Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
==== ====
vũ thị liên phợng
đa dạng sinh học cá sông ngàn sâu - Hà Tĩnh
luận văn thạc sĩ khoa học sinh học
Vinh - 2009
Trang 2Lời cảm ơn
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy PGS.TS Hoàng Xuân Quang, PGS.TS Nguyễn Hữu Dực đã hết lòng tận tình giúp đỡ và hớng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu Trờng Đại học Vinh, khoa Sau Đại học, ban chủ nhiệm Khoa Sinh, tổ bộ môn Động vật- Sinh lý và nhân dân các địa phơng hai huyện Hơng Khê và Vũ Quang
Xin cảm ơn TS Hoàng Ngọc Thảo, CN Hồ Anh Tuấn, CN Đỗ Văn Giang,
CN Mai Thị Thanh Phơng, CN Nguyễn Thị Hằng đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thành luận văn
Qua đây, tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới những ngời thân trong gia đình, bạn bè đã góp sức, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3Danh mục bảng dùng trong luận văn
Bảng 1.1 Một số đặc trng về chế độ nhiệt (0C)
Bảng 1.2 Đặc trng chế độ ma
Bảng 3.1 Tỉ lệ % các bộ, họ, giống, loài theo các bậc phân loại
Bảng 3.2.Thành phần, tỷ lệ các giống và loài trong các họ cá ở khu hệ sông Ngàn SâuBảng 3.3 Thành phần các loài cá khu hệ cá sông Ngàn Sâu
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu sai khác giữa Cobitis sp với Cobitis sinensis
Bảng 3.8 So sánh sự khác nhau giữa hai loài Schitura sp1 và Schitura sp2
Bảng 3.9 Một số đặc điểm sai khác của các loài trong giống Hemibagrus
Bảng 3.10 So sánh đặc điểm biến dị của 2 loài trong giống Eleotris
Bảng 3.11 So sánh đặc điểm hình thái của 2 loài trong giống Channa
Bảng 3.12 Đặc điểm hình thái cá Cháo thờng Opsariichthys biden
Bảng 3.13 Đặc điểm hình thái cá Mơng xanh Hemiculter leucisculus
Bảng 3.14 Đặc điểm hình thái cá Đục đanh chấm râu Microphysogobio labeoides
Bảng 3.15 Sự phân bố các loài cá theo địa điểm nghiên cứu
Bảng 3 16 Các loài cá kinh tế ở khu vực nghiên cứu
Bảng 3.17 Các loài cá làm cảnh ở khu vực nghiên cứu
Trang 43.3 §Æc ®iÓm h×nh th¸i mét sè quÇn thÓ c¸ ë lu vùc s«ng Ngµn S©u
76
3.3.1 §Æc ®iÓm h×nh th¸i C¸ Ch¸o thêng Opsariichthys biden
3.5 TÇm quan träng, s¶n lîng vµ ng cô khai th¸c c¸ ë lu vùc s«ng Ngµn S©u
80
3.5.1 TÇm quan träng cña c¸c loµi c¸ ë khu vùc nghiªn cøu
80
3.5.2 S¶n lîng khai th¸c c¸ ë khu vùc nghiªn cøu
Trang 53.5.3 Ng cụ đánh bắt cá ở lu vực sông Ngàn Sâu
85
Kết luận và kiến nghị
88
1 Kết luận
88
2 Kiến nghị
89
Tài liệu tham khảo 90 Phụ lục
Trang 6MỞ ĐẦU
Cá là nguồn thực phẩm lâu đời của con người, không những thế trong y học Phương Đông, nhiều loài cá còn được dùng làm thuốc chữa bệnh, vì vậy việc tiến hành sưu tập và phân loại cá nhằm bảo vệ và khai thác chúng một cách có hiệu quả rõ ràng là rất cần thiết
Sông Ngàn Sâuchảy qua các huyện Vũ Quang và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, cùng với sông Ngàn Phố đổ vào sông La và hợp lưu với sông Lam Hệ thống sông Ngàn Sâu là phụ lưu lớn thứ hai của sông Cả, gồm các chi lưu: sông Ngàn Sâu dài 135km, diện tích lưu vực rộng 3214km2; sông Tiêm dài 39km, diện tích lưu vực 213km2; Sông Rào Nổ dài 28km, diện tích lưu vực 206km2; Sông Ngàn Trươi dài 62km, diện tích lưu vực 560km2; Sông Ngàn Phố dài 70km, diện tích lưu vực 1060km2 Sông Ngàn Sâu bắt nguồn từ vùng núi ông Giao (cao 1100m) và cù Lân (cao 1014m) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ Đức Sơn đến Linh Cảm sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc
Trước đây, từ năm 1974 Mai Đình Yên đã nghiên cứu cá sông Tiêm Sau này trong khoảng từ 1983 - 1995 có tác giả Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu “Khu hệ cá lưu vực sông Lam” đã ghi nhận ở Đức Bồng 2 loài
Gerres lucidus và Eleotris butis; năm 1995 công bố “Tuyển tập công trình
hội thảo đa dạng Bắc Trường Sơn” đã công bố 1 loài mới là Parazacco
vuquangensis tại sông Ngàn Trươi, huyện Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh Năm
1999 Nguyễn Thái Tự, Lê Viết Thắng, Nguyễn Xuân Khoa nghiên cứu tại sông Ngàn Trươi và khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang Như vậy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống về thành phần loài cá ở sông Ngàn Sâu
Và từ đó đến nay môi trường sống có nhiều thay đổi, nguồn lợi đang bị khai thác quá mức đã làm giảm sự đa dạng sinh học cá, đặc biệt là nhiều loài
có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trang 7Để có cơ sở đánh giá đúng hiện trạng thành phần loài của khu hệ cá sông Ngàn Sâu, góp phần bổ sung dẫn liệu về thành phần loài cá nước ta, đồng thời giúp các nhà quản lý có những giải pháp hữu hiệu để phát triển
bền vững tính đa dạng sinh học, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đa dạng sinh học cá sông Ngàn Sâu - Hà Tĩnh”
• Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Điều tra nghiên cứu thành phần loài cá sông Ngàn Sâu, phân tích đặc điểm hình thái phân loại, các loài cá có giá trị kinh tế và tình trạng đánh bắt tại địa phương Trên cơ sở đó bổ sung tư liệu khoa học cho bộ môn ngư loại học, góp phần bảo vệ, phát triển bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học
cá tại địa phương
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt
