1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá giáo dục ở việt nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất

81 800 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - giáo dục ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trứoc chiến tranh thế giới thứ nhất
Tác giả Lê Thị Thủy
Người hướng dẫn Th.s Lê Đức Thảo
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

bộ giáo dục - đào tạo

trờng đại học vinh

khoa lịch sử -

Lê Thị Thủy

khoá luận tốt nghiệp đại học

cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - giáo dục

ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc

chiến tranh thế giới thứ nhất

Đề tài này đợc hòan thành ngoài sự cố gắng của bản thân thì còn

đ-ợc sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô trong khoa Lịch sử - Đại học Vinh,

đặc biệt là thầy Lê Đức Thảo - Ngời trực tiếp hớng dẫn em rất tận tình, chu đáo kể từ khi em nhận đề tài đến khi hòan thành bản luận văn này.

Trang 2

Em xin đợc chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy cô

Qua đây, em cũng xin cảm ơn các cô th viện của khoa, trờng, tỉnh đã tạo điều kiện giúp đỡ em về mặt tài liệu.

Vinh, ngày 01 tháng 05 năm 2003

Sinh viên: Lê Thị Thuỷ

Trang 3

dẫn luận:

1 Lý do chọn đề tài:

Tiếp theo tiếng súng xâm lợc, sau những đảo lộn dữ dội của thời kỳxung đột vũ trang, song song với việc sử dụng quân đội để đàn áp là một cáidây lọng vô hình của thực dân Pháp nhằm xiết chặt ách thống trị, nô dịchcủa chúng đối với nhân dân ta hơn nữa - Dây lọng vô hình đó đ ợc ngụytrang bằng hình thức tổ chức tổ chức giáo dục và những chính sách về vănhoá dới những chiêu bài đẹp đẽ "Truyền bá văn minh", "Khai hoá"… Chúng hy vọng sẽ đem cái gọi là "Văn minh phơng Tây" để làm lung lạctinh thần và ý chí của ngời dân thuộc địa Nhng cũng chính trên mặt trận t-ởng chừng nh hòa bình, yên ả, mặt trận mà thực dân Pháp đinh ninh làchúng có thể dễ dàng thâm nhập áp đặt những chính sách thực dân thì phongtrào đấu tranh của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nớc tiến

bộ diễn ra sôi nổi và không kém phần quyết liệt

Nghiên cứu cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại ách thống trịcủa thực dân Pháp vào những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớc chiến tranh thếgiới lần thứ nhất đã đợc rất nhiều học giả và các nhà khoa học quan tâm.Song, những nghiên cứu đó còn đang nghiêng về các cuộc đấu tranh chínhtrị, quân sự, kinh tế còn các cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá - giáo dụccha đợc đề cập một cách sâu sắc mà mới ở mức khái quát

Chính sách văn hoá - giáo dục là một bộ phận cấu tạo, gắn chặt hữucơ đối với các chính sách quân sự, kinh tế, chính trị trong chính sách cai trịcủa thực dân Pháp Do đó, việc nghiên cứu cuộc đấu tranh trên mặt trận vănhoá - giáo dục từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giớithứ nhất sẽ góp phần dựng lại toàn cảnh cuộc đấu tranh của nhân dân ta mộtcách toàn diện hơn

Mặt khác, tìm hiểu cuộc đấu tranh trên phơng diện văn hoá - giáo dục

từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất còn chothấy bản chất thống trị thực dân của Pháp áp dụng tại Việt Nam, đồng thờithông qua đó, nó sẽ giáo dục cho ngời dân Việt Nam tinh thần giữ gìn, bảo

vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc

Trang 4

Là một sinh viên chuyên ngành Lịch sử, việc đi sâu và tiếp cận vấn đềnày sẽ giúp cho chúng tôi có thể hiểu sâu hơn nữa và một cách có hệ thốngcuộc đấu tranh của nhân dân ta vào những năm đầu thế kỷ XX Hơn nữa,nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp ích cho chúng tôi có thêm nhiều tri thức bổích trong việc giảng dạy ở trờng phổ thông sau này

Với những lý do trên, chúng tôi chon đề tài:

"Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá- giáo dục ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất".

Mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng trong việc tiếp cận tài liệu, thếnhng do thời gian không nhiều và đặc biệt, năng lực nghiên cứu của bảnthân có hạn nên chắc chắn đề tài sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong đ ợc sựgóp ý của thầy cô và các bạn để bản luận văn này đợc hòanchỉnh hơn

2 Lịch sử vấn đề.

"Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - giáo dục ở Việt Nam từ nhữngnăm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất" là một bộ phậnhữu cơ trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta Mặc dù vậy, cho đến nay vẫncha có một công trình chuyên khảo nào về vấn đề này Tuy nhiên, vấn đềnày cũng đã đợc đề cập tới ở những mức độ khác nhau với những mục đíchkhác nhau trong các công trình khoa học

2.1 Tác giả Chơng Thâu (1992), "Đông Kinh nghĩa thục và phongtrào cải cách văn hoá" của NXB VHTT đã đề cập khá đầy đủ mục đích, nộidung cải cách văn hoá và đóng góp của Đông Kinh nghĩa thục trong phongtrào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX nhng đó chỉ là phong trào diễn ra ởBắc Kỳ và một phần Trung Kỳ mà thôi

2.2 Cuốn "Lịch sử Việt Nam 1897 - 1918" do Đinh Xuân Lâm chủbiên, NXB QGHN, đã nêu lên tiến trình lịch sử của dân tộc ta từ năm 1897 -

1918 Tuy nhiên, trong tác phẩm này, những chính sách văn hoá - giáo dục

mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam còn ở mức khái quát và các cuộc

đấu tranh của nhân dân ta từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớc chiếntranh thế giới thứ nhất còn mang nặng tính chất quân sự, chính trị nhiều hơn

là văn hoá - giáo dục

Trang 5

2.3 Tác giả Nguyễn Văn Xuân (2000), "Phong trào Duy tân", NXB

Đà Nẵng đã nêu đợc:

- Những nhà cải cách, duy tân

- Căn cứ phong trào duy tân

- Hoạt động của phong trào

Trong tác phẩm này, tác giả đã đa ra những nhận định về phong tràoDuy tân nhng phong trào với t cách là 1 cuộc vân động về văn hoá - giáodục thì hầu nh tác giả cha đề cập đến một cách sâu sắc

2.4 Nguyễn Đăng Tiến, "Lịch sử giáo dục Việt Nam tr ớc năm 1945",trong đó, tác giả đã nêu lên đầy đủ tiến trình lịch sử giáo dục n ớc ta trớcnăm 1945, nền giáo dục Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớcchiến tranh thế giới thứ nhất chỉ là một giai đoạn của quá trình lịch sử đó

… … … Ngoài ra, vấn đề này còn đợc nói tới rải rác trên các tạp chí nghiêncứu lịch sử và một số tạp chí khác liên quan

Trên cơ sở tìm hiểu, tham khảo các công trình đã nghiên cứu tr ớc,chúng tôi cố gắng bổ sung và hệ thống hoá để hòan chỉnh về cơ bản cuộc

đấu tranh của nhân dân ta trên lĩnh vực văn hoá giáo dục vào những năm

đầu thế kỷ XX

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Từ lịch sử vấn đề trên, chúng tôi xác định đối t ợng nghiên cứu chủyếu của đề tài là: Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - giáo dục ở ViệtNam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất

Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - giáo dục là cuộc đấu tranh lâudài và phức tạp chống lại sự nô dịch của kẻ thù Nh ng do thời gian có hạn,luận văn này chỉ giới hạn từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớc chiếntranh thế giới thứ nhất

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Nguồn tài liệu chủ yếu của luận văn là các công trình khoa học củacác học giả, các nhà nghiên cứu, các tài liệu giáo trình nh: Lịch sử ViệtNam 1897 -1918, Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hoá…

Trang 6

Ngoài ra, còn có một số bài báo đăng rải rác trên các tạp chí nhữngvấn đề liên quan.

Đây là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Để giải quyết đề tàinày, chúng tôi dựa trên:

- Cơ sở phơng pháp luận: là lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về công tác nghiêncứu khoa học

- Phơng pháp nghiên cứu: Ngoài việc sử dụng ph ơng pháp lịch sử vàphơng pháp lôgic là chủ yếu, chúng tôi còn sử dụng một số ph ơng pháp hỗtrợ nh: Mô tả, giải thích để rút ra nhận xét

Về cơ bản đề tài đợc nghiên cứu khách quan, chân thực, đảm bảo đợctính khoa học của một công trình nghiên cứu

5 Bố cục của đề tài.

Dẫn luận.

Nội dung: gồm có 2 chơng:

Ch

ơng 1: Tình hình văn hoá - giáo dục Việt Nam dới chế độ thống trị

của thực dân Pháp từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớc chiến tranh thếgiới thứ nhất

Ch

ơng 2 : Cuộc đấu tranh chống chính sách văn hoá - giáo dục nô

dịch của thực dân Pháp ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớcchiến tranh thế giới thứ nhất

Kết luận

Tài liệu tham khảo.

Mục lục.

Trang 7

Nội dung.

Ch

ơng 1: Tình hình văn hoá - giáo dục Việt Nam dới chế độ

thống trị của thực dân Pháp từ những năm cuối thế kỷ XIX

đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất.

1.1 Mục đích của thực dân Pháp trong việc thi hành chính sách văn hoá - giáo dục ở Việt Nam.

"Thật không thể nào để cho ngời An Nam đợc học lịch sử và đọc sáchcủa chúng ta mà lại không gây cho họ lòng yêu nớc, yêu tự do … Kinhnghiệm của các dân tộc Châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nềnhọc vấn đầy đủ cho ngời bản xứ là hết sức dại dột"{12,164}

Lời khẳng định của viên thống sứ Bắc Kỳ trong báo cáo gửi toànquyền Đông Dơng đề ngày 01/03/1899 cũng đợc xem nh là t tởng chỉ đạochung của bọn thực dân Pháp trong việc đề ra một chính sách văn hoá - giáodục trên đất nớc ta Chính sách này xuất phát từ những mục đích thống trịcủa chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam

1.1 Xoa dịu tinh thần đấu tranh của ngời bản xứ.

Vào thế kỷ XIX, nền công thơng nghiệp t bản chủ nghĩa phát triểnmạnh mẽ Yêu cầu về thị trờng tiêu thụ, vơ vét nguyên liệu, bóc lột nhâncông rẻ mạt đặt ra cấp thiết và là động lực thúc đẩy nh nớc Pháp tiến hànhcác cuộc tìm kiếm thuộc địa, thôn tính các n ớc đang nằm trong tình trạnglạc hậu, yếu kém Việt Nam là một trong số các nớc kém phát triển đó

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm l ợc nớc ta Qua gần 40 nămxâm lợc và bình định đất nớc ta, thực dân Pháp đã rút ra bài học là: Dân tộcViệt Nam là một, đất nớc Việt Nam là một Tính thống nhất về mặt lãnh thổ,tính thống nhất về mặt dân tộc, cùng với nền văn hoá đợc hình thành trongquá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớc đã làm nên sức mạnh thần kỳ củadân tộc Việt Nam Việc đặt ách thống trị của thực dân Pháp lên đất n ớc ViệtNam không dễ dàng nh chúng mong tởng theo kế hoạch "đánh nhanh, thắngnhanh" đã đợc vạch ra từ trớc Nhân dân Việt Nam với truyền thống yêu n-

ớc, với tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm bất khuất đã không ngừng

đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân Pháp bất chấp sự đầu hàngnhục nhã của triều đình phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ Những cuộc

Trang 8

khởi nghĩa của Trơng Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân… ngay từ khi thực dân Pháp mới đặt chân lên Nam Kỳ cũng nh các cuộc khởinghĩa của Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, NguyễnThiện Thuật, Hòang Hoa Thám, các cuộc vận động Duy Tân của Phan BộiChâu và các sĩ phu yêu nớc trong phong trào Đông Du, Đông Kinh NghĩaThục… về sau này suốt từ Nam chí Bắc đã làm cho thực dân Pháp khôngmột phút nào ăn ngon ngủ yên Nếu một nơi nào đó hoặc một lúc nào đó ch a

có cuộc khởi nghĩa vũ trang quyết liệt thì đó chẳng qua chỉ là sự yên tĩnh bềngoài mà thôi

Thực dân Pháp cũng đã nhận thấy điều đó Prôtpe Quyntruy (ProsperCultru)- một nhà sử học thực dân khi viết về lịch sử cuộc xâm l ợc Nam Kỳcủa chúng đã phải thú nhận rằng: "Những ngời nông dân do ruộng đất, mùamàng và súc vật của hộ ràng buộc mà ở lại trong xứ này (tức là các vùng bịchiếm ở Nam Kỳ chứ không bỏ đi ra các vùng cha bị xâm lăng) dới mộttrạng thái khuất phục bề ngoài chứ hòan toàn không có sự khuất phục vềtinh thần" 5,179.

