Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-MAI THỊ LAN PHƯƠNG
CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở ĐÔ LƯƠNG (NGHỆ AN)
GIAI ĐOẠN TỪ 1939 ĐẾN 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Mã số: 60 22 54
Trang 2Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám được tạo nên bởi các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các địa phương trên toàn quốc, trong đó có sự đóng góp đáng kể của nhân dân Đô Lương.
Đô Lương là huyện nằm về phía tây bắc thành phố Vinh, là một vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử vẻ vang Nhân dân Đô Lương thông minh, hiếu học, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng Con người Đô Lương mang đầy đủ cốt cách con người Việt Nam: Cần cù chịu khó trong lao động; kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu, nghĩa tình thủy chung trong cuộc sống Từ xưa các thế hệ con người Đô Lương đã nối tiếp nhau, sát cánh bên nhau cùng
Trang 3đấu tranh chống lại thiên tai khắc nghiệt, chống mọi âm mưu của kẻ thù, viết nên những trang sử sáng ngời cho dân tộc Việt Nam.
Lịch sử Đô Lương gắn chặt với lịch sử Nghệ An xứ sở mà bao đời nay thường được gọi là “phên dậu”, là “thánh địa”, là “đất đứng chân”…của các anh hùng, hào kiệt trong các cuộc cầm binh giữ nước Từ khi Pháp mở con đường số 7 qua Đô Lương thì nơi đây trở thành “Cái chìa khóa của Đông Dương” Từ xưa tới nay, Nghệ An là địa bàn chiến lược quan trọng Vì thế nhân dân Đô Lương luôn có tinh thần đấu tranh, vùng lên chống kẻ thù, làm nên những trang sử oanh liệt Từ lâu không có một cuộc đấu tranh nào của nhân dân Nghệ An lại không có sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của nhân dân Đô Lương Nhất là từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo thì truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân Đô Lương càng được phát huy cao độ Điển hình như phong trào Cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, hay Cách mạng Tháng Tám năm 1945…
Cách mạng Tháng Tám bùng nổ nhân dân Đô Lương cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, dưới sự chỉ đạo của Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh, nhân dân Đô Lương nổi dậy đấu tranh giành chính quyền một cách nhanh chóng mà không đổ máu Với thắng lợi vẻ vang này, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Đô Lương cùng với nhân dân trong tỉnh
và cả nước đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa ở Đô Lương đã góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc
Nghiên cứu “Cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đô Lương (Nghệ An) giai đoạn từ 1939 đến 1945” giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự ra đời và phát triển của các Đảng bộ ở địa phương, sự thành lập mặt trận chống Pháp dưới
sự lãnh đạo của Đảng đồng thời bổ sung những thiếu sót mà các tài liệu khác chưa đề cập đến để làm sáng rõ hơn một thời kì lịch sử đâỳ biến động của Đô
Trang 4Lương, góp phần làm phong phú thêm nội dung và tầm vóc Cách mạng Tháng Tám của dân tộc.
Đô Lương là một trong những huyện trung tâm của tỉnh Nghệ An nên việc ghi lại một phần trong chặng đường dài oanh liệt của lịch sử quê hương
Đô Lương, tổng kết quá trình xây dựng và lãnh đạo của Đảng bộ, phác họa những năm tháng đấu tranh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu bức thiết Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này còn nhằm để phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương, ở các trường THCS, THPT trên địa bàn huyện là một vấn đề quan trọng Qua đó để góp phần vào việc giáo dục truyền thống, tinh thần yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc cho thế
hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ trẻ của huyện nhà
2 Lịch sử vấn đề.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử dân tộc, đánh dấu sự biến đổi lớn lao trong tiến trình phát triển của đất nước Vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng đối với Đô Lương thì chưa có công trình chuyên sâu nào cả mà mới chỉ được trình bày một cách sơ lược trong một số cuốn sách:
Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương (Tập 1,2), Nxb Nghệ An có đề cập đến vấn đề này nhưng không đáng kể
Luận án tiến sĩ: “Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ An” của tiến sĩ Trần Văn Thức nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và đầy đủ hệ thống cuộc cách mạng Tháng Tám ở Nghệ An
Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương, Nxb Sự thật Hà Nội có trình bày đến quá trình khởi nghĩa giành chính quyền
ở Nghệ An
Lịch sử Đảng bộ các xã trên địa bàn huyện như:
Trang 5- Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Thị Trấn Đô Lương (1930 – 2005), Nxb Chính trị Nghệ An trình bày một cách hoàn chỉnh cuộc cuộc vận động giải phóng dân tộc của nhân dân Thị Trấn Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945
- Lịch sử Đảng bộ xã Tràng Sơn có trình bày một cách sơ lược về vấn
đề này
Cách mạng Tháng Tám 1939-1945 của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nghệ An đề cập quá trình khởi nghĩa ở Nghệ An, về cuộc khởi nghĩa ở
Đô Lương còn ít tư liệu
Lịch sử Đảng bộ Nghệ An của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Nghệ
An (1967) Lịch sử Đảng bộ Nghệ An sơ thảo tập 1 (1925-1954)
Các tài liệu trên mới chỉ giới thiệu sơ lược về hoàn cảnh lịch sử, quá trình chuẩn bị lực lượng, diễn biến, kết quả, ý nghĩa… mà chưa nêu lên được một cách đầy đủ hệ thống cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám vĩ đại của nhân dân Đô Lương Nhưng đây sẽ là nguồn tư liệu quý và vô cùng quan trọng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn của chúng tôi
Để có một cái nhìn toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về lịch sử của Đô Lương trong giai đoạn oanh liệt và hào hùng này nên chúng tôi chọn đề tài
“Cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đô Lương (Nghệ An) giai đoạn từ 1939 đến 1945” làm tên đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của mình nhằm tái hiện một cách toàn diện về hoàn cảnh cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại của nhân dân Đô Lương, những đóng góp của nhân dân Đô Lương đối với lịch sử dân tộc, để làm bật đặc điểm cuộc khởi nghĩa Tháng Tám ở Đô Lương
có gì khác so với một số huyện trong tỉnh Qua đó thấy được nét độc đáo, riêng biệt của Cách mạng Tháng Tám ở Đô Lương
Trang 63 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài luận văn nghiên cứu toàn bộ cuộc vận động Cách mạng, chuẩn bị
về mọi mặt để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương như: Xây dựng, phát triển và củng cố các cơ sở cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị
và đấu tranh vũ trang trong giai đoạn từ 1939 đến 1945 và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương năm 1945
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn không gian là toàn bộ tỉnh Nghệ An
Giới hạn thời gian tính từ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI (11/1939), đã đề ra chủ trương chuyển hướng chiến lược cho cách mạng Việt Nam, cho đến khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương giành thắng lợi (30/08/1945)
Tuy nhiên, để làm rõ lịch sử Đô Lương trong giai đoạn này, tác giả có khái quát, so sánh tình hình Đô Lương thời kỳ trước năm 1939 và thời kỳ sau
đó để có cái nhìn rõ hơn về lịch sử Đô Lương trong giai đoạn này
3.3.Nhiệm vụ của đề tài:
Thông qua nguồn tư liệu, luận văn phân tích một cách khoa học những yếu tố thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội, ảnh hưởng đến phong trào cách mạng ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945 Để từ đó nêu bật được vị trí chiến lược và truyền thống đấu tranh của nhân dân Đô Lương Trên cơ sở đó, luận văn khôi phục lại một cách có hệ thống thời kỳ vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945 ở Đô Lương Từ đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa khởi nghĩa, những bài học kinh nghiệm quý báu về sự chuẩn bị cho cách mạng, về công tác xây dựng lực lượng và việc chớp thời cơ giành chính quyền
Trang 74 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tư liệu:
Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về chiến tranh nhân dân, khởi nghĩa vũ trang và đấu tranh vũ trang cách mạng Đây là cơ sở lý luận mà chúng tôi vận dụng vào quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
Các văn kiện Đảng, các bài nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1939 – 1945 Một số chỉ thị, nghị quyết của Xứ ủy Trung Kỳ, của Đảng bộ tỉnh và Đảng bộ huyện Đô Lương có liên quan đến vấn đề lực lượng cách mạng trong giai đoạn từ 1939 đến 1945 Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi có thể tiếp cận với những quan điểm, đường lối của Đảng trong việc xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng
Các tài liệu lưu trữ tại kho lưu trữ Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Ban Tuyên giáo huyện ủy Đô Lương, Phòng văn hóa huyện Đô Lương…là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi nghiên cứu những vấn đề được đặt ra trong đề tài
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu, những bài viết của một
số nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các bản hồi ký của một số người đã trực tiếp tham gia lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám ở Đô Lương, những lời kể của các nhân chứng lịch sử - những người đã trực tiếp tham gia hoạt động lãnh đạo cuộc cách mạng ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945 Đó là những nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề được đặt ra trong đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với phương pháp logic, với các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ nội dung của đề tài
Trang 85 Đóng góp của luận văn.