1.1.1 Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt Việt Nam
Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta được chia làm 3 thời kỳ:
1.1.1.1 Thời kỳ phong kiến
Thuộc thời kỳ này những hiểu biết về đời sống của các loài cá, nghề nuôi cá cũng như nghề khai thác cá còn rất hạn chế… được ghi chép đơn giản trong các cuốn sử học và kinh tế học thời phong kiến
1.1.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc
* Về mặt hình thái, phân loại khu hệ cá và phân bố địa lý của cá
Trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á châu và mô tả một số loài mới
ở Đông Dương”, tác giả Sauvage H.E (1881) - người đầu tiên nghiên cứu về
cá nước ngọt nước ta - đã thống kê được có 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta Năm 1883 G.Tirant đã công
bố và mô tả 70 loài cá ở sông Hương (Huế) trong đó có 3 loài mới [12, tr 11]
Những năm tiếp theo có nhiều công bố của các tác giả như H.E Sauvage (1884) thu thập 10 loài ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; L.Vaillant (1891 - 1904) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng và có một loài mới (1904); J.Pellegrin (1906, 1907, 1928, 1932) phân tích mẫu thu thập ở Hà Nội của đoàn thường trực khoa học Đông Dương gồm 29 loài, có 2 loài mới (1907), trong đó đã thông báo bắt
được cá Chình Nhật (Anguilla japonica) ở sông Hồng (1935, 1936) [13, tr
12]
Trang 9P Chevey & J.Lemason (1937) đã giới thiệu các loài cá nước ngọt ở
miền Bắc Việt Nam gồm 98 loài thuộc 71 giống, 17 họ, 10 bộ trong cuốn “Góp
phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” [14 , tr 15].
* Về giải phẫu, sinh thái, sinh lý và sinh hóa của cá
Trong thời kỳ này, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu sinh lý, sinh thái
và giải phẫu cá như: “Phương pháp tính tuổi cá” của P Chevey từ năm 1929
- 1930 J Lemasson & Nguyễn Hữu Nghị (1939 - 1942) nghiên cứu “Sinh
học sinh sản cá Chép, cá Trê, cá Chuối ở miền Bắc Việt Nam” [18, tr 6].
“Nghiên cứu về khu hệ cá ở ngòi Thìa” (nhánh cửa sông Hồng); Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961) - Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây; Mai Đình Yên (1962) - Điều tra thành phần nguồn gốc và thành phần chủng quần
cá sông Hồng; Nguyễn Văn Hảo (1964) - Nghiên cứu nguồn lợi cá hồ Ba Bể; Hoàng Duy Hiệp và Nguyễn Văn Hảo (1964) - Điều tra nguồn lợi cá ở sông Thao [12, tr 11]
Trong thời kỳ này cùng với nghiên cứu về khu hệ cá, các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học cũng được chú ý nhiều hơn, tiêu biểu là các tác giả: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960) mô tả về hình thái, sinh học, giá trị kinh tế cá Mòi sông Hồng; Nguyễn Dương (1963) về sinh học cá Ngạnh sông
Trang 10Lô; Phan Trọng Hậu, Mai Đình Yên, Trần Tới (1963) về hình thái sinh học cá
Mè trắng sông Hồng; Hoàng Đức Đạt (1964) về hình thái, sinh thái một số loài
cá sông Lô; Mai Đình Yên (1964) nghiên cứu về đặc điểm sinh học các loài
cá sông Hồng; Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu (1966) nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền bắc Việt Nam [12, tr 12];
Vũ Trung Tạng (1991) nghiên cứu về đặc điểm và sinh học cá Mòi
(Clupanodon thrissa) di cư vào sông Hồng [29, tr 67].
Trong thời kỳ này ở miền nam Việt Nam cũng có một số công trình do cán bộ người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanoir (1964); Yamarmura M (1966); Kawamoto; Nguyễn Viết Trương và Trần Tuý Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài [11, tr 12];
Giai đoạn sau giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam (1975) cho đến nay công tác điều tra nghiên cứu cá được tiến hành trong cả nước Một số kết quả điều tra tiêu biểu gồm có: Nguyễn Hữu Dực (1982) nghiên cứu thành phần loài cá sông Hương, 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu khu hệ cá sông Lam, 157 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) nghiên cứu thành phần và sự phân bố của cá nước ngọt các tỉnh ven biển nam Trung bộ xác định ở sông Thu Bồn có 85 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Con 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Văn Trọng (1988) thành phần loài cá Nam Bộ, 255 loài; Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực (1994) thành phần cá ở một số sông suối Tây Nguyên, 82 loài [12, tr 13].Nguyễn Hữu Dực (1995) nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung
Bộ có 134 loài; Vũ Trung Tạng (1997) Đánh giá khả năng tự khôi phục số lượng của quần thể cá Mòi cờ hoa và đề ra các biện pháp nhằm duy trì và phát triển nguồn lợi; Vũ Trung Tạng và Nguyễn Thị Thu Hè (1997) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắc Lắc)”; Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình (1999) nghiên cứu thành phần và phân bố cá ở sông Lô, 160 loài; Ngô Sĩ Vân (1999) Hiện trạng khu hệ cá hồ chứa Thác Bà Yên Bái, 68 loài; Võ Văn Phú
Trang 11(1995) Khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên - Huế,163 loài; Vũ Trung Tạng (1999) Thành phần các loài cá ở đầm Trà ổ và sự biến đổi của nó liên quan diễn thế của đầm [12, tr 15].