Vấn đề này làm cho chính quyền thực dân vô cùng băn khoăn, lo lắng Cần phải có một giải pháp hỗ trợ bên cạnh việc dùng áp lực quân sự, phải có mộtchính sách mang dáng vẻ mềm dẻo và hòa bình hơn song song tồn tại vớichính sách bạo lực để làm dịu tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam vìtrên thực tế, việc sử dụng quân đội đàn áp và bình định đã cho thực dânPháp thấy rằng nó chỉ ghê thêm lòng hận thù của nhân dân Việt Nam màthôi Nếu tiếp tục sử dụng bạo lực thì ngọn lửa đấu tranh đó sẽ bùng lênmạnh mẽ Hơn nữa, thực dân Pháp hiểu rằng mối đô hộ một dân tộc - nhất làmột dân tộc đã có một nền văn hoá lâu đời hơn n ớc Pháp nếu "chỉ có chinhphục đất đai thôi thì cha đủ" mà cần "phải chinh phụ tâm hồn", "Cần phảithuyết phục và lôi kéo lí trí và trái tim (của ng ời bản xứ) vốn đã bị mọi cách

đầu tiên làm cho khiếp đảm" {7}tức là mua chuộc, lừa bịp để chứng minh vàhợp lý hoá công cuộc chinh phục của chúng sau khi đã xâm lăng và đàn ápvô cùng dã man bằng quân đội và vũ lực Nhng bằng phơng thức và công cụgì? Điều này đã đợc thực dân Pháp dễ dàng tìm đợc sự thống nhất Theochúng, trong "Công cuộc chinh phục tâm hồn" đó thì ph ơng thức mạnh nhất,

Trang 9

dễ dàng và chắc chắn nhất trong tay kẻ đi xâm l ợc là văn hoá - giáo dục Chỉ

có thể bằng văn hoá - giáo dục dới nhiều hình thức tinh vi và xảo quyệt khácnhau, chúng mới dựng nên những chiêu bài hấp dẫn, những cơ sở lý luậnnhằm biện minh cho hành vi tội ác của chúng, ru ngủ kẻ bị trị, biến họ thànhmột thứ "nô lệ tự nguyện", tinh thần đấu tranh của họ sẽ bị thui chột.G.Đumuchiê (G.Đumoutier) - một tên thực dân đã nói lên mục đích của việc

đề ta những chính sách văn hoá - giáo dục của chúng khi trích dẫn câu nóicủa Khang Hy:

"Pháp luật chỉ đàn áp đợc một thời gian

Chỉ có giáo dục mới chinh phục con ngời mãi mãi"

Âm mu thâm độc của thực dân Pháp còn đợc thể hiện rõ hơn rằng:

"Mỗi khi ngời ta muốn thay đổi hình dáng hoặc màu sắc một cái cây, ng ời

ta không thể bắt đầu vơí những cây đã phát triển hòan toàn và đã sinh hoakết quả mà ngời ta phải tác động đến các hạt, phải chăm sóc, điều khiển việcnảy mầm và phát triển của nó trong những miếng đất đợc chọn lọc và chuẩn

bị đầy đủ Muốn biến cải một dân tộc cũng phải làm nh vậy Ngời ta sẽ thấtbại nếu tấn công trực diện và một nền văn minh cổ trên 2000 năm nh nềnvăn minh này" {7}

Vì lẽ đó, chính sách văn hoá - giáo dục là công cụ tốt nhất

1.2 Nhằm phục vụ lợi ích của chính quyền thực dân.

Mục đích lớn nhất của thực dân Pháp khi thiết lập nền thống trị ở ViệtNam là nhằm nô dịch nhân dân Việt Nam, biến đất nớc Việt Nam thành thịtrờng độc chiếm, một nơi sản sinh lợi nhuận nhanh chóng và có thể bảo đảmcho thế lực t bản tài chính đang thống trị nớc Pháp Thế nhng, những kếhoạch và ý định của thực dân Pháp lại không "xuôi chèo, mát mái" bởi sự

đấu tranh liên tục của nhân dân Việt Nam Do đó, bằng mọi biện pháp sẵn

có, thực dân Pháp tìm cách thực hiện cho kỳ đợc mục đích thống trị chung

đó, kể cả nền văn hoá - giáo dục Nền văn hoá - giáo dục ấy đã đ ợc thực dânPháp có ý thức sử dụng làm công cụ thống trị "phải có tác dụng tăng c ờngdồi dào giá trị sản xuất của thuộc địa" {7}

Trang 10

Văn hoá là sản phẩm gắn liền với dân tộc Suy cho cùng, đời sống củacon ngời tuy phải chạm mặt, ứng xử, đối phó và hoạt động với nhiều lĩnhvực nhng chung quy lại chỉ có 2 lĩnh vực bao trùm: Một bên đảm bảo sự tồntại của thân xác, một bên đảm bảo chất ng ời trong con ngời và bên nàocũng đảm bảo chất lợng sống từ thấp lên cao Đó là hai mặt: Kinh tế và vănhoá Sức mạnh của văn hoá trong lịch sử của dân tộc là hết sức to lớn Mộtnền văn hoá giàu truyền thống bản sắc dân tộc nếu để cho nó phát triển nh ởViệt Nam - một nớc thuộc địa, sẽ đồng nghĩa với việc thực dân tự loại bỏmình ra khỏi cuộc xâm lợc này Thực dân Pháp ý thức rõ rằng chính nền vănhoá tồn tại lâu đời ở xứ sở này đã hun đúc nên lòng yêu n ớc, tinh thần đấutranh bất khuất của nhân dân Việt Nam.

Và một khi ở thuộc địa không "ổn định" thì chính quyền thực dânkhông thể "yên tâm" cho công cuộc khai thác thuộc địa

Chính vì vậy, trong quá trình thiết lập sự thống trị và củng cố nềnthống trị một cách vững chắc nhất thì thực dân Pháp cần phải có những biệnpháp nhằm đầu độc nền văn hoá của dân tộc Việt Nam, biến nó thành mộtnền văn hoá nô dịch

Thông thờng, giáo dục đợc xem nh làm một phơng tiện hữu hiệu nângcao trình độ dân trí, văn hoá của dân tộc, tạo tiền đề cho sự phát triển ngàycàng cao của một nền văn minh nhân loại Song, dới thời thống trị của thựcdân Pháp, giáo dục lại đợc nâng lên nh một "đối sách" nhằm ổn định tìnhhình thống trị

Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tại Việt Nam đặt rayêu cầu cần phải có một đội ngũ tay sai trung thành, thừa hành ngoan ngoãn

để giúp việc cho bộ máy cai trị của chúng, bởi một lẽ tất nhiên là không một

kẻ đi xâm lợc nào lại có thể nhanh chóng hiểu tờng tận gốc rễ về dân tộc bịxâm lợc cả Đô đốc Bô-na (Bornard) cũng đã nói rõ quan điểm trong bức th

đề ngày 27/02/1861 gửi Bộ trởng Hải quân: "Thay thế một cách đột ngột,

đến tận gốc bộ máy cai trị An Nam bằng một số sỹ quan (ngời Pháp) màphần lớn không biết đến cả tiếng nói và phong tục tập quán của xứ này ng ời

ta chỉ gây nên một sự hỗn loạn" {5,183}

Trang 11

Vậy đội ngũ thân cận đó sẽ phải lấy từ đâu? An - be Xa-rô (AlbertSarraut) - Nguyên Toàn quyền Đông Dơng trớc và trong chiến tranh thế giớithứ nhất, trong một văn bản của Bộ Thuộc địa Pháp đã "đúc kết" và đ a ra chỉ

đạo: "Giáo dục phải chọn lọc và đào tạo những ng ời hợp tác, những côngchức bản xứ mà tiền lơng của họ lại trả ít tốn kém hơn đối với Ngân sáchthuộc địa :phải huấn luyện cho các "nhà cầm quyền bản xứ " quen việc màcác hiệp ớc bảo hộ và sự sáng suốt của một chính sách chính trị sơ đẳng bắtchúng ta có bổn phận phải duy trì họ làm trung gian giữa chúng ta và dântộc ngời bản xứ " {5,184}

Nh vậy, giáo dục là cứu cánh duy nhất để giải quyết nhu câù cấp thiết

đó Và trên thực tế, lúc đầu, thực dân Pháp đã tìm cách lôi kéo, mua chuộctầng lớp sỹ phu là những ngời có uy tín trong xã hội đơng thời nhằm thựchiện ý đồ đó Nhng âm mu đó không đợc nh ý bởi sự bất hợp tác của các sỹphu vốn chỉ xem chúng là kẻ thù Tình hình đó buộc những nhà cai trị cần

mở rộng một hệ thống giáo dục khác để đào tạo nhanh chóng một đội ngũphò tá mới đồng thời mau chóng thoát khỏi ảnh hởng thù địch của tầng lớp

sỹ phu Do đó mà chúng ta cũng không lấy làm lạ rằng ch ơng học đầu tiênthực dân Pháp tổ chức ở Việt Nam vào năm 1861 là trờng đào tạo thôngngôn

Tuy nhiên, những đội quân đó, theo thực dân Pháp dù sao cũng là

"những ngời trung gian á châu, họ tỏ ra không đáng tin cậy và trong côngviệc của họ làm rất mất thì giờ" {7} Hơn nữa, những yêu cầu cho công cuộckhai thác thuộc địa đặt ra cao hơn và do đó cũng đặt ra cho thực dân Phápnhững yêu cầu về ngời giúp việc và cách cai trị

Do đó, một yêu cầu mới lại đặt ra cho những nhà cầm quyền Pháp làcần thiết lập nhanh chóng những mối quan hệ trực tiếp, càng nhiều càng tốtgiữa bọn chúng với nhân dân Việt Nam Mục đích của việc làm đó khôngphải là để tạo mỗi quan hệ thân mật, bình đẳng giữa hai dân tộc Việt - Pháp

mà bản chất vấn đề ở chỗ: Ngời Pháp có thể giao tiếp thẳng vời ngời ViệtNam và kiểm soát trực tiếp công việc của ngời bản xứ Về điều này, Bờ -săng - xông Giuy - cơ (Besancon Jules) - một giáo s Pháp ở Nam Kỳ đã nóimột cách trắng trợn là: "làm cho việc giao dịch đợc thuận lợi bởi vì một nớc

Trang 12

chỉ đi tìm thuộc địa để tiêu thụ hàng hoá của nó và tìm ra thị tr ờng cho thủcông nghiệp và công nghiệp của nó" {7}.

Sự bất đồng về ngôn ngữ là một khó khăn trực tiếp trong quá trìnhgiao dịch vì chỉ có khi thống nhất đợc ngôn ngữ thì ngời ta mới đối thoại màkhông cần đến thông ngôn Nhng phải khắc phục bằng cách nào thì điều đókhông dễ Hoặc là những nhà cầm quyền Pháp phải học và nói tiếng Việtsong cách giải quyết này xem chừng không khả thi vì nó đòi hỏi ng ời họcphải kiên nhẫn và mất thời gian Hoặc là phải tìm cách bắt ng ời bản xứ phảihọc một thứ chữ để tiện bề giao tiếp, cách này có thể thực hiện đ ợc Muốnvậy, thực dân Pháp cần phải đặt ra một hệ thống giáo dục mới

Nh vậy, chúng ta thấy rõ ràng là những chủ trơng phát triển văn hoá giáo dục ở Việt Nam dới thời Pháp thuộc hòan toàn không hề xuất phát từnhững cái gọi là "sứ mệnh khai hoá", nhiệm vụ "truyền bá văn minh" màbọn thực dân Pháp thờng huyênh hoang dùng làm chiêu bài che dấu dã tâm

-ăn cớp của chúng Những lý do thực sự thúc đẩy thực dân Pháp đề ra chínhsách văn hoá- giáo dục đều xuất phát từ những quyền lợi ăn c ớp và bóc lộtcủa chúng ở các nớc thuộc địa

2 2."Khai hoá văn minh"hay thực chất là một nền văn hoá nô dịch, một chính sách ngu dân để dễ bề cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam

từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất.

Thực dân Pháp luôn luôn dựng lên chiêu bài của một n ớc văn minh đi

"khai phá, truyền thụ " ở các nớc còn lạc hậu Nhng thực tế có giống nhnhững gì mà thực dân Pháp rêu rao hay không?

