Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trờng đại học vinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
====
Trần Mạnh Hùng
đa dạng sinh học khu hệ thú
ở khu bảo tồn thiên nhiên pù huống
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã đợc đón nhận sự quan tâm, giúp
đỡ và tạo điều kiện của Đảng Uỷ, Ban Giám hiệu trờng đại học Vinh, Ban chủnhiệm khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo, các kỹ thuật viên tổ bộ môn ĐộngVật – Sinh lý, khoa Sinh trờng đại học Vinh, Ban quản lý khu bảo tồn thiênnhiên Pù Huống , bạn bè, đồng nghiệp và những ngời thân trong gia đình Nhândịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và sự trân trọng đối với những giúp đỡquý báu đó
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn GS.TS Lê Vũ Khôi, PGS.TS Hoàng XuânQuang đã định hớng và trực tiếp hớng dẫn tác giả hoàn thành luận văn; KSPhạm Đức Tiến, Ths Nguyễn Trờng Sơn, (Viện Sinh thái và Tài Nguyên SinhVật) đã hớng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu trên thực địacũng nh trong phòng thí nghiệm
Mặc dù đã có những nỗ lực cố gắng nhng chắc chắn đề tài không thể tránhkhỏi những thiếu sót, tác giả rất mong tiếp tục nhận đợc những góp ý chânthành, thẳng thắn của các cơ quan, tổ chức, các nhà chuyên môn, quý thầy cô,bạn bè và đồng nghiệp để bản luận văn đợc hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 29 tháng 12 năm 2007
Trần Mạnh Hùng
Trang 4Mở đầu
Thú rừng có vai trò đặc biệt quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên và đốivới đời sống con ngời Tuy nhiên, do hoạt động khai thác quá mức cùng với cácnguyên nhân khác nh mất rừng, ô nhiễm môi trờng… mà tài nguyên thú rừng
đang bị suy giảm nghiêm trọng Tổ chức IUCN đã xây dựng Danh lục Đỏ cácloài bị nguy cấp trên thế giới và ở nhiều nớc trong đó có Việt Nam cũng đãcông bố Sách Đỏ quốc gia Việc bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên sinh vậtnói chung và tài nguyên thú rừng nói riêng đang trở nên cấp thiết đối với nhânloại Chính vì thế mà việc nghiên cứu các khu hệ thú đã đợc các nhà khoa họctrong và ngoài nớc hết sức quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu đợc công bố
đã cung cấp những t liệu quý giá về tài nguyên thú rừng Việt Nam, góp phầnhoàn thiện danh lục thú quốc gia
Mặc dù công tác điều tra khảo sát về thú ở Việt Nam đợc tiến hành thờngxuyên nhng đến nay vẫn tiếp tục phát hiện nhiều loài thú mới (nh Sao La, Mangtrờng sơn, Cầy giông tây nguyên, Mang pù hoạt…), đặc biệt là các loài thú nhỏ(nh Dơi, Thú ăn sâu bọ, Găm nhấm…), chứng tỏ thú rừng Việt Nam vẫn lànhóm đối tợng đang rất cần đợc quan tâm nghiên cứu
Nghệ An là tỉnh có khu hệ thú đa dạng nhất của khu vực Bắc Trung bộ vớitổng số loài chiếm tới 98,5% số loài của vùng [34], tập trung chủ yếu ở các vờnQuốc gia (VQG) và Khu BTTN (BTTN) gồm: VQG Pù Mát, Khu BTTN PùHuống, Khu BTTN Pù Hoạt Khu BTTN Pù Huống nằm trên vùng giáp ranh của
5 huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông và Tơng Dơng với tổngdiện tích 50075 ha Giải núi chính là Phu Lon - Pù Huống với các đỉnh Phu Loncao 1447m và Pù Huống cao 1200m, ngăn cách các huyện Quỳ Hợp, QuỳChâu, Quế Phong với các huyện Con Cuông, Tơng Dơng Địa hình chia cắtmạnh và sâu, tạo nên nhiều dòng suối dốc và hiểm trở Thảm thực vật Pù Huốngphong phú tạo nên nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau là nơi c trú của nhiều loài
động vật Thành phần loài thú ở Pù Huống đa dạng với tổng số 63 loài, nhiều
Trang 5loài quý hiếm nh Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), hổ (Panthera tigris), báo
hoa mai (P pardus)…[2] Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này hiện đang bị khai
thác quá mức bởi các hoạt động của ngời dân địa phơng dẫn đến suy giảmnghiêm trọng
Việc điều tra khảo sát về thú ở Pù Huống vẫn còn ít Các công trình về thúchủ yếu thống kê thành phần loài sơ bộ chứ cha đi sâu nghiên cứu các đặc điểmhình thái phân loại, phân bố và sinh học sinh thái của chúng Đặc biệt, các loàithuộc nhóm thú nhỏ (Thú ăn sâu bọ, Dơi và Gặm nhấm) hầu nh cha đợc nghiêncứu
Nguồn lợi thú ở Pù Huống đang suy giảm, trong khi đó còn thiếu nhữngnghiên cứu có tính hệ thống để đánh giá một cách đúng đắn về nguồn tàinguyên quý giá này nhằm tìm ra nguyên nhân và các giải pháp bảo tồn có hiệu
quả Vì thế chúng tôi tiến hành đề tài “Đa dạng sinh học khu hệ thú ở Khu
bảo tồn thiên nhiên Pù Huống tỉnh Nghệ An” để góp phần đánh giá một cách
đầy đủ về khu hệ thú Pù Huống, bổ sung các dẫn liệu về thú của tỉnh Nghệ Ancũng nh tạo cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài động vậthoang dã trong đó có thú ở khu vực này
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
+ Thống kê thành phần loài thú ở Khu BTTN Pù Huống
+ Phân tích đặc điểm khu hệ thú Pù Huống, các giá trị bảo tồn nguồn gen đồngthời đánh giá tình trạng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thú rừng làm cơ
sở đề xuất các biện pháp bảo vệ
Đề tài hoàn thành sẽ bổ sung vào những kết quả nghiên cứu về thú ở Nghệ
An, góp phần hoàn thiện danh lục các loài thú của tỉnh, cung cấp những thôngtin về tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thú ở khu vực nghiên cứu đồngthời đề xuất một số biện pháp bảo vệ