1.1.2 Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt ở khu vực nghiên cứu
Từ năm 1974 Mai Đình Yên đã nghiên cứu cá sông Tiêm thuộc huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh công bố 21 loài Sau này trong khoảng từ 1983 - 1995
có tác giả Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu “Khu hệ cá lưu vực sông Lam” đã
ghi nhận ở Đức Bồng 2 loài Gerres lucidus và Eleotris butis; năm 1995 trong
“Tuyển tập công trình hội thảo đa dạng Bắc Trường Sơn” đã công bố 1 loài mới
là Parazacco vuquangensis tại sông Ngàn Trươi, huyện Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh
Năm 1999 Nguyễn Thái Tự, Lê Viết Thắng, Nguyễn Xuân Khoa nghiên cứu tại sông Ngàn Trươi và khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang thống kê được 65 loài thuộc 17 họ 9 bộ [35].Nguyễn Hữu Dực và Trần Đức Hậu (2004) nghiên cứu
“Thành phần các loài cá” (thuộc dự án Đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh) ghi nhận 81 loài [8] Rõ ràng khu hệ cá ở đây chưa được tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ
1.2 Tình hình tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, nằm trong phạm vi từ 17054’ đến
18050’ vĩ độ Bắc và từ 105006’ đến 106030’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp với các huyện Nam Đàn , Hưng Nguyên và thành phố Vinh của tỉnh Nghệ An, với chiều dài 88km Phía Nam giáp với các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình, với chiều dài 137km Phía Tây giáp với CHDCND Lào, với chiều dài 170km [33, tr 215]
Trang 12Vùng đồi núi thấp Hương Khê cao 200 - 300m được cấu tạo bởi nhiều loại đá khác nhau (đá phiến, bột kết, cát kết, đá vôi, riôlit) với sự hiện diện của sông Ngàn Sâu quanh co uốn khúc [33, tr.219].
Độ cao trung bình toàn khu vực là 362m
1.2.3 Đặc điểm khí hậu
Cùng với địa hình, khí hậu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn tới thành phần loài cá và sự phân bố của chúng Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp miền Bắc
và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, hằng năm ở đây có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: ở đây mùa mưa đến muộn từ hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 Lượng mưa trung bình hàng năm ở hạ lưu là 2000m lên đến thượng lưu lượng mưa trung bình lớn hơn 3000m Mùa lũ ở đây ngắn từ tháng 9 đến tháng 11
- Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, đây là mùa nắng gắt có gió Tây Nam (gió Lào) rất khô, nóng vì vậy lượng nước bốc hơi lớn
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có lượng mưa lớn nhất trong toàn vùng Khí hậu biến đổi mạnh, thể hiện rõ trong chế độ nhiệt mùa đông và chế độ mưa bão mùa hạ [33, 220]
* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23,60 - 24,60C Mùa đông có 3 tháng (XII, I, II) nhiệt độ xuống dưới 200C Mùa hạ có tới 3 - 4 tháng trung bình vượt quá 280C (từ tháng V đến tháng VIII)
- Nhiệt độ tối cao là trên 420C ở vùng đồng bằng và trên 380C ở vùng miền núi
Bảng 1.1 Một số đặc trưng về chế độ nhiệt ( 0 C)
Trang 13Nhiệt độ trung bình năm
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
23,629,117,438,32,67,7
- Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.800 giờ Tập trung từ tháng V đến tháng VIII với số giờ nắng mỗi tháng khoảng 220 - 250 giờ
* Chế độ mưa
Chế độ mưa biến động rất mạnh từ năm này qua năm khác Phạm vi dao động lượng mưa cả năm lên đến ±1.000 mm xung quanh giá trị trung bình
Bảng 1.2 Đặc trưng chế độ mưa
Khê
Lượng mưa trung bình năm (mm)
Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (mm)
Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (mm)
Lượng mưa ngày lớn nhất (mm)
Số ngày mưa trung bình (ngày)
2.685,4706,055,0657,2146,7
2.405,0572,243,6492,6161,9
1.2.4 Đặc điểm thuỷ văn
Trang 14Sông Ngàn Sâu thuộc hệ thống sông Cả.
Sông Ngàn Sâu bắt nguồn từ vùng núi Ông Giao cao1.100 m và Cù Lân cao 1.014 m, chảy theo hướng Tây bắc - Đông nam tới Bái Đức Sơn với chiều dài 40km Đoạn từ Bái Đức Sơn đến Linh Cảm sông chảy theo hướng Tây nam - Đông bắc
Mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Ngàn Sâu rất dày Mật độ sông suối trong toàn khu vực đạt từ 0,87 - 0,9km/km2 Vùng núi cao mưa nhiều, mật độ sông suối đạt tới trên 1km/km2 diện tích lưu vực
Mưa lũ trên lưu vực sông Ngàn Sâu bắt đầu từ tháng IX, kết thúc vào tháng
XI Dòng chảy lớn nhất xuất hiện vào tháng IX hoặc tháng X và chiếm tới 25% lượng dòng chảy cả năm Dòng chảy tháng bình quân nhỏ nhất trên lưu vực sông Ngàn Sâu đạt 26 - 32 lít/năm Do ảnh hưởng của gió Lào nên tháng VII, tháng VIII xuất hiện thời kỳ nước cạn thứ nhất và tháng IV là thời kỳ nước cạn thứ hai
1.2.5 Đặc điểm xã hội và nhân văn