2.2.1 Chính sách giáo dục:

Những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất lànhững năm biến đổi to lớn của xã hội ta Bên trong, cùng với việc đầu t khaithác thuộc địa và mở rộng bộ máy cai trị của thực dân , những biến chuyểnlớn đã diễn ra trong cơ sở kinh tế và trong các tầng lớp xã hội Bên ngoài thì

ảnh hởng của phong trào cải cách của một số n ớc á đông dội sang Nhữngbiến đổi quan trọng trên là cơ sở cho những chuyển biến về t tởng của tầnglớp sĩ phu phong kiến yêu nớc tiến bộ

Trang 13

Trong tình hình đó, chế độ giáo dục cũ của Nhà nớc phong kiến triềuNguyễn cùng với chế độ khoa cử đã lỗi thời đợc thực dân Pháp triệt để lợidụng, duy trì làm chỗ dựa để phát triển giáo dục thực dân Nói rõ hơn, nếu

nh thời kỳ trớc, chữ Nho còn là công cụ đợc các sĩ phu sử dụng chống lạithực dân thì bớc sang thời kỳ này, nó đã mất hết tác dụng tích cực Để muachuộc và tranh thủ sự hợp tác của trí thức phong kiến Việt Nam khi đã b ớc

đầu bình định xong, thực dân Pháp chủ trơng duy trì nền giáo dục cũ mu-chi-ê (Dumoutier) đã nói toạc ra: "Chúng ta biết rõ rằng không phải thủtiêu hẳn nó (giáo dục phong kiến) nh ngời ta đã đề nghị, làm nh thế chẳngkhác gì phế bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn từ Trung Quốc mà phải tómlấy nó để có lợi cho chúng ta" {5,195}

Đuy-Và kể từ khi Đu-me sang làm Toàn quyền Đông Dơng 3/1902) thì đờng lối giáo dục chung của Pháp ở Việt Nam về cơ bản đợchòan thành Trong một báo cáo trớc Hội đồng tối cao Đông Dơng vào tháng2/1902, Đu-me khẳng định: "Những nguyên tắc đã làm trong xã hội ng ờibản xứ, gia đình đợc vững mạnh, cha mẹ đợc kính trọng, chính quyền đợctuân thủ đều đợc rút ra từ các sách Hán học dạy ở các trờng làng Ngay từkhi học những chữ đầu tiên, họ đã học đợc ngay những nguyên tắc nền tảngcủa luân lý Nho giáo, họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ h ớngdẫn họ trong cả cuộc đời Chính các trờng làng đã đem lại cho họ nền họcvấn đó" {3,26}

Đến năm 1906, cả nớc mới chỉ có 25 trờng loại này

Tuy nhiên, trong khi lợi dụng nền giáo dục cũ, tuỳ vào những thời

điểm cụ thể của công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cũng đã cómột số cải cách nhỏ giọt Năm 1898, Đu-me lập tr ờng Viễn Đông với mục

Trang 14

đích lãnh đạo cuộc cải cách giáo dục khi thời cơ đến Nh ng phải đến dớithời của Toàn quyền Bô (Beau), với chủ trơng nắm lấy các trờng thì công tácgiáo dục mới đợc đẩy mạnh hơn bao giờ hết Tháng 11/1905, Bô đã đa ramột nghị định thành lập Nha học chính Đông Dơng để nghiên cứu, sửa đổichơng trình giáo dục

Cuộc cải cách do Toàn quyền Bô đa ra đợc thực hiện mạnh mẽ quacác nghị định ngày 8/3 và ngày 6/5/1906 Cụ thể là nghị định ngày 8/3 năm

1906 thành lập Hội đồng cải lơng học chính bản xứ Hội đồng này có nhiệm

vụ nghiên cứu các vấn đề để cải tổ nền giáo dục cũ, cải cách các kỳ thi H

-ơng ở Bắc và Trung Kỳ Còn nghị định - 6/5/1906 hòan chỉnh nghị định trênbằng cách thành lập ở mỗi xứ Đông Dơng một Uỷ ban cải lơng học chính

Chủ trơng của viên Toàn quyền này thực hiện ở Nam và Bắc Kỳ, còn ởTrung Kỳ thì thực dân Pháp dật dây vua quan Nam Triều hoạt động Nhữngcải cách của Toàn quyền Bô có nội dung cụ thể nh sau:

- Giáo dục bậc tiểu học trớc đây có mặc cho thôn xã hay t nhân naytrở thành của Nhà nớc với tên là Đệ nhị cấp (tiểu học) và đệ tam cấp (Trunghọc)

- Chơng trình học phải sửa đổi, thêm những việc học nh ngày trớc lànhững điều khẩn yếu của khoa học phơng Tây và những tri thức thực dụngnhất

- Nền giáo dục cũ đợc chia làm 3 bậc:

+ Bậc ấu học (Sơ cấp): Là trờng hàng tổng mở ra cho nam, nữ sinh

đ-ợc đặt dới quyền kiểm soát của huấn đạo và giáo thụ

+ Bậc tiểu học (đệ nhị cấp): Bậc này đặt ở phủ huyện, trong các tr ờngcủa huấn đạo hay giáo thụ

+ Bậc trung học (đệ tam cấp): Bậc này đặt ở Tỉnh lị, trong nhà tr ờngcủa đốc học Học sinh tốt nghiệp trung học đợc dự thi kỳ thi Hơng 3 năm

có một khoá thi Hơng - kỳ thi này vẫn theo hình thức và nghi lễ nh trớc,gồm có 4 môn thi:

Môn chữ Nho và văn sách gồm có 5 đầu bài khác nhau

Một kỳ môn chữ Việt

Trang 15

Một kỳ môn dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và từ chữ Nho sangchữ Pháp.

Một kỳ phúc hạch để chọn cử nhân gồm 1 bài Nho, một bài tiếng Việt

và một bài dịch chữ Pháp sang chữ Nho Tuỳ theo thứ bậc ngời đậu mà chialàm 2 bậc: Cử nhân và tú tài

Thi Hội và thi Đình cha có gì thay đổi

Cải cách giáo dục của Toàn quyền Bô còn chú ý đến việc đào tạo giáoviên, các lớp s phạm thờng xuyên mở ở Hà Nội, theo Nghị định ngày30/7/1907 sẽ đào tạo giáo viên bậc ấu học Riêng đối với giáo viên bậc tiểuhọc và trung học do còn gặp nhiều khó khăn nên chúng chủ tr ơng sẽ

"Chuyên môn hoá các quan viên ngạch giáo dục", tức là tr ớc đây trongngạch quan chức phong kiến, chức nghiệp giáo dục ch a tách khỏi chứcnghiệp hành chính thì nay cần phải đào tạo một ngạch quan lại về giáo dục.Vì lẽ đó nên trờng Hậu bổ từ năm 1900 đã có một khu s phạm bên cạnh khuhành chính

Năm 1906, để ngăn chặn luồng thanh niên xuất d ơng sang Nhật học(phong trào Đông du), Pháp ban hành một đạo luật tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ

đe doạ những gia đình có con em tham gia phong trào vận động cứu n ớc

Đồng thời, nhằm tranh giành ảnh hởng với Đông Kinh nghĩa thục và cũng

để cổ động cho thế lực Pháp ở á đông, đào tạo ra tầng lớp "Thợng lu tríthức" mới sẵn sàng cộng tác với chúng, thực dân Pháp đã thành lập một tr -ờng "Đại học" gọi là Học Quy tân trờng Trờng này chỉ nặng về hình thức

mà không chú trọng đến nội dung, là trờng "Đại học phổ thông để khai dẫncho kẻ thợng lu Việt Nam biết minh học thuật của quý (mẫu) quốc" nh ng nócũng thật là "vu khoát" đến nỗi Phạm Quỳnh cũng phải nhận xét là: "Trunghọc dự bị cha có mà đã đặt đại học nh thế thì cũng trái ngợc thật" (Sự tiếnhoá về đờng tinh thần của ngời Việt Nam) {3,28} Thế rồi, năm 1908 do xảy

ra nhiều vụ lộn xộn, trờng này bị hạ lệnh đóng cửa Phải chờ đến khi An - be

Xa - rô sang làm Toàn quyền mới mở lại trờng Đại học để thu phục nhântâm Năm 1913, số học trò trờng công ở Đông Dơng mới đợc có 99950 ngời,tính ra trong 100 dân Đông Dơng cha đợc 6 ngời đi học trờng công năm đó

Trang 16

Bên cạnh đó, chính quyền cai trị cũng bắt đầu mở các tr ờng kỹ thuật

và chuyên nghiệp vì theo chúng: "Một nguyên tắc cho sự nghiệp giáo dụccủa chúng ta: Giáo dục bản xứ trớc tiên cần có tính chất thực hành và thực tế cần chú trọng tr

… ớc tiên theo lợi ích kinh tế của việc giáo dục đám đông

và chính với mục đích thiết yếu này mà chúng ta nỗ lực phát triển rộng rãinền tiểu học, giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp" {3,29} Vì vậy, các tr ờngchuyên nghiệp và xởng học nghề, các trờng kỹ nghệ thực hành, trờng mỹnghệ thực hành, trờng thợ máy đợc mở ra nh trờng Cơ khí á Châu (Ecoledes Mécaniciens Asiatiques) ở Sài Gòn (1906), tr ờng Mỹ thuật Gia định(1913)… Thực dân Pháp còn chú ý mở những lớp huấn luyện y tế để đào tạonhững y công và nữ hộ sinh ngời bản xứ nh trờng Ysỹ Hà Nội mở ra từ năm

1914 Nhng tất cả các trờng này quy mô rất hạn hẹp Chẳng hạn, từ 1902

-1914, trờng y sỹ Hà Nội chỉ đào tạo đợc 237 y sỹ, y tá và nữ hộ sinh Thựcchất "các trờng kỹ nghệ thực hành cũng chỉ là các xởng sửa chữa mà trong

đó ngời ta có tổ chức thêm hoặc ghép vào một số lớp học mà thôi" {6}

Thời gian này, ngời Pháp đã lập ra một số cơ quan nghiên cứu khoahọc, thu hút một số ngời Việt Nam làm việc Những ngời công tác ở đây dầndần đợc làm quen với khoa học chuyên môn Các viện nh Viện vi trùng học

ở Sài Gòn (mở từ năm 1891), ở Nha Trang (1896), ở Hà Nội (1900); Sở địachất, trờng Viễn Đông bác cổ, Nha khí tợng, Viện nghiên cứu nông nghiệp

và kỹ nghệ… đều thành lập năm 1898; Sở địa lý (1899), Sở kiểm lâm(1901), Sở thú y (1897)… Mục tiêu của các cơ quan này chỉ giới hạn tronglợi ích của giai cấp t sản Pháp nên quy mô rất nhỏ, phơng pháp nghiên cứucòn nhiều khiếm khuyết, tuỳ tiện nên nó để lại không ít những hậu quả xấu,khiến cho nền khoa học của xứ sở này khá què quặt, phiến diện và phụthuộc

Từ năm 1909 trở đi, do áp lực mạnh mẽ của phong trào Duy tân, thựcdân Pháp tiếp tục có sự thay đổi trong học tập và thi cử song cũng rất chầnchừ, trì hoãn Phải đến 1915 mới bãi kỳ thi Hơng ở Bắc Bộ, 1917 ở Trung

Bộ và 21/12/1917 ban hành luật học, đặt nền móng Pháp Việt thay cho nềnhọc cũ

Trang 17

Những chính sách giáo dục của chính quyền thực dân đã bộc lộ rõ âm

mu của chúng trong việc thi hành một chính sách ngu dân khá triệt để, lợidụng nền giáo dục phong kiến làm chỗ dựa,tạo điều kiện cho giáo dục thựcdân phát triển Chúng tiến hành cải tổ về mặt hình thức, còn nội dung vẫnduy trì hệ thống t tởng Nho giáo, đồng thời điểm cho nó một nội dung mới

có vẻ khoa học nhng thực ra cũng chỉ là một nội dung nhằm nô dịch quầnchúng Cái gọi là cải cách của Toàn quyền Bô thực chất là một b ớc tiến hànhcủng cố vững chắc hơn bộ máy cai trị thực dân phong kiến của chúng trênphơng diện giáo dục

Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong giáo dục nổi lên hai vấn đề

- Thứ nhất, duy trì lối học cũ, lối học khoa cử lỗi thời để đào tạo độingũ tay sai kiểu cũ, can tâm làm tay sai cho chính quyền thực dân phongkiến, trung thành với chế độ

- Thứ hai, mở ra tân học, bao gồm một số cải cách ở các bậc họcnhằm đào tạo một lớp tay sai kiểu mới, một lớp ng ời vong bản, quên hết tổquốc, đồng bào Theo giáo s Trần Văn Giàu thì lớp trí thức đầu thế kỷ XXtìm cho ra một ngời làm cách mạng khó hơn tìm sao ban ngày

2.2.2 Chính sách văn hoá.

Dùng văn hóa để xâm lợc và nô dịch các dân tộc khác là một phơngthức cổ truyền của chủ nghĩa đế quốc Cùng với giáo dục, văn hoá đ ợc chínhquyền thực dân coi là công cụ, phơng tiện hữu hiệu thâm nhập vào "đời sốngtâm hồn" của ngời bản xứ Vì lẽ đó, thực dân Pháp rất có ý thức trong việc

đề ra các chính sách văn hoá

Ngôn ngữ bất đồng là một trở ngại rất lớn trong công cuộc thống trịcủa thực dân Pháp Cần phải có một mẫu tự thống nhất Thực dân Pháp thấyrằng để có thể dễ dàng tiếp tục công việc đồng hoá dân tộc Việt Nam vớidân tộc Pháp và không "mở rộng thêm cái hố ngăn cách dân tộc này với dântộc kia" thì cần phải phổ biến tiếng Pháp, "mẫu quốc hiểu rằng không nên từ

bỏ nguyên tắc làm cho tiếng nớc bảo hộ thâm nhập càng sâu, càng tốt vàocác tầng lớp dân chúng nông thôn bản xứ" {5,182} Tuy nhiên, việc phổbiến tiếng Pháp gặp khó khăn do thiếu giáo viên dạy trực tiếp và việc đào