Đề tài cũng sẽ thu thập một số thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái củamột số loài quan trọng phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 6Chơng 1 Tổng quan tài liệu 1.1 Lợc sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lợc sử nghiên cứu thú ở Việt Nam
ở Việt Nam những tài liệu về thú rừng đã có từ lâu Ngay từ thế kỷ 18, đã cócác tác phẩm “Vân đài loại ngữ”, “Phủ biên tập lục” của Lê Quý Đôn (1726 -1784) và “Đại Nam nhất thống chí ” (1864 - 1875) của các nhà bác học triềuNguyễn ghi chép, mô tả một số loài thú địa phơng cho các sản phẩm quý nh ngàvoi, sừng tê giác, mật gấu, nhung hơu, xạ hơng…Tuy nhiên, đấy cha phải lànhững công trình nghiên cứu khoa học
Từ thế kỉ 19, nghiên cứu thú ở Việt Nam đã có sự chuyển biến Các nhà khoahọc tự nhiên nớc ngoài bắt đầu khảo sát tài nguyên thiên nhiên Việt Nam trong
đó có thú Đáng kể là các công trình của Milne – Edwards (1867 - 1874),Morice (1875), Billet (1896 - 1898), Boutan (1900 - 1906), De Pousargues(1904), Ménégaux (1905 - 1906) Thời kì này có các đoàn khảo sát có quy môlớn nh đoàn Pavie (1879 - 1895) hoạt động ở Lào, Campuchia, Thái Lan và ViệtNam các mẫu vật thú đoàn thu đợc đã đợc De Pousargues phân tích và công bố;
Đoàn khoa học thờng trú Bắc Bộ do Boutan đứng đầu (1900 - 1906) thu thậpcác tiêu bản thú gửi về Paris do Ménégaux (1905 - 1906) phân tích; ĐoànDelacour (1925 - 1933) đã tiến hành khảo sát trên diện rộng và thu mẫu tiêubản trên toàn quốc Các tiêu bản thú đợc Thomas (1925, 1925, 1928) và Osgood(1932) phân tích và công bố danh sách các loài trong đó có tê giác(Rhinoceros), nai (Cevus unicolor), lợn rừng (Sus scrofa), vợn, khỉ, các loài ăn
Trang 7Năm 1904, De Pousargues công bố 38 loài thú ở Nam bộ bao gồm các nhóm:Dơi, Guốc chẵn, thú ăn thịt nhỏ và Gặm nhấm Năm 1927, 1928, 1929 Thomascông bố danh sách 29 loài Gặm nhấm Đặc biệt, năm 1932, H Osgood phântích t liệu của anh em nhà Roosevelts đợc bảo quản tại bảo tàng Paris, Luân
Đôn và Washington đã công bố một danh lục gồm 172 loài và phân loài thú ởViệt Nam Có thể nói đây là công trình mang tính khoa học nhất thời bấy giờ.Sau khi Miền bắc đợc giải phóng (1954), do yêu cầu phục hồi và phát triểnkinh tế, công tác điều tra cơ bản về động vật nói chung và thú hoang dã nóiriêng bắt đầu đợc đẩy mạnh và hoàn toàn do cán bộ Việt Nam đảm nhận
Năm 1973, Lê Hiền Hào [12] công bố cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc ViệtNam” giới thiệu về 38 loài thú có ý nghĩa kinh tế Mỗi loài tác giả nêu tên phổthông, tên khoa học, tên địa phơng, đặc tính phân bố, sinh cảnh và chỗ ở, tậptính, thức ăn, sinh sản, sinh trởng và phát triển, thay lông, cạnh tranh và kẻ thù,
số lợng và ý nghĩa kinh tế Theo lời giới thiệu sách của GS Đào Văn Tiến thì
“Đây là cuốn sách chuyên khảo tơng đối toàn diện về nguồn lợi thú của miềnBắc nớc ta”
Năm 1981, Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng ảnh, Bùi Kính, Cao Văn Sung[14] công bố “Kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam (1962 -1976)” đã thống kê đợc 109 loài và phân loài thú Các tác giả cũng đã lập danhsách các loài thú có ý nghĩa kinh tế gồm: thú cho thịt, da, săn bắn (10 loài), thúcho da, lông (21 loài), thú cho dợc liệu (10 loài), thú xuất khẩu (12 loài), thú cóích cho nông nghiệp (7 loài) và thú có hại cho nông nghiệp (5 loài)
Đặc biệt, năm 1985, Đào Văn Tiến [42] đã tổng hợp các kết quả điều tra
động vật trên 12 tỉnh (cũ) miền Bắc từ 1957 đến 1971 viết thành cuốn “Khảosát thú miền Bắc Việt Nam” Trong công trình này, tác giả đã thống kê đợc 129loài thú thuộc 32 họ, 11 bộ trong đó có 8 loài và phân loài lần đầu tiên phát hiện
ở Bắc Trung bộ, 5 loài và phân loài mới cho khoa học (riêng ở Nghệ An, có 23loài và phân loài, thuộc 11 họ, 4 bộ) Công trình đã sơ bộ quy vùng địa lí - động
Trang 8vật cho Việt Nam, nêu tính đa dạng và mật độ của các loài thú cũng nh đặc
điểm sinh thái- sinh học của chúng Đây là công trình hoàn chỉnh nhất lúc bấygiờ, là tài liệu có giá trị tham khảo cho các nhà thú học Việt Nam
Trên cơ sở tổng hợp các dẫn liệu hiện có, năm 1994, Đặng Huy Huỳnh, ĐàoVăn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng ảnh, Hoàng Minh Khiên [15] đã công
bố Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam gồm 223 loài (cha có các loàithú biển thuộc bộ Sirenia và bộ cá voi) thuộc 12 bộ, 37 họ Các kết quả thống kêtrong tài liệu này cũng cho thấy ở Nghệ An có 48 loài thuộc 21 họ 8 bộ, HàTĩnh có 46 loài, 21 họ, 9 bộ và Quảng Bình có 46 loài, 21 họ, 9 bộ Mỗi loài cáctác giả đã nêu tên khoa học, tên đồng nghĩa, tên Việt Nam và tên địa phơng(một số dân tộc sử dụng), vùng phân bố ở Việt Nam và trên thế giới, giá trị kinh
tế, giá trị bảo tồn, tình trạng, biện pháp sử dụng và bảo vệ
Trong những năm 1993 – 1997, việc điều tra đa dạng sinh vật trong đó cóthú đợc tiến hành trên các khu vực mới nh Vũ Quang , Pù Mát (Nghệ Tĩnh) vàHiên - Tây Quảng Nam đã phát hiện một số loài thú mới nh: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) [48], Mang trờng sơn (Caninmuntiacus truongsonensis) [50].