Khu vực nghiên cứu chủ yếu thuộc địa phận hai huyện Hương Khê và Vũ Quang
+) Huyện Hương Khê: Diện tích 1.241km2, dân số 102700 người, mật độ 83 người/km2
+) Huyện Vũ Quang: Diện tích 852,4km2, dân số 56300 người, mật độ
66 người /km2
Thành phần dân cư chủ yếu là dân tộc Kinh, ngoài ra còn có một dân tộc thiểu số khác là người Chứt Phần lớn dân cư ở đây đều sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước, trồng màu (ngô, lạc, đỗ…)) dọc theo các bãi bồi, các sông suối, số ít là ngư nghiệp Ngoài ra còn có các nghề phụ khác vào những lúc nông nhàn như: khai thác lâm sản, đánh bắt cá, hệ thống dịch vụ thương mại, chế biến đồ gỗ, khai thác vật liệu xây dựng
Trang 15
Bản đồ Hà Tĩnh
Trang 16Hình 1 BẢN ĐỒ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Ghi chú: Địa điểm thu mẫu
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài đã được tiến hành nghiên cứu thu mẫu tại 6 điểm thuộc 2 huyện: huyện Hương Khê và huyện Vũ Quang
(1) Thị trấn Hương Khê (2) Hương Thuỷ
(3) Hương Giang (4) La Khê
(5) Chúc A
2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu, thu mẫu được tiến hành trong 3 đợt:
Đợt 1 trong tháng 3 năm 2008
Đợt 2 trong tháng 4 năm 2009
Trang 17Đợt 3 trong tháng 7 năm 2009
Từ tháng 7 năm 2009: phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm khoa Sinh trường Đại học Vinh và viết luận văn
2.3 Tư liệu sử dụng viết luận văn
- 663 mẫu cá thu được trong các lần đi thu mẫu thực địa cũng như nhờ người dân thu, mua hộ ở 6 điểm nghiên cứu
- Nhật ký quan sát thực địa và các phiếu điều tra, phỏng vấn ngư dân, nhân dân trong vùng nghiên cứu
- Các tài liệu tham khảo liên quan tới khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thực địa
2.4.1.1 Phương pháp thu thập mẫu cá ngoài thực địa
* Nguyên tắc thu mẫu
- Thu mẫu tất cả các loài cá bắt gặp, chú ý những dạng đặc biệt
- Thu mẫu vào các mùa khác nhau, vào nhiều thời điểm trong ngày
- Thu mẫu bằng các phương tiện như chài, lưới, câu
* Cách thu mẫu
- Trực tiếp đánh bắt cá cùng ngư dân
- Thu mua mẫu cá của ngư dân đánh bắt được tại khu vực nghiên cứu hoặc ở chợ
- Đặt bình đựng mẫu có chứa dung dịch định hình để nhờ ngư dân đánh bắt hộ
* Xử lý và bảo quản mẫu cá
Mẫu cá được cố định bằng Formalin 5% hoặc cồn 750 và được bảo quản trong các phôcan tại phòng thí nghiệm Động vật - Khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh
* Ghi nhãn cho mẫu
Ghi nhãn bằng bút chì trên giấy không thấm nước với các thông số sau: kí hiệu mẫu, tên phổ thông, thời gian thu mẫu, địa điểm thu mẫu, người thu mẫu
2.4.1.2 Phương pháp ghi nhật ký
Trang 18Ghi chép các số liệu về sự phân bố kiểu thực bì, về độ cao địa hình, khí hậu, đặc điểm thủy văn, hoạt động khai thác và các phương tiện đánh bắt cá của ngư dân, đặc điểm ngư dân vùng nghiên cứu.
Chụp ảnh, quan sát và ghi chép màu sắc của cá khi còn sống
2.4.1.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn ngư dân và nhân dân địa phương
Phỏng vấn các ngư dân đánh cá về các thông tin như: tên phổ thông, tên địa phương, thời gian, địa điểm, phương tiện đánh bắt, sản lượng, đặc điểm môi trường, giá trị kinh tế …
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1 Phương pháp đo đếm các chỉ tiêu hình thái
Các chỉ tiêu hình thái theo I F Pravdin (1972) [26] và bổ sung bằng tài liệu của Nguyễn Văn Hảo & Ngô Sĩ Vân (2001) [12]
chiều dài gốc A; ej: chiều cao lớn nhất của A; vx: chiều dài P; zz 1: chiều
dài V; vz: khoảng cách giữa P và V; zy: khoảng cách giữa V và A; ở bên
Trang 19phải hình vẽ có sơ đồ đo chiều rộng trán.
Phương pháp phân loại theo Mayr (1974) [22]
Trình tự sắp xếp các loài theo hệ thống phân loại của William N Eschmeyer (1998) [47] và tham khảo các tài liệu khác [39,49,50]
Định tên loài cá theo các tài liệu: Nguyễn Văn Hảo& Ngô Sĩ Vân (2001) [12], Nguyễn Văn Hảo (2005) [13,14], Nguyễn Khắc Hường (1991)[16], Nguyễn Nhật Thi (2000) [32], Mai Đình Yên (1978) [43], Kottelat (2001,2006) [46,47], Chen Yiyu et al (1998) [45]
Mỗi loài ghi đầy đủ tên khoa học, xuất xứ tài liệu, tên Việt Nam (tên phổ thông, tên địa phương), số mẫu nghiên cứu, địa điểm thu mẫu, tên đồng vật (chỉ ghi các tác giả có nghiên cứu tại khu vực Bắc Trung Bộ) và một số chỉ tiêu hình thái phân loại cơ bản (theo Mai Đình Yên,1978) [43] cũng như các nhận xét
về phân loại học
Những loài đã được mô tả trong các tài liệu tham khảo thì chỉ nêu các đặc điểm sai khác với tác giả đã nghiên cứu trước
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán
Xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Exel 1997
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu khác
Trang 20Phương pháp chuyên gia: Thẩm định các mẫu nghiên cứu.