Trang 18

tạo giáo viên lâu hơn, đòi hỏi ngân quỹ sẽ tốn kém hơn nên họ chủ tr ơng

"cần phải đi từ từ, phải đành lòng dùng những ph ơng tiện vừa có sức thuyếtphục lại vừa là những phơng tiện ít tốn kém đồng thời ít chính trị hơn, vữngchắc hơn"{7}, tức là có thể dùng chữ quốc ngữ làm chuyển ngữ trong vàilớp đầu tiên rồi sau đó mới chuyển sang học lại bằng tiếng Pháp "Việc dạycho ngời bản xứ có thể đọc và viết chữ quốc ngữ đối với chúng ta là một lợiích lớn, công chức thơng gia của chúng ta có thể học nó rất dễ và những mốiliên hệ giữa chúng ta với ngời bản xứ cũng sẽ trở nên rất thuận tiện" {7}.Mặt khác, việc phổ biến chữ quốc ngữ cũng giúp cho thực dân Pháp mauchóng thoát khỏi ảnh hởng của tầng lớp sỹ phu đã luôn luôn làm cho chúnglúng túng về sự bất hợp pháp của họ cũng nh việc họ lợi dụng sự bất lực củachúng trong việc kiểm soát các trờng Hán học để tuyên truyền chống lạichúng

Báo chí là một công cụ tuyên truyền đắc lực cho những chủ tr ơng

"khai hoá" của thực dân Pháp ở Việt Nam Đồng thời báo chí còn có mộtchức năng quan trọng là làm nhiệm vụ tổ chức, có tác động đến không nhỏ

t tởng, tâm lý của con ngời, tạo nên các d luận trong đời sống xã hội Do đó,lĩnh vực báo chí đợc kiểm duyệt rất gắt gao, nhất là báo chí bản xứ Sắc lệnhnăm 1898 của chính quyền thực dân quy định: "báo tiếng Việt không đ ợcxuất bản nếu không đợc phép của quan Toàn quyền Giấy phép chỉ đợc cấpvới điều kiện là các bài báo phải đợc quan thống đốc duyệt trớc Giấy phép

ấy có thể rút lúc nào cũng đợc","mọi cuộc trng bày hoặc phổ biến những bàihát, biếm hoạ hoặc tranh ảnh làm thơng tổn đến sự tôn kính đối với các nhàcầm quyền đều bị trừng trị" {4,129} Với âm mu ngăn chặn ảnh hởng của tấtcả các loại t tởng tiến bộ trên thế giới xâm nhập vào Việt Nam, "phong toả"

t tởng của nhân dân Việt Nam hòng khống chế đợc tinh thần và t tởng của

họ, lái họ theo con đờng do chúng đã vạch sẵn tức là ngoan ngoãn cúi đầulàm nô lệ cho chúng, thực dân Pháp đã cấm đoán tất cả các loại sách báotiến bộ, dù là theo chiều hớng t sản thâm nhập vào Việt Nam Có nhiều sáchbáo đợc phổ biến một cách công khai, rộng rãi khắp nớc Pháp nhng sang

đến Việt Nam lại trở thành những đồ quốc cấm và những ng ời đọc sách báo

đó bị tù ngay lập tức

Trang 19

Ngoài những tờ báo tiếng Pháp, chúng còn trợ cấp cho một số tờ báoquốc ngữ và chữ Hán để cổ động và phổ biến các chính sách của chúng ởNam Kỳ, tờ Nam Trung Nhật Báo sau đổi tên thành Lục Tỉnh Tân Văn doSơ-nây-đe (Scheneider) sáng lập, Nguyễn Văn Của tiếp thu; tờ Đại Việtquan báo sau đổi ra là Đại Việt Tân Báo do Ba-buýt (Ba but) làm chủ nhiệm,

Đào Nguyên Phổ làm chủ bút, đều đợc coi nh là các cơ quan phát ngônchính thức của chính quyền thuộc địa Nội dung chủ yếu của chúng nặng vềthông tin và giải thích những mệnh lệnh của chính quyền cai trị nh đăng cácNghị định, các bài diễn văn của Toàn quyền, Thống sứ, những công báo cótính chất quan phơng, thỉnh thoảng lại có những bài xã luận về chính sáchmới của thực dân Đặc biệt, năm 1913, chính quyền thực dân cho ra đời tờ

Đông Dơng tạp chí - là chi nhánh đặc biệt của tờ Lục Tỉnh Tân Văn xuấtbản cho miền Trung và miền Bắc, chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh Tạp chí nàyphát không đến các công sở, các viên quan lại, các cơ quan hành chính ởBắc Kỳ Nó có các chuyên mục: Công báo, đăng các sắc lệnh, nghị định, tintức và bình luận thời sự chính trị, văn học, s phạm, khoa học … Tạp chí hếtlòng ca ngợi công ơn của thực dân Pháp, coi quan hệ Pháp - Việt là quan hệcha con, kêu gọi nhân dân ta "một lòng một dạ với Nhà n ớc", "trung nghĩavới Nhà nớc", "Đốt hơng mà khấn vái cho Nhà nớc phen này đại thắng (Đứctrong chiến tranh 1914 - 1918) để thêm danh tiếng, thêm sức mạnh thì lạicàng khai hoá giúp ta đợc chóng hay" {3,31} Trên tờ tạp chí này, thực dâncũng khuyến khích đăng những tác phẩm dịch văn học Pháp nh chuyện thiếunhi của Pê - rôn (Perrult) thơ ngụ ngôn của La Phông Ten (LaFontaine) kịchcủa Mô Le (Molierè), truyện của Pơrêvốt (Ablé Prevost)… hay các tác phẩmvăn học Trung Quốc nh Thủy Hử, Tam Quốc chí, Tình sử , Kim cổ kỳ quan cả đến những t

… tởng triết học của Liệt Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử… Chủ ýcủa thực dân Pháp cho in những dịch phẩm đó là vừa để làm món ăn tinhthần cho sỹ phu trí thức và thanh niên vừa là để làm cho họ quên lãng nhiệm

vụ đấu tranh trớc mắt

ở giai đoạn lịch sử này, công tác xuất bản sách báo, bản đồ, tranh

ảnh… cũng đợc nhà nớc thực dân lu tâm đến Sách đợc viết bằng 4 thứ chữ:Hán, Nôm, Pháp, Quốc ngữ Sách chữ Hán và chữ Nôm đều phải dùng bản

Trang 20

khắc gỗ, giá thành cao, đòi hỏi công phu nên số l ợng bản in ít Sách chữPháp và quốc ngữ đợc xuất bản nhiều hơn ở Nam kỳ so với Bắc và Trung

Kỳ Hoạt động xuất bản ở Việt Nam trong thời điểm này đánh dấu một b ớcphát triển mới chuyển từ xuất bản sách phần lớn là chữ Hán và chữ Nômsang phần lớn là chữ quốc ngữ và chữ Pháp Sự phát triển đó phản ánh tìnhhình kinh tế đang chuyển mình sang kinh tế t bản chủ nghĩa theo chính sáchkhai thác thuộc địa, phụ thuộc vào kinh tế của chủ nghĩa đế quốc Pháp Sựnghiệp xuất bản sách báo là để phục vụ cho nhu cầu kinh tế mới và chínhsách cai trị mới nhng cũng không đồng đều giữa các vùng: Miền Nam vàmiền Bắc phát triển còn miền Trung hầu nh dẫm chân tại chỗ trớc xu hớngmới

Tình hình "sinh hoạt văn hoá" có ít nhiều biến đổi và phát triển nh vừa

kể trên lại chủ yếu diễn ra ở các đô thị, còn tại các vùng nông thôn "nền vănhoá làng" hàng ngàn năm vẫn còn tác động sâu sắc, nhất là trong chính sách

"bần cùng hoá" và "ngu dân hoá" dới sự thống trị của thực dân Pháp Khi

đặt ách cai trị lên đất nớc ta vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp

đã sử dụng nguyên bộ máy cai trị của Nhà nớc phong kiến trớc đó Điều đó

có nghĩa là thực dân Pháp không muốn phá vỡ nền tảng phong kiến đã đ ợcthiết lập hàng ngàn năm Do đó, về cơ bản, nông thôn Việt Nam vẫn sốngtrong cảnh "ao tù nớc đọng" của kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệplạc hậu ở đó, những thói h tật xấu của xã hội cũ đợc thực dân Pháp dung d-ỡng Nạn cờ bạc không những không bị cấm đoán mà còn đ ợc chúng khuyếnkhích bằng cách cho mở các sòng bạc để thu thuế Tệ uống r ợu không bị hạnchế, chính quyền thực dân còn bắt dân ta phải uống một loại r ợu còn chứanhiều độc tố do hãng Phông ten sản xuất, thậm chí thực dân Pháp còn đ a ranhững biện pháp thúc đẩy việc mở các đại lý bán r ợu và khen thởng cho các

vị đứng đầu một xã chỉ vì tiêu chí đẩy nhanh đợc tốc độ tiêu thụ rợu chochính quốc

Khắp cả nớc, thực dân Pháp còn mở các ty thu mua và bán thuốcphiện để lập quỹ cho Phủ toàn quyền Bằng hình thức đó, chính quyền caitrị đã trực tiếp khuyến khích nạn nghiệp hút thuốc phiện Từ khi Đu-mesang làm Toàn quyền, nạn nghiện hút tăng lên rõ rệt, làm cho sức khoẻ va

Trang 21

tinh thần của nhân dân ta suy giảm nhanh chóng, làm cho nòi giống suy nh

-ợc Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã nhận định: "Rợu cồn và thuốc phiện cùngbáo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dâncủa chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại"

Ngoài ra,ở nông thôn, các hủ tục ma chay, cới hỏi, tệ hơng ẩm, nạnthù hằn giữa các phe giáp vẫn tồn tại và vẫn không kém phần quan trọng.Thêm vào đó, nạn bói toán, đồng bóng, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề,nhân dân bị thất học đã góp phần kìm hãm dân trí, dân khí thật nặng nề

1.3.Hậu quả của những chính sách văn hoá-giáo dục thực dân

1.3.1 Tác động tai hại của những chính sách văn hoá- giáo dục thực dân Pháp ở nớc ta.

Đế quốc Pháp xâm chiếm nớc ta đã mang theo cùng với những chínhsách bình định, khủng bố, cai trị của chúng là cả một âm m u xảo quyệttrong văn hoá- giáo dục Về hai mặt tổ chức và nội dung, chính sách vănhoá-giáo dục thực dân là một chính sách thâm hiểm rất tinh vi và khônkhéo Chính sách văn hoá- giáo dục thực dân là một bộ phận quan trọng hợpthành chính sách cai trị của ngời Pháp, vì mục đích của chúng trong phơngdiện này trớc sau không thay đổi, đó là mục đích duy nhất để nhằm củng cố

bộ máy thống trị của chúng ở Đông Dơng và bóc lột, nô dịch nhân dân tanhiều hơn và"trớc hết là phải nghĩ đến lợi ích kinh tế"

Trên thực tế, chính sách văn hoá-giáo dục của thực dân Pháp đã làmkìm hãm sự phát triển của nền văn hoá -giáo dục dân tộc

Về giáo dục, thực dân Pháp thấy rõ rằng việc phát triển giáo dục ởViệt Nam đối với chúng có nhiều hại hơn là có lợi Do đó, chúng rất sợ giáodục phát triển và bất chấp tinh thần hiếu học cổ truyền của dân tộc ViệtNam, chúng đã tìm mọi cách để kìm hãm nhân dân ta trong vòng tối tămngu dốt, hòng duy trì vĩnh viễn sự thống trị của chúng Chế độ giáo dụckhoa cử phong kiến đã lỗi thời và không phù hợp với xu thế thời đại, khoa

cử phong kiến đi vào thời "cuối mùa", thế nhng đó lại là cơ sở vững chắc đểlàm chỗ dựa phát triển nền giáo dục thực dân

Những cải cách của các nhà cầm quyền Pháp thực hiện trong lĩnh vựcgiáo dục cũng chỉ đặt ra do yêu cầu của công cuộc khai thác thuộc địa, tạo

Trang 22

ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt Thực dân Pháp ngăn cản và xuyên tạc tinhthần dân tộc, tinh thần quốc tế, đồng thời chúng cũng b ng bít, không cho cõihọc Việt Nam đợc tiếp xúc những phát minh khoa học,những t tởng tiến bộ

ở nớc ngoài, ngay cả những triết gia duy vật Pháp cũng chỉ đợc đề cập qualoa.Chơng trình khoa học cấu tạo theo lối đồng tâm, do hệ thống năm họckéo dài nên có những kiến thức sơ đẳng cứ phải lặp đi lặp lại Những phátminh mới, những thành tựu của nhân loại tiến bộ trên hòan cầu không thể cótiếng vang gì trong các lớp học Việt Nam

Nội dung học tập và giảng dạy trong nhà trờng thực dân đã bị Nguyễn

ái tố cáo: "Gieo rắc một nền giáo dục đồi bại , xảo trá và nguy hiểm hơn cả

sự dốt nát nữa vì một nền giáo dục nh vậy chỉ làm h hỏng mất tính nết củangời đi học, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy chothanh niên yêu tổ quốc, không phải tổ quốc của mình, một tổ quốc đã từnghát bức dân tộc mình" {12,171}

Điểm trung tâm mà nội dung chơng trình cũng nh sách giáo khoa củathực dân Pháp đều nói nhiều đến trật tự, đến an ninh, đến việc khai thác cáctài nguyên thiên nhiên … , tóm lại là công ơn của ngời Pháp ở Đông Dơng.Trong sách giáo khoa, họ cố nhồi nhét t tởng: "Nớc Pháp là một nớc thịnh v-ợng và giàu có về tài nguyên mọi loại Nếu ngời Pháp đến đóng ở nớc cácanh, các anh phải biết rằng không phải với ý nghĩ xâm chiếm đất đai, mùamàng của các anh mà ngợc lại với ý định tăng cờng của cải chung bằng cáchlàm cho của cải của các anh thêm giá trị, cuộc khai thác nông nghiệp củacác anh thêm dễ dàng, giao thông thêm thuận lợi, các mỏ đợc khai khẩn … "{7}

