1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chính sách phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh an giang (luận văn thạc sỹ luật)

93 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 111,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, tác giả Nguyễn Hải Bắc đã đưa ra 06 nhómgiải pháp về chính sách nhằm phát triển bền vững công nghiệp bao gồm nội dungliên quan đến phát triển công nghiệp trong các KCN như: 1 lựa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT

NGUYỄN HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

• •

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

• •

Trang 2

TP HỒ CHÍ MINH - 2019ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT

NGUYỄN HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

Trang 3

TP HỒ CHÍ MINH - 2019 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhântôi Các số liệu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ côngtrình nghiên cứu khoa học nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có những sai sót

TÁC GIẢ

Nguyễn Hải Yến

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DN Doanh nghiệp

FDI Đầu tư trực tiếp nước

ngoàiKCN Khu công ngiệp

KCX Khu chế xuất

KKT Khu kinh tế

KCNC Khu công nghệ cao

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 5

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

TrangBảng 2.1: Tỷ lệ lấp đầy các KCN tỉnh An Giang đến 2017 31Bảng 2.2: Tình hình thu hút vốn đầu tư các KCN tỉnh An Giang đến

Bảng 2.3:

Số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư vào KCN tỉnh AnGiang giai đoạn từ 2013 đến 2017 35Bảng 2.4: Số lao động trong các KCN tỉnh An Giang giai đoạn 2013

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 9

1.1 Khái quát về KCN 9

1.1.1 Khái niệm về KCN 9

1.1.2 Vai trò của khu công nghiệp 12

1.2 Cơ sở lý luận về chính sách phát triển KCN 16

1.2.1 Khái niệm về phát triển KCN 16

1.2.2 Chính sách nhà nước đối với phát triển KCN 17

1.2.2.1 Khái niệm chính sách phát triển KCN 17

1.2.2.2 Mục tiêu chính sách nhà nước đối với KCN 18

1.2.2.3 Yêu cầu của chính sách và công cụ tác động của chính sách đối với các KCN 20

1.3 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả của chính sách đối với sự phát triển KCN 22

1.3.1 Tiêu chí tỷ lệ lấp đầy KCN 22

1.3.2 Tiêu chí số lượng dự án đầu tư và tổng vốn đầu tư 22

1.3.3 Tiêu chí về số lượng lao động 23

1.3.4 Tiêu chí về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN 23

1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển các KCN 24

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 24

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Cần Thơ 24

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Tỉnh Kiên Giang 25

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh An Giang 28

Trang 7

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ

PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN

GIANG 30

2.1 Khái quát quá trình hình thành các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang 30

2.2 Thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang 32

2.3 Phân tích các chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển các KCN tỉnh An Giang 41

2.3.1 Chính sách về công tác tổ chức quản lý nhà nước đối với các KCN tỉnh An Giang 41

2.3.2 Chính sách về quy hoạch, đầu tư và hỗ trợ đầu tư hạ tầng các KCN tỉnh An Giang 46 2.3.2.1 Chính sách về quy hoạch KCN tỉnh An Giang 46

2.3.2.2 Chính sách về đầu tư và hỗ trợ đầu tư hạ tầng các KCN 49

2.3.3 Chính sách về ưu đãi về thuế đối với các KCN tỉnh An Giang 50

2.3.4 Chính sách ưu đãi về đất đai đối với các KCN tỉnh An Giang 53

2.3.5 Một số chính sách về hỗ trợ khác đối với KCN tỉnh An Giang 56

2.3.5.1 Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp 56

2.3.5.2 Hệ thống dịch vụ sinh hoạt 56

2.3.5.3 Chính sách hỗ trợ đào tạo lao động 57

2.4 Nguyên nhân của những hạn chế chính sách phát triển KCN tỉnh An Giang trong thời gian qua 58

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 62

3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang 62 3.2 Đề xuất điều chỉnh và bổ sung các chính sách để đẩy mạnh phát triển các

Trang 8

KCN trên địa bàn tỉnh An Giang 64

3.2.1 Chính sách quản lý trong phát triển KCN tỉnh An Giang 643.2.2 Chính sách về quy hoạch KCN tỉnh An Giang 673.2.3 Chính sách đầu tư hạ tầng kỹ thuật của khu vực xây dựng KCN tỉnh AnGiang 723.2.4 Chính sách thu hút đầu tư đối với các KCN tỉnh An Giang 773.2.5 Chính sách về hỗ trợ nguồn lao động để phát triển KCN tỉnh An Giang 80

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Đến cuối 2017, các KCN tỉnh An Giang đã thu hút được 24 dự án, trong đó

18 dự án trong nước, 06 dự án FDI (dự án nước ngoài), tổng vốn đăng ký đầu tư2.046 tỷ đồng và 165,3 triệu USD, tổng diện tích đất đã cho thuê tại các KCN là 107

ha, với các nhà đầu tư Thái Lan, Hàn Quốc, Mỹ và Việt Nam Các ngành nghề maygiày dép, quần áo, năng lượng mặt trời, chế biến rau quả đông lạnh, sản xuất cọc bêtông ly tâm, thép, chế biến thủy sản, thức ăn thủy sản, tổng vốn đã thực hiện đầu tưcủa các doanh nghiệp là 926 tỷ đồng và 69,5 triệu USD

Riêng trong năm 2014, Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh An Giang đã cấp Giấychứng nhận đầu tư cho 4 dự án (2 dự án nước ngoài, 2 dự án trong nước) của nhà đầu

tư Hàn Quốc, Mỹ và Việt Nam, tổng vốn đầu tư là 1.206 tỷ đồng với ngành nghề sảnxuất và chế biến rau màu, may giày thể thao xuất khẩu, sản xuất điện năng lượng mặttrời, sản xuất bột cá, mỡ cá, sản xuất phân bón vi sinh và gạch không nung

Với 24 dự án đã đi vào hoạt động ổn định, giải quyết việc làm cho trên 10.500lao động, chủ yếu là lao động trong tỉnh, mức lương bình quân trên 3,5đồng/người/tháng Tại thời điểm hiện cuối 2017, tổng doanh thu của các doanhnghiệp đạt 4.533 tỷ đồng và 90,5 triệu USD, các khoản phải nộp ngân sách đạt 38 tỷđồng và 0,35 triệu USD

Trang 10

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đáng kể đó thì việc phát triển các KCNcũng bộc lộ những yếu kém, hạn chế, việc triển khai đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầngchưa đồng bộ và còn chậm, sức thu hút của các dự án vào KCN còn hạn chế, chưa cónhiều dự án công nghệ cao, còn nhiều bất cập trong giải quyết các vấn đề bức xúccủa KCN như: việc làm và thu nhập cho người dân mất đất do phát triển KCN, vấn

đề đời sống của công nhân KCN và nhân dân xung quanh KCN, đặc biệt là vấn đềmôi trường sinh thái Những khó khăn bất cập đó đã và đang là những rào cản làmcho các KCN chưa phát huy tốt vai trò KCN vốn là động lực để đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh

Trước những vấn đề đó, cần phải có những nghiên cứu lý luận và đánh giáthực tiễn về sự phát triển các KCN Đưa ra các chính sách phát triển các KCN mộtcách cân bằng và hợp lý, không chỉ phát triển về số lượng mà cả về chất lượng củacác KCN, phát huy mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của các KCN Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài

"Nghiên cứu chính sách phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang"làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu các chính sách củanhà nước, bao gồm các chính sách chung từ trung ương và chính sách riêng của tỉnh

An Giang tác động đến sự phát triển của các KCN trong tỉnh An Giang Để đạt đượcmục tiêu trên, luận văn tập trung vào:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KCN và chính sách nhà nước đối với pháttriển KCN

- Phân tích thực trạng phát triển của các KCN trong tỉnh An Giang và cácchính sách của nhà nước tác động đến sự phát triển của các KCN tỉnh An Giangtrong thời gian qua, đồng thời nêu rõ những hạn chế trong phát triển các KCN tỉnh vànguyên nhân tạo ra các hạn chế đó

- Đề xuất một số chính sách chủ yếu nhằm đẩy mạnh sự phát triển các KCNtỉnh An Giang trong thời gian tới

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chính sách tác động tích cực và những hạn chế đối với sự phát triển cácKCN trên địa bàn tỉnh An Giang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian nghiên cứu: các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang Trong luậnvăn này, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu về chính sách phát triển các KCN tỉnh

An Giang đã được hình thành và đi vào hoạt động đến cuối năm 2017

- Về thời gian nghiên cứu: từ khi xây dựng và phát triển các KCN của tỉnh AnGiang (từ năm 2013 đến 2017)

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Vai trò của KCN trong việc phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh An Giangnhư thế nào?

- Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển các KCN?

- Các chính sách nào tác động đối với sự phát triển các KCN?

- Thực trạng phát triển các khu công nghiệp và sự đáp ứng của các chính sáchtrên địa bàn tỉnh hiện nay như thế nào? những mặt đã đạt được và chưa đạt được vànguyên nhân của nó

- Cần có những chính sách nào để KCN trên địa bàn tỉnh An Giang phát triểntrong tương lai?