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng sinh học cá lưu vực sông Ngàn Sâu
3.1.1 Thành phần các loài cá ở khu hệ cá sông Ngàn Sâu
Qua phân tích 663 mẫu thu được ở lưu vực sông Ngàn Sâu, đã xác định được 77 loài, 63 giống, 21 họ, 6 bộ, trong đó có 4 phênon chưa được định danh (bảng 3.3)
3.1.2 Cấu trúc thành phần loài cá ở lưu vực sông Ngàn Sâu
Đa dạng sinh học khu hệ cá sông Ngàn Sâu được thể hiện qua số bộ, số
Trang 21- Về bậc bộ (bảng 3.1): Trong 6 bộ có ở lưu vực cá sông Ngàn Sâu thì
bộ cá Vược (Perciformes) nhiều nhất có 9 họ, chiếm 42.86%, bộ cá Nheo (Siluriformes) có 5 họ chiếm 23.81%, tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes)
có 3 họ, chiếm 14.29%, bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) có 2 họ, chiếm 9.52%, hai bộ còn lại mỗi bộ có 1 họ chiếm 4.76%
Hình 3.1 Biểu đồ tỉ lệ % các họ của các bộ cá khu hệ cá sông Ngàn Sâu
- Về bậc họ (bảng 3.2): Trong 21 họ thì họ Cá Chép (Cyprinidae) có 34 giống chiếm 53.97%, tiếp đến là họ cá Bống (Gobiidae) có 4 giống chiếm 6.35%, họ Cá Lăng (Bagridae) có 3 giống chiếm 4.76%; có 4 họ cùng có 2 giống là họ cá Chạch (Cobitidae), họ cá Chạch vây bằng (Balitoridae), họ cá
Trang 22Nheo (Siluridae) và họ cá Sặc (Belontidae) chiếm 3.17% Các họ còn lại mỗi họ có một giống chiếm 1.59%.
- Về bậc giống (bảng 3.2): Trong số 63 giống thì có 1 giống có số loài nhiều nhất 4 loài chiếm 5.19%, 12 giống có 2 loài chiếm 31.16%, 50 giống
có 1 loài chiếm 64.94%
- Về bậc loài (bảng 3.1): Trong tổng số 77, thì bộ cá Chép (Cypriniformes) có
số loài nhiều nhất 46 loài chiếm 59.74%, tiếp đến là bộ cá Vược (Perciformes)
có 15 loài chiếm 19.48%, bộ cá Nheo (Siluriformes) có 12 loài chiếm 15.58%,
bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) có 2 loài chiếm 2.6%, hai bộ còn lại mỗi
bộ có 1 loài chiếm 1.3%
Bảng 3.2.Thành phần, tỷ lệ các giống và loài trong các họ cá
ở khu hệ sông Ngàn Sâu
TT Họ SLSố giống (%) 1 loàiSố giống có2 loài 4 loài SLSố loài (%)
Trang 24Bảng 3.3 Thành phần các loài cá khu hệ cá sông Ngàn Sâu
Phân họ cá Mòi Dorosomatinae
Phân họ cá Lòng tong Danioninae
4 Cá Dầm suối lưng thẳng Nicholsicypris dorsohorizontalis Hảo& Hoa, 1969 38 +
Phân họ cá Trắm Leuciscinae
Trang 25Phân họ cá Mương Cultrinae
Phân họ cá Nhàng Xenocyprinae
Phân họ cá Mè Hypoththalmichthyinae
Phân họ cá Đục Gobioninae
20 Cá Nhọ chảo Sarcocheiichthys nigripinnis (Gunther, 1873) 8 +
21 Cá Đục trắng mỏng Squalidus argentatus (Sauvage&Dabry, 1874) 21 + +
22 Cá Đục đanh chấm râu Microphysogobio labeoides (Nichols & Pope, 1927) 21 + +
23 Cá Đục đanh chấm hải nam Microphysogobio kachekensis (Oshima, 1926) 25 + + + + +
Phân họ cá Đục râu Gobiobotinae
25 Cá Đục râu Gobiobotia kolleri Bănarescu & Nalbant,1966 13 +
Phân họ cá Thè be Acheilognathinae
26 Cá Thè be vây dài Acheilognathus macropterus (Bleeker, 1871) 5 +
Trang 26Phân họ cá Bỗng Barbinae
35 Cá Phao Varicorhinus lepturus (Boulenger, 1899) 1 +
Phân họ cá Trôi Labeoninae
37 Cá Dầm đất Osteochilus salsburyi Nichols&Pope, 1927 37 + + + + + +
Phân họ cá Chép Cyprininae
41 Cá Nhưng Carassoidae cantonensis (Heincke, 1892) 1 +
Phân họ cá Chạch suối Nemacheilinae
46 Cá Chạch cật punchơ Micronemacheilus pulcher (Nichols&Pope,1927) 23 + + +
Trang 27(6) Họ cá Lăng Bagridae
49 Cá Bò đen Pelteobagrus fulvidraco (Richardson,1846) 5 + + +
50 Cá Bò trung gian Pelteobagrus intermedius (Nichols&Pope, 1927) 6 +
56 Cá Ngạnh thường Cranoglanis henrici (Vaillant, 1893) 2 + +
V Bộ cá Mang liền Synbranchiformes
Trang 2814) Họ cá Móm Gerridae
16) Họ cá Rô phi Cichlidae
17) Họ cá Bống đen Eleotridae
67 Cá Bống mọi Eleotris fusca (Forster & Scheider, 1801) 4 + +
68 Cá Bống đen nhỏ Eleotris oxycephala (Temminck & Schlegel, 1845) 2 +
18) Họ cá Bống trắng Gobiidae
Phân họ cá Bống trắng Gobiinae
69 Cá Bống chấm gáy Glossogobius punctatus (Richardson, 1838) 7 + + +
Phân họ cá Bống đá Gobionellinae
19) Họ cá Rô đồng Anabantidae
75 Cá Sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas,1770) 8 +
Ghi chú: (a): Thị trấn Hương Khê; (b): Hương Thủy; (c): Hương Giang; (d): La Khê; (e): Chúc A; (f): Đức Bồng
Trang 293.1.3 Những loài cá quý hiếm ở khu hệ cá sông Ngàn Sâu
Ở khu hệ cá sông Ngàn Sâu có 1 loài cá quý hiếm ở mức nguy cấp (EN)
và 1 loài cá ở mức sẽ nguy cấp (VU) được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm
2007 (bảng 3.4)
Bảng 3.4 Những loài cá có trong SĐVN ở KVNC
1 Cá Mòi cờ hoa Clupanodon thirssa (Linnaeus, 1788) EN
