ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT ---NGUYỄN CÔNG CƯỜNG TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ • • • • TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT
-NGUYỄN CÔNG CƯỜNG
TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
• • • • TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI VIỆT NAM
• •
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TÉ
Trang 2TP Hồ Chí Minh - 2020ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT
-NGUYỄN CÔNG CƯỜNG
TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI VIỆT NAM
• •
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 83.40.301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TÉ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUỐC THUẦN
Trang 3TP Hồ Chí Minh - 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫncủa TS Phạm Quốc Thuần
Các số liệu và kết quả đề tài này được thu thập và trình bày một cách trungthực
Những nội dung tham khảo hay trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Công Cường
4
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AICPA: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa kỳ
COBIT: Khuôn mẫu về các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ
thông tin và các lĩnh vực liên quan
COSO: Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận
báo cáo tài chính
HTKSNB: Hệ thống kiểm soát nội bộ
IASB: Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế
5
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.01: Mô hình thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của
Sơ đồ 1.02: Mô hình thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của
Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016) 4
Hình 4.01: Biểu đồ Giới tính của người tham gia khảo sát 32Hình 4.02: Biểu đồ Trình độ chuyên môn của người tham gia khảo sát
32Hình 4.03: Biểu đồ Chức vụ của người tham gia khảo sát
33Hình 4.04: Biểu đồ Thâm niên công tác của người tham gia khảo sát
33Hình 4.05: Biểu đồ Lĩnh vực hoạt động của người tham gia khảo sát
34Hình 4.06: Biểu đồ Loại hình doanh nghiệp của người tham gia khảo sát
34Hình 4.07: Biểu đồ Nguồn vốn doanh nghiệp của người tham gia khảo sát
34
Trang 7Bảng biểu Trang
Bảng 2.01: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ 19
Bảng 4.01: Kết quả phân tích Cronbach's Alpha cho thang đo Tính hữu
hiệu của HTKSNB (Nguồn: số liệu khảo sát thực tế 2019) lần 1 36Bảng 4.02: Kết quả phân tích Cronbach's Alpha cho thang đo Tính hữu
hiệu của HTKSNB (Nguồn: số liệu khảo sát thực tế 2019) lần 2 37
Bảng 4.04: Nhân tố và phương sai trích của thang đo Tính hữu hiệu của
Bảng 4.05: Ma trận trọng số nhân tố của thang đo Tính hữu hiệu của
Bảng 4.07: Nhân tố và phương sai trích của thang đo Tính hữu hiệu của
Bảng 4.08: Ma trận trọng số nhân tố của thang đo Tính hữu hiệu của
Bảng 4.09: Thực trạng tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về đo lường tính hữu
Trang 8MỤC LỤC
1.1 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, với mức độ tăng trưởng ngàycàng cao của nguồn vốn kinh doanh tại mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là quá trình đẩynhanh việc vốn hóa thị trường vốn của môi trường kinh doanh thì áp lực suy thoái vànhững khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, bản thân mỗi doanh nghiệp cần có nhữnggiải pháp để quản trị doanh nghiệp của mình đảm bảo hiệu quả hoạt động Một trongnhững giải pháp thiết yếu cho việc kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp chính là việc tạo ra một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu - một hệ thốngđược thiết lập trong những điều kiện kinh tế hiện tại nhằm cung cấp các điều kiệncho việc đạt được các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác (Lakis &Giriunas, 2012) Bởi vì, một trong những tuyến phòng thủ tốt nhất chống lại sự thấtbại trong kinh doanh, cũng như là cơ sở quan trọng của thành quả kinh doanh, là cómột hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, giúp quản lý rủi ro và cho phép sự sáng tạo,bảo tồn các giá trị Các tổ chức thành công biết cách làm thế nào để tận dụng đượclợi thế của những cơ hội và đối phó với các mối đe dọa, trong nhiều trường hợpthông qua việc áp dụng các thủ tục kiểm soát hữu hiệu và do đó cải thiện được thànhquả của họ (IFAC, 2012) Mục đích của các công ty khi xây dựng hệ thống kiểm soátnội bộ là nhằm bảo vệ tài sản của họ, đồng thời hỗ trợ cho việc tạo ra báo cáo tàichính kịp thời và đáng tin cậy Do đó, nếu các công ty thiếu hụt một hệ thống kiểmsoát nội bộ mạnh sẽ không thể cho thấy các khu vực có vấn đề hoặc có rủi ro (Wang
& Huang, 2013) Chính vì thế hệ thống kiếm soát nội bộ trong các doanh nghiệpđược xem là phòng tuyến đầu tiên trong việc bảo vệ chất lượng thông tin kế toán(Wang & Huang, 2013) Qua đó có thể thấy rằng hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệuđóng vai trò quan trọng trong sự thành công của các công ty Đó là lý do vì sao cácnhà quản lý cần phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ
Chủ đề KSNB và ảnh hưởng KSNB đến tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động đãđược quan tâm rất sớm, hàng loạt các nghiên cứu trên thế giới về đặc điểm chung củacác doanh nghiệp có hệ thống KSNB yếu kém và ảnh hưởng của chúng đến giá trị
Trang 10doanh nghiệp, như nghiên cứu của Ge và McVay (2005), Doyle (2005), Skaife cùng cộng sự (2006), Bryan và Lilien (2005), Lin và Wu (2006), Shenkir vàWalker (2006), Hammersley (2007) Nghiên cứu tác động của từng nhân tố đến tínhhữu hiệu và hiệu quả hoạt động, như nghiên cứu của Hooks cùng cộng sự (1994),Ezzamel cùng cộng sự (1997), Lannoye (1996), Walker (1999), Steihoff (2001),Cohen (2002), Springer (2004) và Hevesi (2005) Tại Việt Nam, nghiên cứu về Tínhhữu hiệu của hệ thống KSNB ở các doanh nghiệp khác nhau được nhiều tác giả quantâm, như: Nguyễn Ngọc Lý (2016); Nguyễn Thị Phương Dung (2016); NguyễnHoàng Phương Linh (2017); Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2017) Phạm vi của cácnghiên cứu là rất đa dạng như: doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ,doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật bản, doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thànhphố Hồ Chí Minh, Bên cạnh đó, các nghiên cứu phần lớn đều cho thấy Tính hữuhiệu của HTKSNB là chưa cao, giá trị nằm ở mức trung bình khá Và để đo lườngTính hữu hiệu của HTKSNB, các tác giả thường chủ yếu sử dụng 3 tiêu chí theoCOSO 2013 là: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ Từ đó,các tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp để nâng cao sự hữu hiệu của HTKSNB.
Ashbough-Ở Việt Nam, Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số,giữ một vị trí quan trọng và là bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế Loại hìnhdoanh nghiệp này tạo việc làm cũng như tăng thu nhập cho người lao động, giúp huyđộng các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, Số liệu củaTổng cục thống kê (2017) cũng cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện chiếm gần98,1% số doanh nghiệp của Việt Nam và tập trung nhiều nhất tại Thành phố Hồ ChíMinh Tuy nhiên, khi xu hướng toàn cầu hóa mở ra đã đem lại không chỉ những cơhội mà còn là những thách thức lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với sự đadạng của hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ tăng trưởng ngày càngcao tại mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là quá trình đẩy nhanh việc vốn hóa thị trườngvốn của môi trường kinh doanh tại Việt Nam Hiện nay, các nhà đầu tư vốn đang dầntách rời khỏi vai trò quản lý doanh nghiệp Vì vậy, một hệ thống kiểm soát nội bộvững mạnh đang là nhu cầu cấp thiết, một công cụ hữu hiệu để xác định sự an toàn
Trang 11của nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả điều hành và kịp thời nắm bắt tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp.