Thông qua nguồn tư liệu, luận văn phân tích một cách khoa học những yếu tố thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội, ảnh hưởng đến phong trào cách mạng ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945 Để từ đó nêu bật được vị trí chiến lược và truyền thống đấu tranh của nhân dân Đô Lương Trên cơ sở đó, luận văn khôi phục lại một cách có hệ thống thời kỳ vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945 ở Đô Lương Từ đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa khởi nghĩa, những bài học kinh nghiệm quý báu về sự chuẩn bị cho cách mạng, về công tác xây dựng lực lượng và việc chớp thời cơ giành chính quyền
Luận văn nhằm khôi phục một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống của cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945
Luận văn nêu rõ đặc điểm quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, ý nghĩa cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Đô Lương
Luận văn là tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch
sử địa phương
Luận văn góp phần vào việc giáo dục truyền thống, tinh thần yêu quê hương đất nước, lòng tự hào các thế hệ cha ông đã hy sinh trong sự nghiệp giành độc lập của dân tộc để các thế hệ hôm nay vững bước tiến vào thế kỷ XXI
6 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội và phong trào cách mạng ở
Đô Lương trong những năm 1930 – 1939
Trang 9Chương 2: Quá trình vận động cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945.
Chương 3: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương Tháng Tám 1945
Trang 101.3 Truyền thống yêu nước.
1.4 Khái quát phong trào cách mạng ở Đô Lương thời giai đoạn từ 1930 đến 1939
1.4.1.Cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh 1930 – 1931
1.4.2 Phong trào cách mạng ở Đô Lương trong những năm 1932 – 1939
Chương 2: Quá trình vận động chuẩn bị khởi nghĩa giành chính
quyền ở Đô Lương giai đoạn từ 1939 đến 1945.
2.1 Tình hình Đô Lương khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ
2.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội
2.1.2 Đấu tranh chống khủng bố, củng cố cơ sở Đảng
2.2 Quá trình vận động cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.2.2.1.Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh thành lập
2.2.2 Tổ chức lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền
Chương 3: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương.
3.1 Chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương
3.2 Diễn biến khởi nghĩa giành chính quyền
3.2.1 Đấu tranh giành chính quyền ở Phủ
3.2.2 Đấu tranh giành chính quyền ở các xã
Trang 113.3 Một số nhận xét về cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đô Lương.
KẾT LUẬN
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 12Theo quyết định số 52/CP ngày 19 tháng 4 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ, Anh Sơn tách ra thành 2 huyện là Đô Lương và Anh Sơn Huyện
Đô Lương là phần đất của các tổng: Bạch Hà, Thuần Trung, Đô Lương, Yên Lăng và một phần của tổng Đặng Sơn
Đô Lương là huyện nằm về phía bắc thành phố Vinh, có 32 xã và 1 thị trấn Đô Lương có diện tích tự nhiên rộng gần 35.574 ha Năm 2009, Đô Lương có 193.890 dân, tất cả đều là dân tộc kinh, trong đó 7% số dân theo đạo Thiên chúa Phía Đông giáp huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, phía Bắc giáp
Trang 13huyện Yên Thành, phía Tây giáp huyện Tân Kì, Anh Sơn, phía Nam giáp huyện Thanh Chương.
Địa hình của Đô Lương nghiêng dần về Đông Diện tích đất trồng trọt của huyện được phân bố trên các vùng: bán sơn địa, vùng lúa, vùng ven bãi sông Lam và các vùng kinh tế mới Vùng rừng đồi và ven theo các bãi sông rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây hoa màu, cây lưu niên, đặc biệt là cây công nghiệp Vùng lúa của Đô Lương có diện tích là 12.765 ha Ruộng đất phì nhiêu được trải ra thành cánh đồng vừa rộng, vừa bằng phằng lại có hệ thống tưới tiêu khá tốt nên rất thuận lợi cho việc đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất Đô Lương trở thành một trong những vùng trọng điểm lúa của tỉnh Nghệ An
Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh Nghệ An bắt nguồn từ đất Lào chảy qua các huyện vùng thượng rồi đổ về Đô Lương chia huyện thành hai phía tả ngạn và hữu ngạn Ngoài ra Đô Lương còn cá các con sông nhỏ chảy
từ nhiều vùng khác nhau về rồi đổ vào sông Lam Các con sông lớn, nhỏ phục
vụ tưới tiêu, bồi đắp phù sa đem lại sự phì nhiêu cho đồng bãi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội
Đô Lương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm nên có những thuận lợi như: nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm cao nên rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi Nhưng bên cạnh những yếu tố thuận lợi
đó Đô Lương còn chịu sự khắc nghiệt của thiên nhiên như việc hình thành các vùng tiểu khí hậu, lượng mưa, nắng phân bố không đều trong năm nên thường xảy ra hạn hán, lũ lụt thường xuyên Nên từ lâu con người ở đây đã biết đoàn kết, gắn bó với nhau để chống đỡ mọi khó khăn dưới nhiều hình thức phong phú như: phường, hội
Với sự phong phú về tài nguyên, đất đai, khí hậu nên rất thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi Ngoài việc trồng cây lương thực nơi đây
Trang 14còn có những loại cây đặc sản nổi tiếng như bưởi Lương Sơn, vải Thanh Lưu, nhãn Khả quan…Bên cạnh đó Đô Lương còn nổi tiếng với nghề thủ công truyền thống như: nồi đất ở Trù Sơn, gạch ngói ở Đà Sơn, nuôi tằm dệt vải…Ngoài ra Đô Lương còn có các nghề như: mộc, rèn, làm đá, đan lát mây tre…
Đô Lương có một hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường thủy lẫn đường bộ Nhất là từ khi con đường quốc lộ số 7 đi qua huyện thì từ Đô Lương, ta có thể đi đến mọi miền một cách thuận lợi, dễ dàng Do đó mà người ta đã ví Đô Lương như một dúm vó, cái “dúm vó” tuyệt vời ấy từ xưa tới nay là huyết mạch trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa
1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội.
1.2.1 Về kinh tế.
Đô Lương là một huyện đồng bằng nhưng từ lâu lại có thế mạnh của kinh tế trung du, tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào lại có hệ thống giao thông thuận lợi nên ngay sau khi ổn định bộ máy cai trị, thực dân Pháp đã tiến hành khai thác tài nguyên ở đây một cách triệt để
Nông nghiệp được coi là ngành kinh tế bao trùm nhất của Đô Lương Nhưng dưới chế độ phong kiến nhà nước tiến hành bóc lột nặng nề, mặt khác không có những chính sách đúng đắn về khuyến nông, về bảo vệ đê điều nên nền kinh tế nông nghiệp ở Đô Lương không phát triển được Bên cạnh đó, bọn thực dân lại cấu kết với bọn địa chủ phong kiến để bóc lột nhân dân ngày một tàn bạo hơn Trước hết là nạn chiếm ruộng đất với những hình thức như rút ruộng đất tốt làm ruộng đất công để ban phát, biếu xén cho các quan lại, chức sắc, rồi cho vay, gán ruộng với lãi suất cao, bao chiếm ruộng liền thửa…bên cạnh đó chúng tiến hành phát canh thu tô rất nặng để phục vụ cho việc tế
lễ làng xã…Một số nơi địa chủ chỉ chiếm 1% dân nhưng chiếm tới 60% ruộng đất như làng Hội Tâm, Kim Liên, Vạn Phúc Năm 1930, ruộng đất ở Đô
Trang 15Lương có 1.010 mẫu thì 610 mẫu nằm trong tay địa chủ, phú nông; người nông dân chỉ có 322 mẫu; và gần 80 mẫu là ruộng công, phe giáp, dòng họ.
Như vậy hầu hết ruộng đất đều nằm trong tay bọn địa chủ phong kiến Nhiều tên địa chủ kếch xù như Cửu Huê ở Tân Sơn, Cửu Dước ở Lưu Sơn, Bát Huề ở Văn Tràng… ở Mỹ Sơn có tên Ký Túy chiếm đoạt tới 500 mẫu ruộng đất, hay tên Cửu Trạm ở Thái Sơn chiếm 170 mẫu ruộng và 200 con trâu bò…[1, tr 18-19 ]
Việc chiếm đoạt ruộng đất của bọn địa chủ, phú nông đã đẩy người nông dân vào tình trạng thiếu ruộng cày và ngày càng lệ thuộc vào địa chủ, phú nông Vì thế họ phải cày thuê, cuốc mướn cho nhà giàu, họ làm quần quật suốt năm nhưng vẫn nghèo đói, đã thế đến mùa thu hoạch họ còn bị chủ đất bớt xén sản lượng một cách ty tiện khi chia phần nên mức sống của người nông dân ở đây rất thấp
Cùng với việc bóc lột địa tô, người nông dân còn phải chịu các hình thức thuế khóa khác Lúc này ở Đô Lương hầu như chưa có hệ thống tưới tiêu nên đất xấu và năng suất thấp thế nhưng bọn thực dân, phong kiến ráo riết thực hiện chính sách tăng thuế Đặc biệt ngày 30/10/1928 chúng ra nghị định tăng thuế đinh kể cả những người có hoàn cảnh tật nguyền, đau ốm…nên đã gây nên những bất công, oan khuất trong nhân dân Đã thế khi người dân trồng được nương chè, nương sắn …đều bị chúng đánh thuế một cách hết sức
vô lý
Bên cạnh địa tô và sưu thuế nặng nề, người dân lao động còn phải chịu các khoản phù thu, lạm bổ, nạn biếu xén nhân dịp lễ tết do bọn địa chủ, cường hào bày đặt ra ngày một nhiều Ngoài ra còn có những khoản gọi là “lệ làng” được thu để bọn hương chức chấm mút, tiêu pha chè chén ngày một tăng Những người tá điền mặc dù bị bóc lột nặng nề trong việc lĩnh canh, nộp sưu thuế nhưng hàng năm còn phải cống nạp thêm cho chủ Ngoài ra, khi nhà chủ
Trang 16có công việc nặng chúng còn gọi những người tá điền đến làm công không cho chúng.