2 Cá Lăng chấm Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803) VUHai loài cá được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, ở khu vực nghiên cứu mỗi loài chỉ thu được một mẫu
Như vậy, số loài cá quý hiếm ở sông Ngàn Sâu chiếm 2,25% so với tổng số loài cá quý hiếm được biết ở Việt Nam
3.1.4 Các nhóm cá về sinh thái
Trong số 77 loài cá có ở khu vực nghiên cứu, thì số lượng loài cá đặc trưng cho vùng núi cao như họ cá Chiên (Sisoridae) chiếm số lượng rất ít chỉ có 1 loài (chiếm 1,3%) vì độ dốc của sông không đáng kể
Ở khu vực nghiên cứu có 7 loài cá có nguồn gốc nước lợ hoặc từ biển chiếm 9,1% và 70 loài cá có nguồn gốc nước ngọt chiếm 90,9% (Phụ lục 6) [14, tr 657 - 721]
Trong đó các loài cá biển hoặc cá nước lợ di nhập vào sông ở những khoảng cách khác nhau thì có số lượng loài cũng khác nhau như sau:
+ Đức Bồng có 3 loài chiếm 3,9% tổng số loài thu được ở khu vực nghiên cứu.+ Hương Thủy, Thị trấn Hương Khê, La Khê cùng có 2 loài chiếm 2,6% tổng
số loài thu được ở khu vực nghiên cứu
+ Hương Giang, Chúc A cùng có 1 loài chiếm 1,3% tổng số loài thu được ở khu vực nghiên cứu
3.1.5 So sánh thành phần loài cá ở khu vực nghiên cứu với khu hệ cá Vũ Quang
So sánh số lượng thành phần loài với khu hệ cá sông Ngàn Trươi [37,tr.24] Kết quả được chỉ rõ ở bảng 3.5
Trang 30Bảng 3.5 So sánh mức độ đa dạng thành phần loài cá ở khu vực nghiên cứu
với khu vực Vũ Quang
Vũ Quang - Ngàn Trươi 9 17 58 65 Nguyễn Thái Tự và cs
Qua bảng 3.5 nhận thấy thành phần loài cá ở sông Ngàn Sâu đa dạng và phong phú hơn so với sông Ngàn Trươi, chiếm 7,5% tổng số loài cá hiện biết
ở Việt Nam Sự so sánh mức độ đa dạng thành phần loài chỉ mang tính tương đối và tạm thời vì do số liệu và kết quả nghiên cứu của các tác giả ở các khu
hệ còn hạn chế
Kết quả phân tích nhận thấy (phụ lục 5):
- Có 40 loài cá tìm thấy ở khu hệ cá sông Ngàn Sâu mà không thấy ở khu hệ
cá Vũ Quang
- Cũng có 28 loài cá chỉ tìm thấy ở khu hệ cá Vũ Quang mà không thấy ở khu
hệ cá sông Ngàn Sâu
- Có 37 loài cá tìm thấy ở cả hai khu hệ sông Ngàn Sâu và Vũ Quang
3.2 Đặc điểm hình thái cá lưu vực sông ngàn sâu
I Bộ cá Thát Lát Osteoglossiformes
1 Họ cá Thát Lát Notopteridae
1.1 Cá Thát Lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769)
Gymnotus notopterus Pallas, 1769, Spidlegia Zoological, pt7.P40,P16, fig.2
(ấn Độ) [13, tr 51]
Notopterus notopterus Nguyễn Thái Tự và cs, 1999 [37,tr 26]; Trần Đức Hậu,
2006 [15, tr 19]; Tạ Thị Thủy, 2006 [35, tr 31]; Hoàng Xuân Quang và cs,
Trang 31Nhận xét: Theo nghiên cứu loài Notopterus notopterus có 36% chỉ tiêu có
hệ số biến dị (cv) từ 10 - 15 và 64% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) >15 Trong
đó chiều dài gốc vây lưng có hệ số biến dị cao nhất Như vậy các tính trạng hình thái của loài có biên độ biến dị rộng
II Bộ cá Trích Clupeiformes
2 Họ cá Trích Clupeidae
2.1 Phân họ cá Mòi Dorosomatinae
2.2 Cá Mòi cờ hoa (Linnaeus, 1758)
Clupea thrissa Linnaeus, 1758, Syst Nat.Ed.X, 1,318 [13, tr 113]
Clupanodon thrissa Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [7, tr.69]; Trần Đức Hậu,
2006 [15,tr.24]; Tạ Thị Thủy, 2006 [35, tr.35]; Lê Văn Sơn, 2007 [28,tr.]; Trần Kim Tấn, 2008 [30, tr.29]
Tên Việt Nam: Cá Mòi cờ hoa, cá Mòi giấy, cá Mòi
Trang 32- Màu sắc: Sống lưng đen thẫm, mặt lưng có màu nâu nhạt, bụng màu trắng nhạt Có 4 chấm đen ở trên lưng và nhạt dần ở phía sau
- Nhận xét về đặc điểm hình thái phân loại: loài Clupanodon thrissa có 1
chỉ tiêu (4%) có hệ số biến dị rất thấp cv = 0.44 là chiều dài cuống đuôi Ngoài ra có 73% chỉ tiêu có hệ số biến dị khá cao cv>15
III Bộ cá Chép Cypriniformes
3 Họ cá Chép Cyprinidae
3.1 Phân họ cá Lòng tong Danioninae
1 (4)Mút trước hàm dưới không có mấu tiếp hợp để khớp với eo lõm hàm trên
2 (3)Có râu, vây hậu môn 5 tia phân nhánh………
………Cá Lòng tong dài Esomus longimanus
3 (2) Không có râu, vây hậu môn 7 - 8 tia phân nhánh………
……….Cá Dầm suối lưng thẳng Nicholsicypris dorsohorizontalis
4 (1)Mút trước hàm dưới có mấu tiếp hợp để khớp với eo lõm hàm trên…
5 (6)A = 5 - 6 tia phân nhánh, L1 = 28 - 32………
……… Cá Mại sọc Rasbora steineri
6 (5) A = 7 - 9 tia phân nhánh, L1 = 40 - 42………
……….Cá Cháo thường Opsariichthys biden
3.3 Cá Lòng tong dài Esomus longimanus (Lunel, 1881)
Nuria longimana Lunel, 1881:926 Unnum, Pl (figs 2 - 2d) (Mem Soc Phys Hist
Nat Genever V 27 (PT.2); ref.2849) Gamboria (? Cambodia) 73 [13, tr.33]
Esomus longimanus Tạ Thị Thủy, 2006 [35,tr.39].