Xuất phát từ vai trò của hệ thống KSNB và thực trạng nghiên cứu về đo lườngTính hữu hiệu của HTKSNB; vai trò của các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam, tác giảcho rằng nghiên cứu đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệpvừa và nhỏ nhằm nâng cao chất lượng quản lý, đảm bảo hoạt động có hiệu quả vàngăn chặn các hoạt động bất hợp lệ chính là cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
• Mục tiêu tổng hợp
> Đo lường Tính hữu hiệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ
• Mục tiêu chi tiết
> Lựa chọn thang đo đo lường Tính hữu hiệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ dựatrên quan điểm của COSO 2013
> Tìm hiểu thực trạng Tính hữu hiệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ trong cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tính hữu hiệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ
Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp vừa vànhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: tiến hành đo lường Tính hữu hiệu của hệthống kiểm soát nội bộ bằng khảo sát
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
• Ý nghĩa khoa học
Trang 12> Làm rõ phương pháp đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB
> Chỉ ra Tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
> Góp phần làm rõ lý luận HTKSNB tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địabàn Thành phố Hồ Chí Minh
• Ý nghĩa thực tiễn
> Là tư liệu tham khảo cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu về HTKSNB
> Là một căn cứ có giá trị để giúp đánh giá thực trạng về HTKSNB trongcác doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện naybằng những con số định lượng Và trên cơ sở từ kết quả nghiên cứu,các nhà quản lý sẽ nhận diện và định hướng rõ ràng hơn trong việcđiều chỉnh những yếu kém, đồng thời có thể hoạch định các chươngtrình hành động, đề ra các biện pháp thiết thực cụ thể nhằm nâng caochất lượng kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địabàn Thành phố Hồ Chí Minh
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu bao gồm 5 chương:
Phần mở đầu: Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi
nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩakhoa học và thực tiễn của đề tài
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ và tính hữu hiệu của hệ
thống kiểm soát nội bộ
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
Nghiên cứu của Lembi Noorvee (2006): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu
là đo lường Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ lên Báo cáo tài chính.Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồmphương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu được tiến hành ở ba công ty sảnxuất vừa và nhỏ tại Estonian Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB được tác giảxây dựng là thang đo bậc 2, bao gồm 5 thành phần bậc 1: Môi trường kiểm soát,Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát
Kết quả nghiên cứu cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB trong các công tyvừa và nhỏ tại Estonian có giá trị lần lượt là 4,20; 4,63; 2,89 Bên cạnh đó, nghiêncứu cũng cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB không chỉ đơn giản được đo lườngbằng sự thành về tài chính của công ty do những điểm yếu cơ bản của hệ thốngKSNB Với những công ty có tốc độ phát triển nhanh, trọng tâm của các nhà quản lýthường tập trung vào sự tăng trưởng doanh thu mà ít chú tâm vào sự phát triển của hệthống KSNB Và sự thiếu hệ thống KSNB chắc chắn sẽ trở thành vấn đề trong tươnglai Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị để cải thiện hệ thống KSNB
Nghiên cứu của Annukka Jokipii (2010): nghiên cứu này tập trung vào kiểm
soát nội bộ và Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Phương pháp nghiêncứu được tác giả sử dụng ở đây là phương pháp nghiên cứu định lượng Dữ liệu đượcthu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát thang đo likert 7 điểm Trong nghiên cứunày, thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB được tác giả xây dựng dựa vào nền tảngkhuôn mẫu lý thuyết theo COSO 2013 Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB làthang đo bậc 2, bao gồm 8 thành phần bậc 1 là: Thành phần Môi trường kiểm soát (5biến quan sát); Thành phần Đánh giá rủi ro (5 biến quan sát); Thành phần Hoạt độngkiểm soát (5 biến quan sát); Thành phần Thông tin và truyền thông (5 biến quan sát);Thành phần Giám sát (5 biến quan sát); Mục tiêu Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (4biến quan sát); Mục tiêu Báo cáo tài chính đáng tin cậy (4 biến quan sát); Mục tiêuTuân thủ pháp luật và quy định (4 biến quan sát) Nghiên cứu tiến hành đối với 741
13
Trang 14công ty có quy mô vừa và lớn ở Phần Lan.
Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB có giá trị trung bình là 5,035.Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy để đo lường Tính hữu hiệu của hệthống kiểm soát nội bộ, phải dựa trên việc đạt được các mục tiêu của nó, bao gồm sựhữu hiệu và hiệu quả hoạt động, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quyđịnh Đồng thời, sự hiện diện đầy đủ và thực hiện đúng chức năng năm thành phầncủa hệ thống KSNB liên quan đến từng loại mục tiêu của tổ chức sẽ đảm bảo choTính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của Nyakundi, Nyamita & Tinega (2014): nghiên cứu này
hướng đến mục tiêu đo lường mối quan hệ giữa các thành phần của HTKSNB vớihiệu quả tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Kisumu, Kenya.Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phươngpháp định tính và phương pháp định lượng Nghiên cứu được tiến hành với 117 mẫukhảo sát
Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB được tác giả xây dựng là thang đo bậc
2, bao gồm 3 thành phần bậc 1: Môi trường kiểm soát, Hoạt động kiểm soát, Giám
Sơ đồ 1.01: Mô hình thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của Nyakundi,
Nyamita & Tinega (2014)Kết quả nghiên cứu cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Kisumu, Kenya chỉ mới đạt mức trung bình với giá
14
Trang 15trị là 2,89 Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy HTKSNB ảnh hưởng đáng kể đếnhiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Kisumu, Kenya Từ
đó, tác giả khuyến nghị cần đào tạo về tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ giữa cácchủ sở hữu trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nghiên cứu của Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu kiểm tra, hình dung cấu trúc của những
hệ thống KSNB đã được thiết lập và tính hữu hiệu của chúng tại các công ty Bàinghiên cứu sử dụng bản đồ tự tổ chức, kết hợp với việc phỏng vấn 741 giám đốc điềuhành từ những công ty khác nhau ở Phần Lan thông qua bảng câu hỏi khảo sát thang
đo likert 7 điểm Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB là thang đo bậc 2, bao gồm
8 thành phần bậc 1 là: Thành phần Môi trường kiểm soát (5 biến quan sát); Thànhphần Đánh giá rủi ro (5 biến quan sát); Thành phần Hoạt động kiểm soát (5 biếnquan sát); Thành phần Thông tin và truyền thông (5 biến quan sát); Thành phầnGiám sát (5 biến quan sát); Mục tiêu Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (4 biến quansát); Mục tiêu Báo cáo tài chính đáng tin cậy (4 biến quan sát); Mục tiêu Tuân thủpháp luật và quy định (4 biến quan sát)
Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNB có giá trị trung bình là 4,75 Bêncạnh đó, kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng có một mối quan hệ khá phức tạpgiữa các thành phần của hệ thống KSNB và những nhân tố cấu thành nên tính hữuhiệu của hệ thống KSNB Các công ty nếu có một hệ thống KSNB hiệu quả thì cũng