Với sự bóc lột nặng nề của bọn phong kiến, địa chủ đã đẩy người nông dân vào tình cảnh hết sức khó khăn, quẫn bức Do đó mà đến mùa sưu thuế hàng năm nhiều gia đình không có tiền để nộp sưu thuế và các lệ phí cho làng, cho xã buộc họ phải bán các đồ dùng trong nhà, kể cả những mảnh đất nhỏ nhoi của mình hoặc vay nặng lãi của bọn địa chủ, có khi phải trả gấp đôi Nếu không có khả năng trả chúng sẽ bắt cả trẻ em để xiết nợ Một số người còn phải cầm vợ, đợ con, chấp nhận thân phận đi ở cho nhà giàu với mức trả tiền công hết sức rẻ mạt
1.2.2 Về văn hóa- xã hội
Thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị, bọn chúng xác lập một nền văn hóa thực dân nô dịch lâu dài ở nước ta Chúng mở mang tôn giáo, chú trọng xây dựng một hệ thống nhà thờ đạo Thiên Chúa, đưa người dân vào con đường tu tâm, giáo lý để người dân quên đi việc nước việc nhà Lúc bấy giờ các nhà thờ có quyền lực rất lớn trong đời sống kinh tế
- xã hội nên bọn chúng đã sử dụng tôn giáo để mê hoặc nhân dân bằng những luận điệu phản cách mạng
Bên cạnh đó chúng còn khuyến khích, phục hồi các hủ tục trong tế lễ,
ma chay, cưới hỏi, và các tệ nạn rượu chè, cờ bạc…Ở Đô Lương lúc bấy giờ
đã có đại lý bán rượu Phông - Ten do Pháp sản xuất Thậm tệ hơn, bọn thực dân còn phân định lượng rượu hàng năm cho các địa phương bán theo đầu người (gọi là suất đinh) và chính việc làm này đã đem lại nguồn lợi rất lớn cho thực dân Pháp và chính sách này đã gây tác hại nguy hiểm cho nhân dân, làm cho người dân bị tha hóa về tình cảm, đạo đức, kinh tế nhiều gia đình bị
sa sút nghiêm trọng [1, tr54]
Trang 17Song song với những thủ đoạn ấy chúng còn tìm mọi cách để kìm hãm dân trí Lúc bấy giờ Anh Sơn là một phủ lớn của Nghệ An với trên 70.000 dân
mà chỉ có vẻn vẹn 1 trường tiểu học Pháp –Việt gồm 6 lớp với khoảng 200 học sinh, trong số đó đa số là con em quan lại, nhà giàu có Thực chất nhà trường chỉ nhằm mục đích đào tạo những viên chưc làm tay sai cho chúng mà thôi Bên cạnh đó bọn thực dân, phong kiến còn khuyến khích nhân dân mê tín dị đoan, mua bán phẩm hàm, chức tước để mê hoặc nhân dân, tạo ra sự phân chia đẳng cấp trong xã hội
Về y tế: số lượng thầy thuốc ở Đô Lương quá ít ỏi không đủ để chăm lo sức khỏe cho nhân dân nên hàng năm hàng ngàn người bị chết do dịch bệnh hoành hành và khi lâm bệnh thì thiếu thuốc thang để cứu chữa [6, tr26]
Sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở nước ta đã tạo ngày càng
rõ rệt về kết cấu và thái độ chính trị giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội
Trước hết là giai cấp địa chủ phong kiến: Vào thời điểm chính trị biến động, phong trào yêu nước lên cao nên giai cấp địa chủ phong kiến ở Đô Lương đã có những phân hóa đáng kể Một số địa chủ cường hào cấu kết chặt chẽ với bọn xâm lược làm tay sai đắc lực cho chúng, chống phá cách mạng
Số còn lại ít nhiều vẫn có mâu thuẫn với thực dân Pháp và chế độ phong kiến nên mong muốn nước nhà được độc lập Vì thế nhiều người trong số địa chủ ở chừng mực nào đó có tham gia phong trào yêu nước, có người đã trưởng thành trong phong trào cách mạng và trở thành những cán bộ, đảng viên ưu tú hay những anh hùng, những cán bộ khoa học kỹ thuật tài năng
Nông dân là giai cấp chiếm đại đa số trong phủ nhưng họ lại bị thiếu ruộng cày và nông cụ làm ăn, họ luôn phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” vì thế
họ sớm vùng lên chống lại sự đè nén áp bức của phong kiến, thực dân Nhất là
từ khi có ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du cùng với những áng thơ văn yêu nước của Phan Bội Châu thì phong trào yêu nước
Trang 18ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ khi có sự ra đời và hoạt động của các tổ chức Thanh niên và Tân Việt, phong trào yêu nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, chỉ tính từ năm 1887 đến tháng 9/1929, ở Anh Sơn đã có 25 cuộc đấu tranh của nông dân.
Như vậy phong trào đấu tranh của nông dân Anh Sơn chống lại thế lực
đè nén diễn ra khá sớm, với nhiều hình thức phong phú vì thế mà đã thu hút được cả trí thức bình dân tham gia và đã trở thành lực lượng tích cực trong việc kiện tụng chống lại địa chủ phong kiến Khi phong trào đấu tranh của nông dân lên cao chứng tỏ mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và phong kiến ngày càng gay gắt Tuy phong trào mới chỉ mang tính tự phát nhưng người nông dân cũng dần dần nhận thức được mất nước là do bọn thực dân xâm lược và bọn phong kiến thối nát Đây là cơ sở xã hội cần thiết để người nông dân Anh Sơn tiếp nhận luồng gió cách mạng mới, và chính họ trở thành lực lượng chủ yếu trong các phong trào đấu tranh
Vào những năm đầu của thế kỷ XX do tác động mạnh mẽ của nền kinh
tế thực dân nên giai cấp tiểu tư sản hình thành ngày một đông nhưng nhìn chung cuộc sống của họ thấp và không ổn định và họ luôn bị thực dân và phong kiến chèn ép về mọi mặt nên họ sớm có tinh thần yêu nước và căm thù giặc Do họ có trình độ học vấn lại được sống trên một địa bàn thuận tiện, giao lưu nhiều mặt nên họ thường nhạy cảm với thời thế Do đó khi có các luồng tư tưởng tiến bộ xuất hiện thì được họ sớm tiếp nhận và truyền bá rộng rãi trong nhân dân Cũng chính nhờ lực lượng này mà văn thơ yêu nước cách mạng của Phan Bội Châu đã nhanh chóng đi vào lòng người, khơi dậy tinh thần yêu nước, căm ghét bọn xâm lược và tay sai Về sau tầng lớp tiểu tư sản chính là lực lượng châm ngòi lửa cách mạng và nhiều người đã trở thành trụ cột trong các tổ chức tiến bộ, một số người đã trở thành cán bộ, đảng viên kiên cường, bất khuất, người lãnh đạo chủ chốt của Đảng, của cách mạng
Trang 191.3 Truyền thống yêu nước và cách mạng.
Trong quá trình phát triển đi lên của lịch sử dân tộc nhân dân Đô Lương đã xây dựng nên những trang sử oanh liệt, hào hùng Từ xưa không có cuộc đấu tranh nào của nhân dân Nghệ An mà lại không có sự đóng góp của nhân dân Đô Lương, cụ thể là:
Ngay từ thời nhà Lý, để xây dựng những đội quân hùng mạnh làm lực lưỡng cơ động đi trấn giữ các nơi xung yếu Tri châu Nghệ An Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã cho xây dựng đội quân Nghiêm Thắng tại đây, nhân dân đã hăng hái gia nhập đội quân này, ngày đêm miệt mài luyện tập cùng tướng quân họ Lý giữ vững vùng biên ải phía Tây của Tổ quốc
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của Lê Lợi, rồi trong trận Bồ Đằng, Trà Lân đều có sự đóng góp to lớn của nhân dân Đô Lương
Từ thế kỷ XVI khi chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy tàn, tình hình chính trị rối ren, các cuộc hỗn chiến, nội chiến liên tục nổ ra Trước nỗi cực khổ đó nhân dân Đô Lương đã vùng dậy tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật
Trong cuộc đấu tranh chống quân Thanh (Trung Quốc) xâm lược của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung thanh niên Đô Lương đã hăng hái gia nhập nghĩa quân, góp phần vào việc đại phá quân Thanh, làm nên chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa
Năm 1858 khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược vũ trang nước ta thì phong trào đấu tranh chống Pháp nổ ra mạnh mẽ, nhất là khi phong trào Văn Thân, Cần Vương xuất hiện Nhưng nổi bật nhất trong thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa do Tiến sỹ Nguyễn Nguyên Thành quê ở Đông Sơn – Đô Lương khởi xướng đã nhanh chóng quy tụ được đông đảo lực lượng tham gia
Trang 20Bước sang thế kỷ XX, khi cuộc vận động giải phóng dân tộc bùng lên với các phong trào Đông Du và cuộc vận động Duy Tân thì con em Đô Lương lại hăng hái hòa nhập vào phong trào xuất dương tìm đường cứu nước điển hình như Hoàng Thế Thiện (ở Lưu Sơn), Thái Văn Đa (ở Thịnh Sơn).
Trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Đô Lương đã luôn làm hết sức mình, kiên cường đánh trả máy bay của địch, tích cực đóng góp nhiều tiền tài, vật lực cùng nhân dân
cả nước đánh bại âm mưu xâm lược của kẻ thù
1.4 Khái quát phong trào cách mạng ở Đô Lương thời kỳ 1930 -1939.
1.4.1 Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 -1931.
Mùa xuân năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng, đây là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào đấu tranh của Nghệ
An nói chung của Đô Lương nói riêng thời kỳ này diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ
Hưởng ứng cuộc biểu tình của công nhân, nông dân Vinh – Bến Thủy, Thanh Chương và thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 28/5/1930, tại làng
Đa Văn (ở Xuân Sơn) đồng chí bí thư Liên chi cùng với các đồng chí trong Phủ ủy đã họp và quyết định tiến hành cuộc biểu tình với quy mô toàn huyện, mục đích đòi giảm sưu, hoãn thuế
Theo kế hoạch đã vạch, từ đêm 30/5/1930, công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương Cờ đỏ búa liềm được được treo lên trên các ngọn cây cao
và nóc các đình làng Tại các điểm tập trung các khẩu hiệu tuyên truyền đấu tranh nhanh chóng được chăng lên để kêu gọi mọi người hăng hái tham gia đoàn biểu tình đòi quyền lợi Mờ sáng 1/6/1930 từng đoàn người từ các làng
Trang 21Văn Khê, Đào Mỹ sang hợp với đoàn từ Cự Đại, Lưu Mỹ thành dòng người đông nghịt kéo về phía Lễ Nghĩa, rồi tập trung về Truông Cồn Đọi để chuẩn
bị kéo lên phủ đường Trên đường đi, bọn phu đoàn tìm cách ngăn chặn nhưng trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của đoàn nên bọn chúng phải tháo chạy Tại Truông Cồn Đọi đoàn người được nghe cán bộ diễn thuyết và cùng
hô vang khẩu hiệu đấu tranh và trước khí thế của đoàn biểu tình, tri phủ Hà Xuân Hải cùng với 5 tên lính ra tận cửa phủ để tiếp đón và chịu chấp nhận các yêu sách của nhân dân :
- Hoãn thuế đến tháng 10; bãi bỏ thuế chợ, thuế đò
- Thả những người bị bắt
- Bồi thường cho những người bị bắn chết ở Bến Thủy
Ngày 2/6/1930, nông dân 2 tổng vùng thượng huyện lại được phát động kéo về phủ lỵ đấu tranh đòi yêu sách Khi đoàn biểu tình đi qua bến Cầu
Rợ thì học sinh trường Pháp - Việt Anh Sơn vừa tan học nên cùng tham gia , rồi người đi chợ Lường, và đông nhất là nhân dân tổng Đô Lương nên lực lượng tăng lên rất nhanh Được tin đoàn biểu tình đang tiến về chợ Lường, tri phủ Anh Sơn hoảng sợ vội vàng cùng một số tùy tùng ra gặp quần chúng, bà Hoàng Thị Ủy thay mặt cho đoàn biểu tình đưa yêu sách cho tri phủ Trước sức mạnh áp đảo của quần chúng tri phủ phải phê vào bản yêu sách của dân Như vậy các cuộc biểu tình đã nhanh chóng giành được thắng lợi
Trong tháng 7 và tháng 8 tiếp tục diễn ra các cuộc biểu tình đưa yêu sách Nổi bật là tháng 7/1930, nông dân các làng thuộc vùng hạ huyện là: Văn Tràng, Tiền Nông, Yên Mỹ, Ngoại Bài, Đông Họ, Vạn Phúc, Xuân Sơn kéo
về tập trung tại Đập Lều ở Bạch Đàn thuộc làng Vạn Phúc để nghe diễn thuyết và hô vang khẩu hiệu đấu tranh
Chỉ trong một thời gian ngắn mà các cuộc biểu tình liên tục nổ ra với quy mô lớn, có tổ chức trong toàn phủ, đã khẳng định: Lần đầu tiên trong lịch
Trang 22sử Anh Sơn, được sự lãnh đạo của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam phủ Anh Sơn, đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động đã biết đoàn kết lại với nhau tạo thành sức mạnh to lớn để đấu tranh và đã có mối liên hệ chặt chẽ với phong trào chung trong toàn tỉnh để tấn công vào bọn thực dân, phong kiến.
Những thắng lợi liên tiếp của phong trào cách mạng trong tháng 6 và tháng 7, là thất bại nhục nhã của kẻ thù Để ngăn chặn, dập tắt các cuộc biểu tình nên tên công sứ, tổng đốc Nghệ An đã đưa ra các thủ đoạn mới đó là: Một mặt tập trung chuẩn bị đánh phá, mặt khác dùng kế dụ dỗ, mị dân hoặc răn đe, dọa dẫm Còn những yêu sách trong các cuộc biểu tình của nhân dân bọn chúng cũng không chịu thực hiện.Trước âm mưu của kẻ thù, phủ ủy đã khẩn trương triển khai việc xây dựng tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng Phủ ủy đã chú trọng xây dựng các đội Tự vệ đỏ để hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh và trấn áp bọn phản động, kết hợp với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền để đưa cuộc đấu tranh lên mức độ cao hơn, chuẩn bị cho cuộc biểu tình toàn phủ lần thứ 2 khi thời cơ xuất hiện
Thực hiện lời kêu gọi của Xứ ủy, Tỉnh ủy Nghệ An chủ trương tổ chức đấu tranh với quy mô lớn, huy động mọi lực lượng tham gia để áp đảo kẻ thù, buộc chúng phải thực hiện mọi yêu sách của nhân dân mà chúng đã chấp nhận trong các cuộc đấu tranh trước Lúc này phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Vinh – Bến Thủy, của nông dân Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên cứ liên tiếp dâng lên Các báo của Xứ ủy Trung Kỳ đăng lời kêu gọi như tiếng kèn xung trận thôi thúc lòng người: “Nghệ An Đỏ đang đấu tranh,
cờ đỏ đã phấp phới bay cả tỉnh Nghệ, thời kỳ đấu tranh quyết liệt đã đến” Với không khí sôi động đó, nhiều nơi trong phủ đã tổ chức đấu tranh, ủng hộ phong trào chung và tiếp tục đòi quyền lợi Đặc biệt, ngày 2/9/1930 dưới sự lãnh đạo của Tổng ủy, nhân dân Tổng Bạch Hà đã kéo về đầm Dạ Khách (ở
Trang 23Hiến Sơn) mít tinh hưởng ứng, ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân Vinh –Bến Thủy, nông dân Nam Đàn, Thanh Chương với khí thế mạnh mẽ.