Năm 1997, Sokolov V.E, Phạm Trọng ảnh, Rosnov [57] cũng đã công bố loàiCầy giông tây nguyên (Viverra tainguyenensis) Đây là những t liệu rất mới
góp phần đánh giá và chứng minh tính đa dạng của khu hệ thú Việt Nam
Cũng từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, các nhà khoa học Việt Nam đã đi sâunghiên cứu về đa dạng sinh học động vật nói chung trong đó có các khu hệ thú,thu thập nhiều dẫn liệu về sinh thái, sinh học, các nguyên nhân làm suy giảmnguồn lợi thú hoang dã ở Việt Nam và đã công bố nhiều công trình có ý nghĩa.Năm 2000, Lê Vũ Khôi [19] xuất bản cuốn Danh lục các loài thú ở Việt Namvới 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ (bổ sung cho các công bố trớc đây
2 bộ, 3 họ) Mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên Việt, tiếng các dân tộc, tiếngAnh, tiếng Pháp, tiếng Nga [19]
Trang 9Việc nghiên cứu các khu hệ thú địa phơng cũng đã đợc các nhà khoa họcchú trọng, đặc biệt là các VQG và Khu BTTN nh VQG Bến En [17, 58], KhuBTTN Xuân Liên [43], Khu BTTN Pù Hoạt [41, 56], VQG Pù Mát [5, 32],VQG Vũ Quang [49], Khu BTTN Kẻ Gỗ [53], VQG Phong Nha – Kẻ Bàng[30, 35, 59], Khu BTTN Phong Điền và Đăckrông [54], VQG Bạch Mã [23]…Ngoài ra, năm 1999, Timmins, R.J., Trinh Viet Cuong [60] nghiên cứu về khu
hệ thú khu vực Hơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Năm 2000, Nguyễn Xuân Đặng, TrơngVăn Lã [10] nghiên cứu đa dạng động vật có xơng sống ở Phong Nha – KẻBàng - Hin Nam No thống kê đợc 97 loài thú thuộc 25 họ, 9 bộ trong đó có 3loài và phân loài mới phát hiện ở Việt Nam là Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) và Voọc đen tuyền
(Trachypithecus); Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2000) [16] nghiên cứu khu hệ
động vật hoang dã (thú, chim, bò sát, lỡng c) vùng ven biển đồng bằng sôngHồng; Lê Vũ Khôi (2000) [18] so sánh tính đa dạng sinh học các loài thú ở cácVQG và Khu BTTN ở miền Bắc; Lê Vũ Khôi, 2004 [20] nghiên cứu đa đạng
động vật có xơng sống ở cạn Bắc Trờng Sơn đã thống kê đợc 183 loài thú thuộc
31 họ, 11 bộ; Lê Vũ Khôi (2005) [23] tìm hiểu đa dạng khu hệ thú ở Vờn quốcgia Bạch Mã công bố 132 loài thuộc 28 họ 10 bộ
Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đã chú trọng nghiên cứu đặc điểm củacác nhóm thú riêng biệt Về Dơi, có công trình của Cao Văn Sung và cộng sự(2000) [38] bớc đầu điều tra Dơi ở miền Nam Việt Nam thống kê đợc 34 loàiDơi thuộc 17 giống, 6 họ và mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh tháicủa 30 loài su tầm đợc Năm 2001, Lê Vũ Khôi, Hà Thăng Long, Waltson [24]nghiên cứu khu hệ Dơi Cúc Phơng; Nguyễn Trờng Sơn, Nguyễn Xuân Đặng,Hendrichsen D (2000) [35] trong công trình: “Kết quả bớc đầu điều tra Dơi ởPhong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) và Hữu Liên (Lạng Sơn)” thống kê đợc
37 loài thuộc 5 họ ở Phong Nha – Kẻ Bàng và 12 loài thuộc 5 họ ở Hữu Liên
đồng thời nêu các tác động của con ngời lên các khu hệ Dơi nói trên Lê Vũ
Trang 10Khôi, Vũ Đình Thống (2005) [28] nghiên cứu thành phần loài Dơi hiện biết tạiViệt Nam ghi nhận 107 loài thuộc 31 giống, 7 họ, 2 phân bộ Lê Vũ Khôi(2005)[22] trong báo cáo thực hiện 2 năm 2004-2005 đề tài nghiên cứu cơ bản
“Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ thú Ăn sâu bọ (Insectivora), Dơi (Chiroptera)
và Gậm Nhấm (Rodentia) ở Việt Nam” đã thống kê đợc 107 loài Dơi thuộc 31giống, 7 họ, 2 phân bộ trong đó có 9 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam(2000), 15 loài trong Danh Lục Đỏ của IUCN (2004) Tác giả cũng nghiên cứu