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác giả, đồng thờiquán triệt các quan điểm, chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang trong vấn đềphát triển các KCN

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp thống

kê, so sánh, kết quả nghiên cứu dựa trên các thông tin đã công bố trên tạp chí, sáchbáo, internet và số liệu sử dụng chủ yếu là số liệu thứ cấp

-6

Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn

Tác giả Nguyễn Hải Bắc với Luận án tiến sĩ kinh tế (2010) nghiên cứu về đề

Trang 12

tài “Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh TháiNguyên” Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Hải Bắc đã làm rõđược những khía cạnh cơ bản về phát triển bền vững công nghiệp (bao gồm nội dungliên quan đến phát triển công nghiệp trong các KCN) và đánh giá thực trạng pháttriển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thông qua ba nhóm tiêuchí là 1) tăng trưởng bền vững; 2) doanh nghiệp bền vững và 3) tổ chức không gianlãnh thổ và phân bố công nghiệp Từ đó, tác giả Nguyễn Hải Bắc đã đưa ra 06 nhómgiải pháp về chính sách nhằm phát triển bền vững công nghiệp (bao gồm nội dungliên quan đến phát triển công nghiệp trong các KCN) như: 1) lựa chọn ngành côngnghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn và phụ trợ 2) điều chỉnh phân bố công nghiệp,xây dựng và phát triển đồng bộ các KCN 3) thực hiện chính sách phòng ngừa và bảo

vệ môi trường 4) thực hiện xử lý các cơ sở, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường 5)thực hiện việc liên kết địa phương, đặc biệt liên kết với Hà Nội là trung tâm kinh tếnhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, và 6) thực hiện nâng cao vai trò quản lýnhà nước, đưa ra các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhằm phát triển bền vững

Tác giả Nguyễn Ngọc Dũng thực hiện Luận án tiến sĩ kinh tế (2010) với đề tài

“Phát triển khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội” Trong công trình nghiêncứu này, luận án đã làm rõ được thực trạng phát triển KCN trên địa bàn Hà Nội,đồng thời nêu được những đóng góp của các KCN đối với sự phát triển của thànhphố Hà Nội và đưa ra được những quan điểm, định hướng, giải pháp quản lý nhằmphát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội Đồng thời, luận án tập trung nghiên cứu sựđồng bộ giữa đầu tư và hiệu quả thu hút đầu tư với hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹthuật và xã hội trong và ngoài hàng rào KCN Tác giả luận án dựa trên những quanđiểm, quản lý phát triển KCN đồng bộ trên địa bàn Hà Nội, thực hiện đề xuất môhình thí điểm áp dụng KCN đồng bộ

Tác giả Đinh Tuấn Đạt với luận văn Thạc sĩ kinh tế (2016) về “Phát triển cáckhu công nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” Tác giả luậnvăn đã đưa ra được cơ sở lý luận về phát triển KCN theo hướng bền vững và đi sâuvào nghiên cứu, phân tích hiệu quả của việc quản lý nhà nước các KCN dưới góc độ

Trang 13

sử dụng nguồn tài nguyên đất đai, định hướng phát triển, thu hút đầu tư, các cơ chếchính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình phát triển của cácKCN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu những tồntại trong cơ chế chính sách quản lý trong thực tiễn áp dụng tại Ninh Bình liên quanđến thu hút đầu tư, công tác bảo vệ môi trường, công trình kết cấu hạ tầng KCN,chính sách lao động trong các KC'N tác giả đã đề xuất các thay đổi về chính sáchnhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững các KCN tỉnh Ninh Bình

Tác giả Bùi Vĩnh Kiên với Luận án tiến sĩ kinh tế (2009) về “Chính sách pháttriển công nghiệp tại địa phương (Nghiên cứu áp dụng với tỉnh Bắc Ninh)” Tác giảluận án đã đi sâu nghiên cứu và đề ra 7 nhóm chính sách cơ bản nhằm đẩy mạnh pháttriển công nghiệp địa phương (bao gồm nội dung liên quan đến phát triển côngnghiệp trong các KCN), trong đó có việc phát triển các KCN và đưa ra 6 tiêu chí cơbản để đánh giá chính sách phát triển công nghiệp tại địa phương làm cơ sở áp dụngcho quá trình thực hiện đánh giá chính sách của địa phương Từ đó, tác giả luận án

đề xuất các giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng các giải pháp tăng cường vai tròquản lý nhà nước, đổi mới hoàn thiện quá trình chính sách có ý nghĩa quan trọngtrong quá trình hoạch định chính sách công nghiệp

Tác giả Phạm Kim Thư với luận án tiến sĩ kinh tế (2016), với đề tài “Quản lýnhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” Tác giả luận

án đã hệ thống hóa được lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các KCN,đồng thời đi sâu vào phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước các KCN trênđịa bàn thành phố Hà Nội từ khi hình thành đến năm 2015 và chỉ ra những thành quảđạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó Từ đó, tác giả luận án đã đềxuất những quan điểm và thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp nhằm hoàn thiện,nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn Hà Nội, trong đótập trung vào các nội dung giải pháp như: hoàn thiện quy hoạch KCN; nâng cao vaitrò quản lý nhà nước của Ban quản lý các KCN; giải pháp về công tác xúc tiến và thuhút đầu tư; hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho phát triển KCN; đổi mới chính sách đào tạo

và phát triển nguồn nhân lực; hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của

Trang 14

Ngoài ra, một số các công trình nghiên cứu về KCN như: Vũ Thành Hưởng(2006), Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp ở Hà Nội được đăng trênTạp chí Kinh tế và Phát triển (11), Hà Nội; Tiến sĩ Lê Thị Thu Hương (chủ nhiệm đềtài, 2015), với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách pháttriển các khu công nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế”,

do Ban kinh tế Trung ương chủ trì Trong đề tài của Tiến sĩ Lê Thị Thu Hương đãxây dựng khung lý thuyết về chính sách phát triển các KCN trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế, đồng thời chỉ ra những thành tựu, hạn chế, bất cập và từ đó đề ra cácgiải pháp hoàn thiện chúng trong điều kiện hội nhập vào kinh tế quốc tế

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu nêu tại mục này, tác giả nhận thấyrằng các luận văn, luận án này đã đạt được những kết quả trong nghiên cứu về KCNnhư: trình bày được đầy đủ các cơ sở lý luận về KCN, cũng như đưa ra được nhữngphương pháp nghiên cứu phù hợp với từng đề tài, mục tiêu nghiên cứu Bên cạnh

đó, từng luận văn, luận án cũng đã đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm đạt được

Trang 15

hiệu quả nghiên cứu của luận văn, luận án Tuy có nhiều công trình nghiên cứu nhưtrên về KCN, nhưng chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu về chính sách pháttriển đối với KCN, nhất là đối với các KCN ở An Giang, do vậy, công trình mà tácgiả luận văn đang nghiên cứu là hướng nghiên cứu hoàn toàn mới so với các côngtrình nghiên cứu trước đó Tuy vậy, qua việc nghiên cứu các công trình luận văn,luận án nêu trên, tác giả luận văn cũng sẽ kế thừa các cơ sở lý luận về KCN mà cáccông trình nghiên cứu trên đã trình bày, đồng thời cũng sẽ áp dụng cùng phươngpháp nghiên cứu mà các tác giả trên đã sử dụng, vì các phương pháp này cũng phùhợp với hướng nghiên cứu mà tác giả sẽ thực hiện tại luận văn này

7 Ý nghĩa nghiên cứu

- Luận văn luận giải một cách có hệ thống thực trạng phát triển các KCN củatỉnh An Giang

- Đề xuất việc điều chỉnh, thực hiện các chính sách kinh tế phù hợp trong bốicảnh mới nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang

- Luận văn bảo vệ thành công có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơquan quản lý nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách của tỉnh An Giang vềphát triển các KCN trên địa bàn tỉnh

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kếtcấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về KCN và chính sách phát triển KCN

- Chương 2: Phân tích các chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển các KCNtrên địa bàn tỉnh An Giang

- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển các KCN trênđịa bàn tỉnh An Giang

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT

TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát về KCN

1.1.1 Khái niệm về KCN

Mô hình KCN có quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay, bắt đầu từnhững nước có nền công nghiệp phát triển như Anh hoặc Mỹ cho đến những nước cónền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan Hiện nay mô hình KCN vẫnđược các quốc gia khác học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệphóa Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia mà KCN có những nội dunghoạt động hoặc những tên gọi khác nhau nhưng đầu mang tính chất và đặc trưng củaKCN Trên thế giới có các mô hình phát triển KCN khác nhau, từ đó cũng hình thànhnhững khái niệm khác nhau về KCN

Tại Philippine, KCN được khái niệm là một khu đất được chia nhỏ và đượcxây dựng căn cứ vào một quy hoạch toàn diện, tổng thể dưới sự quản lý liên tụcthống nhất và với các quy định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khácnhau, ở đó có thể có hay không có các nhà xưởng theo tiêu chuẩn và có các tiện íchcông cộng được xây dựng để phục vụ chung cho KCN Còn tại Indonesia, khái niệm

về KCN theo sắc lệnh của Tổng thống Indonesia, KCN được định nghĩa la khu vựctập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất

và các phương tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý [nguồn: HoàngHải (2003), “Kinh nghiệm châu Á về phát triển Khu kinh tế đặc biệt'', Kỷ yếu hộithảo khoa học: Phát triển các KCN, KCX ở thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề lýluận và thực tiễn, thành phố Hồ Chí Minh]

Từ các định nghĩa trên, tác giả có thể hiểu rằng, đối với các nước khác nhau

có cách định nghĩa về khu công nghiệp khác nhau nhưng tựu trung lại KCN là một

mô hình kinh tế linh hoạt, một khu vực lãnh thổ nhất định được quy hoạch lại mộtcác riêng biệt, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạtđộng sản xuất công nghiệp và có những hoạt động dịch vụ khác nhau, không có dân

cư sinh sống trong KCN Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu

Trang 17

này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ KCN theo quan điểmnày theo tác giả, về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt.