sở hữu năm nhân tố của hệ thống KSNB với giá trị cao nhất Kết quả bài nghiên cứucũng cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá đo lường tất cả năm thành phần của
hệ thống KSNB một khi các công ty tiến hành đánh giá Tính hữu hiệu của hệ thốngKSNB tại công ty họ
Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB của Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii
& Tomas Eklund (2016) được minh họa tại Sơ đồ 1.02
15
Trang 16Sơ đồ 1.02: Mô hình thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của Aapo
Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016)
Hoạt động kiểm soát (COAC)
Đánh giá rủi ro (RISK)
Tuân thủ pháp luật và quy định (LAW)
Thông tin và truyền thông (INFO)
Giám sát (MONI)
Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (EFFI)
> INFO I ,2,3,4,5
RELI I ,2,3,4
» LAW I ,2,3,4
16
Trang 171.2 Các nghiên cứu công bố trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lý (2016): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu
xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đếnTính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàngbán lẻ Việt Nam Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợpbao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa trên các tài liệu đãnghiên cứu của các chuyên gia, kế thừa các nghiên cứu khảo sát và trên nền tảngkhuôn mẫu lý thuyết COSO 2013, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm cácnhân tố ảnh hưởng trực tiếp là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt độngkiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Từ đó, tác giả xây dựng bảng câu hỏikhảo sát và được điều chỉnh, bổ sung sau khi đã thảo luận, tham khảo ý kiến chuyêngia có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNBtrong nghiên cứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 4 biến quan sát Để đo lườngTính hữu hiệu của HTKSNB, tác giả đo lường bằng cách tính điểm trung bình cácbiến độc lập ảnh hưởng và đo lường trực tiếp Tính hữu hiệu của HTKSNB thông quaviệc tiến hành thực hiện 207 mẫu khảo sát với các đối tượng là cửa hàng trưởng,nhân viên bán hàng và một số nhân viên bộ phận khác Kết quả đều cho thấy Tínhhữu hiệu của HTKSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ ViệtNam nằm ở mức trung bình khá với giá trị là 3,66
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Dung (2016): nghiên cứu này hướng
đến mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống KSNB tạicác DN trong khu chế Linh Trung I Phương pháp nghiên cứu được sử dụng làphương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng.Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu của các chuyên gia và kế thừa các nghiên cứukhảo sát để rút ra các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ Từ
đó, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và được điều chỉnh, bổ sung sau khi đãthảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Dựatrên các tiêu chí về Tính hữu hiệu của HTKSNB được quy định bởi COSO (2013) vànhững nghiên cứu thực nghiệm của Amudo & Inanga (2009), Jokipii (2010), tác giả
17
Trang 18đã tiến hành xây dựng thang đo đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB Thang đo này
là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 4 biến quan sát Đối với các biến độc lập, tácgiả sử dụng để đo lường mức độ tán thành của đối tượng khảo sát về ảnh hưởng củatừng biến đến KSNB Còn đối với biến phụ thuộc, tác giả căn cứ để lựa chọn mức độphù hợp cho Tính hữu hiệu chung của hệ thống này thông qua đánh giá của từng cánhân khảo sát bằng việc chọn vào giá trị tương ứng trong thang đo Tác giả đã tiếnhành khảo sát tại 25 doanh nghiệp trên tổng số 29 doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài tại khu chế xuất Linh Trung 1 Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu của HTKSNBtại các DN trong khu chế Linh Trung I có giá trị trung bình là 3,58 Bên cạnh đó, kếtquả còn cho thấy Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB chịu tác động của cả năm yếu tốlà: đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyềnthông, giám sát Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến Tính hữu hiệu của
hệ thống KSNB là khác nhau Và khi mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này càng caothì Tính hữu hiệu của HTKNB của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trongkhu chế xuất Linh Trung I càng cao Từ thực trạng trên, tác giả đã kiến nghị một sốgiải pháp để nâng cao Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2017): nghiên cứu này hướng đến
mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến Tính hữu hiệu hệ thống kiểm soát nội
bộ trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tácgiả tiến hành kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến Tính hữu hiệucủa hệ thống KSNB Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗnhợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa trên việc kếthừa các kết quả các nghiên cứu trước, kết hợp với nghiên cứu các đặc điểm, đặc thùcủa nền kinh tế Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đềxuất mô hình gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến Tính hữu hiệu của HTKSNB là: Môitrường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông,giám sát Dựa trên các tiêu chí về Tính hữu hiệu của HTKSNB được quy định bởiCOSO (2013) và tham khảo những nghiên cứu trước đây, đặc biệt là từ bài nghiêncứu của tác giả Hồ Tuấn Vũ (2016), tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo đo lường
18
Trang 19Tính hữu hiệu của HTKSNB Thang đo Tính hữu hiệu của HTKSNB trong nghiêncứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 5 biến quan sát Tác giả đã tiến hành thựchiện 195 mẫu khảo sát với ba nhóm đối tượng chính là Chủ doanh nghiệp, nhà quản
lý và kế toán trưởng Kết quả cho thấy Tính hữu hiệu HTKSNB của các doanhnghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh nằm ở mức khá Bên cạnh đó,tác giả đã xác định mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến Tính hữu hiệucủa hệ thống KSNB theo thứ tự giảm dần lần lượt là: Hoạt động kiểm soát, thông tin
và truyền thông, đánh giá rủi ro, giám sát, môi trường kiểm soát Lý giải cho kết quảnày, tác giả không những đưa ra những số liệu cụ thể mà đi kèm với đó là những lậpluận bám sát với thực tiễn Tác giả cho rằng khi các hoạt động kiểm soát được thựchiện chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất đúng tiến độ, chất lượng sản phẩm đượcđảm bảo, tránh tổn thất tài sản, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đã đề ra Từ đó, tácgiả đã nêu ra giải pháp để phát huy Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Đó là việcphải xác định rõ thực trạng và nhu cầu của đơn vị Điều này đòi hỏi nhà quản lý cầnxem xét mối quan hệ giữa lợi ích của việc áp dụng hệ thống KSNB để có nhữngquyết định phù hợp, định hướng đúng đắn, hướng đến mục tiêu phát triển lâu dài,bền vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay
1.3 Một số nhận xét về các công trình nghiên cứu
1
.3.1 Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Thang đo về Tính hữu hiệu của HTKSNB của tác giả Annukka Jokipii(2010) và của đồng tác giả Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & TomasEklund (2016) xây dựng là thang đo bậc 2, bao gồm 8 thành phần bậc 1.Trong khi đó, Nghiên cứu của các tác giả Lembi Noorvee (2006) xâydựng thang đo về Tính hữu hiệu của HTKSNB là thang đo bậc 2, baogồm 5 thành phần bậc 1 Nghiên cứu của các tác giả Nyakundi, Nyamita
& Tinega (2014) xây dựng thang đo về Tính hữu hiệu của HTKSNB làthang đo bậc 2, bao gồm 3 thành phần bậc 1
- Các nghiên cứu đều cho rằng năm thành phần của hệ thống kiểm soát nội
19
Trang 20bộ chính là những thành phần dùng để đo lường Tính hữu hiệu của hệthống kiểm soát nội bộ.