sự phân bố Địa Lí của các loài (khu vực Bắc Bộ có 77 loài 25 giống 7 họ, khuvực Trung bộ có 94 loài 28 giống 6 họ và vùng Nam bộ có 35 loài 13 giống 6họ) đồng thời mô tả đặc điểm của 85 loài Dơi thờng gặp (thuộc 6 họ) ở ViệtNam Năm 2006, Nguyễn Trờng Sơn và Vũ Đình Thống [36] trong cuốn: “Nhận dạng một số loài Dơi ở Việt Nam” đã mô tả 64 loài Dơi thuộc 6 họ Mỗiloài tác giả nêu tên khoa học, tình trạng bảo tồn, đặc điểm nhận dạng, số đo, nơisống, thức ăn, mùa sinh sản, phân bố và giá trị sử dụng Tác giả cũng đã lậpbảng thống kê thành phần loài Dơi hiện biết tại Việt Nam gồm 109 loài thuộc 7
họ trong đó có 15 loài có tên trong Danh lục Đỏ của IUCN (2006) và 9 loài cótên trong Sách Đỏ Việt Nam (2000)
Về Gặm nhấm, năm 1980, Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính [37]công bố công trình “Những loài gặm nhấm Việt Nam” trong đó nêu 64 loàithuộc 23 giống 7 họ Năm 1986, Lê Vũ Khôi, Trần Hồng Việt [29] nghiên cứusinh thái học một số loài Gặm nhấm vùng Sa Thầy ( Gia Lai – Kon Tum) CaoVăn Sung, Phạm Đức Tiến, 2000 [39] nghiên cứu các loài chuột ở quần đảo Tr-ờng Sa đã nêu đặc điểm cấu trúc chủng quần, sự biến động số lợng của 4 loàichuột (R flavipectus, R exulans, R norvegicus và R germani) đồng thời thử
nghiệm một số phơng pháp diệt chuột hiệu quả và không gây ô nhiễm môi ờng Năm 2005, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Minh Tâm [25] nghiên cứu thành phầnphân loại học và đặc điểm động vật địa lí học của khu hệ Gặm Nhấm(Rodentia) ở Việt Nam đã thống kê đợc 66 loài thuộc 27 giống, 7 họ Các tác
Trang 11tr-giả cũng đã xác định một số đặc trng riêng biệt cho từng khu động vật địa lí họcgồm khu Đông Bắc, khu Tây Bắc, khu Bắc Trung bộ, khu Nam Trung bộ và khuNam bộ Khu vực từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân – Bạch Mã đợc xem là khuphân bố trùng nhau của nhiều loài Gặm nhấm có vùng phân bố chủ yếu ở phíaBắc hoặc phía Nam Công trình cũng khẳng định khu hệ Gặm nhấm Việt Nammang tính chất hỗn hợp rõ ràng gồm các yếu tố nhiệt đới phơng Nam (chiếm tỷ
lệ cao nhất) với yếu tố phơng Bắc và yếu tố cận nhiệt đới, yếu tố bản địa khácao Từ Tây Bắc đến Nam bộ, yếu tố Hymalaya và Trung Hoa giảm dần còn yếu
tố ấn Độ – Mã Lai thì tăng dần
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về các nhóm thú khác nh: Lê
Vũ Khôi (2005) [21] nghiên cứu về các loài thú bộ ăn sâu bọ (Insectivora),Nhiều răng (Scandentia), Cánh da (Dermoptera), Tê Tê (Pholidota), Thỏ(Lagomorpha) ở Việt Nam đã mô tả các đặc điểm hình thái phân loại, phân bố
và sinh học sinh thái của 19 loài (3 họ) thuộc bộ thú ăn sâu bọ, 2 loài (1 họ)thuộc bộ Nhiều răng, 1 loài (1 họ) thuộc bộ Cánh da, 2 loài Tê tê và 3 loài Thỏ.Phạm Trọng ảnh (2000) [1] công bố những dẫn liệu mới về loài Cầy giông tâynguyên (Viverra tainguyenensis ), Đặng Huy Huỳnh (2000) [13] nêu một số
dẫn liệu bổ sung về loài Thỏ xám ở Lạng Sơn Đặng Ngọc Cần, Hà Văn Tuế(2000)[4] nghiên cứu thành phần cây thức ăn của Hơu xạ (Moschus berezovskii) ở Việt Nam Nguyễn Cúc Phơng và cộng sự (2000)[33] nêu một số
dẫn liệu về đặc điểm dinh dỡng và sinh sản của Hổ Đông Dơng tại vờn thú HàNội Đặng Tất Thế, Lê Xuân Cảnh (2005) [40] nghiên cứu : “Tiến hoá phân tử
và phân loại của các loài và phân loài Voọc thuộc giống Trachypithecus
Reichenback, 1862 ở Việt Nam”…
1.1.2 Lợc sử nghiên cứu thú ở Nghệ An
Nghệ An có 3 khu vực bảo vệ đa dạng sinh học đó là VQG Pù Mát, KhuBTTN Pù Huống và Khu BTTN Pù Hoạt Nghiên cứu về khu hệ thú Pù Mát cócác công trình nh: “Pù Mát, điều tra đa dạng sinh học của một khu bảo vệ ởViệt Nam ” (2000)– Dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh
Trang 12Nghệ An [5] đã điều tra thu mẫu của các loài động vật trong đó về thú đã thu
đ-ợc mẫu của 20 loài thú nhỏ, 39 loài Dơi (thuộc 6 họ) và 72 loài thú lớn (thuộc
