Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm án vụ dân sự Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền năng pháp lý được Nhànước giao cho Viện KSND để kháng nghị đối với những bản án, quyết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐINH VĂN TRÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
• • • THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
• • • •
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
• • • •
Trang 2THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐINH VĂN TRÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
• • • THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Trang 3THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan nội dung của luận văn này là công trình nghiêncứu khoa học của tác giả dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lê Thị ThúyHương Nội dung luận văn chưa được tác giả hoặc chưa được ai công bố dướibất kỳ hình thức nào
NGƯỜI CAM ĐOAN
ĐINH VĂN TRÀ
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự
KSND Kiểm sát nhân dân
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
H N M Đ U 1
do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
ục đ ch, nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHÁNG NGHỊ HÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 7
Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm án vụ dân sự 7
.2 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 9
.3 Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
10 4 Chủ thể, đối tượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 12
.2 Các quy định pháp luật về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
14 2 Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự
14 2.2 Thông báo kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 18
.2.3 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm dân sự 18
.2.4 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
THỰC TIE N ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 26
2.1 Thực tiễn thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND tỉnh Bình Định 26
2.1.1 Những kết quả đạt được trong kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND hai cấp tại tỉnh Bình Định 27
2.1.2 Các dạng vi phạm kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 29 2.2 Những khó khăn gặp phải trong thực tiễn áp dụng pháp luật kháng nghị
Trang 6phúc thẩm vụ án dân sự 322.3 ột số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượngkháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 402.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định trong B TTDS năm 20 về kháng nghịphúc thẩm vụ án dân sự 402.3.2 Giải pháp nhằm nâng chất lượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71
Trang 86 Kết cấu của luậ n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dungluận văn gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện
kiểm sát
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định về kháng nghị phúc thẩm vụ án
dân sự và một số kiến nghị
2
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHÁNG NGHỊ HÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1. K á ệm ặ ểm va rò v u k ệ k á g g ị p ú ẩm vụ á â sự
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm án vụ dân sự
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là quyền năng pháp lý được Nhànước giao cho Viện KSND để kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơthẩm giải quyết án dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp vàcấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầuTòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việcgiải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi í ch hợppháp cho các bên đương sự
Từ những phân t ch trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm của khángnghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện KSND, đó là:
Thứ nhất, kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà
nước chỉ giao cho ngành kiểm sát Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 1 BLTTDS năm 2015 thì công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là một trongnhững quyền năng được pháp luật quy định để ngành kiểm sát thực hiện chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyếtcác vụ, việc dân sự Đây thực sự là một quyền năng quan trọng và duy nhất màpháp luật giao cho ngành kiểm sát để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm mục đí ch phát hiện kịp thời các
vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, từ đó thựchiện thẩm quyền kháng nghị để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên
Thứ hai, kháng nghị phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong
những biểu hiện rõ nhất về quyền năng của VKS trong việc thực hiện chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
Trang 10Trong quá trình VKS thực hiện chức năng kiểm sát, khi phát hiện bản
án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, VKS có quyền kháng nghị để yêucầu Tòa án cấp trên (cấp phúc thẩm) xét xử lại vụ án Thông qua kháng nghịphúc thẩm, VKS đã thực hiện chức năng việc tuân theo pháp luật và kiểm sáttrong hoạt động tư pháp của Tòa án
Cơ sở những quan điểm trình bày ở trên, người viết xin đưa ra một khái
niệm chung về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự như sau: “Kháng nghị phúc
thẩm vụ án dân sự là quyền mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện thông qua một văn bản pháp lý, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm, đồng thời nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ”.