- Kết quả tổng kết các nghiên có liên quan cho thấy tầm quan trọng của hệthống kiểm soát nội bộ từ đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải xây dựngmột hệ thống KSNB hữu hiệu
- Kết quả của nghiên cứu được rút ra khi được thực hiện trong từng điềukiện nhất định Khi hướng đến Tính hữu hiệu của HTKSNB trong cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại một quốc gia đang phát triển như Việt Namthì vẫn có thể thay đổi, cần được kiểm định lại
1.3.2 Đối với các công trình nghiên cứu trong nước
- Thang đo về Tính hữu hiệu của HTKSNB được các tác giả xây dựng làthang đo bậc 1 và tập trung vào 3 mục tiêu chính là: mục tiêu hoạt động,mục tiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ
- Có khá nhiều các tác giả đã tập trung vào việc nghiên cứu những mảngvấn đề khác nhau có liên quan đến hoạt động KSNB như: Xây dựng các
mô hình của HTKSNB theo COSO; nghiên cứu HTKSNB trong các đơn
vị cụ thể
- Các công trình nghiên cứu trên đã nêu được thực trạng hệ thống KSNB tạicác DN, nhận thấy mặt tồn tại của nội bộ đơn vị đó, từ đó đề ra giải pháphoàn thiện
1.4 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả
1.4.1 Xác định khe hổng nghiên cứu
Có thể nhận thấy rằng nghiên cứu về HTKSNB đã có một quá trình kế thừa vàphát triển khá dài, được sự quan tâm của nhiều tổ chức nghề nghiệp cũng như cácnhà nghiên cứu cơ bản
Qua việc xem xét và đánh giá các công trình nghiên cứu trước, tác giả nhậnthấy rằng các nghiên cứu trước ở nước ngoài đa phần đo lường Tính hữu hiệu của hệthống KSNB dựa trên quan điểm của COSO 2013, theo đó thang đo tính hữu hiệucủa hệ thống KSNB là thang đo bậc 2, gồm nhiều thành phần (Annukka Jokipii,
20
Trang 212010; Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund, 2016).
Trong khi đó, các nghiên cứu trước tại Việt Nam khi xây dựng thang đo đolường Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB thì phần lớn xác định thang đo này là thang
đo bậc 1 (Nguyễn Ngọc Lý, 2016; Nguyễn Thị Phương Dung, 2016; Nguyễn ThịÁnh Nguyệt, 2017), vì vậy chưa phản ánh đúng quan điểm của COSO 2013 Bêncạnh đó, đa số các nghiên cứu tại Việt Nam đều xác định năm bộ phận cấu thành của
hệ thống KSNB cũng chính là các nhân tố tác động đến Tính hữu hiệu của HTKSNB.Điều này là chưa đúng theo quan điểm của COSO 2013 Bởi lẽ theo COSO 2013, đểđánh giá hệ thống KSNB là hữu hiệu thì ngoài 3 tiêu chí về mục tiêu hoạt động, mụctiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ thì cần phải đánh giá thêm sự hữu hiệu của năm bộphận cấu thành của hệ thống KSNB (COSO, 2013) Hay nói khác đi, năm bộ phậncấu thành của hệ thống KSNB chính là năm thành phần đo lường Tính hữu hiệu củaHTKSNB chứ không phải là năm nhân tố tác động đến Tính hữu hiệu của HTKSNB
1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả
Trên cơ sở những đánh giá trên, tác giả thấy rằng đo lường Tính hữu hiệu của
hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trên cơ sở tuân thủhoàn toàn quan điểm COSO 2013 về các thành phần cấu thành nên hiệu quả củaHTKSNB: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin vàtruyền thông, giám sát là một công việc cần thiết góp phần làm rõ ràng hơn quanđiểm của COSO 2013 trong việc đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB Bên cạnh
đó, để đánh giá hệ thống KSNB là hữu hiệu thì ngoài 3 tiêu chí về mục tiêu hoạtđộng, mục tiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ thì cần đánh giá thêm sự hữu hiệu của năm
bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB (COSO, 2013)
1.5 Kết luận chương 1
Nội dung Chương 1 đã trình bày tổng quan về một số công trình nghiên cứucủa các tác giả khác nhau trong và ngoài nước đối với các vấn đề có liên quan đến đềtài mà tác giả thực hiện Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy được tầm quantrọng của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải xây dựng
21
Trang 22một hệ thống KSNB hữu hiệu.
Bên cạnh đó, thang đo Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các nghiên cứutrước ở nước ngoài đa phần dựa trên quan điểm của COSO 2013 là thang đo bậc 2.Trong khi đó, các nghiên cứu ở Việt Nam đang đa phần xác định thang đo này làthang đo bậc 1 vì chưa thật sự tham khảo quan điểm của báo cáo COSO 2013
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên, tác giả đã xác định được khe hổng nghiên cứu, từ đó làm cơ sở để xác định vấn đề cần nghiên cứu và định hướng nghiên cứu sẽ được trình bày ở nội dung của các chương tiếp theo trong luận văn
22
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
VÀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
2.1 Các khái niệm nghiên cứu
Ạ *?
2
.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ
Khái niệm KSNB được định nghĩa lần đầu tiên trong công bố của Cục Dự trữLiên bang Mỹ, theo đó KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồngthời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, hỗ trợ các kiểm toán viên trong việc lấymẫu thử nghiệm (Federal Reserve Bulletin, 1929)
Theo quan điểm của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, KSNB là cácbiện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệtiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách(AICPA, 1936)
Luật kế toán Việt Nam (2015) nêu rõ: Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổchức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy địnhnội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử
lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
Theo báo cáo COSO (2013), Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởngbởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế đểcung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đặt được các mục tiêu: đảm bảo sự tin cậy củabáo cáo tài chính; đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; đảm bảo các hoạt độngđược thực hiện hiệu quả Khái niệm về kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO (2013)nhấn mạnh đến bốn nội dung quan trọng, bao gồm:
• KSNB là một quá trình: Kiểm soát nội bộ là một chuỗi các hoạt động hiệndiện trong mọi bộ phận, gắn liền với các hoạt động của đơn vị Kiểm soátnội bộ hữu hiệu khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải làmột chức năng bổ sung cho các hoạt động của đơn vị (COSO, 2013)
• KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Các chủ thể trong tổ chức như
Trang 24HĐQT, BGĐ, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị đều tham gia vào côngtác KSNB KSNB là công cụ của nhà quản lý sử dụng chứ không thể thay thếnhà quản lý Việc xây dựng các mục tiêu, đưa ra các biện pháp kiểm soát vàvận hành các biện pháp đó đều được thực hiện bởi các chủ thể trong tổ chức.Tuy nhiên khả năng, kinh nghiệm, kiến thức của mỗi chủ thể là khác nhau nênviệc hiểu rõ, trao đổi, hành động đôi khi không thống nhất với nhau KSNB chỉhữu hiệu khi từng thành viên hiểu rõ mối liên kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ, tráchnhiệm của bản thân với nhiệm vụ, trách nhiệm của các thành viên khác trongđơn vị, phương thức truyền đạt và thực hiện các nhiệm vụ này hướng tới cácmục tiêu của đơn vị Vì vậy, các thành viên trong một tổ chức phải am hiểu vềtrách nhiệm và quyền hạn của mình, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, cáchthức thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức (COSO, 2013).