22 họ); năm 2001, Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng [31] xuất bản cuốn sổ tayngoại nghiệp nhận dạng các loài thú lớn khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (cùngvới danh sách ghi chú các loài Dơi) đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm nhậnbiết, sinh thái và tập tính, sự phân bố và tình trạng bảo tồn của 64 loài thú, lậpdanh sách ghi chú 39 loài Dơi thuộc 6 họ và bảng tra cứu nhanh các dấu chânthú Đây là tài liệu rất cần thiết cho các nhà khoa học khi điều tra thực địa Năm
2004, Đặng Công Oanh [32] trong luận văn Thạc sỹ Lâm nghiệp của mình đãnghiên cứu tính đa dạng sinh học khu hệ thú, ảnh hởng của con ngời và các giảipháp bảo tồn tài nguyên thú rừng ở VQG Pù Mát đã thống kê đợc 132 loài thúthuộc 30 họ, 11 bộ; nêu giá trị kinh tế của các loài su tầm đợc; phân tích quan
hệ địa lí động vật của khu hệ thú Pù Mát trong đó yếu tố Hymalaya chiếm23,5%, yếu tố Trung Hoa chiếm 8,3%, Yếu tố ấn Độ – Mã Lai chiếm 56,8%
và yếu tố đặc hữu chiếm 11,4% Công trình cũng mô tả sự phân bố của các loàithú theo sinh cảnh, ảnh hởng của con ngời đến tài nguyên thú rừng cũng nh đềxuất các giải pháp bảo tồn chúng Ngoài ra còn có nhiều công trình khác nghiêncứu về khu hệ động vật Pù Mát nhằm hoàn thiện danh lục động vật của VQG.Ngoài Pù Mát thì Pù Hoạt và Pù Huống cũng là những khu vực có tiềm năng
đa dạng sinh học cao Thú ở khu vực này có nhiều loài quý hiếm của Việt Nam
và thế giới nh Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Voi (Elephas maximus), Hổ
(Panthera tigris)… Tuy vậy, việc khảo sát đánh giá một cách đầy đủ về tài
nguyên thú rừng ở đây trong nhiều năm qua còn cha tơng xứng với tiềm năng tolớn đó Chỉ mới có một số ít công trình nghiên cứu đợc thực hiện Năm 2002,
Vũ Đình Thống trong luận văn Thạc sỹ của mình đã nghiên cứu Dơi ở KhuBTTN Pù Hoạt và VQG Bạch Mã [41] đã thống kê đợc ở Pù Hoạt có 23 loài Dơitrong đó 91,3% thuộc loại “hiếm”, 4,4% thuộc loại “ít” Về sự phân bố của cácloài Dơi theo độ cao, ở Pù Hoạt có 56% số loài thống kê đợc phân bố ở độ cao
Trang 13300 – 500m, 26,1% số loài phân bố ở độ cao 501 – 700m, 95,7% số loài phân
bố ở độ cao 701 – 900m, 52,2% phân bố ở độ cao 901 – 1100m và ở độ cao
1101 – 1300m có 13% số loài sinh sống Tác giả cũng đã xây dựng khoá địnhloại của 58 loài Dơi ở khu vực nghiên cứu, nêu các nhân tố ảnh hởng đến đờisống của chúng đồng thời đề xuất một số biện pháp bảo tồn nhóm động vật này.Trong báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu t xây dựng Khu BTTN Pù Huốngnăm 2002 của chi cục kiểm lâm Nghệ An, ban quản lý Khu BTTN Pù Huống[2] có ghi nhận và đánh giá về tính đa dạng sinh học của Pù Huống Trong đó
đã thống kê đợc ở đây có 291 loài động vật có xơng sống thuộc 4 lớp (Lỡng c,
Bò sát, Chim và Thú), riêng về thú có 63 loài (21,64%) thuộc 24 họ, 9 bộ.Trong 63 loài thú thống kê đợc đã có 24 loài quý hiếm Trên cơ sở đánh giá vaitrò to lớn của khu hệ động thực vật Pù Huống trong đó có thú rừng cũng nh nêulên tính cấp thiết phải bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này, Báo cáo đã kiếnnghị về việc đầu t xây dựng Khu BTTN Pù Huống nhằm góp phần thực hiện tốtphát triển kinh tế xã hội và bảo vệ rừng trên địa bàn Pù Huống
Ngoài các công trình nói trên, năm 2003, Chi cụ Kiểm Lâm Nghệ An, Dự ánBảo vệ rừng và quản lý lu vực sông tỉnh Nghệ An do DANIDA tài trợ đã tiếnhành đánh giá nhanh đa dạng sinh học Khu BTTN Pù Huống [6] Trong côngtrình, các tác giả đã ghi nhận 115 loài động vật có xơng sống (Lỡng c, Bò sát,Chim và thú) trong đó có 48 loài thú lớn thuộc 20 họ 8 bộ
Những dẫn liệu nói trên cho thấy việc nghiên cứu khu hệ thú Tây Bắc Nghệ
An nói chung và Khu BTTN Pù Huống nói riêng còn ít Sự suy giảm nguồn lợithú đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng đòi hỏi phải có những nghiên cứu cơbản làm cơ sở để xây dựng các giải pháp bảo tồn
1.2 Đặc điểm tự nhiên Xã hội khu vực nghiên cứu.–
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.