Những khái niệm về KCN còn đang gây nhiều tranh luận, chưa có sự thốngnhất và còn những quan niệm khác nhau về KCN Ở Việt Nam khái niệm về KCN đãđược trình bày tại nhiều văn bản pháp luật, mà điển hình từ 02 văn bản sau:

Định nghĩa về KCN được nêu trong Quy định về quản lý khu công nghiệp vàkhu kinh tế ban hành theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2018của Chính phủ thì KCN được hiểu là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyênsản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp [nguồn:Thủ tướng Chính phủ (2018), Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm

2018 về Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế ]

KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ chosản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ [nguồn: Thủ tướng Chính phủ (2008),Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 Quy định về KCN, KCX

và KKT]

Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quyđịnh về KCN, KCX và KKT cũng quy định một số khái niệm, mà tác giả nghiên cứu

đã hiểu như sau:

Thứ nhất, diện tích đất công nghiệp là diện tích đất đã được đầu tư xây dựng

đầy đủ cơ sở hạ tầng dùng vào việc cho nhà đầu tư thuê hoặc thuê lại để nhà đầu tưxây dựng thêm cơ sở vật chất trên đất thuê hoặc thuê lại để thực hiện dự án sản xuấtkinh doanh trong KCN

Thứ hai, quy hoạch tổng thể KCN là quy hoạch được lập và thực hiện phê

duyệt theo các quy định của pháp luật về lập và phê duyệt, quản lý quy hoạch tổngthể để phát triển kinh tế xã hội

Thứ ba, các doanh nghiệp chế xuất là các doanh nghiệp được thành lập và

hoạt động trong các KCX hay là các doanh nghiệp hoạt động trong KCN hoặc KKT

mà hàng hóa của các doanh nghiệp đó được xuất khẩu toàn bộ ra nước ngoài

Cũng từ Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm

Trang 18

2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì KCN được phân loại thành 02 loại KCNnhư sau:

Loại KCN thứ nhất, tác giả gọi là KCN phổ biến Đối với loại KCN này, tác

giả nhận thấy mang các đặc điểm cụ thể như sau:

Đặc điểm thứ nhất, trong KCN có thể có hoặc không có dân cư sinh sốngnhưng ở bên ngoài hoặc xung quanh các KCN, nhất định phải có hệ thống dịch vụ,

có các nguồn nhân lực nhất định để phục vụ và làm việc trong các KCN

Đặc điểm thứ hai, các KCN này được hình thành và đầu tư hạ tầng kỹ thuậtbởi các công ty dịch vụ KCN, các công ty phát triển, xây dựng hạ tầng KCN Cáccông ty này có trách nhiệm đầu tư và đảm bảo hạ tầng kỹ thuật, tính ổn định xã hộicủa KCN trong suốt thời gian tồn tại của KCN

Đặc điểm thứ ba, các KCN này được quy hoạch mang tính liên lãnh thổ giữacác địa phương với nhau hoặc các vùng lãnh thổ, tỉnh thành với nhau, nó có tầm ảnhhưởng không chỉ ở một địa phương nhất định nơi đặt KCN Nhưng các KCN nàyđược quy hoạch lại riêng biệt, có các chính sách ưu đãi riêng để thu hút đầu tư đốivới các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài

Đặc điểm thứ tư, đó là các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN thực hiệnsản xuất và chế biến các sản phẩm công nghiệp, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ côngnghiệp Sản phẩm của các doanh nghiệp này được bán cả ở trong nước và xuất khẩu

ra nước ngoài

Loại KCN thứ hai, được gọi là KCX Đây là loại KCN chuyên sản xuất hàng

xuất khẩu và thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu,

có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục ápdụng đối với KCN theo quy định của Chính phủ [nguồn: Thủ tướng Chính phủ(2008), Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 Quy định vềKCN, KCX và KKT]

Đối với KCX, tác giả tự nghiên cứu đưa ra các đặc điểm cụ thể đối với KCXnhư sau:

Đặc điểm thứ nhất, hàng hóa xuất nhập khẩu của KCX được thực hiện thôngqua thủ tục hải quan, được hải quan kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu và

Trang 19

doanh nghiệp KCX thực hiện theo pháp luật về hải quan.

Đặc điểm thứ hai, hoạt động trao đổi mua bán giữa các doanh nghiệp trongKCX với các doanh nghiệp ngoài KCX là hoạt động xuất nhập khẩu

Đặc điểm thứ ba, các doanh nghiệp KCX được miễn thuế xuất nhập khẩu,được miễn thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt, được hưởng thuế thu nhậpdoanh nghiệp với mức ưu đãi và thuế chuyển lợi nhuận về nước bằng không

KCN, KCX tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008Quy định về KCN, KCX và KKT được gọi chung là KCN, trừ trường hợp quy định

cụ thể

Từ việc nghiên cứu các khái niệm về KCN trong nước cũng như các kháiniệm về KCN, các đặc điểm của KCN như trên Tác giả luận văn khái niệm về KCNnhư sau: KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, là khu chuyên sản xuất hàngcông nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, các KCN này đượcthành lập theo điều kiện và các thủ tục theo quy định của Chính phủ Việt Nam Vàcác KCN này là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giaiđoạn khác nhau Các KCN có các đặc điểm, có các mục tiêu, bị giới hạn hoạt độngchủ yếu tập trung vào công nghiệp, giới hạn về ranh giới địa lý và bị giới hạn bởithẩm quyền ra quyết định thành lập

1.1.2 Vai trò của khu công nghiệp

Theo nghiên cứu của tác giả, các KCN đóng góp vai trò quan trọng trong pháttriển kinh tế của các tỉnh, thành có KCN, nhất là tại nước ta là quốc gia đang pháttriển Với sự hình thành của các KCN giúp cho quá trình công nghiệp hóa được rútngắn, bởi có thể kêu gọi việc đầu tư những thành tựu mới nhất về khoa học côngnghệ từ các nước phát triển, học tập các mô hình về tổ chức và quản lý doanh nghiệp,đồng thời kêu gọi được các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển Tác giảnhận thấy các KCN có những vai trò cụ thể như sau:

Thứ nhất, KCN tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Các KCN trước khi đưa vào hoạt động, phải được đầu tư cơ sở hạ tầng hoànchỉnh, đồng bộ và hiện đại cùng với các cơ chế quản lý thống nhất và thực hiện nhiều

Trang 20

chính sách ưu đãi đặc thù sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh rất thuận lợi cho cácnhà đầu tư trong nước cũng như hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Chínhđiều này nên KCN sẽ là nơi tập trung và kết hợp được nguồn vốn trong nước và nướcngoài tham gia đầu tư vào các KCN.

Mặt khác, với các chính sách về môi trường đầu tư, ưu đãi đặc thù trong cácKCN nó rất phù hợp với các công ty, tập đoàn quốc tế trong chiến lược mở rộngphạm vi hoạt động, khai thác lợi thế về giá tại các nước đang phát triển, tiết kiệm chiphí từ việc ưu đãi thuế quan, chi phí nhân lực nhằm tăng lợi nhuận trong quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của họ Do việc hoạt động trong các KCN giúp cácdoanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nên đây là đầu mối rất quan trọng trongviệc thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Vàchính nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cùng với việc áp dụng các công nghệ tiên tiếngiúp cho quốc gia đó thực hiện nhanh chóng hơn quá trình công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đồng thờinguồn vốn từ nước ngoài cũng giúp thúc đẩy theo hướng tích cực đối với quá trìnhlưu thông của đồng vốn trong nước

Việc hình thành các KCN cũng thu hút được nguồn vốn trong nước tham giavào với nhiều hình thức khác nhau như: các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu

tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, đầu tư sản xuất trong các KCN, đây cũng là động lựcgiúp KCN thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào

Thứ hai, KCN giúp hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Để thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các KCN không nhữngcần phải được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh trong chính nội tại củaKCN mà còn phải thực hiện đầu tư hạ tầng kỹ thuật kết nối từ KCN đến các đô thị,vùng kinh tế địa phương lân cận hoặc các vùng kinh tế của các tỉnh thành khác Việcđầu tư kết cấu hạ tầng trong KCN cũng như đầu tư các trục hạ tầng giao thông kếtnối như trên nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp tại các KCN có thể gia tăng nănglực sản xuất của họ, tăng tính cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh

Trang 21

Đồng thời với việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật hiện đại tại các KCN, các tỉnhthành địa phương thường tạo dựng thêm quỹ đất mới nhằm xây dựng và phát triển hệthống hạ tầng kỹ thuật lân cận ngoài KCN như các công trình về nhà ở, các côngtrình về phát triển y tế, các công trình về giáo dục, các công trình về đảm bảo vệ sinhmôi trường trong và ngoài KCN, có thể hình thành các khu đô thị hoặc khu dân cưliền kề với các KCN để đảm bảo chỗ ăn ở cho công nhân và những người lao động làchuyên gia tại các KCN.