• KSNB cung cấp sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp
lý cho các nhà quản trị trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị chứ khôngthể đảm bảo tuyệt đối Bởi KSNB luôn luôn có những hạn chế vốn có như: sailầm của con người khi quyết đinh, các cá nhân thông đồng với nhau, nhà quản
lý lạm quyền hay ảnh hưởng của những sự kiện tiềm tàng bên ngoài (COSO,2013)
• KSNB đảm bảo các mục tiêu: Mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo tàichính, mục tiêu về sự tuân thủ (COSO, 2013)
Nhìn chung, các khái niệm về KSNB đều thống nhất nhau ở các điểm chung là:
nó là một quá trình, nó được thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý và các nhânviên, nó đảm bảo thực hiện các mục tiêu của tổ chức
Và hiện tại, định nghĩa về KSNB của COSO (2013) được chấp nhận khá rộng rãi
và được liên đoàn kế toán quốc tế thừa nhận vì nó đáp ứng được yêu cầu về tính minhbạch thông tin của các công ty
2.1.2 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thốngcác chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản
Trang 25của doanh nghiệp; bảo đảm độ tin cậy của thông tin; bảo đảm tuân thủ luật pháp; đảmbảo hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, thay thế cho cụm từ HTKSNBbằng cụm từ KSNB với định nghĩa như sau: KSNB là quy trình do ban quản trị, bangiám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sựđảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tincậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật
và các quy định có liên quan (VSA 315, 2012)
Tác giả Ngô Trí Tuệ và các cộng sự (2004) đã đưa ra khái niệm chung là:HTKSNB là hệ thống các chính sách và các thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốnmục tiêu cơ bản: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảmbảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả hoạt động
Nhìn chung, các định nghĩa về hệ thống KSNB nêu trên cơ bản đồng nhất vớinhau, đó là:
Thứ nhất, khái niệm hệ thống KSNB nhấn mạnh đến việc tổ chức hệ thống kiểmsoát với các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập và vận hành trong mối liên
hệ chặt chẽ với nhau để đạt được các mục tiêu đơn vị đặt ra hơn là việc thực hiện mộthoạt động hay một số các hoạt động kiểm soát cụ thể
Thứ hai, các mục tiêu cơ bản của hệ thống KSNB nhằm đảm bảo sự tuân thủpháp luật và các quy định, đảm bảo sự tin cậy của BCTC, bảo vệ tài sản và đảm bảohiệu quả của hoạt động của đơn vị
Một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ giúp đem lại nhiều lợi ích cho đơn vị Đâychính là cơ sở đảm bảo thành công của đơn vị nói chung và các doanh nghiệp nóiriêng Thông thường, hệ thống này sẽ được hoàn thiện cùng với sự phát triển củadoanh nghiệp nhằm mục đích: giảm thiểu nguy cơ gây ra rủi ro trong sản xuất kinhdoanh (các sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành,giảm chất lượng sản phẩm ); Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt,gian lận, lừa gạt, trộm cắp; Đảm bảo tính chính xác, tin cậy của các số liệu kế toán và
Trang 26BCTC; Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổchức chức cũng như các quy định của luật pháp; Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả,
sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; Bảo vệ quyền lợi của nhàđầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ Hệ thống KSNB hữu hiệu là nhân tốchủ chốt của một hệ thống quản trị doanh nghiệp hiệu quả, hiệu lực và điều này rấtquan trọng đối với những đơn vị có sự tách biệt giữa chủ sở hữu với người điều hành.Tuy nhiên, hệ thống KSNB dù có hiệu quả đến đâu cũng chỉ có thể cung cấp sự đảmbảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thểđảm bảo tuyệt đối Khả năng đạt được mục tiêu chịu ảnh hưởng bởi những hạn chếvốn có của KSNB, như: do sự yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn trong việcxây dựng các quy định, chính sách, thủ tục kiểm soát không phù hợp; Sự vô ý, bất cẩn,hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên; Sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhàquản lý nhằm phục vụ lợi ích riêng; Sự lỗi thời, lạc hậu của các thủ tục kiểm soát dođiều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong quản
lý là chi phí cho việc thiết lập và vận hành các chính sách, thủ tục kiểm soát không thểvượt quá lợi ích được mong đợi Nhà quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro,thế nhưng nếu chi phí bỏ ra cho việc kiểm soát các rủi ro đó quá cao thì các thủ tụckiểm soát có thể không được áp dụng Như vậy, hệ thống KSNB có thể phát hiện vàgiảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động của đơn vị nhưng không thể đảm bảorằng chúng không bao giờ xảy ra
Khi tiếp cận hệ thống KSNB là công cụ để thực hiện chức năng KSNB trongquản lý doanh nghiệp với các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập, vận hànhtại đơn vị có mối liên kết chặt chẽ cùng trong một thể thống nhất thì các bộ phậnkhông cùng bản chất sẽ bị loại trừ Với quan điểm tiếp cận như vậy, trong nhiều tàiliệu nghiên cứu về hệ thống KSNB đều đi đến thống nhất hệ thống KSNB được cấuthành gồm năm bộ phận: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát;Thông tin và truyền thông; Giám sát
- Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát tạo ra sắc thái chung của một tổ chức, thông qua việc chi
Trang 27phối ý thức kiểm soát của các thành viên Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cảcác thành phần khác của kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức,thái độ và hành động của người quản lý Một môi trường kiểm soát tốt có thể hạn chếphần nào sự thiếu sót của các thủ tục kiểm soát Những nhân tố của môi trường kiểmsoát được ghi nhận bởi báo cáo COSO (1992) gồm có: Tính chính trực và các giá trịđạo đức; Năng lực đội ngũ nhân viên; Hội đồng Quản trị và ban kiểm soát; Triết lýquản lý và phong cách điều hành; Cơ cấu tổ chức; Phân chia quyền hạn và tráchnhiệm; Chính sách nhân sự.
- Đánh giá rủi ro
Tất cả các hoạt động đang diễn ra liên quan đến doanh nghiệp đều có thể phátsinh những rủi ro (hoạt động, xử lý thông tin, nguồn lực hệ thống) và khó có thể kiểmsoát tất cả Vì vậy các nhà quản lý cần phải thận trọng khi xác định và phân tích, đánhgiá rủi ro Nội dung của đánh giá rủi ro bao gồm: Thiết lập mục tiêu của doanhnghiệp; Nhận dạng và phân tích rủi ro; Kiểm soát rủi ro khi có thay đổi về kinh tế,công nghệ, kỹ thuật
- Hoạt động kiểm soát
Các hoạt động kiểm soát thông thường tại đơn vị là:
Phân chia trách nhiệm đầy đủ: được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản, đó lànguyên tắc phân công phân nhiệm và nguyên tắc bất kiêm nhiệm Yêu cầu của nguyêntắc này là không để cho một bộ phận hay cá nhân nào tham gia vào giải quyết toàn bộnghiệp vụ từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc
Ủy quyền đúng đắn cho các nghiệp vụ và hoạt động: tất cả các nghiệp vụ đềuphải được ủy quyền cho một người chịu trách nhiệm Không bất kỳ một ai trongdoanh nghiệp có thể vừa mua vừa chi tiêu, dùng tài sản
Bảo vệ tài sản vật chất và thông tin: Bảo vệ tài sản vật chất là ngăn chặn sự mấtmát, thất thoát, tham ô, lãng phí hoặc sử dụng sai mục đích, chỉ người được ủy quyềnmới được tiếp cận với tài sản vật chất Thông tin kế toán đáng tin cậy và không bị tiết
lộ cần thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính chính xác, đầy đủ, phê
Trang 28chuẩn các nghiệp vụ và phân quyền.