Trước tình hình đó, phủ ủy Anh Sơn đã họp và quyết định sẽ tiến hành cuộc biểu tình vào ngày 08/9/1930 Để tiến hành cuộc biểu tình được chu đáo, rộng khắp, ngay trong đêm 07/9/1930, các cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng cách mạng đã treo cờ, rải truyền đơn, mít tinh diễn thuyết rầm rộ Băng cờ, khẩu hiệu và những thứ cần thiết đều được chuẩn bị và phân công ngay trong đêm Lực lưỡng tự vệ thì chuẩn bị vũ khí và phương án bảo vệ cuộc biểu tình
Mờ sáng ngày 08/9/1930, khi hiệu lệnh tập trung vang lên mọi người nhanh chóng ra địa điểm tập trung Nhân dân 2 tổng Thuần Trung, Bạch Hà kéo về tại Truông Cồn Đọi (Đà Sơn), ở tổng Đặng Sơn nhân dân đã tập trung đông đủ tại Bãi Xuân Như Hàng ngàn người từ các ngả đường với mọi thứ vũ khí trong tay, có cả tự vệ đi hộ tống nữa, đi tới đâu họ cũng nổi trống, mõ vận động quần chúng gia nhập đoàn người, đồng thời tổ chức trấn áp một số tên chức sắc gian ác ở các tổng để gây thanh thế, khống chế việc khủng bố của kẻ thù Đoàn biểu tình của 2 tổng Bạch Hà, Thuần trung tiến vào phá nhà, trừng trị tên cai tổng Nguyễn Văn Đại, phó tổng Nguyễn Quang Điền, tuần tổng Phó Tám, lý trưởng làng Trường Mỹ Nguyễn Đình Tiệm, tên mật thám Nguyễn Sỹ Khuyến, lý trưởng Bạch Ngọc Nguyễn Đình Thân Đoàn biểu tình tổng Đặng Sơn phá nhà cai tổng Nguyễn Trọng Khoan Số người đi biểu tình
cứ thế tăng lên, không khí càng thêm náo nhiệt Những khẩu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi, chống khủng bố, ủng hộ các cuộc đấu tranh của các địa phương khác như: Không được đàn áp, bắn giết các cuộc biểu tình, bãi công; Thả những người công nhân Vinh – Bến Thủy bị bắt…
Đến khoảng 10 giờ, quần chúng nhân dân vùng thượng huyện đã kéo tới bờ sông Lam, quần chúng đông đến nỗi đứng chật bãi cát làng Đặng Lâm, bến đò Hói Quai, Đồn Mượu với khí thế ngút trời Để ngăn chặn đoàn đấu
Trang 24tranh đang tiến về phủ lỵ, tại Truông Cồn Đọi, dưới sự chỉ huy của tên đồn trưởng toàn bộ lính Đô Lương đã dùng súng xả vào đoàn người Bất chấp súng đạn, đoàn biểu tình cứ nối tiếp nhau kéo về phủ lỵ Hoảng sợ quá nên bọn địch gọi máy bay tới ném bom đoàn biểu tình làm 7 người chết và nhiều người bị thương Máy bay lại vòng về vùng Bạch Ngọc, ném bom xuống đoàn biểu tình đang tập trung tại bến Hói Quai làm 2 người bị chết và một số người
bị thương Tại bến Xuân Như, khi đoàn biểu tình chưa qua sông hết thì bọn lính đồn Đô Lương bắn xả vào đoàn người làm 1 người chết và một người bị thương Trước tình hình đó để bảo toàn lực lượng, những người lãnh đạo phải cho quân tản ra và giải tán [7, tr25]
Mặc dù cuộc biểu tình ngày 08/ 9/1930 bị đàn áp đẫm máu Nhưng đây
là cuộc biểu tình được tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ, công tác chuẩn bị khá chu đáo và đã huy động được một lực lượng tham gia đông đảo nhất, lại dược đội
tự vệ có vũ trang hộ tống nên đã tạo ra được khí thế rất mạnh mẽ Cuộc biểu tình đã làm cho những tên địa chủ, tay sai gian ác bị trừng trị, đã làm cho bọn chức sắc ở địa phương hoang mang giao động Như vậy cuộc biểu tình đã đánh giấu một bước chuyển biến về chất của phong trào cách mạng trong toàn phủ
Để giữ vững tinh thần đấu tranh và phong trào đấu tranh của quần chúng, phủ ủy Anh Sơn đã chỉ thị cho các cấp bộ Đảng tiếp tục tổ chức các cuộc đấu tranh
Ngày 10/9/1930, nông dân xã Bạch Ngọc kéo cờ búa liềm tuần hành thị
uy, ngày 18/9/1930 hơn 1500 nông dân 2 tổng Thuần Trung và Bạch Hà cùng kéo về cầu Om (Mỹ Ngọc) mít tinh làm lễ truy điệu cho 7 người bị địch giết hại trong cuộc biểu tình ngày 8/9/1930 Ngày 26/9/1930, hơn 100 nông dân các làng của xã Bạch Ngọc tập trung ở chợ chùa để nghe diễn thuyết, rồi kéo
cờ đi biểu tình thị uy trấn áp 6 tên lý trưởng ở các làng và tên chánh tổng
Trang 25Nguyễn Khoa Kỳ ở làng Nhân Bồi Ngày 10/9/1930, hơn 2000 nông dân tổng Thuần Trung kéo về địa điểm Rú Mồ, Trung Hậu mít tinh nghe diễn thuyết Ngày 4/10/1930, nhân dân tổng Bạch Hà vây đánh tên lính lệ Nguyễn Cảnh Chất bị thương nặng khi nó đến nhà lý trưởng Vũ Văn Khê báo cáo tình hình Trước sự lớn mạnh của phong trào giặc đã huy động lính đến đàn áp và giải tán các cuộc biểu tình.
Sau khi các cuộc biểu tình diễn ra ít lâu Tỉnh ủy Nghệ An và Phủ ủy Nghệ An đã tổ chức hội nghị tại làng Đa Văn và có đại diện của tỉnh Nghệ An
về dự Hội nghị đã tiến hành kiểm điểm sự lãnh đạo của cấp ủy trong thời gian qua và nhấn mạnh đến việc lãnh đạo để giữ vững, phát triển phong trào
và chống những tư tưởng lệch lạc Cuộc họp đã bầu ra Phủ ủy chính thức gồm
5 đồng chí:
1 Nguyễn Văn Tần: Bí thư
2 Cao Tiến Tuệ
3 Nguyễn Cảnh Côn
4 Nguyễn Văn Liên
5 Nguyễn Văn Tạo
Hội nghị tiến hành củng cố Tổng bộ và các tổ chức cơ sở Đảng nhằmxây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển
Gắn liền với quá trình hoạt động và phát triển tổ chức Đảng là việc xây dựng, mở rộng các tổ chức quần chúng cách mạng Các đoàn thể dưới hình thức tổ Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ, Cứu tế được xây dựng phù hợp với nội dung công việc và yêu cầu của từng địa phương đã nhanh chóng thu hút các hội viên tham gia Tính đến tháng 12/1930 ở Anh Sơn đã có 6 liên xã gồm
4380 hội viên nông hội đỏ, 2 liên xã gồm 62 hội viên Phụ nữ giải phóng, 3 tổ chức gồm 35 đoàn viên thanh niên cộng sản Đặc biệt là tổ chức Tự vệ đỏ phát triển mạnh mẽ nhất ở 91 đơn vị với số tự vệ có 1603 đội viên Phong trào
Trang 26tập luyện quân sự và sắm sửa vũ khí được phát động Ở các địa phương như Lưu Sơn, Đại Sơn, Đào Mỹ đã tổ chức rèn đúc sắm sửa thêm giáo mác, dao kiếm Đặc biệt vũ khí của đội Tự vệ đỏ ngày một tăng đã khẳng định vị trí của
nó trong cuộc đấu tranh Từ đây phong trào đã bắt đầu kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị, vũ trang với kinh tế dồn dập tấn công vào chính quyền thực dân phong kiến ở các tổng làng
Ngày 15/10/1930, khi bọn địch bố trí 2 tên mật thám Vũ Đức Trụ và Nguyễn Đình Lân về điều tra tình tình ở tổng Bạch Hà đã bị nông dân làng Văn Lâm (Thanh Tân) vây bắt Ngày 19/10/1930, nhân dân tổng Bạch Hà biểu tình chống bọn hào lý, lính đồn Đô Lương đã bao vây bắn chết 5 người
và bị thương 1 người
Ngày 31/10/1930, nhân dân các làng Trung Hậu, Lễ Nghĩa, Mỹ Ngọc, Yên Lăng tổ chức trấn áp tên Châu phản bội, lý trưởng làng Thượng Cát, lý trưởng làng Trung Hậu [5, tr20]
Phong trào đấu tranh ngày một lên cao, các cuộc vây ráp khủng bố, truy
nã kẻ thù đối với các cơ quan lãnh đạo ngày càng ráo riết Cơ quan Phủ ủy tại làng Đa Văn bị lộ Để tiếp tục bảo vệ cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ, tháng 11/1930, Phủ ủy được kiện toàn lại gồm 5 đồng chí do Nguyễn Hữu Đạo (tức Hùng) làm Bí thư
Kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga và Quảng Châu công xã, Phủ ủy lại phát động phong trào đấu tranh mới
Ngày 5/11/1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và tổ chức Nông hội
đỏ, các làng, xã, đâu đâu cũng xuất hiện cờ đỏ búa liềm và truyền đơn kêu gọi quần chúng đấu tranh Ngày 7/12/1930, 200 nông dân Đô Lương biểu tình làm lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga 800 nông dân và 100 phụ nữ tổng Bạch Hà, Yên Lăng kéo về tập trung tại núi Thánh (Thanh Tân) nghe
Trang 27diễn thuyết về Quãng Châu công xã và làm truy điệu anh Nguyễn Quang Nhân (ở Thanh Tân) đã bị địch bắn chết trong đợt khủng bố ngày 15/10.
Ngày 14/12/1930, nông dân làng thuộc tổng Yên Lăng tập trung ở Rú
Mồ nghe diễn thuyết, biểu tình tuần hành thị uy rồi kéo về làng Hội Tâm (Thịnh Sơn) trấn áp Nguyễn Công Tư về tội quấy phá cách mạng Trước sức mạnh của đoàn đấu tranh tên Tư đã cúi đầu xin lỗi nhân dân và hứa sẽ không hành động như vậy nữa
Cùng với sự phát triển của phong trào cách mạng trong toàn tỉnh, ở Anh Sơn phong trào đấu tranh ngày một lên cao Lúc này địch tăng cường khủng bố, bên cạnh đó do hạn hán kéo dài nên nhân dân rơi vào tình trạng đói kém Vấn đề bức thiết đặt ra lúc này là làm thế nào để cứu đói cho dân, để duy trì sự sống, duy trì phong trào cách mạng Trước tình hình đó, Phủ ủy lãnh đạo chặt chẽ việc kết hợp vay lúa cứu đói cho dân với chống khủng bố của kẻ thù Tinh thần đó được quán triệt từ phủ xuống tổng và từng cơ sở, kể
cả tổ chức quần chúng cách mạng Chủ trương này đã tác động mạnh mẽ, góp phần đẩy phong trào đấu tranh lên đến đỉnh cao ngay từ tháng đầu năm 1930
Từ tháng 6 đến tháng 9/1930 các cuộc biểu tình lớn liên tiếp nổ ra dưới nhiều hình thức và quy mô phong phú, dồn dập tấn công vào kẻ thù làm cho tình thế cách mạng biến đổi mau lẹ Mặc dù bị kẻ thù đàn áp một cách khốc liệt nhưng các cuộc biểu tình của nhân dân vẫn liên tiếp nổ ra Đặc biệt nhờ chủ trương vay lúa cứu đói và thẳng tay trấn áp khống chế bọn địa chủ cường hào gian ác, phong trào nhanh chóng được đẩy lên Nhiều tên chức sắc, địa chủ, cường hào gian ác bị trừng trị hoặc bị cảnh cáo nghiêm khắc Bọn chúng hoang mang lo sợ làm cho chính quyền của địch từ phủ đến tổng bị lay chuyển Trước tình hình đó, chúng liên tiếp thay thế các hàng chức sắc từ phủ đến tổng, làng Nhiều tên phải bỏ việc, có tên nằm im chờ đợi, có tên không
Trang 28dám ló mặt ra sợ bị trừng trị… Vì thế, bộ máy chính quyền ở nhiều xã, thôn hầu như tan rã và tê liệt.