Ngoài ra, để đáp ứng các hoạt động sản xuất trong KCN cũng như các hoạtđộng kinh doanh dịch vụ bổ trợ phục vụ cho người lao động tại KCN, có thể hìnhthành thêm các dịch vụ khác như các dịch vụ về thị trường bất động sản, các dịch vụliên quan đến tài chính ngân hàng, các dịch vụ liên quan đến viễn thông, điện vớiđầy đủ các dịch vụ hiện đại như của một đô thị mới tại vùng có KCN

Thứ ba, KCN tạo điều kiện áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiến tiến, cách thức quản lý mới.

Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc hình thành các KCNnhằm thu hút các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài,

sẽ giúp tiếp nhận những công nghệ hiện đại, tiên tiến từ các nước phát triển, nhất làcác công nghệ hiện đại được đưa vào đầu tư và ứng dụng từ các doanh nghiệp FDI.Điều này sẽ giúp quốc gia đang phát triển như nước ta rút ngắn rất nhiều thời giantrong quá trình thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Công nghệ hiện đại được áp dụng trong các KCN, nhất là công nghệ được đầu

tư bởi các doanh nghiệp FDI, sẽ giúp không những cho việc tăng năng suất lao động,tăng hiệu quả, hiệu suất trong quá trình sản xuất kinh doanh của chính các doanhnghiệp đó, mà còn làm thay đổi tư duy, thay đổi đầu tư về công nghệ đối với hầu hếtcác doanh nghiệp ngoài KCN để có thể cạnh tranh một phần về chất lượng sản phẩm,chi phí, sản lượng trên thị trường

Đi cùng với việc thay đổi công nghệ là sự thay đổi về chất lượng nhân sự Đểvận hành được công nghệ mới, lực lượng lao động trong các KCN cần bắt buộc phảiđược đào tạo trình độ nghề để có thể vận hành được các máy móc, công nghệ tiên

Trang 22

tiến Đồng thời, nguồn nhân lực cũng cần phải nâng cao tay nghề thường xuyên, phảithay đổi tác phong làm việc công nghiệp để tồn tại trong thị trường lao động cạnhtranh gay gắt Và để quản lý được nhân sự ngày càng lớn và có trình độ ngày càngcao hơn, các cấp quản lý trong các KCN cũng phải thường xuyên thay đổi tư duyquản lý, thường xuyên phải được đào tạo kiến thức, kinh nghiệm quản lý mới để đápứng xu thế phát triển.

Thứ tư, KCN góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tạo ra thu nhập cho người lao động.

Việc kêu gọi nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào cácKCN đã tạo ra nhu cầu lớn về sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong cácKCN từ đó thu hút một lượng lớn lao động vào làm việc cho các doanh nghiệp trongKCN, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và các tệ nạn xã hội

Do các doanh nghiệp trong các KCN được đầu tư công nghệ tiên tiến, nênnhân lực trong các KCN sẽ được đào tạo tay nghề, trình độ tương ứng với mức côngnghệ hiện đại, tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề chuyên sâu cao, có hàmlượng chất xám cao, đồng thời góp phần phân công lại lực lượng lao động trong xãhội

Thị trường lao động trong các KCN thường diễn ra gay gắt, mức cải tiến thayđổi áp dụng công nghệ hiện đại, giúp thúc đẩy người lao động phải thường xuyênnâng cao trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn để đáp ứng với nhu cầu thay đổi vàphát triển của công nghệ hiện đại Từ đó, sẽ giúp hình thành một đội ngũ lao độngcủa nền công nghiệp hiện đại, và đi đối với đó là tạo ra mức thu nhập tương xứng vớitrình độ chuyên môn, trình độ tay nghề cao của người lao động trong các KCN

Thứ năm, KCN góp phần thúc đẩy bảo vệ môi trường

Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại các khu vực riêng lẻ không được quyhoạch vào một nơi tập trung như KCN, nhất là đối với các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực sản xuất quy mô tương đối thì việc các doanh nghiệp đó đầu tư một hệthống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường rất hạn chế, bởi bịtác động do các nguyên nhân như hệ thống hệ thống tiếp nhận nước thải chungkhông đáp ứng, mức đầu tư cho hệ thống xử lý quá tốn kém, ý thức bảo vệ môi

Trang 23

trường của các lãnh đạo doanh nghiệp, mức độ giám sát và quản lý của các cơ quannhà nước có thẩm quyền Việc hình thành các KCN giúp các doanh nghiệp tách biệt

ra khỏi vùng dân cư đông đúc, được hoạt động trong vùng có hệ thống xử lý nướcthải hoàn chỉnh, đảm bảo hạn chế tối đa sự ô nhiễm của chất thải trong sản xuất, giúp

về bảo vệ môi trường tốt hơn

1.2 Cơ sở lý luận về chính sách phát triển KCN

1.2.1 Khái niệm về phát triển KCN

Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiếnlên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện củacác sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan [nguồn: Học viện chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, Khoa quản lý kinh tế (2003), Giáo trình quản lý kinh tế, NXB Chínhtrị quốc gia Hà Nội]

Hiểu theo khái niệm trên, tác giả cho rằng, phát triển chính là sự thay đổi theochiều hướng tích cực hơn, tốt hơn cái trước đó về nhiều mặt của sự vật hiện tượnghoặc đối tượng nào đó, nhưng phải được đặt trong một khoảng thời gian hoặc khônggian nhất định

Dựa trên khái niệm và nghiên cứu về lý thuyết sự phát triển nêu trên, áp dụngđối với mô hình KCN đã được tác giả trình bày tại mục 1.1 chương này Theo tácgiả, khái niệm về phát triển KCN như sau:

Phát triển KCN là việc quy hoạch KCN, thực hiện hoàn thiện cơ sở hạ tầngKCN phù hợp với tổng thể KCN trong nước và phù hợp với quy hoạch phát triểnkinh tế tại mỗi địa phương, nhằm thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu

tư vốn và tổ chức sản xuất kinh doanh trong KCN Nhà nước có các chính sách quản

lý nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển ở các mặt như: phát triển quy mô, pháttriển và đạt các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế, có đóng góp vào mục tiêu tăng trưởngkinh tế, mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh trên các mặt của các doanh nghiệptrong KCN nói riêng và đối với KCN nói chung Quá trình hoạt động của các doanhnghiệp trong KCN luôn luôn phải đảm bảo song hành với các mục tiêu về bảo vệmôi trường cũng như các mục tiêu liên quan đến cải thiện, giải quyết các vấn đề xãhội

Trang 24

1.2.2 Chính sách nhà nước đối với phát triển KCN

1.2.2.1 Khái niệm chính sách phát triển KCN

Chính sách là hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp và quản lý được thểchế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đấtnước [nguồn: Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2007), Giáo trình chínhsách kinh tế xã hội, Đại học Kinh tế Quốc Dân; Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹthuật]

Từ khái niệm về chính sách nêu trên, tác giả thấy rằng vì KCN là một quầnthể các doanh nghiệp được xây dựng theo tiêu chuẩn và nguyên tắc nhất định, trênmột vị trí có kết cấu hạ tầng và điều kiện tự nhiên thuận lợi nhằm đảm bảo sản xuất

có hiệu quả đối với các doanh nghiệp trong KCN nhưng vẫn phải đảm bảo các yếu tốkhác như yếu tố về bảo vệ môi trường Nhằm đảm bảo cho các KCN hoạt động hiệuquả và phát triển, Chính phủ ban hành những chính sách và tại các địa phương cũngban hành những chính sách riêng cho xây dựng và phát triển KCN Do đó, chínhsách phát triển KCN chính là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhànước lên các KCN nhằm thu hút đầu tư theo quy hoạch phù hợp với phát triển kinh

tế xã hội địa phương, đảm bảo bố trí hợp lý nguồn lực như tài nguyên, đất đai, vốn,lao động, cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.Trong đó, các chính sách phát triển KCN phải vừa đảm bảo mục tiêu đề ra của địaphương, của nhà nước nhưng cũng phải đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp đầu

tư, tạo ra tính hấp dẫn cho các doanh nghiệp đầu tư Trong quá trình thực hiện chínhsách phát triển KCN, phải thực hiện đủ ba chức năng sau đây:

Một là, chức năng hoạch định: quyết định chủ trương, quy hoạch phát triểnKCN, mục tiêu, quy mô và hướng hoạt động của từng KCN trên cơ sở chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của từng địa phương