Kiểm tra độc lập: Là việc kiểm tra được tiến hành bởi cá nhân hoặc một bộ phậnkhác với cá nhân hoặc một bộ phận thực hiện nghiệp vụ Kiểm tra độc lập giúp giảmđược các sai sót và gian lận
Phân tích rà soát: Phân tích rà soát là sự so sánh giữa hai nguồn số liệu khácnhau, tất cả khác biệt đều cần phải làm rõ Các phương pháp phân tích rà soát đượctrình bày như: định kỳ đối chiếu số liệu tổng hợp và chi tiết; đối chiếu số liệu kiểm kêthực tế và ghi chép sổ sách kế toán; đối chiếu số liệu được ghi chép giữa đơn vị vớibên ngoài; đối chiếu số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước; đối chiếu số liệu giữa kếhoạch, định mức và thực tế
- Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông tạo ra các báo cáo chứa đựng các thông tin cần thiếtcho việc quản lý và kiểm soát đơn vị Hệ thống thông tin trong đơn vị gồm nhiều phân
hệ, trong đó hệ thống thông tin kế toán là một bộ phận quan trọng Hệ thống thông tin
kế toán xét về mặt quy trình gồm có ba bộ phận: chứng từ, sổ sách và báo cáo
- Giám sát
Giám sát là bộ phận cuối cùng của kiểm soát nội bộ, là một quá trình đánh giáchất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong suốt thời kỳ hoạt động để có các điềuchỉnh và cải tiến thích hợp
2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
2.2.1 Tính hữu hiệu
Hoàng phê (2018) định nghĩa Hữu hiệu có nghĩa là có hiệu lực Tính hữu hiệu làmột khái niệm được xác định hướng đến việc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu,mục đích đã được định trước cho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thựchiện (đạt được kết quả thoả đáng từ việc sử dụng các nguồn lực và các hoạt động của
tổ chức)
Hữu hiệu là mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu, còn hiệu quả được tínhbằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra (Business dictionary)
Trang 29Theo Walton và Dawson (2001), Tính hữu hiệu là một khái niệm mang tính xétđoán về khả năng đạt được mục tiêu của tổ chức Khái niệm này là một biến phụ thuộcphổ biến trong những nghiên cứu về tổ chức (Chelladurai, 1987).
Vì vậy, điểm quan trọng trong đánh giá Tính hữu hiệu là phải xem xét giữa kếtquả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế qua hoạt động Mỗi nhà nghiên cứukhác nhau sẽ đưa ra những quan điểm riêng của mình về sự hữu hiệu bởi những hệthống đánh giá của họ là khác nhau Nhưng việc hoàn thành mục tiêu hay là nhữnghoạt động để đáp ứng được mục tiêu thì chính là điểm chung trong quan điểm của họ
2.2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Hệ thống KSNB của các tổ chức khác nhau được vận hành với các mức độ hữuhiệu khác nhau Do đó, một hệ thống KSNB cụ thể của một tổ chức cũng hoạt độngvới mức độ hữu hiệu khác nhau ở những thời điểm khác nhau Vậy thế nào là một hệthống KSNB hữu hiệu (xét ở một thời điểm xác định)
Báo cáo của COSO (2013) cho rằng, HTKSNB hữu hiệu (xét ở một thời điểmxác định) nếu Hội đồng quản trị và nhà quản lý đảm bảo hợp lý đạt được 3 tiêu chí sauđây:
- Mục tiêu hoạt động: liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động của
tổ chức, bao gồm các mục tiêu về hoạt động và tài chính, bảo vệ tài sản chống mấtmát, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức
- Mục tiêu báo cáo: liên quan đến BCTC và phi tài chính trong và ngoài nướccho các bên liên quan, bao gồm độ tin cậy, tính kịp thời, minh bạch hoặc các điềukhoản khác được thành lập bởi các nhà quản lý, người thiết lập tiêu chuẩn hoặc cácchính sách của tổ chức
- Mục tiêu tuân thủ: liên quan đến các luật và quy định mà tổ chức phải tuântheo, liên quan đến sự tuân thủ pháp luật, các luật và quy định hiện hành
Qua đây, có thể nhận thấy rằng việc đánh giá hữu hiệu của KSNB là mang tínhxét đoán bởi trong khi KSNB là một quá trình thì Tính hữu hiệu của KSNB lại là mộttrạng thái của quá trình đó ở một thời điểm nhất định
Trang 30Bên cạnh đó, ngoài 3 tiêu chí trên, để đánh giá KSNB là hữu hiệu thì cần phảiđánh giá thêm sự hữu hiệu của năm bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB theo Báocáo COSO (2013) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi cho rằng 5 tiêu chí trên cần đượcthỏa mãn khi đánh giá Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB thì điều này cũng không cónghĩa là mỗi bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB đều phải hoạt động y hệt nhưnhau hoặc cùng mức độ ở các bộ phận khác nhau Lý do được nêu ra trong báo cáoCOSO như sau:
- KSNB phục vụ cho nhiều mục tiêu vì vậy kiểm soát hữu hiệu ở bộ phận này cóthể phục vụ cho mục tiêu kiểm soát ở bộ phận kia Chính vì vậy luôn có sự bù trừ tựnhiên giữa các bộ phận của HTKSNB
- Các nhà quản lý có thể đề ra nhiều mức độ kiểm soát khác nhau ở các bộ phậnkhác nhau nhằm mục đích đối phó với một rủi ro cụ thể Các mức độ này sẽ giúp cho
5 tiêu chí trên được thỏa mãn mà không nhất thiết phải có sự đồng nhất về mức độhoạt động của các bộ phận
Năm bộ phận cấu thành hệ thống KSNB và năm tiêu chí trên được áp dụng chotoàn bộ hệ thống KSNB hoặc cho một hoặc một số nhóm mục tiêu Khi xem xét mộttrong ba nhóm mục tiêu, chẳng hạn KSNB với việc lập BCTC nếu cả năm tiêu chí trênđều được thỏa mãn sẽ giúp tổ chức nhận xét rằng KSNB đối với việc lập báo cáo tàichính là hữu hiệu
Như vậy, Tính hữu hiệu của HTKSNB theo quan điểm của báo cáo COSO 2013được hiểu là: việc doanh nghiệp đảm bảo hợp hợp lý đạt được 3 tiêu chí về mục tiêuhoạt động, báo cáo, tuân thủ và tiêu chí năm bộ phận cấu thành, mười bảy nguyên tắccủa hệ thống KSNB có hoạt động hữu hiệu hay không
2.3 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.3.1 Khái niệm
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về doanh nghiệp vừa và nhỏ dựatrên các tiêu chí khác nhau tùy vào mỗi quốc gia, do vậy chưa thể có một định nghĩathống nhất được chấp nhận về doanh nghiệp vừa và nhỏ (Edmore Mahembe, 2011)
Trang 31Các tiêu chí để sử dụng trong việc định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏthường dựa vào: số lao động, vốn, doanh thu Tùy vào từng khu vực và quốc gia mà
có sự khác biệt ở các chỉ tiêu trên Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định:
Bảng 2.01: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng doanhthu của nămkhông quá 3 tỷđồng hoặctổng nguồnvốn không quá
3 tỷ đồng
Có số lao độngtham giaBHXH bìnhquân nămkhông quá 10người
Tổng doanhthu của nămkhông quá 10
tỷ đồng hoặctổng nguồnvốn không quá
3 tỷ đồng
Trang 32Doanh nghiệp
nhỏ
Có số lao độngtham giaBHXH bìnhquân nămkhông quá 100người
Tổng doanhthu của nămkhông quá 50
tỷ đồng hoặctổng nguồnvốn không quá
20 tỷ đồng