Tên Việt Nam: Cá Lòng tong
Trang 33- Nhận xét về đặc điểm hình thái phân loại: Những đặc điểm hình thái có
hệ số biến dị thấp cv từ 1 - 10 (chiếm 85%) như là đường kính mắt, dài toàn thân, dài đầu Số ít hệ số có biến dị cao như khoảng cách V - A, dài gốc vây D
3.4 Cá Dầm suối lưng thẳng Nicholsicypris dorsohorizontalis Hảo& Hoa, 1969
Nicholsicypris dorsohorizontalis Hảo & Hoa,1969: 8, Các loài cá họ cá chép
miền Bắc Việt Nam [12, tr 43]
Nicholsicypris dorsohorizontalis Hoàng Xuân Quang và cs, 2008 [27,tr.20];
- Màu sắc: Cá có màu sắc đẹp, phần lưng có màu nâu sáng, phần bụng
có màu trắng nhạt, các vây lẻ có màu vàng đỏ, các vây chẵn có màu trắng
Trang 34- Nhận xét về đặc điểm hình thái phân loại: Sự dao động về hệ số biến dị của loài là không cao Chỉ tiêu có hệ số biến dị thấp nhất là cao đầu ở gáy cv = 8.11
và cao nhất là dài cuống đuôi cv = 13.94
3.5 Cá Cháo thường Opsariichthys biden Gunther,1873
Opsariichthys bidens Gunther, 1873, Ann.Nat.Hist Vol.XII, p.249 (Thượng Hải)
[12, tr 80]
Opsariichthys bidens Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [5, tr 73]; Lê Văn Sơn, 2007 [28,
tr 23]; Hoàng Xuân Quang và cs, 2008 [27, tr 20]; Trần Kim Tấn, 2008 [30, tr 17].Tên Việt Nam: Cá Cháo thường, Cá Hồng mang, Cá Măng thu
Nhận xét về đặc điểm hình thái phân loại: loài Opsariichthys bidens có chỉ
số biến dị khá cao, như dài mõm, dài đầu, dài gốc vây D, dài vây A (cv>20); thấp nhất là đường kính mắt (cv = 14.71)
3.6 Cá Mại sọc Rasbora steineri (Nichols & Pope,1927)
Rasbora cephalotaenia steineri Nichols & Pope,1927: 364, fig.30 [12, tr 93];
Rasbora cephalotaenia steineri Lê Viết Thắng, 2001 [31, tr 15]; Tạ Thị Thủy,
2006 [35, tr 41]
Rasbora steineri Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [ 5, tr.73]; Trần Đức Hậu,
2006 [15, tr 31]; Hoàng Xuân Quang và cs, 2008 [27, tr 20]; Trần Kim Tấn, 2008 [30, tr 18]
Tên Việt Nam: Cá Mại sọc, Cá Mại đầu sọc
Trang 353.2 Phân họ cá Trắm Leuciscinae
3.7 Cá Trắm đen Mylopharyngodon piceus (Richarson,1846)
Leuciscus piceus Richarson,1846, Rept 15 Meeting Brit Assoc Adv Sci
Cambridge, 1845: 297 - 299 (Quảng Đông - Trung Quốc) [12, tr 102]
Mylopharyngodon piceus Lê Viết Thắng, 2001 [31, tr.16]; Trần Đức Hậu, 2006
[15, tr 31]; Lê Văn Sơn, 2007 [28, tr 42]; Trần Kim Tấn, 2008 [30, tr 33]
Tên Việt Nam: Cá Trắm đen
3.8 Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus (Cuv.&Val.,1844)
Leuciscus idella Cuvier & Valenciennes, 1844, Hist Nat Poiss Vol XVII,
p.270 [12, tr 107]
Ctenopharyngodon idellus Lê Viết Thắng, 2001 [30, tr 16]; Tạ Thị Thủy,
2006 [35, tr 42]; Lê Văn Sơn, 2007 [28, tr.43]; Hoàng Xuân Quang và cs,
2008 [27, tr 20]
Tên Việt Nam: Cá Trắm cỏ
3.9 Cá Chày mắt đỏ Squaliobarbus curriculus (Richardson,1846)
Trang 36Leuciscus curriculus Richardson,1846, Rept.15, Meeting Brit Assoc
Adv.Sci Cambridge, 1845:299 [12, tr.109]
Squaliobarbus curriculus Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [5,tr.73]; Lê Viết
Thắng, 2001 [31,tr 41]; Hoàng Xuân Quang và cs, 2008 [27,tr 40]
Tên Việt Nam: Cá Chày mắt đỏ, Cá Chày
Nhận xét:Theo nghiên cứu loài Squaliobarbus curriculus có 42.30%
chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) từ 1 - 10; 53.85 % chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv)
từ 10 - 15 và 3.85% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) > 15
3.3 Phân họ cá Mương Cultrinae
1 (4)Lườn bụng hoàn toàn từ sau eo mang đến hậu môn………
2 (3)Tia gai cứng vây lưng phía sau có răng cưa………
……… Cá Dầu hồ Taxobramis sp.