Hai là, chức năng điều hành: đó là sự nỗ lực của các cấp chính quyền địaphương nhằm thực hiện các chính sách có hiệu quả nhất

Ba là, chức năng tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển củaKCN: có thể là đầu tư cơ sở hạ tầng KCN để cho thuê hoặc giao cho các doanhnghiệp là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN

Trang 25

1.2.2.2 Mục tiêu chính sách nhà nước đối với KCN

Phát triển các KCN luôn liên quan trực tiếp đến các doanh nghiệp côngnghiệp nhỏ và vừa tại địa phương Hầu hết mục tiêu của các doanh nghiệp nói chung

và các doanh nghiệp trong KCN nói riêng là mục tiêu lợi nhuận, càng tối đa hóa lợinhuận càng tốt đối với các doanh nghiệp Để đảm bảo rằng các hành vi kinh doanhcủa các doanh nghiệp trong KCN không có lợi đối với các doanh nghiệp khác, khắcphục những điểm yếu của cơ chế thị trường và điều chỉnh, kiểm soát hoạt động củacác doanh nghiệp trong KCN theo những mục tiêu ngay từ ban đầu khi đầu tư vàoKCN, nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng và điều tiết hoạt động củacác doanh nghiệp thông qua các chính sách của nhà nước

Các chính sách của nhà nước áp dụng đối với KCN không chỉ là chính sáchtác động đến việc quy hoạch, điều hành, kiểm soát các hoạt động và phát triển củacác doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp lý, mà các chính sách còn phải có tác độngtích cực đến các hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp Do đó, chính sách củanhà nước đối với phát triển KCN phải mang tính tạo ra một môi trường pháp lý thật

ổn định và bình đẳng đối với tất cả các doanh nghiệp và các chính sách đó phải tạođộng lực khuyến khích và tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp thuận lợi tronghoạt động, mạnh dạn mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất

Theo phân tích như trên, tác giả nhận thấy rằng, các chính sách đối với pháttriển KCN nhằm đảm bảo các mục tiêu cụ thể như sau:

Một là, chính sách cần tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và pháttriển KCN: đây là mục tiêu hàng đầu của các địa phương khi lập KCN, do đó cácchính sách đối với KCN nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong KCN nóiriêng là phải tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào KCN, các nhàđầu tư bỏ vốn xây dựng và vận hành các doanh nghiệp trong KCN Muốn đạt mụctiêu này, cần ban hành và thực hiện các chính sách về ưu đãi cho các dự án trongKCN, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục hành chính, các chính sách về

cơ sở hạ tầng KCN Đối với vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng có hiệu quả: nhu cầu đầu

tư vào cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất vào việc hình thành KCN là rất lớn Đối với một

số địa phương với ngân sách hạn hẹp thì có thể nguồn vốn nhà nước không đáp ứng

Trang 26

đủ hoặc nguồn vốn kêu gọi từ khu vực tư nhân để xây dựng KCN cũng không đápứng đầy được Vì vậy, để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầngKCN, ngoài chương trình đầu tư vốn nhà nước hiệu quả, cũng cần phải có chính sáchkhuyến khích tư nhân đầu tư hiệu quả vào cơ sở hạ tầng các KCN.

Hai là, sử dụng quỹ đất hiệu quả: đất xây dựng KCN thường là đất có thểdùng cho các ngành phi công nghiệp hoặc đất đô thị Quỹ đất ngày càng hạn hẹp thìviệc sử dụng đất để xây dựng KCN hiệu quả là mục tiêu quan trọng trong chính sáchcủa nhà nước đối với lĩnh vực KCN Để sử dụng đất có hiệu quả phải có các chínhsách liên quan đến quy hoạch xây dựng các KCN có tính lâu dài và kết hợp với yêucầu phát triển công nghiệp với yêu cầu khác của phát triển kinh tế xã hội

Ba là, các chính sách phát triển KCN phải gắn với bảo vệ môi trường sinhthái: ưu tiên cho phát triển công nghiệp trong các KCN nhưng chính sách nhà nướcđối với các KCN phải gắn liền với mục tiêu là ngăn ngừa các hành vi gây ô nhiễmmôi trường Các chính sách phải đi kèm theo các biện pháp buộc các nhà đầu tư, cácdoanh nghiệp phải đảm bảo tiêu chuẩn về xử lý chất thải, ứng dụng công nghệ bảo vệmôi trường Các chủ đầu tư, các doanh nghiệp thường hoạt động vì mục tiêu lợinhuận trước mắt của họ nên họ tìm đủ mọi cách tiết giảm chi phí, trong đó có việctiết giảm chi phí xử lý chất thải công nghiệp và tìm cách thải ra môi trường xungquanh Bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN là mục tiêu rất quan trọng trong cácchính sách nhà nước đối với các KCN

Bốn là, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động: đây là một mụctiêu quan trọng, bởi xét cho cùng phát triển các KCN là nhằm thu hút thật nhiều cácdoanh nghiệp vào đầu tư và tạo ra công ăn việc làm ổn định với mức lương tốt so vớicác ngành nghề lao động chân tay khác, từ đó tạo ra cuộc sống tốt hơn cho các thànhphần dân cư vệ tinh xung quanh KCN Chính sách nhà nước đối với các doanhnghiệp cần phải đạt được mục tiêu là khuyến khích các doanh nghiệp, kể cả cácdoanh nghiệp FDI thu hút nguồn nhân lực địa phương, đồng thời các chính sách đócần phải có tính pháp lý cao trong bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho người lao động như

về chế độ thu nhập, chế độ an sinh xã hội

Trang 27

1.2.2.3 Yêu cầu của chính sách và công cụ tác động của chính sách đối với các KCN

Về yêu cầu của chính sách: theo tác giả phải đáp ứng được các yêu cầu như

sau:

Thứ nhất, các chính sách đối với các KCN phải tuân thủ và phù hợp với cácquy định của pháp luật, đồng thời chính sách đó cần phải đáp ứng và phù hợp đượcvới các yêu cầu của xã hội Nghĩa là, các chính sách liên quan đến phát triển KCNngoài việc tuân thủ các quy định, quy chế của nhà nước, thì các chính sách đó cũngphải phù hợp với đặc thù tại từng địa phương, văn hóa dân tộc, đạo đức dân tộc tạiđịa phương Nhưng, vẫn phải đảm bảo là, tạo ra sự thuận lợi trong các cải tiến, sángtạo của các doanh nghiệp trong KCN mà không vi phạm luật pháp, quy định của nhànước

Thứ hai, các chính sách phải tạo ra cú hích mạnh mẽ giúp các doanh nghiệptrong KCN tăng cao khả năng cạnh tranh của họ trong chính thị trường nội địa cũngnhư thị trường xuất khẩu Để tạo ra được điều này, các chính sách nhà nước phải tạo

ra sự thúc đẩy đối với các doanh nghiệp trong KCN nghiên cứu áp dụng công nghệhiện đại trong sản xuất, phát huy và tận dụng tối đa được những lợi thế về thế mạnhcủa địa phương trong sản xuất và phát huy hết khả năng vận hành sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Thứ ba, chính sách của nhà nước phải tạo ra sự bình đẳng giữa các doanhnghiệp trong KCN, và điều chỉnh được làm sao mục tiêu của các doanh nghiệp phảiphù hợp với mục tiêu của địa phương nơi có KCN

Thứ tư, chính sách nhà nước phải tạo các điều kiện để đảm bảo cho việc pháttriển môi trường xung quanh các KCN phát triển nhằm có thể cung cấp các nhu cầu

để các doanh nghiệp hoạt động xuyên suốt, hiệu quả như: chính sách về nguồn nhânlực, vật lực và tài lực, các chính sách trong hỗ trợ thông tin nhanh chóng chính xác,kịp thời mới giúp cho việc xây dựng các KCN và các doanh nghiệp trong KCNphát triển hiệu quả

Về công cụ của chính sách, theo tác giả là hệ thống pháp luật để quản lý và

điều chỉnh mọi mặt hoạt động của KCN, bao gồm: Luật đầu tư (quy định hoạt động

Trang 28

đầu tư vào các KCN như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư dự án trong KCN đồngthời quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ đầu tư trong hoạt động của KCN), Luậtdoanh nghiệp (quy định các loại hình, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, các dự án trong KCN), Luật các tổ chức tín dụng và Luật bảo hiểm(quy định về các điều kiện hành nghề trong KCN), Luật bảo vệ môi trường và Luậtlao động (quy định về hành vi của các doanh nghiệp, của chủ đầu tư và người laođộng trong KCN), Luật thương mại (quy định các giao dịch mua bán, trao đổi hànghóa trong KC'N)

Ngoài các Luật trên, các KCN còn chịu tác động bởi Nghị định số 36/CP ngày23/04/1997 về Quy chế KCN, KCX, KCNC, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày14/03/2008 Quy định về KCN, KCX và KKT và Nghị định điều chỉnh bổ sung số164/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Các Nghị định này quy định các nội dung về phươngthức quản lý, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước đối với các KCN, và một số cácquy định khác sẽ được phân tích chi chiết tại Chương 2 của Luận văn