Về vay lúa: (thực chất là tịch thu lúa của địa chủ) đây là chủ trương được hưởng ứng mạnh mẽ nhất, vì nó gắn với quyền lợi, đời sống thiết thực của nông dân Do đó , ngày nào, làng xã nào ở Anh Sơn cũng diễn ra các cuộc tịch thu lúa để cứu đói Mở đầu cho phong trào này, ngày 23/1/1931, 300 nông dân làng Văn Lâm đấu tranh lấy lúa của địa chủ chia cho dân làng Ngày 26/1/1931, 600 nông dân làng Nhân Luật, Đào Mỹ lấy lúa của 12 nhà giàu để cứu tế Ngày 12/2/1931, nông dân Bồi Sơn đã tịch thu 10 tạ lúa của địa chủ Cùng ngày, chi bộ Trung Hậu chủ trương vay 30 tạ thóc của các gia đình giàu
có chia cho các gia đình nghèo ăn tết Nguyên Đán Ngày 13/21931, 300 nông dân các làng Trung Hậu, Thượng Cát, Lễ Nghĩa, Mỹ Ngọc tịch thu 190 tạ lúa của địa chủ Nguyễn Quỳnh chia cho dân [5, tr22]
Ngày 20/21931, 700 nông dân thuộc các làng Thuần Trung tổ chức mít tinh tại cồn chợ Lễ (Lễ Nghĩa) phát động đấu tranh lấy lúa địa chủ chia cho dân Nhân dân tổng Đặng Sơn lấy hàng trăm tạ thóc của địa chủ Cửu Ới Nông dân các làng Triều Mỹ, Ngọc Luật, Văn Khuê, Mỹ Ngọc kéo đến nhà địa chủ Nguyễn Văn Cự, thu 1800 quan tiền đem ủng hộ nhân dân Yên Thành
bị đói Đặc biệt trong ngày 19/3/1931, phong trào diễn ra sôi nổi, rầm rộ, liên tục hầu khắp trong phủ Tổng Thuần Trung tổ chức các làng mít tinh kỷ niệm
Đệ Tam Quốc Tế, đấu tranh thu lúa địa chủ Hàng nghìn người các làng thuộc
xã Bạch Ngọc biểu tình kéo lên phủ lỵ đòi quyền lợi rồi đổ về bao vây nhà lý trưởng Đào Văn Dự (Phúc Hậu) tịch thu gia sản, triện bạ, lấy lúa chia cho dân Nông dân các làng Mỹ Trung, Trung Thượng, Thuận Hậu, Đồng Bích tịch thu 86 tạ lúa, 620 quan tiền, 4200 lạng bạc của địa chủ tại các làng Nông dân làng Ân Thịnh (Lưu Sơn) kéo đến vay của địa chủ 140 tạ lúa để cứu đói
Trang 29Ngày 3/4/1931, nhân dân các làng Mỹ Trung, Đồng Bích, Thuận Hậu, Trung Thượng lại biểu tình kéo đến nhà địa chủ trong vùng vay 75 tạ lúa, 620 quan tiền Ngày 07/4/1931, nông dân tổng Bạch Hà kéo đến làng Long Thái (Thái Sơn) vay lúa địa chủ, ngày 15/4/1931 kéo đến làng Chi Phương vay lúa của địa chủ.
Vậy là chỉ trong vòng 7 tháng (từ tháng 1 đến tháng 6/1931) trong toàn phủ đã nổ ra 125 cuộc đấu tranh, trong đó có 68 cuộc đấu tranh kinh tế, 44 cuộc trấn áp, và 8 cuộc quy mô toàn tổng Nhiều cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi lớn, đáp ứng được nhu cầu cứu đói, hạ uy tín của bọn địa chủ tay sai, khích lệ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân, tấn công dồn dập vào bọn thống trị Lực lượng quần chúng công nông đấu tranh chống thực dân, phong kiến ở nhiều địa phương đã ở thế áp đảo Từ cuối năm 1930 đến cuối
1931 nhiều tên địa chủ gian ác bị tự vệ trừng trị bằng cách tiêu diệt, tịch thu triện bạ hoặc cảnh cáo giáo dục buộc bọn chúng phải khuất phục nhân dân
Về chống khủng bố: thực hiện chủ trương của cấp trên, ngày 03/01/1931, làng Lễ Nghĩa, Mỹ Ngọc (Minh Sơn) bắt lý trưởng các làng ra đình làng cảnh cáo Ngày 10/2/1931, tổng Thuần Trung biểu tình trấn áp bọn phản động ở làng Thuận Lạc Ngày 12/4/1931, 3000 nông dân tổng Thuần Trung kéo đến phá đồn ở Mỹ Ngọc (chợ Om) Cũng trong ngày này hơn 1500 nông dân tổng Bạch Hà phá đồn Cự Đại Ngày 27/4/1931 hàng trăm nông dân các làng Lễ Nghĩa, Mỹ Ngọc, Trung Hậu giết tên Nguyễn Thái Dương tại nhà
lý trưởng Nguyễn Tất Xảo Nông dân 2 tổng Bạch Hà, Thuần Trung đêm dến vây đồn lính chợ Om uy hiếp làm cho bọn chúng khiếp sợ phải rút đồn đi nơi khác, đông thời trừng trị tên Khánh đoàn phu ở làng Trung Hậu Ngày 28/4/1931, nông dân làng Lương Sơn giết chết tên phó tổng Lê Văn Trí về tội phá rối và ngăn cản cách mạng
Trang 30Dù Đảng bộ chưa có chủ trương cướp chính quyền, nhưng khi thời cơ đến, nhiều cơ sở Đảng và Nông hội đỏ đã đứng ra lập “xã bộ nông” (tức BCH Nông hội đỏ ở thôn, xã) để điều hành quản lý xã hội Tuy mức độ thực hiện
có khác nhau, những nơi nào thôn bộ thực sự thay thế các công việc của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến thì được gọi là làng Xô viết
Các làng Xô viết đã dựa vào hướng dẫn của các cơ sở Đảng với những hiểu biết thông qua sách báo, truyền đơn của Đảng, qua các cuộc diễn thuyết cách mạng, các ban chấp hành Nông hội tiến hành giải quyết các công việc cụ thể ở địa phương Dù còn sơ khai, nhưng Xô viết đã thực sự làm chức năng của chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo Đó thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân
Với những chính sách và biện pháp mà Xã bộ nông thực hiện đã tạo ra một khí thế mới, một bầu không khí sôi nổi lành mạnh đầy tình nhân ái ở nông thôn Lần đầu tiên, với tư cách là người làm chủ xã hội, người nông dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và có trách nhiệm với việc xây dựng
và bảo vệ xã hội mới Đây chính là cơ sở vững bền để Đảng bộ và nhân dân Anh Sơn bước vào một thế trận chiến đấu mới chống lại sự khủng bố điên cuồng của bọn thực dân Pháp và phong kiến, bảo vệ tổ chức Đảng và phong trào cách mạng
1.4.2 Phong trào cách mạng ở Đô Lương trong những năm 1932 -1939.
Chúng ta biết rằng sau khi phá vỡ cơ sở Đảng và dập tắt phong trào cách mạng ở Anh Sơn, các thế lực cách mạng cấu kết với nhau điên cuồng đàn áp, thực hiện âm mưu xóa sạch những thành quả cách mạng trong thời kỳ 1930- 1931 Nơi đâu chúng cũng cho lính lùng sục bắt bớ, tra tấn, giam cầm Các đồn bang tá ngày càng chật ních những người cộng sản và cả những
Trang 31người dân vô tội Đến ngày 17/3/1932, tại đồn Kim Nhan chúng giam tới 174 người, đồn Văn Khuê 76 người Chúng đưa ra các hình thức tra tấn tàn bạo như: cột tre thành hình chữ khẩu, trói người vào phơi nắng, phơi sương suốt ngày đêm hay buộc chân tay lại rồi cho chó cắn xé, trói người lại hàng loạt rồi cho gỗ lim đằn chết Ở đồn Yên Phúc một lúc chúng đánh chết 40- 50 người…Bên cạnh đàn áp, ngày nào chúng cũng cho lính kéo về các làng tự do bắt lợn, gà của nhân dân giết thịt, dỡ nhà làm đồn, làm củi Ai mà chống đỡ liền bị chúng bắt về đồn đánh đập, tra khảo hết sức dã man
Được dịp, bọn hào lý ở các làng xã càng lên mặt dọa dẫm nhân dân để
ăn tiền Từ chỗ ép buộc nhân dân nhận thẻ quy thuận, lúc này một số nơi như Văn Khuê, Lệ Nghĩa, Mỹ Ngọc bọn hào lý chức sắc dùng thẻ quy thuận để mua bán kiếm tiền [ 5, tr26]
Như vậy tình hình phong trào lúc này rất bi đát Nhưng cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng ở Anh Sơn bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc, trừ một số ít đầu hàng, thoái hóa còn hầu hết họ vẫn hy vọng ở ngày mai, vẫn giữ vững chí khí cách mạng, kiên trì đấu tranh vượt lên mọi nguy hiểm, gian lao, rèn luyện, học tập, tìm cách liên hệ với bên ngoài nhận tin tức chờ ngày vượt ngục trở về xây dựng lại phong trào cách mạng Với niềm tin, khí tiết và đạo đức cách mạng của các chiến sỹ cộng sản, việc đấu tranh với
đế quốc trong lao ngục vẫn diễn ra thường xuyên với nhiều hình thức Cũng
từ trong lao tù, nhiều gương sáng nổi lên đã gây được ảnh hưởng tốt đẹp đến các đồng chí khác và có ý nghĩa to lớn trong quá trình chuẩn bị khôi phục tổ chức Đảng ở Anh Sơn
Tháng 4/1934, sau khi bắt mối được với “Đông Dương viện trợ bộ ” ở Xiêm, tổ chức “Vừng Hồng ” ở Vinh cử Nguyễn Đình Mai (Hai Huân) lên Anh Sơn bắt liên lạc để xây dựng cơ sở
Trang 3211/9/1934, thực hiện chủ trương của Đông Dương viện trợ bộ, tỉnh bộ cộng sản “Vừng Hồng ” rải truyền đơn nhân kỷ niệm lần thứ 4 ngày xô viết Nghệ - Tĩnh để khơi dậy tinh thần đấu tranh và mở đầu cho việc xây dựng phong trào cách mạng.