Có số lao độngtham giaBHXH bìnhquân nămkhông quá 50người
Tổng doanhthu của nămkhông quá 100
tỷ đồng hoặctổng nguồnvốn không quá
50 tỷ đồng
Doanh nghiệp
vừa
Có số lao độngtham giaBHXH bìnhquân nămkhông quá 200người
Tổng doanhthu của nămkhông quá 200
tỷ đồng hoặctổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
Có số lao độngtham giaBHXH bìnhquân nămkhông quá 100người
Tổng doanhthu của nămkhông quá 300
tỷ đồng hoặctổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
2.3.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trưởng kinh tếcủa nhiều quốc gia hay các vùng miền, kể cả ở các quốc gia phát triển và đang pháttriển Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, đáp ứng được nhu cầungày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng Những nền kinh tế có đặc điểmphát triển khác nhau thì vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện ở các mức
độ khác nhau Chính những điều này, Doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem là nhân tốchính trong công thức thành công để đạt được sự phát triển về kinh tế (Vosloo, 1994,theo Edmore Mahambe, 2011)
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thểgiữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tươngđồng như sau:
Trang 33- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp vừa và nhỏ thườngchiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xétcác doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vàotổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệpvừa và nhỏ là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồngthầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanhnghiệp vừa và nhỏ được xem là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ,nên dễ điều chỉnh hoạt động
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp vừa
và nhỏ thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp rápthành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở
ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt ởkhắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sảnlượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
- Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia
Tại Hội thảo APEC O2O Forum trong Tuần lễ Hội nghị Bộ trưởng Doanhnghiệp vừa và nhỏ APEC 2017, đang diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, các đại biểu
là nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế, diễn giả đến từ các nền kinh tế thành viênAPEC, cho rằng: DN vừa và nhỏ phải có một định hướng chiến lược trong quá trìnhphát triển Ông Trần Văn Phát, Giám đốc điều hành Công ty Robot, chia sẻ: “Doanhnghiệp Việt Nam cần phải tham gia nhiều hơn các diễn đàn kinh tế bởi kinh tế bây giờ
là hội nhập toàn cầu và Đông Nam Á vẫn nằm trong dòng dịch chuyển Nên nếuchúng ta không chuẩn bị trước không những chống lại sự xâm thực của nền kinh tếnước ngoài mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế theo dòng chảy của kinh tế thế giới
Có như vậy doanh nghiệp vừa và nhỏ mới có cơ hội tồn tại và phát triển” Số liệu củaTổng cục thống kê (2017) cũng cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện chiếm gần
Trang 3498,1% số doanh nghiệp của Việt Nam, đóng góp 40% vào GDP, 30% vào tổng thungân sách nhà nước, giải quyết 50% công ăn việc làm cho xã hội.
2.4 Kết luận chương 2
Nội dung chính của chương này nhằm cung cấp cho người đọc những cơ sở lýthuyết về các khái niệm nghiên cứu: kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ theocác quan điểm khác nhau của các tác giả, cơ quan có thẩm quyền qua từng thời kỳ
Từ đó, tác giả đã nêu ra định nghĩa về Tính hữu hiệu và dựa trên quan điểmCOSO 2013 được chấp nhận khá rộng rãi, thừa nhận bởi liên đoàn kế toán quốc tế thìTính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ là: đảm bảo hợp lý đạt được 3 tiêu chí vềmục tiêu hoạt động, báo cáo, tuân thủ và tiêu chí năm bộ phận cấu thành
Bên cạnh đó, tác giả còn trình bày khái niệm, đặc điểm, vai trò của các Doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam có ảnh hưởng đến Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
để từ đó giúp người đọc có cái nhìn tổng quát, dễ hình dung hơn
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Xác định phương pháp nghiên cứu
Nguyễn (2011) cho rằng phương pháp nghiên cứu khoa học có thể được chiathành ba trường phái, đó là định tính (qualitative approach); định lượng (quantitativeapproach) và hỗn hợp Theo Creswell và Clark (2007), phương pháp hỗn hợp dựa trên
cơ sở hệ nhận thức thực dụng, ứng dụng sản phẩm khoa học - giải quyết vấn đề kinhdoanh
Trong nghiên cứu này với mục tiêu nghiên cứu được xác định là đo lường Tínhhữu hiệu của Hệ thống KSNB, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng,bởi lẽ phương pháp này được xem là thích hợp cho việc giải quyết mục tiêu và cáccâu hỏi nghiên cứu của luận văn
3.1.2 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 3.01: Quy trình nghiên cứu định lượng
3.2 Thiết kế nghiên cứu
Trang 363.2.1 Lựa chọn, kế thừa thang đo
Dựa trên việc tham khảo các nghiên cứu trước đây, kế thừa bảng câu hỏi khảosát từ tổng hợp các nghiên cứu trước, tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi khảo sát dựavào thang đo Likert 5 mức độ, với thang đo này là phù hợp với nghiên cứu này Thang
đo Likert 5 mức độ được sử dụng cho toàn bộ nội dung chính của bảng câu hỏi: Hoàn toàn không đồng ý, 2- Không đồng ý, 3- Bình thường/Phân vân, 4- Đồng ý, 5-Hoàn toàn đồng ý
1-Bảng 3.01: Cấp độ thang đo sử dụng cho nghiên cứuHoàn toàn
- Thang đo đo lường thành phần Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát được ký hiệu là MT Thang đo được thiết lập dựa trênnền tảng lý thuyết nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các tác giả đi trước, đặc biệt là từbài nghiên cứu của tác giả Lembi Noorvee (2006), được đo lường bằng 8 biến quansát sau:
• MT01: Doanh nghiệp có quy chế khen thưởng, kỷ luật cho nhân viên cụ thể, rõ ràng và hợp lý.
• MT02: Doanh nghiệp thường xuyên đào tạo, tập huấn để nâng cao kiến thức
và kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc.
• MT03: Doanh nghiệp phân chia trách nhiệm và quyền hạn hợp lý.
• MT04: Việc tuyển dụng và phân công công việc tại đơn vị là phù hợp với trình
độ chuyên môn của nhân viên.
Trang 37• MT05: Doanh nghiệp thường xuyên thay đổi nhân sự ở vị trí cấp cao hơn.
• MT06: Doanh nghiệp có thiết kế các hình thức thích hợp để khuyến khích nhân viên tự giác khi có sai phạm.
• MT07: Thành viên HĐQT, Ban giám đốc và kiểm toán nội bộ làm việc độc lập
và khách quan khi cần ra quyết định.