Ngoài kháng nghị phúc thẩm thì VKS còn kháng nghị giám thẩm, táithẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn có thiếusót, mắc sai lầm vì những nguyên nhân khác nhau nhưng bị phát hiện thiếu sóthoặc sai lầm nghiêm trọng thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm T í nh chất đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ, nó chỉ được
áp dụng đối với những vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật nhưng có sai lầm trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyềnđược pháp luật quy định Theo quy định của L uật tổ chức Viện KSND năm 20
1 4 và BL TTDS năm 20 1 5, Viện KSND là một trong những chủ thể được tiếnhành kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Kháng nghị với Tòa ánnhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự, Cơ quan thi hành án hình sự, Nhà tạmgiữ, tạm giam theo quy định của L uật tổ chức Viện KSND năm 2014
Tóm lại, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là thể hiện sự bất đồng,không thống nhất quan điểm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 11của chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật Khi có kháng nghị phúcthẩm thì việc xét xử là bắt buộc để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứcủa bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, việc khángnghị phúc thẩm vụ án dân sự là phù hợp với “nguyên tắc hai cấp xét xử” vàđảm bảo cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Vai trò của kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự là công cụ hữu hiệu để đảm bảopháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Tòa án
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quanNhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiệnpháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để VKS thực hiện chức năng củamình, thực hiện quyền kháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm
vụ án dân sự nói riêng để đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án tuân theopháp luật một cách nghiêm chỉnh, đảm bảo mọi sai sót và mọi vi phạm đềuđược phát hiện và xử lý kịp thời Đồng thời thông qua việc thực hiện quyềnkháng nghị của mình, VKS cũng bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa ánđược khách quan, công bằng, không có sự nhân nhượng, ưu ái, xét xử phải ápdụng đúng pháp luật
Trang 12Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự có vai trò rấtquan trọng trong việc thực hiện chức năng của VKS kiểm sát là việc thực hiệntuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử.
Với vai trò là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử, khiphát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật thì VKS có quyềnkháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án xét xử lại vụ án, qua đó để Tòa án rađược một bản án chính xác, có căn cứ pháp luật
Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm có vai trò quan trọngtrong việc thực hiện chức năng mà Nhà nước giao cho Viện KSND Khi VKSthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nếu xét thấy bản án, quyết định củaTòa án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọngtrong áp dụng pháp luật dân sự, xâm phạm đến lợi í ch của Nhà nước, xã hội
và mọi quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì VKSphải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ án lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lạibằng quyền năng pháp lý do luật định đó là kháng nghị phúc thẩm
1.1.3. Điều kiện kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để thực hiện việc kháng nghị phúc thẩm có chất lượng, đúng pháp luậtviệc đánh giá quyết định, bản án của Tòa án những vi phạm về nội dung là rấtquan trọng, phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về nội dung để thểhiện quan điểm trong quyết định kháng nghị của VKS Trước hết đó là Bộ luậtdân sự và các văn bản pháp luật khác như: Luật đất đai, Luật hôn nhân và giađình Nghị quyết của Quốc Hội, Uỷ ban Thường vụ quốc hội, các Nghị địnhcủa Chính phủ, các Thông tư liên tịch, Nghị quyết Hội đồng thẩm phán TANDtối cao và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền khác liên quanđến dân sự, trong đó, chú trọng vận dụng những văn bản hướng dẫn của ngànhKiểm sát hoặc liên ngành TAND tối cao -VKSND tối cao về một số vấn đề cụthể trong áp dụng pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung đã được sự thống nhất
Trang 13của hai ngành.