Thật là nhân đạo và cao cả thay Cứ nh vậy thì ngời dân Việt Namphải hết sức trung thành với sự bảo trợ của các quan bảo hộ Đại Pháp

"Hấp thụ nền giáo dục ấy, thanh niên trở lại khinh rẻ nguồn gốc dònggiống của mình và trở nên ngu ngốc thêm Điều gì có thể rèn luyện đ ợc cho

họ biết suy nghĩ, biết phân tích thì ngời ta không dạy trong nhà trờng" {7}

mà dạy cho học sinh những kiến thức nh Lê Nin nói "9/10 là vô ích và 1/10

là xuyên tạc mà thôi"

Trang 23

Nhà trờng phong kiến xa kia phần đông là của con cháu vua chúa,quan lại và những nhà khá giả Nhà trờng do bọn thực dân tổ chức cũng vẫn

là nơi xa lạ với lớp trẻ nhà nghèo Hầu hết ngời dân Việt Nam đều nằmtrong tình trạng mù chữ

"Làm cho dân ngu để dễ trị" đó thực chất của cái gọi là "Chính sáchgiáo dục" của thực dân Pháp tại Việt Nam

Về văn hoá, chính quyền thực dân cũng chủ trơng thực thi một chínhsách đầu độc, nô dịch triệt để Theo chúng, một nền văn hóa với truyềnthống có bề dày hàng ngàn năm lịch sử ở một nớc thuộc địa thì không thể đểcho nó phát triển một khi thực dân Pháp còn muốn đặt ách xâm l ợc củamình nơi đây Do đó, bằng mọi phơng tiện, biện pháp sẵn có, thực dân Phápkhông từ bỏ một thủ đoạn thâm độc nào

Con ngời là chủ thể của mọi hoạt động văn hoá , là " quả tim đíchthực của văn hoá" Nếu đạo đức sa sút , đời sống tinh thần trì trệ thì chắcchắn sẽ kéo theo nó sự hạn chế vai trò, động lực của con ng ơì Vì thế ,ngoàiviệc sự dụng giáo dục, báo chí làm phơng tiện cổ động,tuyên truyền cácchủ trơng của chính quyền thực dân , thực dân Pháp còn thực hiện nhữngbiện pháp rất thâm độc nhằm huỷ hoại nhân cách con ng ời , làm suy đồi nòigiống của ngời bản xứ bằng những thứ mà ở chính quốc chúng cấm rấtnghiêm ngặt là thuốc phiện và rợu

Các phong tục tập quán truyền thống của dân tộc Việt không đ ợckhuyến khích , trong khi đó những hủ tục lạc hậu lại đ ợc thực dân Phápdung dỡng để kìm hãm ngời dân thuộc địa trong vòng lạc hậu , cổ hủ, luẩnquẩn với những chuyện nhỏ nhặt

Thực dân Pháp luôn dùng chiêu bài " Truyền bá văn minh " của mộtnớc đế quốc lớn nhng thực tế , chúng đã làm đợc những gì? Sách báo bịkiểm soát gắt gao mới đợc xuất bản , những ngời có t tởng tiến bộ đều bịquy vào tội " phá rối an ninh " Những t tởng tốt đẹp của nền văn minh Phápkhi truyền vào Việt Nam đều bị cắt xén , nhiều học thuyết Tây ph ơng chỉ đ-

ợc đa vào một cách sơ lợc , dè dặt , thậm chí còn bị xuyên tạc trắngtrợn.Chủ trơng của chúng chỉ là truyền bá những cái " cần thiết" cho côngcuộc khai thác thuộc địa Chúng đã chẳng bảo việc truyền bá đầy đủ nền

Trang 24

văn minh cho thuộc địa là " dại dột" đó sao? Bỏi vì mục đích của chínhquyền thống trị khi đa ra những chính sách về văn hoá ở Việt Nam là nhằm

đồng hoá nền văn hoá bản xứ hay ít nhất d ới những chiêu bài xảo quyệt để

ru ngủ kẻ bị trị , biến họ thành một thứ " nô lệ tự nguyện " Và quả thực ,chúng cũng đã đạt đợc một số kết quả Một bộ phận chạy theo lối sống Âuhoá với những thứ rất nhố nhăng , cung phụng " đất mẹ Pháp"

Chính sách văn hoá mà thực dân Pháp thực hiện tại Việt Nam thựcchất cũng chỉ là một thứ văn hoá nô dịch mà thôi

Rõ ràng , từ những năm cuối thế kỷ XIX đến tr ớc chiến tranh thế giớithứ nhất, song song với việc dùng bạo lực để đàn áp phong trào yêu n ớcchống ngoại xâm của nhân dân ta thì một biện pháp hữu hiệu khác của thựcdân Pháp là đề ra các chính sách văn hoá- giáo dục nh một biện pháp hòabình để có thể đảm bảo cho việc thực hiện mục đích lớn nhất , đó là khaithác thuộc địa để thu lợi tối đa về kinh tế Do đó , những chính sách vănhoá - giáo dục thực dân đều không vì lợi ích của ng ời dân bản xứ và chính

điều này đã gây nên tác hại không nhỏ đến nền văn hoá - giáo dục của ng ờiViệt Nam

1.3.2 ảnh hởng khách quan từ những chính sách văn hoá - giáo dục thực dân đối với nền văn hoá - giáo dục Việt Nam

Tiếp thu chính sách văn hoá - giáo dục của thực dân Pháp , nhữnghoạt động ý thức ở đất nớc ta tất nhiên phải có những biến đổi nhất định

Đây không phải là công lao " khai hoá " hay thành quả của một " cuộc hônphối diễm kỳ" giữa cái cũ và cái mới nh đã có kẻ rêu rao Sự thực thì chínhbọn thực dân đã kìm hãm đà tiến bộ của dân tộc ta nh đã nói Do đòi hỏi và

đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta , bọn thực dân mới cực chẵng đã phảithực thi một số chính sách khai hoá nhỏ giọt với mục đích phục vụ lợi íchcủa chúng

Tuy nhiên , chúng ta cũng phải thừa nhận ảnh hởng của một số yếu tốtích cực đối với nền văn hóa - giáo dục Việt Nam Điều này nằm ngoài ýmuốn chủ quan của chính quyền cai trị

Việc học dới thời Pháp thuộc trong thời kỳ này cũng đã bắt đầu cónhững thay đổi bộ mặt giáo dục cổ truyền.Một số ngôi tr ờng mới đợc dựng

Trang 25

nên, có bảng đen, bàn ghế, phòng thí nghiệm… Đó là những hiện tợng xakia nhà trờng phong kiến Việt Nam không có Những thể thức cũng mới lạ:hạn tuổi, khai sinh, học bạ, đồ dùng dạy học,… Tóm lại là những kinhnghiệm s phạm lâu đời về mặt tổ chức không thể nào không ứng dụng.Song về mặt này, phải nói rằng Nhà nớc thực dân vẫn không lấy gì làm rộngrãi cho lắm.Lúc nào, ngời ta cũng mợn cớ không có ngân sách để hạn chế

mở trờng học hoặc thu hồi những khoản tiền đã giành cho giáo dục để dùngvào chi phí khác"Chính phủ đã biếu bà quả phụ một viên cựu thống đốc mộtmón tiền là một triệu fơ-răng và trợ cấp 80 vạn fơ- răng cho 66 buổi kịchgiải trí cho khoảng 3 hay 4000 ngời Âu ở Sài Gòn nhng chính phủ lại thuhồi khoản trợ cấp chỉ có 2000 đồng cho một tổ chức giáo dục bình dân"{12,171} Một dẫn chứng cho thấy các cơ sở vật chất nếu đ ợc xây dựng vẫnchỉ ở mức thấp kém, lạc hậu

Về mặt giáo khoa, tài liệu Pháp cung cấp một ít kinh nghiệm về môn

s phạm thực hành, giáo học pháp có thể dùng tham khảo Đó là thành quảcủa bao nhiêu học giả phơng Đông hay phơng Tây hàng mấy trăm năm để

đạt tới nhuững kinh nghiệm khoa học Dù muốn hay không kho tàng tri thức

và kinh nghiệm ấy vẫn phải đến với các nhà tr ờng Những bộ môn khoa họcmới cũng đã đợc đa vào chơng trình để dần thay cho Ngũ Kinh, Tứ Th, nh

đã nói, vẫn là những biến đổi tất nhiên

Mặc dù đội quân đi xâm lợc và đô hộ rất có ý thức dùng văn hoá nhmột công cụ cai trị nhng những chính sách đó ít nhiều cũng có tác động đếndiện mạo văn hoá Việt Nam, đặc biệt nó góp phần thúc đẩy quá trình giao l uvăn hoáViệt Nam với nền văn hoá phơng Tây, mặc dù diều này cũng mangtính khách quan

Trong phơng diện ngôn ngữ, ngời Pháp đã đa chữ quốc ngữ vào đờisống xã hội Từ chỗ là một loại chữ viết đợc các giáo sỹ phơng Tây và ViệtNam dựa vào bộ chữ viết La tinh mà xây dựng nên một thứ chữ mới ghi âmtiếng Việt đợc dùng trong nội bộ một tôn giáo, đến đây chữ quốc ngữ đ ợcdùng nh văn tự chính thức của Nhà nớc

Sự xuất hiện cuả các phơng tiện văn hoá nh nhà máy in, các nhà xuấtbản,… cũng là bớc tiến của diện mạo văn hoá dân tộc

Trang 26

Đặc biệt, quá trình tiếp xúc và tiếp biến với nền văn hoá Pháp tuy cònsơ lợc nhng lại có tác động lớn với sự ra đời của một loạt các thể loại, loạihình văn nghệ mới nh tiểu thuyết, điện ảnh, kịch nói, hội hoạ… mà trớc đâykhông có trong nền văn hoá dân tộc.

Cuộc tiếp biến giữa hai nền văn hoá diễn ra với hai hệ quy chiếu d ờng

nh đối lập, có vẻ "trái khoáy" nhng nó góp phần vào sự biến đổi theo chiềuhớng tích cực của nền văn hoá Việt Nam trong sự tiếp nhận những giátrị,thành tốvăn hoá mới để làm giàu thêm cho bản sắc văn hoá dân tộc

Ngoài ra, với nền giáo dục cũ có cải cách, cùng với các luồng t tởngmới xâm nhập vào Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hoá cungx đã tạonên sự chuyển biến t tởng của một lớp ngời tiến bộ Chính bộ phận này sẽ làngời tiếp thu những kinh nghiệm, t tởng tiên tiến và vận dụng nó trong côngcuộc chống lại sự đồng hoá của kẻ thù

Tóm lại, nền giáo dục-văn hoá mà thực dân Pháp thực hiện tại ViệtNam vô cùng thâm độc, dều vì mục đích thống trị của chúng, còn những yếu

tố tích cực nếu có thì chẳng qua là những điều nằm ngoài mong muốn củachúng Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá- giáo dục của nhân dân tachống lại sự nô dịch, đầu độc của kẻ thù vì thế lại tiếp tục diễn ra một cáchquyết liệt hơn bao giờ hết

Trang 27

ơng 2: Cuộc đấu tranh chống chính sách văn hoá - giáo dục nô dịch của thực dân Pháp ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX

đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất.