Tháng 6/1936, Nguyễn Xuân Hiên (quê Yên Thành) được Tỉnh ủy phân công lên xây dựng cơ sở Đảng ở Anh Sơn đã bắt liên lạc với một số đồng chí lập ra chi bộ Đảng ở làng Cự Đại (thuộc xã Đại Sơn)
Ngày 26/7/1936, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ra chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế, tạm gác khẩu hiệu hành động cũ mà nêu khẩu hiệu đấu tranh đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống chiến tranh, chống phát xít, đòi tự do cơm áo, hòa bình Hội nghị quyết định dùng các biện pháp công khai và bán công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm
“tập hợp rộng rãi quảng đại nhân dân từ thành thị đến thôn quê, từ dân tộc tiên tiến đến các bộ lạc lạc hậu, từ phần tử có giác ngộ cho tới nhữnh lớp dân chúng mấy lâu nay còn yên tĩnh, rụt rè, nay trở ra tham gia Mặt trận thống nhất”
Ngày 20/9/1936, Tỉnh ủy Nghệ An triệu tập Đông Dương Đại hội tại thành phố Vinh Các đồng chí Đặng Sĩ Đối, Trần Ngọc Thanh được cử đi dự Đại hội Sau khi trở về đã xuống các làng, xã để tuyên truyền, vận động quần chúng hưởng ứng Đông Dương đại hội Phong trào lên nhanh và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng và tình cảm của mọi người Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều làng xã đã tổ chức mít tinh vận động ký vào bản “ dân nguyện ” như Đô Lương, Cự Đại, Thanh Lưu… và cử đại diện mang đến các nhà cầm quyền địa phương để chuyển lên phái bộ điều tra của Mặt trận do ông Gô- đa dẫn đầu sẽ đến Nghệ An vào ngày 23/2/1937
Để nhanh chóng tập hợp quần chúng, Đảng bộ đã kịp thời vận động thành lập các phường hội với những nội dung và hình thức hoạt động mới
Trang 33như: phường cày, phường cấy, phường gặt, phường lợp nhà…đặc biệt sôi nổi
là trong thanh niên có hội đá bóng, hội hát tuồng, hội đọc sách báo Trong phụ
nữ có hội phụ sản, nhóm góp họ Các phường hội vốn có từ trước nay cũng hoạt động theo các nội dung mới Trong đó phường hội hiếu nghĩa là hình thức phổ biến ở Anh Sơn Mặc dù các phong trào quần chúng lúc này còn gặp nhiều khó khăn nhưng đã phát triển 8 hội bán hợp pháp như “Hội hiếu nghĩa”,
“Hội trợ cấp”, “Hội phụ sản”…Nhiều phường, hội còn có điều lệ và bản tự sự điều hành Chính những hoạt động của phường, hội đã phá dần bầu không khí kìm kẹp hãi hùng trong những ngày tàn sát, khủng bố của kẻ thù
Như vậy thông qua các hình thức phường, hội mà Đảng bộ Anh Sơn đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân vào các tổ chức để tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để đấu tranh đòi quyền dưới hình thức công khai, hợp pháp
và bán công khai, bán hợp pháp
Nét nổi bật của phong trào là đã chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt của cách mạng, Đảng bộ chủ trương tiến hành xây dựng một số tổ chức quần chúng bí mật như: Đoàn thanh niên dân chủ ở Lệ Nghĩa, Cự Đại, Long Điền,
Đa Thọ…
Năm 1936, Bảo Đại ra Nghệ An dự lễ khánh thành đập nước Đô Lương Nhân dịp này, các chi bộ đã vận động nhân dân trình đơn tố cáo tội ác của bọn quan lại, cường hào và đòi các quyền tự do dân chủ Cũng trong thời gian này Tổng đốc Nghệ An Hồng Quang Địch về khuyến dụ ở Anh Sơn nên nhân dân các làng ở Đô Lương đã kéo lên phủ đường chất vấn, buộc Hồng Quang Địch phải trả lời những câu hỏi của nhân dân và hứa sẽ cải thiện quyền dân sinh dân chủ cho đồng bào
Để đưa phong trào ngày một lớn mạnh hơn, Đảng bộ đã tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho quần chúng thông qua các hình thức như lập các tổ phát hành sách báo tiến bộ, tổ chức nghe diễn thuyết thơ ca hò vè có nội dung
Trang 34đấu tranh, biểu diễn văn nghệ với những tác phẩm ca ngợi lòng yêu nước, căm thù giặc, đọc sách báo…
Năm 1937, ở các làng đã xẩy ra các cuộc đấu tranh quyết liệt để tranh
cử chánh, phó lý trưởng cho những hào lý đứng về phía dân và phế truất những tên chánh, phó lý trưởng gian tham Một số nơi đã tập hợp những người có uy tín lập ra hội lục tụng đại diện cho dân trong việc đấu tranh bằng
lý lẽ, khi cần thiết thì tổ chức kiện tụng bằng văn bản, vì thế mà những người
do dân đưa ra tranh cử hầu hết đều thắng cử
Khi phong trào đấu tranh của quần chúng đang lên thì Khâm sứ Trung
Kỳ đưa ra dự án tăng thuế Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và sự hướng dẫn của Phủ ủy về chống dự án tăng thuế, các làng xã thuộc Bắc Sơn, Đặng Sơn, Đại Sơn, Trù Sơn, Minh Sơn đã có nhiều hình thức tổ chức sinh hoạt sôi nổi Ngày 07/11/1938, có 51 người thuộc các thành phần công nhân, nông dân, tiểu thương phủ Anh Sơn đã kí vào bản “Dân nguyện” gửi cho Viện dân biểu Trung Kỳ để đòi giảm thuế điền, sửa lại thuế tháng cho dân; Ban hành các quyền tự do dân chủ; Đại xá chính trị phạm; chống nạn thất học triệt để…Bản kiến nghị có 151 người kí tên Bên cạnh đó nhân dân còn kéo đến các nhà chức trách, trực tiếp yêu cầu chống dự án tăng thuế, đòi dân chủ, một số hào lý phải thảo bản dân nguyện, lấy chữ ký của nhân dân gửi lên tri phủ Chính các cuộc đấu tranh ở Anh Sơn đã sớm góp phần vào thắng lợi của phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh làm thất bại chủ trương tăng thuế của Khâm sứ Trung Kỳ
Phong trào đấu tranh chống cường hào tham nhũng phát triển mạnh Nhân dân Đặng Sơn, Ngọc Sơn chống bọn hào lý sửa chữa những quy định về sưu thuế để tăng tiền kiếm lợi Nhân dân Bắc Sơn đấu tranh đòi kiểm soát số điền thổ không cho hào lý lạm bổ Nhân dân làng Khả Phong đòi bọn hào lý trả lại 12 tạ thóc phúc sưu cho dân và đấu tranh đòi chúng làm lại một trường
Trang 35học do chúng lợi dụng bán đi Nhân dân ở Thái Sơn bắt hào lý phải trả 400 quan tiền công cho dân đi đắp đập Bình Thọ Nhân dân các làng ở Đặng Sơn đấu tranh chống đi phu, đi lính, đòi cải cách phong tục hương thôn Nông dân
ở Minh Sơn đấu tranh đòi xóa bỏ tục lệ xấu Nhân dân ở xã Xuân Sơn đấu tranh chống mê tín dị đoan, bỏ các lễ cúng thần khe, thần rú…
Cuối 1939, khi phong trào đang lên thì nguy cơ chiến tranh thế giới thứ
2 càng đến gần Trước tình hình này các đồng chí cán bộ, đảng viên ở Anh Sơn đã quán triệt chủ trương chuyển hướng chiến lược và phương pháp đấu tranh của trên để chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương cho thích hợp
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhất là từ khi nhân dân được tiếp thu tư tưởng cách mạng tiến bộ của Nguyễn Ái Quốc thì phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân lên cao Trước tình hình đó, đòi hỏi phải
có một tổ chức cách mạng tiến bộ để lãnh đạo phong trào
Trước yêu cầu của Lịch sử, mùa xuân năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo và đường lối cứu nước ở nước ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào đấu
Trang 36tranh diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, đều khắp mà điển hình nhất là cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh.