1.3 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả của chính sách đối với sự phát triển KCN

1.3.1 Tiêu chí tỷ lệ lấp đầy KCN

Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê

Diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê

Tỷ lệ lấp đầy KCN được tính bằng tổng số diện tích đất công nghiệp trongKCN đã cho thuê trên tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê trong KCN Tỷ

lệ này thông thường thấp ở giai đoạn đầu của dự án và có thể tăng dần theo số nămhoạt động của KCN Đây là chỉ tiêu để đánh giá mức độ thành công của các KCNvới nhau trong việc thu hút đầu tư Nếu tỷ lệ này đạt 100%, nghĩa là các KCN đãkhai thác đạt 100% hiệu suất diện tích đất có thể cho thuê

Trang 29

1.3.2 Tiêu chí số lượng dự án đầu tư và tổng vốn đầu tư

1.3.3 Tiêu chí về số lượng lao động

Tổng số lao động địa phương trong KCNLđp/lđ = -; -; - -

Tổng số lao động trong KCN

Trong đó, Lđp/lđ là tỷ lệ lao động địa phương trên tổng số lao động

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động trong các KCN vàthể hiện được lợi ích của việc xây dựng KCN đối với giải quyết việc làm, giải quyếttình trạng thất nghiệp, ma trọng tâm là giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo công ănviệc làm cho lao động địa phương của huyện/tỉnh nơi có KCN Tỷ lệ Lđp/lđ càng caothì khả năng giải quyết việc làm cho lao động địa phương càng lớn

1.3.4 Tiêu chí về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN

Trang 30

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh ngoại tệ trung bình của dự án trong cácKCN, đánh giá hiệu quả xuất khẩu của các dự án đầu tư vào KCN

1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển các KCN

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Cần Thơ

Giảm giá đất thô cho các đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN, đồng thời tăng tỷ lệdiện tích đất xây dựng công nghiệp lên từ 70-75% (thay vì trung bình 65% như hiệnnay), như vậy chi phí đầu tư để tạo ra một mét vuông đất sạch (đất đã có hạ tầng) sẽgiảm, và giá cho thuê lại đất của các đơn vị kinh doanh hạ tầng sẽ giảm (đây là vấn

đề chủ yếu mà các vấn đề chủ yếu mà các nhà đầu tư xem xét khi có ý định đầu tư)

Theo Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chínhphủ về sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế thì thành phốCần Thơ có duy nhất KCN Thốt Nốt được hưởng ưu đãi về thuế Thu nhập doanhnghiệp “Miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đốivới thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới”, vì vậy đề nghị UBND thành phố tậptrung đầu tư giải phóng mặt bằng, đầu tư kết cấu hạ tầng vào khu công nghiệp ThốtNốt nhằm đón đầu thu hút nhà đầu tư vào đây khi cầu Vàm Cống được khánh thành

Đề nghị UBND thành phố kiến nghị Chính phủ, Bộ ngành Trung ương đưaKhu công nghiệp Cần Thơ vào địa bàn ưu đãi đầu tư, và ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp cho các doanh nghiệp trong KCN

Kiến nghị với Chính phủ, Bộ ngành trung ương giảm thuế thu nhập doanhnghiệp cho các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, không nên xemnhững nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp như nhà đầu tư kinh doanhbất động sản

Để tạo môi trường đầu tư thông thoáng nhằm thu hút các doanh nghiệp đếnvới thành phố Cần Thơ làm ăn lâu dài, Ban Quản Lý các Khu Chế xuất và Côngnghiệp Cần Thơ đề nghị UBND thành phố làm rõ chức năng, nhiệm vụ của BanQuản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ để các sở, ngành trong thànhphố biết và phối hợp thực hiện nhiệm vụ Đồng thời, UBND thành phố nên tiếp tục

Trang 31

ủy quyền cho Ban Quản lý các KCX và công nghiệp Cần Thơ thực hiện các nhiệm

vụ đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, ngày 14 tháng 3năm 2008, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP, ngày 12 tháng 11 năm 2013 của ChínhPhủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng

3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh

tế, nhằm thực hiện tốt công tác cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửaliên thông Đây cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nghị quyết 19/2015

“đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, triển khai đồng bộ cơ chế một cửa, một cửaliên thông và tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” Ban Quản

lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ là cơ quan quản lý nhà nước trongKCN và là cơ quan đầu mối giúp UBND thành phố thực hiện việc quản lý hoạt độngcủa các KCN trên địa bàn, nếu có vấn đề gì phát sinh trong KCN có liên quan đếncác sở, ngành thì Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ là cơ quanchủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan để giải quyết, có như thế sẽ hạn chếđược những hệ quả của việc quản lý nhà nước chồng chéo, trùng lắp như hiện nay,

sự chủ quan và đùn đẩy trách nhiệm của các sở, ngành sẽ tạo ra gánh nặng cho doanhnghiệp, làm cho doanh nghiệp có thể bị mất cơ hội kinh doanh, không cạnh tranhđược, nhất là trong điều kiện hội nhập

Đề nghị ngân sách hỗ trợ từ 30% đến 50% cho những dự án đầu tư xây dựngnhà ở công nhân và đầu tư 100% cho các công trình phúc lợi công cộng trong khucông nghiệp như: trường học, nhà trẻ, khu vui chơi giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu

bù đắp giá trị về mặt tinh thần cho công nhân lao động trong các KCN

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Tỉnh Kiên Giang

Hiện nay Kiên Giang đã xây dựng và áp dụng bộ thủ tục hành chính theo Đề

án 30 của Chính phủ tại Ban quản lý khu kinh tế với 65 thủ tục hành chính Đồngthời, hàng năm tỉnh này đều thực hiện việc nghiên cứu, cập nhật các văn bản, quyđịnh của pháp luật để rà soát, đối chiếu với các thủ tục hành chính và sửa đổi, bổsung, loại bỏ những loại giấy tờ không cần thiết; chuẩn hóa các quy định về trình tựthủ tục, hồ sơ; rút ngắn thời gian và quy trình xử lý các thủ tục hành chính, đảm bảogiải quyết hồ sơ của các nhà đầu tư được nhanh chóng, chính xác, hiệu quả đúng theo

Trang 32

quy định Kiên Giang cũng đã thực hiện xong đề án “tiếp nhận và giải quyết thủ tụchành chính theo cơ chế một cửa”; đang xây dựng hoàn thiện hệ thống quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 nhằm tạo môi trường đầu tư - kinh doanh côngkhai, minh bạch, bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp Bên cạnh nỗ lực cải cáchthủ tục hành chính, Ban quản lý khu kinh tế thường xuyên thực hiện công tác tuyêntruyền, hướng dẫn pháp luật và tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp đểtheo dõi, trao đổi nắm bắt thông tin về tình hình triển khai dự án, tiến độ đầu tư xâydựng dự án, qua đó kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanhnghiệp Trong thời gian tới, Kiên Giang sẽ tiếp tục rà soát bộ thủ tục hành chínhthuộc thẩm quyền giải quyết của Ban quản lý khu kinh tế theo hướng đề nghị bãi bỏcác thủ tục hành chính, các quy định không cần thiết Triển khai áp dụng có hiệu quả

hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 nhằm giảm thiểu thờigian và chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời tiếp tục xây dựng đề án “Tiếp nhận vàgiải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông”, từng bước tiến đếnviệc giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp thông qua môi trường mạng

Ngày 29/01/2011, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số UBND phê duyệt đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011 - 2015

347/QĐ-và định hướng đến năm 2020 Theo đó tỉnh sẽ hỗ trợ chi phí đào tạo nghề ngắn hạn(trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) cho doanh nghiệp sử dụng lao độngnông thôn với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học; mức hỗ trợ cụ thể tùy theotừng nghề và thời gian học nghề thực tế UBND tỉnh cũng đã Ban hành Kế hoạch số106/KH-UBND ngày 11/11/2014 Kế hoạch đào tạo lao động có tay nghề làm việc tạicác khu - cụm công nghiệp và khu du lịch đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh KiênGiang nhằm mục tiêu huy động tối đa nguồn lao động của tỉnh để đào tạo, bồi dưỡngtay nghề cho lao động; qua đó vừa đáp ứng hiệu quả nhu cầu sử dụng lao động củacác doanh nghiệp vừa góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương

Về phía Ban quản lý khu kinh tế luôn chủ động tìm hiểu về nhu cầu tuyểndụng và sử dụng lao động của các dự án trong KCN, đặc biệt là các dự án sử dụnglực lượng tương đối lớn để từ đó phối hợp với các đơn vị liên quan có hướng chuẩn

bị lực lượng lao động phục vụ cho các doanh nghiệp Ngoài việc vận dụng các chính

Trang 33

sách ưu đãi đầu tư, Kiên Giang còn chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng

bá hình ảnh, giới thiệu tiềm năng thế mạnh của tỉnh nói chung và các KCN nói riêng;tham dự các hội nghị, hội thảo, diễn đàn hợp tác kinh tế trong và ngoài tỉnh để quảng

bá xúc tiến đầu tư; tiếp cận trực tiếp với các doanh nghiệp để giới thiệu, cung cấpthông tin, mời gọi đầu tư Chủ động thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hànhchính, tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp trong thủ tục đầu tư