2.1 Những nhân tố tác động đến cuộc đấu tranh chống chính sách văn hoá - giáo dục thực dân.

2.1.1.Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp tại ViệtNam có thể xem là nhân tố quan trọng đồng thời cũng là nguồn gốc làmbùng nổ các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực, trong

đó có văn hoá - giáo dục Với quyết tâm biến việc chiếm Việt Nam thànhmột vụ "kinh doanh" có lãi, quyết tâm thanh toán tình trạng thiếu hụt trongNgân sách Đông Dơng trớc đó nên ngay sau khi dập tắt đợc phong trào CầnVơng, cơ bản hòan thành công cuộc bình định về quân sự, thực dân Pháp bắttay thực hiện một kế hoạch khá toàn diện với Đông Dơng (Việt Nam).Chúng từng bớc kiện toàn bộ máy thống trị một cách hòan chỉnh hơn, tiếnhành khai thác kinh tế một cách có hệ thống, bớc đầu xây dựng những cơ sởvăn hóa phục vụ lâu dài cho chính sách thuộc địa thực dân Những chínhsách của thực dân Pháp có tác động lớn đến sự biến đổi về mọi mặt của xãhội Việt Nam nhng không vì thế mà làm giảm mâu thuẫn giữa ngời dân bản

xứ với bọn thống trị Tội ác của chúng trong thời kỳ xâm lăng và bình địnhgiờ đây lại chồng chất thêm tội ác trong thời kỳ thiết lập nền thống dân sự,tấn công vào cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội, thậm chí đời sống th -ờng ngày của họ nữa Năm 1910, Messimy, báo cáo viên về Ngân sách cácthuộc địa, đã phải kêu lên rằng: "nếu một chế độ giống nh chế độ Đông D-

ơng đợc áp dụng ở đất nớc chúng ta thì sự đổ máu chắc chắn không thểtránh khỏi, chỉ với sự chịu khuất phục và sự cam phận của nhân dân An-namthì một cuộc cách mạng mới không xảy ra" {3,99} Song nhân dân ViệtNam đã không chịu khuất phục và cam phận Nhân dân Việt Nam - đứng

đầu là hạng thức giả, càng nhớ đến "Hồn cố quốc" thì càng xót xa tr ớc cảnhngàn năm văn hiến do tổ tiên xây dựng bỗng chốc bị đạp đổ Trong bối cảnhmới, những ai còn nghĩ đến cảnh "quốc phá gia phong" đều ý thức đ ợc sựkhông thể trở lại theo vết xe đổ của thời Cần V ơng, cần phải có một cái gì

đó mới mẻ hơn

Trang 28

2.1.2 Cũng trong thời kỳ này, cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc,

sự kiện Nhật bản sau khi Duy Tân đã chiến thắng Nga Sa Hòang là nhữngnhân tố bên ngoài ảnh hởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh của nhân dân ta,tác động đến cách nhìn mới đối với thời cuộc của các sĩ phu yêu n ớc ViệtNam xa nay vẫn có t tởng "nội hạ ngoại di" Họ nhận thức đợc rằng muốncứu nớc thì phải đổi mới, phải học tập nền văn minh tiên tiến

Đặc biệt trong những năm cuối thế kỷ XIX, các tân th và tân văn đợc

du nhập vào nớc ta và trên thực tế, chúng đã tác động nh là một hồi chuông

"tỉnh mộng", một ánh sáng soi đờng đối với các sĩ phu yêu nớc Việt Namlúc bấy giờ Tân th là một danh từ khá bao quát để chỉ những cuốn sáchchứa đựng những kiến thức mới (Tân học), khác với kiến thức cũ (cựu học)trong kinh điển của các nhà Nho Những kiến thức mới này bao gồm nhữngtri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn; từ toán, lý,hoá… đến địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, triết học… mà phần lớn đợc dịch

từ sách Tây phơng sang chữ Hán Những cuốn sách này có khi không phảidịch thẳng từ các cuốn sách Tây mà dịch qua bản của Nhật Bản, có khi chỉdịch tóm lợc lấy cái ý cơ bản nhằm giới thiệu "Văn minh Ph ơng Tây", hôhào đổi mới Ngoài Tân th và Tân văn còn có những tờ báo đăng tải các bài

vở, tin tức Chính An-be Xa-rô sau khi nhận chức Toàn quyền Đông D ơng

đã lu ý với Bộ Thuộc địa Pháp về tác động của Tân văn, Tân th: "Điều quantrọng là những t tởng hiện đại đến với ngời Việt Nam đều phải qua trunggian của chúng ta Nhng hiện nay nền văn minh Phơng Tây chỉ đợc họ biếtchút ít qua những cuốn sách Trung Hoa nhảm nhí giới thiệu những hành vi

và những thiết chế của chúng ta một cách liên lạc và thờng là phàn nàn"{7}

Những nhân tố trên có tác động đến cuộc đấu tranh của nhân dân tachống lại ách thống trị của thực dân Pháp nói chung và đấu tranh trên lĩnhvực văn hoá - giáo dục nói riêng

2.2 Các phong trào đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục ở n ớc

ta từ những năm cuối thế kỷ XIX đến trớc chiến tranh thế giới thứ nhất.

Nếu về phơng diện chính trị, nhân dân Việt Nam luôn luôn nêu caotinh thần quật cờng và bất khuất chống lại mọi kẻ thù ngoại xâm thì về ph-

ơng diện văn hoá - giáo dục, nhân dân Việt Nam cũng không bao giờ can

Trang 29

tâm để cho nền văn hoá lâu đời của mình bị một dân tộc khác tiêu diệt.Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại chính sách văn hóa - giáodục nô dịch cũng là cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ và lâu dài Cuộc đấutranh đó bắt đầu ngay từ khi thực dân Pháp mới bắt đầu đặt chân lên n ớcViệt Nam Lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong thời kỳ này là tầng lớp sỹ phuyêu nớc Chính họ đã trở thành những chiến sỹ trên mặt trận văn hóa - giáodục buổi giao thời, đối mặt trực tiếp với kẻ thù, góp phần mình vào sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở nớc ta hồi đầu thế kỷ này.

2 2.1 Phong trào Đông Du (1905-1909).

Năm 1905, Phan Bội Châu sang cầu viện Nhật Bản Việc cầu viện tuykhông thành nhng qua tiếp xúc với chính khách Nhật, tận mắt thấy sự pháttriển của nớc Nhật, tiếp xúc với Lơng Khải Siêu và các nhà cách mạngTrung Quốc đang c trú chính trị ở Nhật, Phan Bội Châu nhận thấy: "Dân trímình còn thấp, mà nhân tài cũng thiếu, không có Chừng đó, tôi tự ăn nănviệc mình lo toan lúc trớc là nông nổi, chỉ bo bo vấn đề quân giới nào cóphải là cái kế tuyệt hay để mu tính công việc độc lập của mình đâu" Nhận

định này một lần nữa đợc khẳng định trong th viết từ Nhật gỉ về nớc xin

đồng bào đóng góp cho học sinh du học của Phan Bội Châu "Ngồi ngẫmnghĩ về lý do vì đâu nớc ta mất, vì đâu dân ta khốn khổ thì thấy có 2 nguồncơn là ngu và hèn Gẫm lại dân ta cũng tai mắt, mặt mày nh ngời Nhật Bản",cũng ruột gan nh ngời Nhật Bản, cũng đội trời đạp đất nh ai, đều là con yêucủa Tạo vật, cũng là khí thiêng đúc lại, đều là bạn tốt của non sông Thì cáingu hèn sao lại riêng để cho quốc dân ta phải chịu? Xin trả lời rõ thêm: Một

là vì chúng ta không có đờng lối mở mang dân trí, hai là vì chúng ta không

có quyền binh để cổ động dân khí Trí khôn của dân ch a mở mang thì saokhông ngu đợc? Chí khí của nhân dân cha phấn chấn thì trách gì mà chẳnghèn" {10,32}

Mặc dù Nhật Bản không phải là đối tợng yêu cầu viện trợ nhng cụPhan cũng đã thấy rằng Nhật Bản đơng thời là trung tâm hoạt động củanhiều nhà cách mạng Châu á thì có thể là một cứ điểm thuận lợi cho hoạt

động của các nhà cách mạng Việt Nam Trớc hết, Nhật Bản là nơi có thể gửithanh niên Việt Nam đến đào tạo nhân tài cho cuộc đấu tranh giành độc lập

Trang 30

và kiến thiết đất nớc Trên cơ sở nhận thức đó, Phan Bội Châu quyết định vềnớc để giải thích cho các đồng chí của mình về sự thay đổi ph ơng hớng từ

"cầu viện" sang "cầu học" và tiến hành vận động thanh niên Việt Nam đi duhọc ở Nhật Bản Từ đây, một phong trào Đông Du do Phan Bội Châu đề x -ớng lan rộng và làm sôi nổi d luận một thời

ở đây, chúng ta không phân tích chủ trơng của Đông Du về mặt chínhtrị (vì thực ra phong trào Đông Du là một phong trào chính trị nhiều hơn làphong trào văn hóa - giáo dục) mà hãy thừa nhận nó nh là một biểu hiện củatinh thần quật khởi, một biểu hiện tốt đẹp của truyền thống dân tộc ta tronglĩnh vực văn hóa - giáo dục ý thức dân tộc, truyền thống hiếu học sẵn có từngàn năm của dân tộc ta đã thúc đẩy những ng ời có quan tâm đến tiền đồcủa đất nớc phải thoát khỏi vòng kiềm chế của thực dân Pháp để tìm đ ờngcứu nớc

Rõ ràng, việc xuất dơng du học khác xa những quan điểm của Nhogiáo trong việc đề cao, coi mình là trung tâm của văn hoá nhân loại, t tởng

"xa nay", với những chân lý gói gọn trong Tứ th, Ngũ kinh Ngay cả chínhthực dân Pháp cũng ngăn cấm hết sức ngặt nghèo việc ra n ớc ngoài du họcvì nh chúng thú nhận: "Để cho ngời thợng lu trí thức đợc đào tạo ở nớcngoài, thoát khỏi vòng kiềm toả của chúng ta, chịu ảnh h ởng văn hoá vàchính trị của các nớc khác thì thật là nguy hiểm vô cũng Những trí thức đótrở về nớc sẽ đa hết tài năng của họ để tuyên truyền, vận động chống lạichúng ta, là những ngời "bảo hộ" đã ngăn cấm không cho họ học" {7}.Chúng cũng run sợ ngay cả trớc ảnh hởng của bản thân nền văn hoá Phápnên cũng rất hạn chế hết sức gắt gao việc ng ời Việt Nam sang Pháp du họcvì theo chúng "Con đờng sang nớc Pháp là con đờng chống nớc Pháp" Vìthế, bất cứ ngời dân thuộc địa nào muốn sang Pháp du học đều phải bắt buộc

đợc quan Toàn quyền cho phép sau khi có ý kiến của giám đốc học chính vàphải làm đầy đủ những thủ tục hết sức phiền phức để chứng minh rằng đó làmột ngời "trung thành với nớc Đại Pháp" và không thể chống lại các quan

Đại Pháp Nếu ai không làm đúng nh vậy tức là muốn tự mở mang kiến thứcbằng con đờng riêng của mình đều bị ghép vào tội "âm mu phiến loạn".Chính sách đó của thực dân Pháp rõ ràng nhằm làm cho thanh nên Việt Nam

Trang 31

bị tách rời khỏi mọi trào lu t tởng của thế giới và chỉ đợc "tự do" trong cái

vỏ ốc mà thực dân Pháp đã tạo ra mà thôi

Và do đó, phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi x ớng đợc sựủng hộ đông đảo của nhân dân trong nớc đã thực sự chống lại những áp đặtvô lý, mục đích nô dịch về văn hoá - giáo dục của thực dân Pháp vào thời

để giáo dục thêm cho học sinh về tính đoàn kết, lòng thân ái, yêu quê h ơng

đất nớc,căm thù giặc…

Số lợng học sinh du học ngày càng đông Trong thời gian đầu, do ch a

có kinh nghiệm vận động và nhất là kinh phí còn hạn hẹp nên mới chỉ có 3

du học sinh Việt Nam (Nguyễn Thúc Canh, Nguyễn Diễn, Lê Khiết).Sau đó,

đợc sự giúp đỡ của các chính khách Nhật Bản, các nhà yêu n ớc nh: Tăng Bạt

Hổ , Tiểu La Nguyễn Thành… nhiệt tình vận động nên du học sinh ViệtNam tăng nhanh."Dần dần, đến năm 1907, du học sinh Việt Nam đã đ ợc hơn

100 ngời: 40 ngời Nam Kỳ, hơn 60 ngời Trung, Bắc Kỳ Sang năm 1908 con

số ấy lên đợc hơn 200 ngời: Hơn 100 ngời Nam, 50 ngời Trung và hơn 40ngời Bắc" {5,176}

Mục tiêu của việc du học đặt ra rất lớn nhng khó khăn mà cộng đồng

lu học sinh ta gặp không phải là ít Việc thu phục đợc cảm tình của ngờiNhật và quốc tế, thông qua những thanh niên u tú này có tầm quan trọng đặcbiệt Cho nên, phải quản lý thật tốt mọi sinh hoạt, học tập của các thànhviên Để phụ trách công việc này, tổ chức Việt Nam công hiến hội do C ờng

Để làm hội trởng ra đời vào tháng 10 năm 1907 Tổ chức Hội gồm 4 bộ lớn:

- Bộ Kinh tế: Chuyên trách việc thu chi

- Bộ Kỷ luật: Chuyên trách việc theo dõi u, khuyết điểm và thởng phạthọc sinh

Trang 32

- Bộ Giao tế: Phụ trách việc giao thiệp với ng ời nớc ngoài và đa đónngời trong nớc ra.

