparative Analysis” - ECB Working Paper No. 877 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What are the Effects of Fiscal Policy Shocks?A VAR-based Comparative Analysis
20. Cuadra G., Sanchez J. M., Sapriza H., (2009) - “Fiscal Policy and Default Risk in Emerging Markets” - FRB Richmond Working Paper No. 0901 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal Policy and Default Riskin Emerging Markets
21. Devarajan S., Swaroop V., Zou H. F., (1996) - “The composition of public expenditure and economic growth” - Journal of Monetary Economics, 1996, vol. 37, issue 2-3, 313-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The composition of publicexpenditure and economic growth
25. Ilzetzki E., Vegh C. A., (2008) - “Procyclical Fiscal Policy in Developing Countries: Truth or Fiction?” - NBER Working Paper No. 14191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Procyclical Fiscal Policy in DevelopingCountries: Truth or Fiction
27. Jawadi F., Mallick S. K., Sousa R. M., (2014) - “Fiscal policy in the BRICs” - Studies in Nonlinear Dynamics &amp; Econometrics, De Gruyter, vol. 18(2), pages 1-15, April Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal policy in the BRICs
30. Gale W. G., Samwick A. A., (2014) - “Effects of Income Tax changes on Economic Growth” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Income Tax changes onEconomic Growth
32. Gavin M., Perotti R., (1997) - “Fiscal Policy in Latin America” - Chapter in NBER book NBER Macroeconomics Annual 1997, Volume 12 (1997), Ben S. Bernanke and Julio J. Rotemberg (p. 11 - 72) Published in January 1997 by MIT Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal Policy in Latin America
Tác giả: Gavin M., Perotti R., (1997) - “Fiscal Policy in Latin America” - Chapter in NBER book NBER Macroeconomics Annual 1997, Volume 12
Năm: 1997
35. Giavazzi F., Pagano M., (1990) - “Can Severe Fiscal Contractions be Expansionary? Tales of Two Small European Countries” - NBER Working Paper No.3372 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can Severe Fiscal Contractions beExpansionary? Tales of Two Small European Countries
36. Granado J. A., Gupta S., Hajdenberg A., (2010) - “Is Social Spending Procyclical?” - IMF Working Paper No. 10/234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is Social SpendingProcyclical
40. Hemming R., Kell M., Mahfouz S., (2002) - “The Effectiveness of Fiscal Policy in Stimulating Economic Activity: A Review of the Literature” - Working Paper No.02/208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effectiveness of Fiscal Policyin Stimulating Economic Activity: A Review of the Literature
41. Hsiao, Liu, and Cheung (2010). "Changing Impact of Fiscal Policy on Selected ASEAN Countries." ADB Working Paper Series on Regional Economic Integration No.70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing Impact of Fiscal Policy on SelectedASEAN Countries
Tác giả: Hsiao, Liu, and Cheung
Năm: 2010
42. Kaminsky G. L., Reinhart C. M., Végh C. A., (2004) - “When it Rains, it Pours:Procyclical Capital Flows and Macroeconomic Policies” - NBER Working Paper No.10780 Issued in September 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: When it Rains, it Pours:Procyclical Capital Flows and Macroeconomic Policies
43. Karim, Z. A., N. M. Asri, et al. (2006). "The relationship between federal goverment revenue and speding: empirical evidence from ASEAN-5 countries." Jumal Ekonimo Pembangunan Vol 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relationship between federalgoverment revenue and speding: empirical evidence from ASEAN-5 countries
Tác giả: Karim, Z. A., N. M. Asri, et al
Năm: 2006
45. Kydland F. E., Prescott E. C. (1982) - “Time to Build and Aggregate Fluctuations” - Econometrica, Vol. 50, No. 6 (Nov., 1982), pp. 1345-1370 - The Econometric Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time to Build and AggregateFluctuations
46. . Kormendi R., Meguire P. (1985) - “Macroeconomic determinants of growth:Cross-country evidence” - Journal of Monetary Economics, 1985, vol.16, issue 2, 141-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macroeconomic determinants of growth:Cross-country evidence
48. Levin, A., Lin C., and Chu C.,(2002): “Unit root tests in panel data: Asymptotic and Finite-sample properties”. Journal of Econometrics, 108, 1 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Unit root tests in panel data: Asymptoticand Finite-sample properties
Tác giả: Levin, A., Lin C., and Chu C
Năm: 2002
49. Mountford A., Uhlig H., (2008) - “What are the Effects of Fiscal Policy Shocks?” - NBER Working Paper No. 14551 Issued in December 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What are the Effects of Fiscal PolicyShocks

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w