Những văn bản pháp luật hiện nay quy định về thủ tục, về nội dung làmcăn cứ kháng nghị phúc thẩm nhiều, tuy nhiên để xây dựng thành những tiêuchí làm căn cứ kháng nghị, trên cơ sở quy định của pháp luật và hoạt độngthực tiễn khi thực hiện kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa
án chưa có hiệu lực pháp luật cần có một trong những căn cứ sau đây để khángnghị:
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
Thu thập chứng cứ không đầy đủ;
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiếtkhách quan của vụ án;
Có sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật
Đó là tiêu chí đánh giá vụ án dân sự cần được kháng nghị phúc thẩm,trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm 01 trong
04 căn cứ trên thì VKS thực hiện kháng nghị phúc thẩm theo quy định củapháp luật
Tuy nhiên, khi xem xét những vi phạm về thủ tục (vi phạm thủ tục tốtụng) phải lưu ý là vi phạm đó có tính nghiêm trọng hay không (Ví dụ như: Vụ
án không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;không tham gia hòa giải ) Cũng chính từ việc vi phạm về thủ tục đó dẫn tớinội dung vụ án có sai sót, không bảo vệ được quyền lợi của những người liênquan Vì vậy, VKS cần kháng nghị để khắc phục Trong trường hợp có vi phạm
tố tụng, nhưng ít nghiêm trọng, chưa đến lúc phải kháng nghị
Ví dụ: Khi xét xử vụ án chia thừa kế, thủ tục triệu tập một đương sự làngười có quyền lợi liên quan chưa hợp lệ nên họ vắng mặt tại phiên tòa, songbản án vẫn quyết định chia phần thừa kế đúng quy định pháp luật, sau đó họcũng không kháng cáo, trong trường hợp này thì VKS chỉ cần kiến nghị để yêu
Trang 14cầu Tòa án khắc phục những vi phạm tương tự Còn các vi phạm những căn cứkhác như: Thu thập chứng cứ không đầy đủ; Kết luận trong bản án, quyết địnhkhông phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có sai lầm nghiêmtrọng việc áp dụng pháp luật thì cần thiết kháng nghị để xét xử lại theo thủ tụcphúc thẩm.
1.1.4. Chủ thể, đối tượng kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Chủ thể kháng nghị phúc thẩm
Để bảo đảm t nh hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa
án Điều 278 BLTTDS năm 20 1 5 quy định “Viện trưởng Viện kiểm sát cùngcấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạmđình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sựcủa Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theothủ tục phúc thẩm” Theo khoản 1 , Điều 5 L uật tổ chức VKSND năm 2014,thì Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩmquyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạmquyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị.” Quyđịnh này nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của VKS các cấp trong việcthực hiện tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giaiđoạn xét xử Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có sai lầm, thiếu sóttrong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật, VKS có quyền khángnghị để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại Việc quy định cả VKS cùng cấp vàVKS cấp trên trực tiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắcphục kịp thời các sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm t nh hợppháp và có căn cứ của các bản án hoặc quyết định sơ thẩm trước khi đưa ra thihành Theo Điều 57 BLTTDS năm 20 thì người có thẩm quyền quyết định việckháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng các cấp
Trang 15Kháng nghị phúc thẩm cũng có điểm khác so với kháng nghị giám đốcthẩm và tái thẩm: chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm là VKS cùng cấpvới Tòa án đã xét xử sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; chủ thể cóquyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là VKS cấp trên trực tiếp hoặccấp trên nữa, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp không có quyền kháng nghịgiám đốc thẩm, tái thẩm.
VKS được tổ chức và hoạt động theo hệ thống ngành dọc, cấp dưới phảiphục tùng cấp trên Nếu kháng nghị của VKS cấp sơ thẩm có nội dung mâuthuẫn với kháng nghị của VKS cấp phúc thẩm (ví dụ: VKS cấp sơ thẩm khángnghị yêu cầu sửa một phần nội dung trong bản án, nhưng VKS cấp phúc thẩmlại kháng nghị theo hướng hủy toàn bộ nội dung bản án để xét xử lại), thì Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung mâu thuẫn theo kháng nghị của VKSphúc thẩm Trường hợp hai bản kháng nghị không mâu thuẫn với nhau thì việcxem xét nội dung kháng nghị được tiến hành đồng thời theo quy định của phápluật
Đối tượng kháng nghị phúc thẩm
Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,kháng nghị Như vậy, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là cácbản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định khi
có hiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm mà
là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Việc xét xử phúc thẩm không chỉ là xét lại tính hợp pháp và tính có căn
cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã có trong
vụ án xét xử lại nội dung vụ án, không chỉ trong phạm vi những phần bản án,quyết định bị kháng cáo mà có thể xem xét cả phần bản án, quyết định kháckhông bị kháng cáo, kháng nghị nhưng liên quan đến việc giải quyết tổng thể
vụ án Theo quy định của luật BLTTDS thì chỉ những bản án sơ thẩm chưa có
Trang 16hiệu lực pháp luật mới bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, trong trường hợpđặc biệt, một số bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể trở thànhđối tượng của kháng cáo, kháng nghị như trường hợp kháng cáo quá hạn.