Về lĩnh vực đầu tư, thời gian qua Ban quản lý khu kinh tế đã thực hiện 23 thủtục hành chính; thời gian cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệpđược rút ngắn hơn so với quy định; cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư trung bình là 4ngày/thủ tục hành chính, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư trung bình là 02ngày/thủ tục hành chính Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sớm triển khai

dự án, trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, tuy vẫn còn một số dự án vềthành phần hồ sơ, các thủ tục liên quan chưa hoàn chỉnh nhưng Ban quản lý khu kinh

tế đã đề xuất với UBND tỉnh cho phép các nhà đầu tư gia hạn việc bổ sung hoànchỉnh các thủ tục trong thời gian 1 - 2 tháng sau khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.Ngoài ra, Ban quản lý khu kinh tế còn chú trọng tăng cường ứng dụng công nghệthông tin vào công tác hành chính; cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin trên cổngthông tin điện tử của đơn vị để doanh nghiệp dễ dàng cập nhật nắm bắt thông tincũng như thực hiện các thủ tục hành chính

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh An Giang

Từ thực tế và kinh nghiệm phát triển KCN của các địa phương, có thể rút ranhững bài học kinh nghiệm bổ ích nhằm phát triển KCN của An Giang:

Thứ nhất, quy hoạch KCN phải được hết sức quan tâm, phải thường xuyên ràsoát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế; đồng thời công táctriển khai thực hiện quy hoạch phải linh hoạt, thông thoáng Quy hoạch phải mangtính toàn diện và hợp lý giữa quy hoạch trong và ngoài hàng rào KCN Đảm bảo sựliên kết chặt chẽ giữa các KCN trong khu vực

Thứ hai, cơ sở hạ tầng KCN phải đi trước một bước Phát triển KCN cũng cónghĩa là phát huy vai trò hạt nhân của nó đối với sự hình thành những đô thị hiện đại,muốn vậy phải chú ý đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng phải đi trước

Trang 34

một bước, gắn việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong KCN với cơ sở hạ tầng ngoài hàngrào KCN một cách đồng bộ, hiện đại.

Thứ ba, phát triển KCN cần có sự lựa chọn thật kỹ lưỡng, tránh phát triểnKCN ồ ạt, xé rào

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước

Thứ năm, cần kết hợp giữa khâu cấp phép và khâu thanh tra, giám sát hoạtđộng của KCN, đặc biệt là việc kiểm tra sau cấp phép

Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo ra những điều kiệnthuận lợi nhất cho nhà đầu tư và doanh nghiệp

Thứ bảy, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm nângcao trình độ tay nghề cũng như kỷ luật lao động, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cácdoanh nghiệp

Thứ tám, cần phải thường xuyên quảng bá hình ảnh, thế mạnh của tỉnh AnGiang để thu hút các nhà đầu tư

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương này, luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ được các vấn đề sau:Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ khái niệm về KCN, vai trò của KCN đốivới nền kinh tế

Luận văn cũng đã hệ thống hóa và làm rõ được khái niệm về phát triển KCNcũng như làm rõ khái niệm về chính sách nhà nước đối với phát triển KCN, chỉ rađược mục tiêu của chính sách nhà nước đối với KCN, với bốn mục tiêu cụ thể là:chính sách cần tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển KCN; sử dụngquỹ đất hiệu quả; các chính sách phát triển KCN phải gắn với bảo vệ môi trường sinhthái; tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động Đồng thời tác giả luậnvăn cũng đưa ra được bốn yêu cầu của chính sách và công cụ tác động của chínhsách đối với các KCN

Luận văn cũng chỉ ra được một số tiêu chí cơ bản nhằm đánh giá hiệu quả củachính sách đối với sự phát triển của các KCN

Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệp của Cần Thơ và Kiên Giang trongphát triển KCN, tác giả luận văn đã rút ra được những bài học kinh nghiệm về chính

Trang 35

sách phát triển KCN cho tỉnh An Giang.

Trang 36

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1 Khái quát quá trình hình thành các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang

Tính đến 31/12/2017 tỉnh An Giang có tổng cộng 04 KCN căn cứ theo Công văn

số 576/TTg-KTN ngày 22/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung các KCNcủa tỉnh An Giang tại Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới và mở rộng đếnnăm 2015 và định hướng đến năm 2020, với các KCN bao gồm: Bình Hòa (250 ha),Bình Long (150 ha), Vàm Cống (200 ha) và Hội An (100 ha) nhưng thực chất chỉ mới có

02 KCN đã được đầu tư hạ tầng và đi vào hoạt động chính thức với tổng diện tích đấtcông nghiệp có thể cho thuê là 121 ha, trong đó KCN Bình Hòa với 100 ha cho thuê vàKCN Bình Long với 21 ha cho thuê Tỷ lệ lấp đầy KCN Bình Hòa là 86% và KCN BìnhLong là 100% (phân tích thực trạng tại mục 2.2 chương này)

KCN Bình Hòa được thành lập theo Quyết định 1183/QĐ-UBND ngày09/06/2009 của UBND tỉnh An Giang với quy mô 131,78 ha, diện tích đất công nghiệp

có thể cho thuê là 100 ha Cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN Bình Long được chính thức đưavào hoạt động giai đoạn 1 năm 2010 và cho đến cuối 2013 đã hoàn thành hạ tầng KCN,ngoài ra đường giao thông nối KCN Bình Hòa ra sông Hậu và cầu tàu đã hoàn thành đưavào sử dụng năm 2016 Đến cuối 2017 hiện có tổng cộng 13 dự án đã được cấp giấychứng nhận đầu tư, trong đó có 08 dự án của nhà đầu tư trong nước và 05 dự án của nhàđầu tư nước ngoài Ngành nghề hoạt động của các dự án bao gồm sản xuất vật liệu, cánthép, cấp nước, sản xuất mùng mền, cơ khí chế tạo máy chế biến thực phẩm và cung cấpsuất ăn công nghiệp

Năm 2016, UBND tỉnh An Giang tiếp tục phê duyệt dự án đầu tư san lấp mặtbằng KCN Bình Hòa mở rộng với quy mô 30,38 ha Hiện Trung tâm phát triển quỹ đấtđang trong quá trình tiến hành giám định thiệt hại đối với các hộ dân trong vùng dự án

và Sở Tài nguyên môi trường tỉnh An Giang đang tổng hợp các dự án sử dụng đất lúatrên 10 ha để tham mưu UBND tỉnh An Giang trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.Ban QLKKT tỉnh An Giang đã triển khai thu tiền sử dụng hạ tầng các doanh nghiệptrong KCN Bình Hòa từ năm 2012 đến nay với số tiền trên 2,2 tỷ đồng Tuy vậy, hiện

Trang 37

nay các đường số 3, đường số 4, đường số 7 của giai đoạn 1 tiếp giáp Quốc lộ 91 đãxuống cấp hư hỏng nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư.

Đối với KCN Bình Long, được thành lập theo Quyết định 94/QĐ-UBND ngày16/01/2007 của UBND tỉnh An Giang với quy mô 25,6 ha, diện tích đất công nghiệp cóthể cho thuê là 17,20 ha và cảng sông Bình Long cho thuê khoảng 3,8 ha KCN BìnhLong được chính thức đưa vào hoạt động năm 2009 và cho đến cuối 2017 có tổng cộng

09 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, trong đó có 07 dự án của nhà đầu tư trongnước và 02 dự án của nhà đầu tư nước ngoài Ngành nghề hoạt động của các dự án baogồm chế biến thủy sản, bột cá mỡ cá, chế biến rau quả các loại

Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển các KCN trong tỉnh An Giang, lựclượng các doanh nghiệp dần hình thành và phát triển, trong đó có cả các doanh nghiệp,tập đoàn từ các quốc gia phát triển, các doanh nghiệp trong KCN tao ra doanh thu cómức tăng trưởng hàng năm, tạo công ăn việc làm cho hơn 10.500 lao động, trong đó chủyếu là lao động trong tỉnh An Giang, có những đóng góp nhất định vào ngân sách củatỉnh Các doanh nghiệp trong KCN luôn được chính quyền tỉnh An Giang tạo mọi điềukiện để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động

và phát triển các KCN, vẫn gặp phải những khó khăn nhất định như:

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng vùng Đồng bằng Sông cửu Long nói chung và An Giangnói riêng quá yếu kém, nhất là hạ tầng giao thông: hạ tầng giao thông kết nối liên vùng,tỉnh; hệ thống cầu đường kết nối với các thành phố lớn; các tuyến đường giao thông từcác KCN dẫn ra biên giới đế tăng cường xuất khẩu Ngoài ra, hệ thống xử lý nước thảitại các KCN chưa được đầu tư đã làm cho các nhà đầu tư rất ngán ngại khi đầu tư vàocác KCN trong tỉnh An Giang

Thứ hai, lợi thế kinh tế của tỉnh là thủy sản và lúa gạo nhưng trong các KCNchưa thực sự thu hút được các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào ngành mũi nhọn này củatỉnh, bên cạnh đó, các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ hiện đại, tiên tiến,thân thiện với môi trường cũng chưa kêu gọi và thu hút đầu tư được