3 (2)Tia gai cứng vây lưng phía sau trơn láng………
……….Cá Mương xanh Hemiculter leucisculus
4 (1)Lườn bụng không hoàn toàn, chỉ có từ sau vây bụng đến hậu môn…
5 (6) Miệng ở mút mõm, D = 12 - 15 tia phân nhánh………
………Cá Dầu sông mỏng Pseudohemiculter dispar
Trang 376 (5) Miệng hướng lên trên ít hay nhiều………
7 (8)Miệng hướng lên trên ít, L1 = 51 - 53………
……….Cá Vền dài Megalobrama terminalis
8 (7) Miệng hướng lên trên nhiều, L1 = 65 - 75………
………Cá Ngão gù Culter recurvirostris
3.10 Cá Mương xanh Hemiculter leucisculus (Basilewsky, 1855)
Culter leucisculus Basilewsky, 1855 Nouv Mem Soc Nat Moscou X: 238
(Bắc Trung Quốc) [12, tr 133]
Hemiculter leucisculus Nguyễn Xuân Khoa, 2001 [18, tr.44]; Nguyễn Hữu
Dực và cs, 2003 [6, tr 113]; Hoàng Xuân Quang và cs, 2008 [27, tr 41]
Tên Việt Nam: Cá Mương xanh, Cá Mương
Lo/T = 4.48±0.04 (4.08 - 6.22) T/OO = 3.51±0.04 (2.39 - 4.14)
So với nghiên cứu của Hoàng Xuân Quang, 2008 [27, tr.41] thì mẫu thu được ở khu vực nghiên cứu có số tia vây lưng ít hơn (D = III,7)
Nhận xét: loài Hemiculter leucisculus có 100 % chỉ tiêu có hệ số biến
dị (cv) > 15 Trong đó có một số chỉ tiêu có hệ số biến dị rất cao như: dài vây V (cv = 29.55), dài vây D (cv = 24.66)
Trang 38L = 64,3; L0 = 48,2; D = II, 7; A = 2, 12; P = 1, 11; V = 1, 9; L1 = 40
Vảy trước vây lưng: 48; Vảy dọc cán đuôi: 12;
L = 64.3; L0 = 48.2; T = 12.1 OO = 2.7; O = 3.6; H = 11.6
Lo/H = 4.16; Lo/T = 3.98 T/OO = 4.48; T/O = 3.36
Mô tả: Thân dài, dẹp bên, mõm nhọn, rạch miệng xiên Lườn bụng hoàn toàn chạy từ vây bụng đến vây hậu môn Không có râu Khoảng cách hai mắt hẹp, nhỏ hơn đường kính mắt Khoảng cách sau mắt rộng hơn khoảng cách trước mắt nhiều
Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng một ít, gần gốc vây đuôi hơn tới mút mõm Tia đơn cuối vây lưng là gai cứng, có răng cưa rõ Vây ngực dài, gần chạm khởi điểm vây bụng; vây bụng chưa chạm khởi điểm vây hậu môn; vây hậu môn chưa chạm tới khởi điểm vây đuôi, vây đuôi phân thuỳ sâu
Đường bên hoàn toàn, lõm xuống gần sát với viền bụng
Loài này giống với loài Taxonbramis hotayensis Hảo now sp Nhưng có
một số đặc điểm sai khác là khởi điểm vây lưng gần gốc vây đuôi hơn tới mút mõm, đường bên 40 vảy, vây ngực chưa chạm vào gốc vây bụng và viền bụng cong ít
Bảng3.6 So sánh sự khác nhau giữa loài Taxobramis sp
với Taxonbramis hotayensis
Đặc điểm so sánh Taxobramis sp Taxonbramis hotayensis
Hảo nov.sp
Khởi điểm vây lưng Gần gốc vây đuôi hơn tới
mút mõm
ở giữa hoặc gần mõm hơn tới gốc vây đuôi
Vây ngực Chưa chạm tới gốc vây
3.12 Cá Dầu sông mỏng Pseudohemiculter dispar (Peters, 1880)
Hemiculter dispar Peters, 1880 Monat Akad.Wis Berlin [ 12, tr 145]
Trang 39Pseudohemiculter dispar Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [6, tr 113]; Trần Đức
Hậu, 2006 [15, tr 28]; Tạ Thị Thủy, 2006 [35, tr 45]; Lê Văn Sơn, 2007 [28,
Lo/T = 4.12±0.03 (3.99 - 4.26) T/OO = 3.39±0.06 (3.14 - 3.63)
Nhận xét về đặc điểm hình thái phân loại: loài Pseudohemiculter dispar
có 11.54% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) từ 1 - 10, 84.61% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) từ 10 - 15, 3.85% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) > 15
3.13 Cá Vền dài Megalobrama terminalis (Richarson, 1846)
Ambramis terminalis Richarson, 1846: 294, Rep.Br.Ass Advmt Sci.15
Met (Quảng Châu)[5, tr 154]
Megalobrama terminalis Nguyễn Hữu Dực và cs, 2003 [5, tr 74]; Lê Văn Sơn,
Trang 40Nhận xét: loài Megalobrama terminalis có 1 chỉ tiêu (chiếm 3.85%) có hệ
số biến dị thấp nhất cv<10, và có tới 92.31% chỉ tiêu có hệ số biến dị (cv) > 15
3.14 Cá Ngão gù Culter recurvirostris Sauvage,1884
Culter recurvirostris Sauvage,1884:213,pl.81 (fig.3) [ Bull Soc Zool Fr
Vol.9; ref 3886] Hanoi - Vietnam [12, tr.166]
Culter recurvirostris Lê Văn Sơn, 2007 [28, tr.24]; Trần Kim Tấn, 2008 [30, tr.40].
Tên Việt Nam: Cá Ngão, Cá Nhác, Cá Lác
Lo/T = 3.84±0.13 (3.70 - 3.97) T/OO = 4.65±0.27 (4.38 - 4.91)
Nhận xét: Về đặc điểm hình thái phân loại, loài Culter recurvirostris có hệ
số biến dị rất cao ở hầu hết các chỉ tiêu (cv >50), đặc biệt cao như dài cuống đuôi (cv = 84.51), cao thân lớn nhất (cv = 80.23), dày thân (cv = 95.27) Duy nhất có khoảng cách P - V là có biên độ biến dị thấp cv = 4.50
3.4 Phân họ cá Nhàng Xenocyprinae
3.15 Cá Mần Xenocypris davidi Bleeker, 1871
Xenocypris davidi Bleeker, 1871, Verh.Akad.Web.Amst.Nat XII: 56 (Trường
Giang - Trung Quốc) [43, tr.171]