Mặc dù cuối cùng bị địch khủng bố, đàn áp hết sức dã man nhưng phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng sâu sắc, cả những bài học thành công lẫn những bài học chưa thành công
Trang 37CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH
QUYỀN Ở ĐÔ LƯƠNG TỪ 1939 ĐẾN 1945
2.1 Tình hình Đô Lương khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ
2.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội.
Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công xâm lược Ba Lan, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đã đẩy loài người vào cuộc thảm sát chưa từng có Ở Đông Dương lúc này thực Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng của nhân dân ba nước, bên cạnh đó chúng còn ban bố lệnh tổng động viên, thi hành chính sách kinh tế thời chiến để bắt người, cướp của phục vụ chiến tranh làm cho đời sống nhân dân hết sức cực khổ, điêu đứng
Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như chính sách phản động của đế quốc Pháp ở Đông Dương đã nhanh chóng tác động đến tình hình ở Nghệ An trong đó có Đô Lương Ở Đô Lương nhiều quyền lợi về chính trị, kinh tế cũng như các mặt khác mà quần chúng nhân dân vừa giành được trong thời kỳ dân chủ 1936 - 1939 đều dần dần bị thủ tiêu
Ở Nghệ An nói chung và ở Anh Sơn nói riêng thời điểm bấy giờ đại đa
số người dân làm kinh tế nông nghiệp nhưng dưới thời phong kiến diện tích trồng trọt của nhân dân chẳng được là bao ở Đô Lương có 1.010 mẫu ruộng thì tới 610 mẫu nằm trong tay địa chủ, phú nông còn người nông dân chỉ có
322 mẫu; và gần 80 mẫu là ruộng công
Như vậy hầu hết ruộng đất đều nằm trong tay bọn địa chủ phong kiến Nhiều tên địa chủ kếch xù như Cửu Huê ở Tân Sơn, Cửu Dước ở Lưu Sơn, Bát Huề ở Văn Tràng… ở Mỹ Sơn có tên Ký Túy chiếm đoạt tới 500 mẫu ruộng đất, hay tên Cửu Trạm ở Thái Sơn chiếm 170 mẫu ruộng và 200 con
Trang 38trâu bò…bởi vì sau khi ổn định bộ máy cai trị, chúng đã âm mưu chiếm ruộng đất với nhiều hình thức như: tìm cách rút ruộng tốt để làm đất công rồi chia chác, phân phát, biếu xén cho các quan lại, chức sắc, bao chiếm ruộng liền vùng, liền thửa Đã thế chính sách thu tô rất nặng nề, Mà sản lượng thu hoạch đạt dưới mức tối thiểu, sản lượng lương thực bình quân chia theo đầu người của người dân ngày một sụt giảm nên cuộc sống của người dân ở đây hết sức khổ cực, điêu đứng Ngoài việc bị bóc lột địa tô, họ còn phải chịu cảnh sưu cao thuế nặng, các thứ thuế cũ ngày một tăng, nhiều thứ thuế mới được ban hành hết sức vô lý như thuế súc vật, thuế cây ăn quả… nợ nần chồng chất, bị chửi bới, đánh đập dã man Chúng trưng thu, trưng mua lương thực của nhân dân với giá rẻ mạt
Một số người phải tha phương cầu thực, bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc hay nơi đất khách quê người Bên cạnh đó họ còn phải đối mặt với thực trạng chiếm đoạt, đầu cơ tích trữ lương thực của các gian thương, địa chủ, tư sản và nhiều tác động khác do chiến tranh nổ ra
Ngày 28/2/1939, toàn quyền Đông Dương Catơru ra nghị định giải tán các nghiệp đoàn, tương tế, ái hữu ở Đông Dương Ngay sau đó, ngày 5/10/1939, chính phủ Nam Triều ra đạo dụ cấm hội họp, cấm tuyên truyền cộng sản và thu các sách báo tiến bộ ở Trung Kỳ
Nghị định của toàn quyền Đông Dương và đạo dụ của chính quyền Nam Triều vừa mới được ban hành thì ngay lập tức phong trào cách mạng ở Anh Sơn bị bọn cầm quyền Pháp khủng bố dữ dội Chúng giải tán các tổ chức
ái hữu, cấm đoán tự do, bóp nghẹt dân chủ, xóa bỏ những thành quả cách mạng đã giành được Đặc biệt chúng mở rộng sử dụng các phần tử phản bội ngấm ngầm hoạt động trong nội bộ Đảng để chống phá cách mạng Điển hình
là vụ Đinh Văn Di bị mật thám mua chuộc đã đầu hàng khoác áo cán bộ lãnh
Trang 39đạo trọng yếu trong Đảng, làm tay sai chỉ điểm cho giặc, truy bắt cán bộ, Đảng viên trên phạm vi rất rộng, gây nguy hại cho phong trào cách mạng.
Anh Sơn là một trong những vùng có phong trào cách mạng từ thời kỳ 1930-1931, nên cũng là nơi bị các thế lực phản cách mạng đàn áp khốc liệt nhất Do đó, mọi tổ chức và cá nhân hoạt động trong phong trào công khai dân chủ bị khống chế, theo dõi 23 nhân vật ở Anh Sơn bị chúng xếp vào danh sách “Đặc biệt nguy hiểm”, một số người “cần bắt ngay khi được báo tin đầu tiên”, 9 người chúng gọi là “đặc biệt nguy hiểm có hoạt động chống phá chính quyền” Từ đây hàng loạt cán bộ đảng viên bị bắt Nhiều nhân vật quan trọng
bị sa vào tay giặc [1, tr77]
Trong các nhà lao, những tù chính trị phạm sắp mãn hạn bị chúng giữ lại Những tù chính trị được chúng liệt vào hàng “quan trọng “hoặc có thái độ chống đối thì chúng bí mật thủ tiêu, hoặc đưa đi giam giữ tại các trại tập trung đặc biệt Những người tình nghi mà chưa bị bắt thì chúng ra lệnh quản thúc rất chặt chẽ Những người này thậm chí cũng không được ngủ ở nhà mà phải
ra nằm ở những điếm canh của làng, hàng tháng phải đến trình diện hào lý Những người này đi đâu cũng phải xin phép chính quyền địa phương và lý trưởng đóng triện lệch vào thẻ thuế thân để làm mật hiệu cho các hào lý ở các địa phương khác chú ý kiểm soát và theo dõi
Song song với những chính sách khủng bố về chính trị, bọn thực dân phản động Pháp còn cho thực hiện cái gọi là “chính sách kinh tế chỉ huy ”, bắt người, vét của để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh Ngoài ra chúng còn điên cuồng đàn áp cách mạng, tổ chức hàng nghìn vụ khám xét, bắt bớ đối với nhân dân ta Chúng ráo riết bắt phu, bắt lính ở Đà Lạt, Buôn Ma Thuột… Nhiều thanh niên bị bắt đi lính ONS (lính thợ không chuyên)
Trang 40Bên cạnh đó chúng còn bắt các làng xã phải lập quỹ “nghĩa thương trợ chiến” phải bán ruộng đất công để lấy tiền gây quỹ chiến tranh Chúng tăng giờ làm việc của công nhân nhưng lương vẫn giữ nguyên.
Nhân cơ hội chiến tranh bọn tư sản mại bản và một số người khác ra sức vơ vét hàng hóa, đầu cơ tích trữ làm cho hàng hóa, vật liệu ngày càng khan hiếm, gây nên giá cả hàng hóa thị trường không ổn định Trong khi đó, tầng lớp địa chủ, quan lại thì dùng mọi mưu mẹo gian lận để bóc lột dân chúng một cách trắng trợn
Như vậy chiến tranh và những chính sách của đế quốc Pháp làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân ở Anh Sơn bị uy hiếp và sa sút nghiêm trọng
Giai cấp địa chủ ở Anh Sơn có sự phân hóa rõ rệt Tầng lớp địa chủ có thế lực như quan lại và hào lý thì dựa vào bộ máy chính quyền bù nhìn để tìm mọi cách để giảm nhẹ thiệt hại của mình trong chiến tranh, và để bù đắp những thiệt hại đó chúng tăng cường bóc lột nhân dân Bộ phận còn lại là địa chủ vừa và nhỏ chiếm phần lớn, họ không có thế lực do các hào lý nhũng nhiễu và bức bách, bị thiệt hại do chính sách ăn cướp của đế quốc Pháp nên quyền lợi thường xuyên bị uy hiếp Do đó bộ phận này có thái độ bất bình với Pháp và trong chừng mực nào đó họ đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống
đế quốc, tay sai
Giai cấp tư sản ở Anh Sơn ở phương diện nào đó cũng bất bình với Pháp về chính sách thuế khóa, chính sách trưng thu và trưng mua nên mâu thuẫn giữa tư sản Anh Sơn với đế quốc Pháp ngày một tăng và trong một chừng mực nhất định họ đứng về phong trào đấu tranh của nhân dân Trí thức, viên chức cũng bị bóc lột nặng nề, họ phải làm việc thay cho những viên chức
bị điều động đi phục vụ chiến tranh Nhiều học sinh bị thất học, viên chức mất việc làm, đồng lương bị giảm sút