Thứ ba, An Giang là một trong bốn tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồngbằng Sông Cửu Long nhưng chưa có chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt và chưa có sự hỗ

Trang 38

trợ đầu tư KCN vượt trội so với các tỉnh khác trong vùng, nhất là ưu đãi cho các dự ánđầu tư công nghệ hiện đại, ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Sự khác biệt trong chínhsách thu hút cũng như ưu đãi của tỉnh An Giang cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tưvào các KCN là chưa có so với các tỉnh thành lân cận trong khu vực Đồng bằng SôngCửu Long nên việc thu hút các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp sử dụng côngnghệ cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.2 Thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang

Về tỷ lệ lấp đầy các KCN tỉnh An Giang

Tính đến 31/12/2017, 04 KCN trên địa bàn tỉnh An Giang với tổng diện tích đất quyhoạch là 462,7 ha (chưa bao gồm KCN Bình Hòa mở rộng 107,57 ha, trong đó đất côngnghiệp có thể cho thuê là 82 ha)

Bảng 2.1 Tỷ lệ lấp đầy các KCN tỉnh An Giang đến 2017

Tổng diện tích đất quy hoạch xây dựng KCN (ha)

Diện tích đất cho thuê (ha)

Diện tích đất đã cho thuê (ha)

Tỷ lệ lấp đầy (%)

-(Nguồn: Ban Quản lý Khu Kinh tế An Giang và xử lý số liệu của tác giả, 2017)

Trong năm 2015, UBND tỉnh An Giang đã thực hiện phê duyệt đồ án quy hoạchtại Quyết định số 911/QĐ-UBND ngày 01/06/2015 với quy mô 82,43 ha và mở rộng tạiQuyết định số 3134/QĐ-UBND ngày 31/10/2016 quy mô 30,38 ha, tuy nhiên đến cuối

2017, UBND tỉnh An Giang mới chuẩn bị trình Thủ tướng phê duyệt dự án đầu tư xâydựng san lấp mặt bằng KCN Bình Hòa cho chuyển mục đích đất lúa với dự án sử dụng

Trang 39

đất lúa trên 10 ha Sau khi được Chính phủ chấp thuận, Ban quản lý Khu kinh tế mớiphối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất và UBND huyện Châu Thành tiến hành kêkhai giám định, lập phương án bồi thường trình UBND tỉnh phê duyệt triển khai.

Trong 04 KCN, mới chỉ có 02 KCN là Bình Hòa và Bình Long đã hoàn thànhxây dựng hạ tầng với diện tích đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê là 121 ha, 02 KCN cònlại là Hội An và Vàm Cống đến cuối 2017 vẫn chưa thực hiện hoàn tất việc giải phóngmặt bằng, thu hồi quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng

Đến thời điểm cuối năm 2017, KCN Bình Long đã cho thuê và lấp đầy 100%,KCN Bình Hòa đã có tỷ lệ lấp đầy 86% So với mục tiêu lấp đầy 100% khi xây dựng cácKCN thì KCN Bình Hòa chưa đạt mục tiêu ban đầu đề ra KCN Bình Long có tỷ lệ lấpđầy 100% do quy hoạch KCN đánh vào các ngành nghề, lĩnh vực là thế mạnh của tỉnh

An Giang như: chế biến thủy sản, bột cá, mỡ cá, thức ăn thủy sản, chế biến tinh bột vàcác sản phẩm từ tinh bột, rau quả đông lạnh đây đều là các ngành nghề chủ đạo củatỉnh An Giang Hơn nữa, vị trí KCN Bình Long rất thuận lợi do vừa tiếp giáp giao thông

bộ (Quốc lộ 91) vừa tiếp giáp giao thông đường thủy (tiếp giáp Sông Hậu) nên cácdoanh nghiệp tham gia đầu tư vào KCN Bình Long sẽ rất thuận lợi trong việc thu mua,nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như vận chuyển giao hàng, tiết giảm rất nhiềuthời gian cũng như chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạtđộng

Trong 04 KCN tại địa bàn An Giang, ngoài 02 KCN chưa đầu tư hạ tầng, cácKCN còn lại có tỷ lệ lấp đầy khá cao Tuy KCN Bình Hòa có tỷ lệ lấp đầy 86% là caohơn nhiều so với tỷ lệ lấp đầy của các KCN trong cả nước đã đi vào hoạt động theo báocáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế năm 2017 của Bộ Kếhoạch và Đầu tư là 73%

Về tình hình thu hút vốn đầu tư

Các KCN tỉnh An Giang đến 31/12/2017 đã thu hút được tổng cộng 24 dự án đầu

tư với tổng vốn đăng ký là 2.046 tỷ đồng và 165,3 triệu USD Trong đó tổng số vốn đãthực hiện là 926 tỷ đồng và 69,5 triệu USD Tại 02 KCN, số doanh nghiệp FDI chiếm tỷtrọng 25% tổng số doanh nghiệp trong các KCN, doanh nghiệp FDI có số vốn đăng kýđầu tư lớn nhất là Công ty TNHH An Giang Samho đặt trụ sở tại KCN Bình Hòa với vốn

Trang 40

đăng ký ban đầu là 70 triệu USD, trong đó vốn công ty đã thực hiện là 35 triệu USD,doanh nghiệp FDI có vốn đăng ký nhỏ nhất là Công ty TNHH Chang Woo Jin Vina với

số vốn đăng ký và đã thực hiện là 01 triệu USD Đến 2017, quy mô đăng ký đầu tư bìnhquân đối với một dự án FDI tại các KCN tỉnh An Giang là 19 triệu USD/dự án, trong đóquy mô vốn đã thực hiện bình quân là 13,5 triệu USD/dự án Tuy nhiên các dự án FDItại các KCN tỉnh An Giang chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực may mặc, nông sản không có các dự án sử dụng công nghệ cao, sử dụng vốn còn hạn chế, đây cũng là mộthạn chế lớn đối với việc thu hút, đầu tư của các KCN tỉnh An Giang

Bảng 2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư các KCN tỉnh An Giang đến 2017

Tổng số DN được cấp GCN đầu tư

Số lượng

DN FDI

DN trong nước (Tỷ VND)

DN FDI (triệu USD)

(Nguồn: Ban Quản lý Khu Kinh tế An Giang và xử lý số liệu của tác giả, 2017)

Đối với các doanh nghiệp trong nước, 100% là các doanh nghiệp được hìnhthành và phát triển trong tỉnh đầu tư vào các KCN, không có các doanh nghiệp từ cáctỉnh thành lân cận hoặc các doanh nghiệp ở các tỉnh khác trong nước Trong các doanhnghiệp trong nước, Công ty cổ phần chế biến và xuất nhập khẩu Hòa Phát, có trụ sở tạiKCN Bình Long là doanh nghiệp có vốn đăng ký đầu tư ban đầu lớn nhất, với tổng vốnđăng ký là 398 tỷ đồng, trong đó vốn đã thực hiện đến cuối năm 2017 là 288 tỷ đồng

Về số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư

Qua từng năm, số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN tỉnh An Giangngày càng tăng cả về số lượng và vốn đăng ký đầu tư Thời điểm năm 2013, các KCNtỉnh An Giang mới chỉ thu hút được 13 doanh nghiệp, trong đó chỉ có duy nhất 01 doanh

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hải Bắc (2010), Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
2. Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Nội Vụ (2015), Thông tư Liên tịch số 06/2015/TTLT- BKHĐT-BNV ngày 03/09/2015 về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý KCN Khác
3. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/12/2013 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Khác
4. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế đã sửa đổi Khác
5. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/06/2015 về việc Hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ Khác
6. Chính phủ (1994), Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 về ban hành Quy chế KCN Khác
7. Chính phủ (2008), Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 Quy định về KCN, KCX và KKT Khác
8. Chính phủ (2008), Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định về KCN, KCX và KKT Khác
9. Chính phủ (2009), Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các KCN Khác
10. Chính phủ (2009), Quyết định số 1780/QĐ-TTg 12/10/2011 về phê duyệt đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các KCN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
11. Chính Phủ (2009), Quyết định số 1944/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 về việc thành lập Ban quản lý Khu kinh tế Tỉnh An Giang Khác
12. Chính phủ (2009), Quyết định số 2146/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2016 - 2020 Khác
13. Chính phủ (2010), Công văn số 576/TTg-KTN ngày 22/4/2010 về việc bổ sung các KCN của tỉnh An Giang Khác
14. Chính phủ (2013), Quyết định số 2146/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2016 - 2020 Khác
15. Chính phủ (2013), Nghị định 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ Khác
16. Chính phủ (2013), Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nội dung miễn thuế, giảm, giảm thuế đối với các doanh nghiệp Khác
17. Chính phủ (2014), Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về tiền thuê đất, thuê mặt nước Khác
18. Chính phủ (2015), Nghị định 114/2015/NĐ-CP ngày 09/11/2015 về sửa đổi bổ sung điều 21 của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ Khác
19. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng Khác
20. Chính phủ (2015), Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w