+ Vị trí địa lý:
Trang 14Khu BTTN Pù Huống có toạ độ địa lý 104043’ đến 1050 00’ độ kinh Đông,
19015’ đến 19029’ độ vĩ Bắc với diện tích 49.806 ha, bao gồm các huyện:
Huyện Quế Phong (Cắm Muộn, Quang phong)
Huyện Quỳ Châu (Diễn Lãm, Châu Hoàn)
Huyện Quỳ Hợp (Châu Thành, Châu Thái, Châu Cờng)
Huyện tơng Dơng (Nga My, Yên Hoà, Yên Tĩnh, Hữu Khuông)
Huyện Con Cuông (Bình Chuẩn) (hình 1.1)
Hình 1.1 Vị trí của Khu BTTN Pù Huống trong tỉnh Nghệ An
+ Địa hình:
Pù Huống là một dải núi tiếp tục cánh cung Pù Hoạt, trải dài 43 km theo ớng Tây Bắc - đông Nam, 20 - 23 km theo hớng Đông Bắc - Tây Nam Khu bảotồn nằm cả về hai hớng núi: phía Nam là núi Phu cô nằm hơi thẳng góc với dảinúi chính, độ cao trung bình 200 - 800m; dải núi chính Phu Lon - Pù Huốngcũng là giông núi cao nhất với các đỉnh Phu Lon 1447m, Pù Huống 1200m vàcác đỉnh 1311m – 1148m, 1125m làm cho việc giao thông giữa 2 phía bị cảntrở bởi dãy núi chính và cũng chính dãy núi này đã phân cách các huyện Quế
Trang 15h-Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp với các huyện Con Cuông, Tơng Dơng Địa hìnhchia cắt mạnh và sâu, tạo nên nhiều dòng suối dốc và hiểm trở nh: Nậm Quang,Nậm Gơm, Huổi Bô, Huổi Khi, Huổi Nây ở phía Bắc và Nậm Líp, Nậm Chao,Huổi Kít, Nậm Ngàn, Nâm Chon, Huổi Uôn ở phía Nam Mạng lới suối dày đặcnày là đầu nguồn của sông Cả và sông Hiếu
Dải núi Pù Huống tạo nên đờng phân thuỷ của lu vực sông Cả và sông Hiếugây nên sự khác biệt về khí hậu ở 2 phía núi ảnh hởng của gió mùa đông Bắcgiảm dần từ Bắc xuống Nam và có sự thay đổi rõ rệt về khí hậu Khi khối khílạnh di chuyển xuống phía Nam, do phải vợt qua dãy núi Phu Lon – Pù Huốngnên ít ảnh hởng đến sờn phía Nam Khí hậu sờn phía Nam mang tính chất khônóng điển hình Mờng Xén, Kỳ Sơn Điều này đã tạo nên các tiểu khí hậu ngay ởphạm vi khu bảo tồn Trong khi lợng ma ở Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, BùKhạng đạt 1800 – 2000mm thì ở Con Cuông và Tơng Dơng lợng ma thấp hơn,mùa ma đến muộn hơn, số ngày ma cũng ít hơn Sự khác biệt về khí hậu đợcphản ánh bởi sự phân bố của thực vật Phía Nam có mặt loài Giáng hơng vàSăng lẻ lên cao tới 800m, ở phía Bắc Săng lẻ chỉ phân bố ở độ cao 200 – 300m
và có quế tự nhiên sống rải rác
+ Địa chất và thổ nhỡng:
Điều kiện địa chất Khu BTTN Pù Huống rất đa dạng Các yếu tố địa hình
địa mạo, vị trí sờn Bắc, sờn Nam, độ dốc, độ dày tầng đất, mức thoái hoá củacác thực bì ảnh hởng rất lớn đến thổ nhỡng Các kiểu lập địa:
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá macma axit (Fa)
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu mịn (F3)
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (F9)
- Kiểu phụ Feralit phát triển trên đá vôi (Fv)
- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá phun xuất (Fha)
- Kiểu phụ đất hình thành từ phù sa mới DP
- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn (FH)
Trang 16- Kiểu phụ Feralit mùn trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (FHq).+ Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu ở Khu BTTN Pù Huống vừa phân hoá theo độ cao (từ 200 đến1600m) vừa phân hoá do ảnh hởng yếu dần của gió mùa Đông Bắc tới sờn Bắc
Pù Huống và ảnh hởng của vùng khô hạn điển hình Mờng Xén- Kỳ Sơn tới sờnNam Sự mạnh lên của gió mùa Tây Nam và sự yếu dần của gió mùa Đông Bắckhi tới Pù Huống đã tạo nên những nét riêng của khí hậu nơi đây Chế độ nhiệt,
ma ẩm, số ngày ma và ẩm độ khác nhau qua các trạm bao quanh Pù Huống, thểhiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Số liệu khí hậu tại các trạm bao quanh Pù Huống (nguồn [2])
Nhân tố khí tợng Quỳ
Châu
Quỳ Hợp
Tây Hiếu
Tơng Dơng
Con Cuông Nhiệt độ trung bình năm 23,1 23,3 23,0 23,6 23,5 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối 41,3 40,8 41,6 42,7 42,0 Nhiệt độ tối thấp trung bình tuyệt đối 0,4 - 0,3 - 0,2 1,7 2
Nhiệt độ mặt đất trung bình 26,4 26,7 26,7 27 26,4 Lợng ma trung bình năm 1734,5 1640,9 1591,7 1268,3 1791,0
Số ngày ma phùn trung bình năm 19,6 17,9 25 5,6 22 Lợng bốc hơi trung bình năm 703,9 945,4 835,2 867,1 812,9
Lợng ma trung bình ngày lớn nhất 290 208 279 192 449Qua bảng 1.1 cho thấy sự chênh lệch và khác biệt giữa hai triền của PùHuống Triền Bắc với do có ảnh hởng của gió mùa Đông Bắc và tiểu khí hậumiền đã có số ngày ma, lợng ma, độ ẩm, số ngày ma phùn cao hơn triền Nam
Trang 17Tại triền Nam, các chỉ số về nóng, bốc hơi, khô hạn lại cao hơn triền Bắc nh ợng bốc hơi năm, nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ không khí tối cao, tối thấp.