• MT08: Doanh nghiệp có xây dựng bộ chuẩn mực đạo đức để ngăn chặn không
để cho các nhân viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp.
- Thang đo đo lường thành phần Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro được ký hiệu là DG Thang đo được thiết lập dựa trên nền tảng
lý thuyết nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các tác giả đi trước, đặc biệt là từ bàinghiên cứu của tác giả Lembi Noorvee (2006), được đo lường bằng 5 biến quan sátsau:
• DG01: Thường xuyên nhận dạng và đánh giá rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp.
• DG02: Các rủi ro được đưa ra để phân tích, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân,
từ đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro.
• DG03: Các bộ phận nghiệp vụ tại doanh nghiệp hoạt động và ghi chép tách biệt với bộ phận kế toán.
• DG04: Doanh nghiệp có bộ phận dự báo, nhận dạng, đối phó với các sự kiện bất thường.
• DG05: Doanh nghiệp có xem xét các loại gian lận tiềm tàng như: gian lận trên Báo cáo tài chính, có thể mất mát tài sản và hành vi gian lận khác có thể xảy ra.
- Thang đo đo lường thành phần Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát được ký hiệu là KS Thang đo được thiết lập dựa trên nềntảng lý thuyết nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các tác giả đi trước, đặc biệt là từ bàinghiên cứu của tác giả Lembi Noorvee (2006), được đo lường bằng 4 biến quan sátsau:
Trang 38• KS01: Doanh nghiệp phân quyền rõ ràng cụ thể cho từng bộ phận theo chức năng quản lý và thực hiện.
• KS02: Định kỳ mỗi bộ phận trong doanh nghiệp có đối chiếu số liệu tổng hợp
và chi tiết, kế hoạch và thực tế phân tích số liệu liên quan đến hoạt động của đơn vị.
• KS03: Định kỳ Ban lãnh đạo có xem xét lại hoạt động kiểm soát để có biện pháp thay thế hoặc điều chỉnh kịp thời.
• KS04: Doanh nghiệp có sử dụng hệ thống sao lưu dữ liệu dự phòng khi có sự
cố xảy ra trên mạng máy tính.
- Thang đo đo lường thành phần Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông được ký hiệu là TT Thang đo được thiết lập dựa trênnền tảng lý thuyết nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các tác giả đi trước, đặc biệt là từbài nghiên cứu của tác giả Lembi Noorvee (2006), được đo lường bằng 4 biến quansát sau:
• TT01: Các thông tin báo cáo đơn vị được xử lý và phản hồi khi cần thiết.
• TT02: Doanh nghiệp có kế hoạch cải tiến và phát triển hệ thống thông tin về nhân lực và vật lực.
• TT03: Việc truyền thông đảm bảo cấp dưới nhận đầy đủ, chính xác chỉ thị từ cấp trên hay cấp trên nhận được phản hồi từ cấp dưới.
• TT04: Nhà quản lý được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để thực hiện công việc.
- Thang đo đo lường thành phần Giám sát
Giám sát được ký hiệu là GS Thang đo được thiết lập dựa trên nền tảng lýthuyết nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các tác giả đi trước, đặc biệt là từ bài nghiêncứu của tác giả Lembi Noorvee (2006), được đo lường bằng 4 biến quan sát sau:
• GS01: Các nhà quản lý tại đơn vị tạo điều kiện để nhân viên và các bộ phận giám sát lẫn nhau trong công việc hàng ngày.
• GS02: Nhà quản lý định kỳ đánh giá chất lượng và hiệu quả công việc của
Trang 39nhân viên.
• GS03: Việc phân tích được thực hiện khi so sánh với các tiêu chuẩn được thiết lập ban đầu.
• GS04: Những yếu kém của hệ thống KSNB tại đơn vị được khắc phục kịp thời.
- Thang đo mục tiêu Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống KSNB được ký hiệu là HD Thang
đo được thiết lập dựa trên nền tảng lý thuyết nghiên cứu và kế thừa nghiên cứu củaAapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016), được đo lường bằng 4biến quan sát sau:
• HD01: Với một nỗ lực hợp lý, hiệu quả của hoạt động có thể được cải thiện hơn nữa.
• HD02: Có thể có các vấn đề trong hoạt động, nếu được loại bỏ thì sẽ dẫn đến hiệu quả hơn.
• HD03: Không có giai đoạn nào trong quy trình mà nhận thấy sự nghi ngờ về hiệu quả.
• HD04: Trong một số chức năng, nguồn lực có thể đã được triển khai một cách hiệu quả hơn nữa.
- Thang đo mục tiêu Báo cáo tài chính đáng tin cậy
Báo cáo tài chính đáng tin cậy của hệ thống KSNB được ký hiệu là BC Thang
đo được thiết lập dựa trên nền tảng lý thuyết nghiên cứu và kế thừa nghiên cứu củaAapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016), được đo lường bằng 4biến quan sát sau:
• BC01: Thông tin từ báo cáo tài chính là khá chính xác và hiếm khi phải kiểm tra thông tin khi nhận được.
• BC02: Rất hiếm khi lỗi xảy ra trong báo cáo tài chính sau khi thông tin đã được xác nhận.
• BC03: Rất hiếm khi nhận được phản hồi về lỗi trong báo cáo tài chính khi thông tin được bên ngoài doanh nghiệp sử dụng.
Trang 40• BC04: Không nhận thấy vấn đề với chương trình kế toán được sử dụng bởi quản trị tài chính.
- Thang đo mục tiêu Tuân thủ pháp luật và các quy định
Tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống KSNB được ký hiệu là TL.Thang đo được thiết lập dựa trên nền tảng lý thuyết nghiên cứu và kế thừa nghiên cứucủa Aapo Lansiluoto, Annukka Jokipii & Tomas Eklund (2016), được đo lường bằng
4 biến quan sát sau:
• TL01: Việc áp dụng các quy định quản lý của doanh nghiệp được thực hiện hiệu quả.
• TL02: Doanh nghiệp nắm bắt kịp thời đối với những thay đổi trong pháp luật.
• TL03: Hầu hết nhân viên luôn tuân thủ pháp luật và các quy định đang có hiệu lực.
• TL04: Một số cá nhân trong doanh nghiệp có nhiệm vụ giám sát những thay đổi của luật pháp và các quy định mới.
3.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu
- Xác định đám đông nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã được xác định, nghiên cứu sử dụng mẫu
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
- Đối tượng thu thập dữ liệu
Đối tượng thu thập dữ liệu cho nghiên cứu là Phụ trách Kế toán; Quản lý bộphận; Chủ doanh nghiệp và các nhân viên kinh doanh, pháp lý tại các doanh nghiệp(trong đó, đối tượng chính là Phụ trách Kế toán)
Việc đo lường Tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp vừa và nhỏđòi hỏi đối tượng thực hiện không chỉ thuộc nội bộ của doanh nghiệp mà còn là người
có kiến thức về kế toán và nắm bắt được tình hình đặc điểm của doanh nghiệp Đâychính là tiêu chí quan trọng mà tác giả lựa chon đối tượng thu thập dữ liệu
- Kích thước mẫu nghiên cứu
Để sử dụng EFA thì kích thước mẫu phải lớn Theo Hair và cộng sự (2006) thì