- Bộ Văn th: Chuyên trách việc giấy tờ đi lại và phát hành, lu trữ cácvăn kiện

Ngoài ra, Hội còn lập ra Ban kiểm tra với nhiệm vụ là theo dõi côngviệc của nhân viên các Bộ, do Lơng Lập Nham, Trần Hữu Công và Nguyễn

Điển phụ trách

Phong trào Đông Du đã đợc nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Kỳtích cực hởng ứng Từ cuối 1907 đến mùa thu năm 1908, tình hình du họcsinh Việt Nam rất khả quan, một số phụ huynh học sinh ở trong n ớc tỏ rõ tintởng tin tởng, phấn khởi ở tiền đồ dân tộc khi sang thăm Nhật Bản Đó làthời kỳ "đắc ý" nhất của Phan Bội Châu

Nhìn lại tổ chức trờng học trong phong trào Đông Du do Phan BộiChâu lãnh đạo tuy thời gian tồn tại không đợc bao lâu nhng nó là trờng học

đầu tiên đào tạo cán bộ cách mạng cho đất nớc ta Nội dung học tập của ờng học này tuy còn dựa vào chơng trình của trờng học Nhật Bản nhng địnhhớng t tởng của nó đã rõ ràng: Học để đánh đuổi thực dân Pháp, dành lại

tr-độc lập tự do cho Tổ quốc Du học sinh Việt Nam cũng đã ý thức đợc tráchnhiệm của mình, gia công học tập, đáp ứng đợc lòng mong mỏi của đồngbào trong nớc Tinh thần yêu nớc của họ đợc nâng lên đáng kể

Phong trào Đông Du còn có tác động, thúc đẩy và lôi cuốn phong trào

đấu tranh của các sĩ phu văn thân trong nớc

Tháng 2 năm Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18 (1906), một cuộc bãi khoá

đầu tiên nổ ra trong kỳ thi Hơng ở Thừa Thiên Xớng danh và xếp bảng vừaxong thì tin Phan Bội Châu đã sang Nhật và gửi bài "Đề tỉnh quốc dân ca"

về, thí sinh chuyền tay nhau đọc Trong lúc sỹ khí đang lên , các thí sinh mởcuộc đấu tranh bằng một vụ kiện quan trờng bất công Kết quả là cuộc đấutranh đã thắng Tiếp đó, tại kỳ thi Hội khoa Đinh Vị (1907) ở Huế, để "chào

đón " các vị tân khoa, ở Phú Vân Lâu xuất hiện đôi câu đối : "Bảng vàng bia

đá còn lấy làm vinh ? Lạ lùng thay góc trời Đông á hai mơi thế kỷ còn ômtục xấu - Thù nớc nhục vua đã không buồn hỏi nữa Đau đớn tháng 3 mùaxuân, vài trăm sĩ tử lao xuống hố Tần" {7}

Trang 33

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy các cuộc đấu tranh đã nổ rangay trong những kỳ thi của nền giáo dục phong kiến đang đợc thực dânPháp duy trì Phong trào Đông Du đã thực sự khích lệ đ ợc lòng yêu nớc,truyền thống chống giặc ngoại xâm bất khuất của dân tộc ta.

Trong quá trình vận động, tổ chức, đa đón thanh niên Việt Nam u túlần lợt sang Nhật du học, Phan Bội Châu và các nhà lãnh đạo l u học sinh ởNhật Bản rất chú trọng việc sáng tác thơ văn tuyên truyền yên n ớc để phổbiến rộng rãi, coi đó nh là một mặt hoạt động không thể thiếu trong công tácvận động cách mạng Phan Bội Châu là ng ời sáng tác nhiều nhất và có tácdụng lớn nhất nh "Việt Nam vong quốc sử" (1905) - Cuốn "Lịch sử cáchmạng" đầu tiên đợc xuất bản nhiều lần ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam,

"tiêu biểu cho những suy nghĩ chống thực dân mạnh mẽ và liên tục về mặttình cảm và tâm lý đơng thời"; "Tân Việt Nam" (1907); "Hải ngoại huyết th "(1906); "sùng bái giai nhân" (1907) … bên cạnh đó, còn có những tác phẩm

nh : Viễn hải quy hồng, Tang hải lệ đàm của Nguyễn Th ợng Hiền; Tácphẩm Khuyến cáo quốc dân, Kính báo đồng bào lục tỉnh của C ờng Để… Những tác phẩm văn thơ yêu nớc của Phan Bội Châu, Nguyễn Thợng Hiền đều đ

… ợc sử dụng theo lối "Tân văn thể" - một lối viết không chỉ truyền tảicác nội dung thời đại mà còn đợc viết bằng một ngôn ngữ mới, khác hẳn vớicác ngôn ngữ của các lối văn bản có trớc đó Văn chơng của các nhà lãnh

đạo phong trào Đông Du đều hớng vào sự nghiệp chính trị nên văn thơ của

họ không có lối văn chơng "thởng hoa vịnh nguyệt" mà mang tính chiến đấumạnh mẽ Phan Bội Châu trong tác phẩm "Quan niệm của tôi đối với văn ch -

ơng" đã viết: "Thơ văn phải có tác dụng ngay lập tức lập công, lập ngôn, cótác dụng chữa cháy, cứu vớt những kẻ đang chìm" Vì thế văn ch ơng của cácnhà Nho yêu nớc trong phong trào Đông Du đã ít nhiều thoát khỏi khuônsáo của lối văn chơng nặng nề, khô cứng của lớp nhà Nho trớc để trở nênsinh động, lu loát hơn Do đó, những sáng tác của họ đã có tác dụng lớntrong việc cổ động phong trào đấu tranh của nhân dân ta và đóng góp mộtphần không nhỏ vào kho tàng văn học Việt Nam thời kỳ này

Tuy nhiên, trong khi mà phong trào lu học sinh Việt Nam ở Nhật Bản

đang tiến triển thuận lợi thì vào cuối năm 1908, thực dân Pháp dò biết đ ợc

Trang 34

những hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật nên chúng đã thực hiện chínhsách "Kinh tế tuyệt, ngoại giao cùng" (tuyệt đờng kinh tế, bịt lối ngoạigiao) Một mặt, chúng tiến hành bắt bớ phụ huynh của lu học sinh, buộc họphải viết th gọi con em đi Đông Du trở về nớc, cắt đứt con đờng gửi tiền từtrong nớc sang Nhật Bản Mặt khác, căn cứ vào hiệp ớc Pháp - Nhật 1907,chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dơng thông qua Bộ Thuộc địa, Bộ ngoạigiao và Đại sứ quán Pháp ở Tô ky ô trực tiếp yêu cầu nhà đ ơng cục NhậtBản hợp tác điều tra hoạt động cách mạng của lu học sinh Việt Nam Nhà đ-

ơng cục Nhật Bản đã hợp tác một cách tích cực vào công việc đó Đây chính

là nguyên nhân chủ yếu đa phong trào Đông Du đi đến thất bại

Trong thời gian ngắn ngủi (1905 - 1909), việc tiếp thu những kiếnthức tiên tiến của Nhật Bản bao gồm cả những kiến thức văn hoá lẫn nhữngkiến thức khoa học khác cha đợc bao nhiêu song phong trào lu học sinh củangời Việt Nam có ý nghĩa rất lớn Sau khi phong trào Đông Du tan rã, những

lu học sinh đợc đào tạo tại đây sau này rất nhiều ngời trở thành cán bộ cốtcán trong nhiều phong trào cách mạng

Phong trào du học của ngời Việt Nam ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ này

là phong trào du học yêu nớc, cách mạng, là một biểu hiện về tinh thần đấutranh của nhân dân ta xét về phơng diện văn hoá - giáo dục, nó đã làm nênnét đặc sắc riêng của phong trào

2 2.2 Phong trào Duy tân với t cách là một cuộc vận động cải cách văn hoá - giáo dục.

Trong khi Phan Bội Châu đang cố gắng hết sức mình để duy trì sự tồntại của gần 200 du học sinh Việt Nam đang ở Nhật Bản lúc đó thì ở trong n -

ớc, nhiều sĩ phu tân tiến cùng chí hớng cứu nớc, trong vòng hợp pháp vàcông khai đã đứng ra cổ xúy dân chúng h ởng ứng công cuộc Duy Tân tự c-ờng nhằm đổi mới đất nớc về tất cả các mặt.Họ chủ trơng cải cách văn hoá -xã hội đi đôi với động viên lòng yêu nớc của nhân dân ta để đấu tranh vớithực dân Pháp nhằm giành lại độc lập cho dân tộc Phong trào Duy Tân đ ợcphát động rộng rãi và nhanh chóng lan rộng ra toàn quốc

2.2.2.1 Tại Bắc Kỳ: Nổi lên hoạt động của tr ờng Đông Kinh nghĩa thục.

Trang 35

Đơng thời, các nhà Nho yêu nớc tiến bộ của nớc ta hầu hết đều có lýtởng chung là phải làm gì để "hoá quốc cờng dân" Nớc Nam phải tấn phát,sánh vai với các nớc Âu Châu, nhất là theo gơng Nhật Bản phải khai hoá dântrí, coi đó là chìa khoá mở cửa cho mọi sự canh tân đất nớc, đặng dành lại

độc lập dân tộc, tự chủ cho Tổ quốc Chỉ có cách mở trờng học mới thựchiện đợc mong ớc ấy

Hơn nữa, từ thâm tâm, các cụ hiểu rằng sở dĩ nớc ta lâm vào cảnh

"N-ớc yếu, dân ơn" là bởi cái ách chế độ quân chủ, một thể chế xã hội đ ợc xâydựng và bảo vệ bởi hệ t tởng phong kiến Nên chi, muốn thay đổi xã hội thìtrớc hết phải chống lại toàn bộ nền t tởng phong kiến đã tối nát và trở nênnguy hiểm Vũ khí mạnh cần cho sự việc này là đổi mới nền giáo dục, cảicách văn hoá, lên án những cái lạc hậu, lối sống hiện tại của ng ời Việt Nam

và xây dựng những cái mới mẻ, hợp trào lu tiến bộ với xu thế thời đại Trongcác hoạt động cứu quốc lúc này, hoạt động cải cách văn hoá, cải cách giáodục là cực kỳ quan trọng và phù hợp, hơn thế đây lại là lĩnh vực mà các nhàNho có nhiều khả năng đóng góp, phù hợp với sở trờng của Nho gia

Trên cơ sở đó, các sĩ phu yêu nớc tiến bộ đã xin mở Nghĩa thục côngkhai hợp pháp Theo học giả Đặng Thai Mai, vào tháng 5 năm 1907, Nhà n -

ớc bảo hộ đã cho mở trởng Đông Kinh Nghĩa thục với điều kiện "theo ph ơngchâm khai hoá của chính phủ bảo hộ" Thực ra trờng này đợc xây dựng bởicác cụ ta dựa theo một mô hình trờng học mới, tiến bộ đã có ở nớc Nhật từnửa đầu thế kỷ XIX, trong thời điểm Nhật Bản Duy Tân dứt khoát và triệt

để Trờng ấy có tên Nhật là Keiogijuku (1858), phiên âm Hán Việt là Khánh

Ưng nghĩa thục, do một trí thức Nhật là Phukuzawayukichi (Phúc Trạch ĐạiCát) sáng lập

Đông Kinh nghĩa thục hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực song nổi trộinhất vẫn là phơng diện văn hoá - giáo dục

* Đông Kinh Nghĩa Thục - Đỉnh cao của dòng giáo dục yêu nớc đầu thế

kỷ XX.

Về tổ chức, Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ Lơng Văn Can làm Thục ởng Giúp việc cho Thục trởng là giám học, chức vụ này do Nguyễn Quyền -Nguyên huấn đạo tỉnh Lạng Sơn đảm nhiệm Trờng đợc tổ chức thành 4 ban

Trang 36

tr-công tác có quan hệ mật thiết với nhau để duy trì sự hoạt động đều đặn và

- Ban Tu th: Do Thục trởng Lơng Văn Can trực tiếp chỉ đo cũng hoạt

động rất mạnh Ban này gắn chặt với Ban giáo dục, có phận sự chính là soạntài liệu dạy, học, cổ động tuyên truyền

Rõ ràng, Đông Kinh Nghĩa Thục đã có một tổ chức khoa học, gọn nhẹ

và có hiệu quả cao để đảm đơng mọi công việc rất mới mẻ của nhà tr ờng.Lúc đó nh biên soạn sách giáo khoa, tổ chức diễn thuyết, bình văn…

Về cấp học, Đông Kinh Nghĩa Thục đã có 3 bậc là tiểu học, trung học

và đại học Thực ra, đó không phải là 3 cấp học nối tiếp nhau theo một hệthống có chơng trình đợc hoạch định rõ ràng cho mỗi bậc học Đại loại, tiểuhọc để dạy cho ngời mới học quốc ngữ, trung học và đại học dạy cho nhữngngời lớn đã thông chữ Hán hoặc muốn học chữ Pháp Học sinh của trờng cólúc lên tới 2000 ngời, chia làm 8 lớp, gồm nhiều độ tuổi Sự phân chia cấpbậc học nh thế mặc dù vậy cũng đã thể hiện sự tiến bộ hơn so với nền giáodục phong kiến trớc đó

Thầy giáo dạy ở các trờng đều đợc đào tạo khá cơ bản: Nguyễn VănVĩnh và Phạm Duy Tốn tốt nghiệp trờng Thông ngôn Bắc Kỳ chuyên dạytiếng và tiếng Việt cùng với Nguyễn Bá Học và Bùi Đình Tá Môn Hán văn

do nhà Nho nổi tiếng đất Thăng Long lúc đó là cử nhân Đào Nguyên Khổ,phó bản Hòang Tăng Bí, cử nhân Lơng Trúc Đàm, tú tài Nguyễn Quyền đảmnhiệm…

Sự khác nhau giữa nhà trờng Đông Kinh Nghĩa Thục và nhà trờngphong kiến không chỉ về hình thức tổ chức mà cái chính là nội dung hoạt

động của nó

Trang 37

Trong quan niệm của các sỹ phu yêu nớc tiến bộ hồi đó thì sỡ dĩ nớc

ta rơi vào cảnh tối tăm và lạc hậu thì một trong những nguyên nhân chính là

do nền giáo dục Nho giáo Chính nền cựu học - một nền giáo dục cũ vớinhững giáo lý của Hán Nho, Tống Nho hòan toàn không thích hợp với hòancảnh mới và trở thành một lực cản, kìm hãm sự phát triển của xã hội ta Đãthế, thực dân Pháp lại đang có âm mu lợi dụng nó để làm ngu dân và bầncùng hóa dân ta Trớc đó vào thế kỷ XIX, Nguyễn Trờng Tộ và các nhà t t-ởng có xu hớng cải cách cũng đã nhìn thấy sự cần thiết phải áp dụng mộtnền giáo dục mới song vẫn muốn dựa vào chế độ phong kiến để thực hiện.Còn các chí sỹ Đông Kinh Nghĩa Thục - những con ngời đợc đào tạo từ