l-Sự khác biệt này đã tạo nên sự đa dạng kỳ thú ở hai triền núi ở sờn núi caotrên 1000m thờng xuyên có mây mù và ẩm độ cao hơn tại vùng ranh giới chânnúi Điều đó ảnh hởng trực tiếp đến sự phân bố và thành phần các loài thực vật.+ Thảm thực vật
Diện tích đất có rừng ở Pù Huống là 36.458 ha chiếm 73,19% tổng diện tích
tự nhiên Trong đó:
- Rừng ít bị tác động có diện tích 13.489 ha chiếm 37% Trong rừng còn giữ
đợc đầy đủ các tầng tán và là nơi c trú chủ yếu của các loài động vật, đặc biệt làthú lớn Rừng ít bị tác động chủ yếu nằm ở các tiểu khu phía Bắc giông núi, dọctheo đỉnh giông và một phần ở phía Nam giông núi
- Rừng đã bị tác động có diện tích 22.969 ha chiếm 63% Thành phần thựcvật ở đây đơn giản, hầu nh chỉ còn lại cây bụi, dơng xỷ và cây gỗ nhỏ
Có 2 kiểu rừng chính trong Khu BTTN Pù Huống đó là: rừng nhiệt đới ma
ẩm lá rộng thờng xanh và rừng kín thờng xanh á nhiệt đới
+ Rừng nhiệt đới ma ẩm lá rộng thờng xanh: Phân bố ở độ cao 200 –
900m Các họ thực vật u thế là: Họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ 3mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Dầu(Dipterocarpaceae)
Tuy ít loài nhng số cá thể trong các tổ thành nhiều khi, nhiều nơi đã chiếm uthế, biểu hiện rõ rệt là loài Sao mặt quỷ (Hopea mollissima), loài này ở sờn Bắc
phân bố ở độ cao 400 – 900m, ở sờn Nam từ 700 – 1000m chiếm trên 30 –35%, trong tổ thành ở vành đai dới 400m có chò chỉ (Parashorea chinensis)
chiếm u thế trên các đất dọc ven suối, nhiều nơi chò chỉ tạo thành tầng vợt tán,nhng mấy năm gần đây loài này bị khai thác trộm nhiều ở dọc ven suối sờn phíaBắc
Trang 18Kiểu rừng này ở phía Bắc có các loài u thế và tạo nên các u hợp với loài:Sâng, Gội nếp, Trờng sâng, Lát, Gội gác, Vù Hơng, Sến mật, Giổi.
Dới tán các loài u thế có các loài cây gỗ nhỡ điển hình nh: Đái bò, Bời lời,Bộp, Chắp, Lòng trứng, Côm, Bồ hòn, Máu chó, Bứa, Đẻn, Nhọc Nhng phân bốrộng khắp, dễ thấy và có mặt trong tất cả các ô đo đếm là các loài họ Re, Dẻ nh
Dẻ đen, Dẻ bạc, Cà ổi, Re tàu…
ở sờn Nam Pù Huống, các u hợp Sao mặt quỷ, Sâng, Sến mật phân bố ở đaicao hơn phía Bắc Các u hợp Sến, Sao mặt quỷ xuất hiện ở độ cao trên 500mcòn Săng lẻ phân bố đến 700m cùng với loài Cọ phèn
+ Rừng kín thờng xanh á nhiệt đới: Phân bố ở độ cao trên 900m tạo thành một
dải dọc theo giông núi từ Phu Lon tới Pù Huống và một phần rất nhỏ trên núiPhu-Chay-Ngô ở phía Nam Kiểu rừng này chỉ chiếm 10% diện tích, có 2 loàithực vật hạt trần điển hình là Pơ mu và Sa mộc nhng 2 loài này chỉ phân bố tậptrung ở đỉnh Phu Lon Phía Nam giông núi là rừng á nhiệt đới điển hình với cácloài Hồi núi, Dẻ lá tre, Chè béo, Thạch đảm, Ngũ liệt, Thông lông gà, Bạchchâu Trong kiểu rừng này, đất đai có tầng thảm mục hơi dày, đôi chỗ có chenlấn các loài giang, sặt
Ngoài 2 kiểu rừng chính nói trên còn có các kiểu phụ sau:
+ Kiểu phụ rừng tre nứa:
Tre nứa xuất hiện từ độ cao 800m và phân bố thành đám rộng 150 đến 300 harải rác khắp 2 sờn núi Chúng chiếm một diện tích 3336 ha bằng 6,69% diện
Trang 19tích khu bảo tồn hoặc 10% diện tích rừng tự nhiên còn tồn tại Tuy gọi là rừngtre nhng từng đám vẫn còn một số cây thân gỗ khác nh Ràng ràng, Hu đay, Bờilời, Côm, Lòng mang…
+ Kiểu phụ rừng núi đá:
Khoảng 850 ha phân bố ở phía Nam khu bảo tồn thuộc địa phận xã BìnhChuẩn, Nam Thái Kiểu rừng này hầu nh còn nguyên vẹn và hiểm trở, trong đócòn bảo tồn các loài Nghiến, Mun, Sến, Trâm núi, Gội núi, Lòng mang trâu…
Đây là nơi trú ngụ tơng đối an toàn cho các loài thú quý hiếm nh Sao la, cácloài Khỉ hầu,Gấu, Sơn dơng, Sóc bay, Chồn dơi…
Trong trạng thái ít bị tác động, có thể thấy loại rừng tiêu biểu trớc kia củaTây Nghệ An mà nay đã và đang bị suy thoái chỉ còn những mảng lẻ tẻ phân bố
ở những vùng xa và sâu
Bớc đầu đã thống kê ở Khu BTTN Pù Huống 612 loài thuộc 117 họ 342 chithực vật bậc cao (Bảng 2.2) Trong đó có 33 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam(1996) Đó là một nguồn gen quý cần đợc bảo vệ [2]
Ngành hạt trần (Pinophyta) có 9 loài thì 2 loài quý hiếm là Pơ mu và Sa mộc.Ngành hạt kín (Mangnoliophyta) có 589 loài trong đó các họ có số loài nhiềunhất là: họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) có 58 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 28 loài,
họ Re (Lauraceae) 71 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) 15 loài, họ Trôm 15 loài, họVang (Caesalpiniaceae) 18 loài, họ Na (Annonaceae) 13 loài, họ Đậu(Fabaceae) 25 loài, họ Côm (Elaeocarpaceae) 18 loài, họ Mộc Lan(Mangnoliaceae) 12 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 19 loài, họ Lan (Orchidaceae)
30 loài, họ Lúa (Poaceae) 14 loài
Về cây gỗ, có thể nói Pù Huống là nơi đang bảo tồn các loài gỗ quý hiếm,
điển hình và có giá trị của Bắc Trung bộ, của Nghệ An, Quỳ Châu mà hiện nay
đang hiếm dần nh: gụ, huỷnh, pơ mu, sa mộc, sến mật, táu mật, chò chỉ, tô hạp,lim xanh, giổi, đinh, sâng…
Trang 20Hệ thực vật Pù Huống chủ yếu là khu hệ bản địa và đặc hữu “ Bắc Việt Nam– Nam Trung Hoa” chiếm u thế sau đó là yếu tố Vân Nam, Quý Châu Khu hệcũng có yếu tố Myanma Miến Điện [2].