1.2. Cá quy ị p áp luậ v k á g g ị p ú ẩm vụ á â sự
1.2.1. Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự
Để đảm bảo t nh hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm Điều 278 BL TTDS năm 20 1 5 quy định: “Viện trưởng Việnkiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm,quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảiquyết lại theo thủ tục phúc thẩm” BL TTDS 20 1 5 quy định rõ chức danhngười ký quyết định kháng nghị là Viện trưởng Viện KSND cùng cấp và cấptrên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉgiải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm Quy định nhằm nâng cao vai trò vàtrách nhiệm của VKS các cấp trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việctuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án trong quá trình giảiquyết vụ việc dân sự Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạmtrong quá trình giải quyết thì VKS có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấptrên xét xử lại, cụ thể quy định cả Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trựctiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời nhữngsai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứcủa bản án, quyết định sơ thẩm trước khi được đưa ra thi hành Mặt khác, tạikhoản 2, Điều 5 7 BLTTDS năm 20 1 5 quy định: “Khi Viện trưởng vắng mặt,một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm dkhoản 1 Điều này ”; điểm d, khoản 1 , Điều 5 7 BL TTDS quy định “ Kháng
Trang 17nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định củaTòa án theo quy định của Bộ luật này” Như vậy, việc ký quyết định khángnghị chỉ giao cho chức danh là Viện trưởng ký ban hành quyết định1.
Tuy nhiên, trong thực tế trên cơ sở phân công các khâu công tác nghiệp
vụ của Ngành kiểm sát, phần lớn Viện trưởng ủy quyền ký cho Phó việntrưởng ký quyết định kháng nghị
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự
L uật tổ chức Viện KSND và BL TTDS năm 20 1 5 quy định quyềnkháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vàkháng nghị theo thủ tục tái thẩm án dân sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểmsát nhân dân Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, việc nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác kháng nghị án dân sự được xác định là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của ngành kiểm sát Để thực hiện tốt việc kháng nghị bản
án dân sự ngoài việc cần nghiên cứu kỹ nội dung, hình thức của bản án thìcũng cần xem xét về cách tính thời hạn kháng nghị vì việc này rất là quantrọng
Hiện nay, theo cách tính thời hạn kháng nghị của BLTTDS năm 2015 thìcòn một số vướng mắc, cụ thể như sau:
Trước đây, tại Khoản 1 Điều 252 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm2011) (“BL TTDS năm 2004”) quy định: “Thời hạn kháng nghị đối với bản áncủa Toà án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểmsát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sátviên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểmsát cùng cấp nhận được bản án” Và theo Nghị quyết 06/20 12/NQ- HĐTPngày 03/12/20 12 hướng dẫn cách tính thời hạn kháng nghị bản án của
1Điều 33 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo quyết định
số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/20 17 của Viện trưởng Viện KSND tối cao
Trang 18BLTTDS năm 2004 (“Nghị quyết 06/20 12/NQ-HĐTP”), tại Khoản 2 Điều 4quy định: “Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị bản án sơ thẩm là ngàytiếp theo của ngày được xác định Ngày được xác định là ngày Toà án tuyên
án, trong trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên toà sơ thẩm hoặc
là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án sơ thẩm trong trường hợpViện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên toà sơ thẩm”
Như vậy, theo hướng dẫn của Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP thì thờihạn kháng nghị bản án được t nh là ngày tiếp theo ngày tuyên án trong trườnghợp Kiểm sát viên tham gia phiên toà Ví dụ: Vụ án có kiểm sát viên tham giaphiên toà, và toà tuyên án vào ngày 3 20 thì thời hạn kháng nghị sẽ được t nh
từ ngày 6 3 20
Trong khi đó, thời hạn kháng nghị bản án tại khoản Điều 280 B TTDSnăm 20 quy định: “Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩmcủa Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là
01 tháng, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham giaphiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhậnđược bản án” Như vậy, theo quy định của B TTDS năm 2015 thì thời hạnkháng nghị được t nh kể từ ngày tuyên án trong trường hợp Kiểm sát viên thamgia phiên toà Và cho đến thời điểm này, vẫn chưa có Nghị quyết hướng dẫncách t nh thời hạn kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 20 Từ đó dẫnđến hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong khi chưa có Nghị quyết hướng dẫn
thì vẫn sẽ áp dụng Nghị quyết 06 20 2 NQ-HĐTP đối với B TTDS năm 2015
Quan điểm thứ hai cho rằng: Do chưa có Nghị quyết hướng dẫn nên
thời hạn kháng nghị sẽ được t nh kể từ ngày tuyên án theo quy định tại KhoảnĐiều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 20 , không áp dụng Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP cho B TTDS năm 2015
Trang 19Thế nhưng, tại Khoản 4 Điều 4 uật ban hành văn bản quy phạm phápluật năm 20 6 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bảnquy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hếthiệu lực” Vì BLTTDS năm 2004 đã hết hiệu lực, nên việc sử dụng Nghị quyết
06 20 2 NQ-HĐTP ngày 03 2 20 2 để áp dụng cho BLTTDS 20 có phù hợp vớitình thần điều khoản trên hay không?