"Cửa Khổng, sân Trình" đã công khai tuyên bố phủ nhận Nho học - nền giáodục đã kìm hãm con ngời trong vòng dốt nát mà "bao nhiêu cái khổ sở, nhụcnhằn ở nớc Nam ta cũng vì cái dốt mà ra" Chính cái dốt là môi tr ờng chothực dân bành trớng, làm cho nớc bị cớp, dân là nô lệ "Cho nên, nền học cũ

là kẻ thù của sự tiến bộ, của văn minh" và vì thế, các chí sỹ Đông KinhNghĩa Thục tỏ rõ thái độ dứt khoát chống lại nền cựu học

Hủ Nho là sản phẩm của nền học cũ và lực lợng bảo tồn nền học ấy.Nớc đã mất, guồng máy thống trị của thực dân Pháp đã đặt xong, thế nh ngphần đông các hủ Nho vẫn không thừa nhận sự thất bại của mình: Một số hủnho không chịu nhận mình đã "Vong quốc nô" của Pháp vì ta vẫn còn triều

đình, một số khác lại che dấu sự thất bại bằng việc hô hào "tẩy chay", "bấthợp tác" với Pháp, một lực lợng rút lui khỏi cuộc thế để tỏ ra "mình khôngphải đầu hàng họ" Nguồn gốc của thái độ ấy là do đầu óc của họ bị ràngbuộc và làm nô lệ bởi những triết lý đạo Nho đã hết thời thích dụng T tởng

"Trọng xa hơn nay", "Trọng vơng khinh bá" của các hủ nho làm cho họ trởnên hẹp hòi, cố chấp, khép kín Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếulàm cho đất nớc suy yếu và cản trở đến phong trào canh tân văn hoá - xãhội Vì thế, các cụ Đông Kinh Nghĩa Thục đã lên tiếng đả kích vào thái độ

cố chấp và bảo thủ của họ Những tác phẩm nh Điếu hủ Nho, Tế sống thầy

đồ hủ … thực sự là vũ khí hữu hiệu tạo điều kiện cho một nhận thức nghiêmchỉnh, đúng đắn cho mọi ngời

Trang 38

Không những chồng nền cựu học, chống hủ Nho, các cụ còn hô hàochống cả chế độ khoa cử lúc bấy giờ:

"Khoa danh bớc đã qua rồi

Giật mình tỉnh dậy rằng thôi xin chừa"

Cái lối học chẳng có lợi ích thực tế nào Nó chỉ đào tạo những ng ờihoặc "Sống say chết mộng" hoặc "Đỗ lên một tý, đợc cái tiếng quèn đã vộikhủng khỉnh ta đây kẻ cả, tự cho mình là bậc giữ gìn thế đạo" Muốn cải tạo

t tởng, tiêu diệt tính tự cao, tự đại của các hủ Nho thì không gì bằng chốnglại lối học từ chơng khoa cử Các cụ đã nhìn rất sắc sảo và nói có lý về taihại của lối học thi cũ: Khoa cử làm tê liệt tinh thần đối kháng, giết chết sứcsáng tạo của con ngời Nền học mới không lấy việc thi cử làm lý do mở lớp,dựng trờng Học là để "làm ngời dân trung nghĩa" Cho nên, nền học cũ, đề

ra lối thi cử cũ cần đợc phế bỏ để đổi mới giáo dục, nếu không muốn tự diệtvong Tiêu biểu cho tài liệu giáo khoa về chủ đề này là các bài: Bàn về cáihại của khoa cử, Bàn về sự vô hại của việc không có khoa cử, Nói rõ mục

đích của việc học …

Nh vậy là, nền giáo dục phong kiến rõ ràng đã không còn đáp ứng đ ợcnhững yêu cầu mới của lịch sử dân tộc Trong đà tiến chung của nhân loại,muốn phát triển thì cần phải xoá bỏ những cái lạc hậu, cổ hủ Hiểu nh vậynên các sỹ phu yêu nớc tiến bộ Đông Kinh Nghĩa Thục đã lên tiếng, tỏ rõthái độ đả phá cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu

Song các cụ không phải chỉ tự hạn chế ở việc đấu tranh để loại bỏnhững cái xấu đó mà thực sự đã đề xớng ra những cải cách duy tân rất thiếtthực

Nếu trớc kia việc học tập chỉ quanh quẩn ở mấy quyển Tứ Th , NgũKinh thì ở trờng Đông Kinh Nghĩa Thục, học sinh đợc học những môn họcrất mới mẻ so với trớc kia nh: Kinh tế , ngoại ngữ, sử ký, địa d, cách trí, vệsinh, toán pháp, luân lý, thể thao…

Sách vở dùng trong Đông Kinh Nghĩa Thục khá đa dạng nhng có thểchia làm 2 loại: Sách giáo khoa và sách tham khảo

Sách giáo khoa có những cuốn chính thức do nhà trờng soạn, in vàphát công khai, dùng để giảng dạy trong nhà trờng hàng ngày Cuốn sách

Trang 39

quan trọng nhất là cuỗn "Quốc dân độc bản" - nội dung sách là một loại

"công dân giáo dục", nêu lên đạo đức, nhiệm vụ ng ời dân, giới thiệu cách tổchức cơ quan trong một nớc Ngoài ra, còn có các cuốn nh Nam quốc vĩnhân truyện, Nam quốc địa d chí…

Sách tham khảo ở trờng có nhiều Nhiều nhất là sách nớc ngoài từTrung Quốc truyền sang Có sách t tởng nh của Rut- xô, Vôn- te, Mông- tét-xkiơ… Các cuốn sách của các chí sĩ duy tân Trung Quốc nh Lơng KhảiSiêu, Khang Hữu Vi…

ở trờng Đông Kinh nghĩa thục cũng thịnh hành loại sách khoahọc Các nhà Nho đã nhận thấy rằng ở thời đại mới không thể thiếu tri thứckhoa học tự nhiên Những cuốn sách phổ thông cơ bản nh : "Toán pháp tutri", "Cách trí tu tri", hoặc đề cập đến các môn khoa học kỹ thuật nh :''Bácvật tân biên(sách tổng hợp)'',''Nông chính toàn th''(sách dạy trồngtrọt),''Quản khuy trắc lệ''(sách thiên văn)… cũng đã xuất hiện

Sự đa dạng của sách vở giảng dạy trong nhà tr ờng Đông Kinh NghiãThục đã thể hiện bớc nhảy vọt trong nền giáo dục Việt Nam,mở ra nhữngnhận thức mới, những tri thức của nhân loại mà ng ời Việt Nam sau hàng thế

kỉ bị nhồi nhét bởi những chân lý của Tứ th , Ngũ kinh có thể truy cập đợc để

ở rộng tầm hiểu biết của mình Nội dung giáo dục mới vì thế trở nên đadạng và phong phú hơn nhiều

Ngoài việc chú trọng giáo dục cho học sinh những kiến thức cơbản ,mang tính phổ cập theo quan niệm tân học thì nhà tr ờng Đông KinhNghĩa Thục còn chú ý đào tạo ''cán bộ chuyên môn'' cho từng ngànhnghề ,truyền thụ kiến thức chuyên môn Mỗi ngời cần đợc hớng vào việchọc nghề thực thụ,học nghề ở trình độ phổ thông cao:

''Các thứ học phổ thông đã suốt

Học chuyên môn cốt một nghề cao''

Dân ta vốn có quan niệm ''Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh'' Tuynhiên,nền kinh tế phong kiến thuần nông lạc hậu,trì trệ ,bị động cộng vớinhững quan niệm Nho giáo bảo thủ về quản lý kinh tế -xã hội đã làm chodân ta bần cùng, lại bần cùng hơn bởi sự bóc lột tận x ơng tận tuỷ của ngờiPháp ăn cớp Chủ trơng mở giáo dục nghề mới, càng nhiều càng tốt của lớp

Trang 40

Nho sĩ tiến bộ này là kết quả của một sự tự giải phóng nhanh chóng về ýthức hệ Nho giáo của họ Thêm vào đó, gơng sáng về phát triển kinh tế của

Âu tây, Nhật Bản là nguồn sức mạnh giúp họ khẳng định quan niệm, thôithúc họ hành động tích cực:

" Trong một nớc nghề hay đã đủ

Từ đó mà tiến bộ văn minh"

Đây lại là một nét khác biệt nữa giữa tân học và cựu học Học bây giờkhông phải chỉ để làm quan, làm chính sự nh ngày xa mà chỉ cốt "học đểlàm ngời dân" Trong bài" Bàn về cái hại của khoa cử" của Đông KinhNghĩa Thục cũng đã khẳng định: "Thiếu niên chúng ta phải ra sức học cáihữu dụng, chớ để cái học khoa cử phá hỏng chí hớng của mình Những ngờigiàu có nên cho con em ra nớc ngoài vào học các trờng thực nghiệp đểkhuếch trơng nghề nghiệp của mình, nh thế vinh quang hơn cái học khoa cửvạn lần" {1,62}

Nhà trờng Đông Kinh Nghĩa Thục rất chú trọng đến việc giáo dụclòng yêu nớc và tinh thần dân tộc cho học sinh Có thể nói , lúc này các tr -ờng học đều có ít nhiều nói đến quốc gia, dân tộc nh ng còn khá mơ hồ Cònnhà trờng của chính quyền thực dân hay của Nam triều lại càng không dạycho học sinh Việt Nam biết yêu nớc một cách cụ thể, hoặc có nói đến đất n-

ớc thì đó là của vua, kiểu nh "Nam tộc đế Nam phơng" (Họ Nam là vua

ph-ơng Nam) Chỉ đến trờng Đông Kinh Nghĩa Thục mới dạy cho học sinh biếtyêu nớc một cách cụ thể và đề cao tinh thần dân tộc Trong bất kỳ môn họcnào dù là văn học, lịch sử, địa lý… các nhà biên soạn sách đều đề cập đếnvấn đề này Trong cuốn "Văn minh tân học sách" - đợc xem là cơng lĩnh của

sự học mới, có đoạn viết: "Nớc ta từ xa tới giờ, các nhà viết văn kể cũng khánhiều, nh Khâm Định Việt sử cơng mục, Thực lục, Liệt truyện, Nhất thốngchí, Lịch triều chí, Vân đài loại ngữ, Công hạ kiến văn, Địa d chí, Gia Địnhchí, Nghệ An phong thổ loại, Đồ bàn thành ký, Hng Hoá thập lục châu ký,Phủ biên tạp lục … đều đủ cung cấp tại liệu về sơn xuyên, phong tục, vănvật, điển chơng và để cho ngời sau mợn đó làm gơng nữa Vậy mà ngờimình một khi đi học là đọc ngay sách Tàu, bỏ sách n ớc ta không nhìn đến.Tích Đàm vong tổ, thật đáng thơng thay" {10,60}

Ngày đăng: 17/12/2013, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chơng Thâu (1997), Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX, NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX
Tác giả: Chơng Thâu
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 1997
2. Chơng Thâu, Hồ Song (1997), "Sự chuyển hớng t tởng trong phong trào quốc gia - dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX", 2, tr.17-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển hớng t tởng trong phong trào quốc gia - dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Chơng Thâu, Hồ Song
Năm: 1997
3. Đinh Xuân Lâm (1999), … Lịch sử Việt Nam 1897 - 1918, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1897 - 1918
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1999
4. Nguyễn ái Quốc (1962), Bản án chế độ thực dân Pháp, NXB ST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án chế độ thực dân Pháp
Tác giả: Nguyễn ái Quốc
Nhà XB: NXB ST
Năm: 1962
5. Nguyễn Đăng Tiến (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng tháng 8 - 1945, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng tháng 8 - 1945
Tác giả: Nguyễn Đăng Tiến
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
6. Nguyễn Tiến Lựu (1998), "Phong trào lu học của thanh niên Việt Nam ở Nhật Bản (1905 - 1909)", 1,tr. 6 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào lu học của thanh niên Việt Nam ở Nhật Bản (1905 - 1909)
Tác giả: Nguyễn Tiến Lựu
Năm: 1998
7. Nguyễn Trọng Hòang (1967), "Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam", 96, tr.13-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Hòang
Năm: 1967
8. Nguyễn Văn Xuân (2000), Phong trào Duy Tân, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Duy Tân
Tác giả: Nguyễn Văn Xuân
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Kiệm (1997), "Góp thêm vào sự đánh giá Đông Kinh Nghĩa Thôc", 4, tr.1-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm vào sự đánh giá Đông Kinh Nghĩa Thôc
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Năm: 1997
10. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến trớc cách mạng tháng 8 (Tập 2), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX "đến trớc cách mạng tháng 8
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
11. Phan Trọng Báu (1994), "Dòng giáo dục yêu nớc ở Việt Nam cuối thế kû XIX - ®Çu thÕ kû XX", 5,tr. 29-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng giáo dục yêu nớc ở Việt Nam cuối thế kû XIX - ®Çu thÕ kû XX
Tác giả: Phan Trọng Báu
Năm: 1994
12. Vũ Ngọc Khánh (1985), Tìm hiều nền giáo dục Việt Nam trớc 1945, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiều nền giáo dục Việt Nam trớc 1945
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w