Bảng 1.2 Thống kê các họ, chi, loài thực vật ở Pù Huống (nguồn [2])
29827
50881
Về mặt tài nguyên thực vật, đã thống kê đợc nh sau:
Cây cho quả và hạt ăn đợc: 40 loài
Cây cho vật liệu đan lát: 6 loài
Song mây có giá trị nguyên liệu tốt: 4 loài
+ Hệ động vật:
Khu hệ động vật Pù Huống thể hiện tính đa dạng sinh học của Bắc Trung bộ
Trang 21Những khảo sát bớc đầu đã thống kê đợc 291 loài động vật có xơng sốngthuộc 4 lớp: Thú có 63 loài, chim có 176 loài, bò sát có 35 loài, lỡng c 17 loài(bảng 1.3) [2].
Bảng 1.3: Thống kê các nhóm động vật khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống(nguồn [2])
1.2 2 Những đặc điểm dân sinh và kinh tế
Khu bảo tồn Pù Huống nằm vào 5 huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,Tơng Dơng, Con Cuông với 12 xã có đất trong khu bảo tồn và bao quanh khubảo tồn, bao gồm:
Huyện Quế Phong có xã Cắm Muộn, Quang Phong
Huyện Quỳ Châu có xã Châu Hoàn, Diễn Lãm
Huyện Quỳ Hợp có xã Châu Thành, Châu Cờng, Châu Thái
Huyện Tơng Dơng có xã Nga My, Yên Hoà, Yên Tĩnh, Hữu Khuông
Huyện Con Cuông có xã Bình Chuẩn
Tình hình dân sinh 12 xã nói trên nh sau (bảng 1.4):
Tổng diện tích lãnh thổ: 160.438,0 ha
Trang 22Đất không rừng: 66.976,3 ha
Ruộng nông nghiệp và đất khác: 9.138,6 ha
Thu nhập bình quân đầu ngời/năm 189.160 VN đồng
Dân tộc: Chủ yếu là Thái mãn thanh, Khơ mú, Hơ mông và lẻ tẻ cóThổ, Mờng, Hoa
Nguồn sống chính của ngời dân trong vùng dựa vào nông nghiệp và nơngrẫy, một số lao động tham gia khai thác gỗ, nứa, luồng và lâm sản khác nhsong, mây, khi nông nhàn còn khai thác cỏ hơng bài để bán nguyên liệu làm h-
ơng
Trớc kia, khi rừng còn che phủ đến giáp quốc lộ 48 thì rừng còn giữ nớc,nông nghiệp thuận lợi, nay rừng đã bị đẩy lùi, nguồn nớc bắt đầu khan hiếm,gây khó khăn cho sản xuất lúa nớc Tuy nhiên từ năm 1995 đến nay, nhân dân
đã tự trang bị máy thuỷ điện thì ý thức phải giữ rừng để giữ nguồn điện đã đợctăng lên Thống kê bớc đầu riêng xã Diễn Lãm đã có 290 máy phát điện mini,cả vùng có khoảng 2200 máy
Về săn bắn: Hoạt động săn bắn ở Pù Huống tuy diễn ra kém hơn nhiềuvùng khác nhng mỗi bản vẫn có 5 – 6 tay súng, số súng trái phép dự đoánriêng 12 xã bao quanh có thể có tới 150 – 250 khẩu Khảo sát năm 1995 chothấy có tới 7 tụ điểm mua thú rừng ở Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tơng D-
ơng, Con Cuông Số lợng chim, thú chuyển đi cha chấm dứt đợc [2]
Khai thác trầm hơng: Các hoạt động khai thác trầm hơng diễn ra mạnh mẽvào giai đoạn 1992 – 1995, nay có lẽ do nguồn cây trầm có đờng kính lớn đãcạn nên không thấy ngời dân vào rừng tìm trầm nữa
Bảng 1.4 Thống kê tình hình dân sinh, kinh tế các xã tiếp giáp và có đấtnằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (nguồn [2])
Trang 23HuyÖn/ X· DiÖn
tÝch
n«ng nghiÖp (ha)
D©n sè (ngêi)
Sè hé
Thu nhËp
BQ ®Çu êi/n¨m
ng-Tæng (ha)
Cã rõng (ha)