Trang 201.2.2. Thông báo kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Điều 28 B TTDS năm 20 quy định về thông báo về việc kháng nghị.Theo quy định tại điều luật này, VKS đã ra quyết định kháng nghị phải gửingay quyết định kháng nghị đó cho các đương sự có liên quan đến kháng nghị.Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu kiến củamình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu kiến củangười được thông báo phải được lưu vào hồ sơ vụ án
Trường hợp người được thông báo gửi văn bản nêu kiến của mình về nộidung kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm mà hồ sơ vụ án chưa gửi cho Tòa áncấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm đưa văn bản này vào hồ sơ vụ án và gửicho Tòa án cấp phúc thẩm; nếu hồ sơ vụ án đã gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm,thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi văn bản đó cho Tòa án cấp phúc thẩm để đưavào hồ sơ vụ án và xem xét khi xét xử phúc thẩm
Như vậy, ngoài việc gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩmgiải quyết vụ việc thì việc gửi quyết định kháng nghị cho các đương sự cũng làtrách nhiệm của VKS, không phải của Tòa án
1.2.3. Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm dân sự
Trong thời hạn kháng nghị, toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi hết thời hạn kháng nghị mà có quyếtđịnh kháng nghị thì những phần của bản án, quyết định bị kháng nghị chưađược đưa ra thi hành2 Điều 282 B TTDS năm 20 quy định, bản án sơ thẩm,quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyếtđịnh của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thihành, trừ pháp luật quy định cho thi hành ngay như các quyết định về cấpdưỡng, bồi thường thiệt hại về t nh mạng, sức khỏe, trả tiền công lao động,cấm hoặc buộc phải thực hiện hành vi nhất định thì Hội đồng xét xử có thể
2Trần Anh Tuấn (20 ), bình luận khoa học B TTDS, nhà xuất bản tư pháp
Trang 21quyết định cho thi hành ngay mà không cần chờ bản án, quyết định phúcthẩm3.
Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm củaTòa án không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạnkháng nghị4 Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm phần bản án, quyếtđịnh sơ thẩm không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành, góp phần bảo đảm choviệc giải quyết vụ việc nhanh chóng, ch nh xác và đúng pháp luật BLTTDSnăm 2015 quy định Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án,quyết định sơ thẩm có kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dungkháng nghị (Điều 293 B TTDS năm 20 ) Do bị giới hạn bởi nội dung khángnghị, đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo,kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị,Hội đồng xét xử phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét, quyết định
Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị thì cóhiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị và được đưa ra thi hànhkhi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Độc lập với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị;Việc xét kháng nghị đối với những phần của bản án, quyết định sơ thẩm
bị kháng nghị không có liên quan đến những phần của bản án, quyết định sơthẩm không bị kháng nghị
V dụ: Tại bản án số 3 2016 HNGĐ-ST ngày 15/02/2016, Tòa án nhândân huyện AL, tỉnh BĐ đã quyết định cho anh A được ly hôn với chị B; giaochị B trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu C, anh Aphải có nghĩa vụ cấp dưỡng con mỗi tháng là 200.000 đồng và chia tài sảnchung của vợ chồng cho anh A và chị B5 Sau khi xét xử sơ thẩm, anh A chị B
3Khoản 2, Điều 2 uật thi hành án dân sự 2008
4Điều 9 Nghị quyết số 06 20 2 NQ-HĐTP ngày 03 2 20 2
5Nguồn từ Viện KSND huyện An ão, tỉnh Bình Định
Trang 22không kháng cáo, chỉ VKS kháng nghị bản án sơ thẩm về quyết định chia tàisản chung của vợ chồng Trong trường hợp này, những phần của bản án sơthẩm về ly hôn giữa anh A và chị B; về trông nôm, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn không bị kháng nghị, độclập với phần bản án sơ thẩm mà bị VKS kháng nghị và việc xét kháng nghịphần bản án sơ thẩm này không có liên quan đến những phần của bản án sơthẩm không bị kháng nghị; do đó những phần của bản án sơ thẩm không bịkháng nghị có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành.
1.2.4. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự
Để bảo đảm sự tôn trọng quan điểm của Viện kiểm sát và của người kquyết định kháng nghị, trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổ sung hoặc rútkháng nghị, pháp luật đã quy định trình tự thay đổi, bổ sung kháng nghị nhằmbảo đảm việc kháng nghị được ch nh xác, đầy đủ và cần thiết6
Về việc thay đổi, bổ sung kháng nghị:
Trường hợp vẫn còn thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 280BLTTDS, thì VKS đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung nội dung khángnghị đối với phần bản án hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng nghị;trường hợp VKS đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị nhưng sau đó cókháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng nghị thì vẫn được chấp nhận
để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung; trường hợp đã hết thời hạn khángnghị, thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm VKS đãkháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được vượtquá phạm vi kháng nghị đã gửi cho Tòa án trong thời hạn kháng nghị Chỉđược thay đổi, bổ sung kháng nghị trong phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thờihạn kháng nghị đã hết (nếu thời hạn kháng nghị chưa hết thì việc thay đổi, bổsung kháng nghị không bị hạn chế trong phạm vi kháng nghị ban đầu) Trong
6Điều 284 B TTDS năm 2015
Trang 23trường hợp thay đổi, bổ sung kháng nghị được chấp nhận, Tòa án cấp phúcthẩm phải thông báo cho các đương sự biết về nội dung thay đổi, bổ sung trướckhi mở phiên tòa (hoặc tại phiên tòa).
Về việc rút kháng nghị
Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối vớinhững phần của vụ án mà Viện kiểm sát đã rút kháng nghị; Trường hợp VKSrút toàn bộ kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa thì việc xét xử phúcthẩm phải được đình chỉ (nếu vụ án không có kháng cáo) Bản án sơ thẩm cóhiệu lực pháp luật, kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét
xử phúc thẩm
V dụ: Trong v dụ tại mục 1.2.3, sau khi xét xử sơ thẩm, anh A chị Bkhông kháng cáo, mà chỉ VKS kháng nghị bản án sơ thẩm về quyết định chiatài sản chung của vợ chồng Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiênTòa phúc thẩm nếu VKS rút kháng nghị, thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyếtđịnh đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của vụ án mà VKS đã rút khángnghị vì trong vụ án không có kháng cáo của đương sự mà chỉ có kháng nghịcủa VKS
Nếu việc rút kháng nghị được thực hiện trước khi mở phiên tòa thìThẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa k quyết định đình chỉ xét xửphúc thẩm, còn tại phiên tòa do Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xửphúc thẩm Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểmsát cùng cấp, các đương sự có liên quan đến việc giải quyết kháng nghị và cơquan thi hành án dân sự có thẩm quyền (Quyết định này được coi là thông báocho các đương sự biết về việc rút kháng nghị) Từ phân t ch trên, khi thực hiệnviệc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự thì chủ thể đãban hành quyết định kháng nghị cần lưu một số vấn đề sau đây:
Chủ thể bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị: Chỉ có người ban hành