Có thể kể tên một số công trình có liên quan gồm:- Luận văn thạc sĩ Luật học: “BPKCTT trong pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại” của Phan Nhựt Bình, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí
Trang 1LÊ PHAN DUY THỊNH
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI YÊU CẦU
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THEO
Trang 2LÊ PHAN DUY THỊNH
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI YÊU CẦU
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THEO
LUẬN N THẠC S KINH TẾ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐÌNH HUY
TP HỒ CHÍ MINH - 2019
Trang 3quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sốliệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN N
LÊ PHAN DUY THỊNH
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ IẾT TẮT
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 5
1.1 Khái niệm, ý nghĩa biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 5
1.1.1 Khái niệm buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 5
1.1.2 Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời 5
1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời 8
1.1.4 Ý nghĩa của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 9
1 2 Cơ sở lý luận để xây dựng chế định buộc thực hiện biện pháp bảo V •
Trang 61.2.2 Bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự 13
1.3. Các biện pháp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm 13
1.3.1 Chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác 13
1.3.2 Tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá 14
1 4 Đặc điểm pháp lý của biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 15
1.4.1 Là biện pháp tiền đề để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm 15
1.4.2 Là biện pháp tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi có tính cấp thiết của các đương sự trong tố tụng dân sự 16
1.4.3 Được quy định trong một số văn bản pháp luật tố tụng điều chỉnh quan hệ dân sự 16
1.5 Quá trình hình thành và phát triển của chế định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 19
1.5.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989 19
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 21
1.5.3 Giai đoạn từ 2004 đến năm 2015 24
1.5.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay 25
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN TẠM THỜI 27
2 1 Quy định về chủ thể thực hiện biện pháp bảo đảm 27
Trang 72.2.1 Kê biên tài sản đang tranh chấp 28 2.2.2 Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp 30 2.2.3 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp 31
2.2.4 Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ 32 2.2.5 Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ 35
2.2.6 Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu 37 2.2.7 Bắt giữ tàu bay để bảo đảm giải quyết vụ án 40 2.2.8 Bắt giữ tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án 44
2.3 Thủ tục áp dụng, hủy bỏ việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 48
2.3.1 Thủ tục áp dụng buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 48 2.3.2 Thủ tục hủy bỏ việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT 52
2.3.3 Cơ chế thi hành biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT 54 2.3.4 Hiệu lực của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 55 2.3.5 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT 56 2.3.6 Thực tiễn cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm không đúng 57
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
Trang 83.1 Thực tiễn thực hiện các quy định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
• •• i •/ • ••••<<
khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 59
3.1.1 Về giá trị của các khoản tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá mà người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp 59 3.1.2 Thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm 62 3.1.3 Thực hiện biện pháp bảo đảm khi đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa 62 3.1.4 Tài khoản phong tỏa tại ngân hàng để bảo đảm cho yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 65
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế định biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT 66
3.2.1 Xây dựng chế định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng đảm bảo mọi đương sự đều có điều kiện tiếp cận quyền được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 66
3.2.2 Đảm bảo quyền khiếu nại của đương sự 71 3.2.3 Bổ sung các trường hợp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 72 3.2.4 Quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm 73 3.2.5 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Toà án và các cơ quan hữu quan trong hoạt động xác định giá trị buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT 74
KẾT LUẬN 77
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020” là một trong những nội dung quan trọng trong
đường lối đổi mới toàn diện hoạt động tư pháp của Đảng Sau khi Chiến lược cảicách tư pháp được ban hành, Bộ Chính trị khóa IX đã chỉ đạo tổ chức quán triệt, triểnkhai thực hiện chủ trương lớn nêu trên với mục tiêu là xây dựng nền tư pháp trongsạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày25/11/2015 tại Kỳ họp thứ 10, cùng với những đạo luật khác, Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015 góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợppháp của công dân Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cụ thể hoạt động tố tụng của cácchủ thể tiến hành tố tụng và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Chiếm phầnnhiều trong số các tranh chấp dân sự tại Tòa án là các loại án liên quan đến quyền sởhữu tài sản Để đảm bảo bản án được thi hành cũng như đảm bảo sự vẹn toàn của tàisản đang tranh chấp, Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định cho đương sự quyền yêucầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) để bảo vệ đối tượng là tàisản có liên quan đến hồ sơ vụ việc Đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa chủ thể bị áp dụng BPKCTT khi yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng và ngănngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, pháp luật đã quy định về cácbiện pháp bảo đảm khi có yêu cầu áp dụng BPKCTT
Xuất phát từ vai trò đặc biệt trong hoạt động tố tụng, các BPKCTT đã đượcquy định từ những năm 1989 bởi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 So với Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã cónhiều quy định mới về việc áp dụng các quy định về BPKCTT buộc người yêu cầuphải thực hiện biện pháp bảo đảm
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 10Qua hoạt động nghiên cứu, tập hợp và hệ thống tài liệu cho thấy đã có một sốcông trình nghiên cứu khoa học về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu ápdụng BPKCTT Có thể kể tên một số công trình có liên quan gồm:
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “BPKCTT trong pháp luật Việt Nam về trọng tài
thương mại” của Phan Nhựt Bình, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, 2010;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “BPKCTT trong tố tụng trọng tài Việt Nam” của
Lương Thanh Quang, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, 2013;
- Hà Văn Mâu: “Áp dụng BPKCTT - Trao đổi từ quy định của Bộ luật Tố dân
sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2011;
- Nguyễn Văn Lin: “Kiến nghị đối với các quy định về BPKCTT”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 6/2011;
- Tạ Hữu Huy: “Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu Tòa án áp
dụng BPKCTT trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, số 23/2014;
- Nguyễn Phương Anh: “Thực trạng áp dụng BPKCTT và kiến nghị sửa đổi,
bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, số 8/2015;
- Đinh Bá Trung: “Góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự về BPKCTT”, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 09/2015;
- Hoàng Quỳnh Trang: “Các BPKCTT - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị sửa
đổi, bổ sung pháp luật”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22/2015;
- Bùi Thị Huyền: “Bàn về các BPKCTT theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 2/2017;
- Nguyễn Thị Thu Thủy, Lê Hải An: “Về điều kiện áp dụng BPKCTT trong tố
tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2017;
Các công trình khoa học trên nghiên cứu về chế định BPKCTT một cáchchung nhất, một số còn đi vào phân tích các BPKCTT không buộc người yêu cầuphải thực hiện biện pháp bảo đảm, việc đi sâu phân tích buộc thực hiện biện phápbảo đảm chưa được chú trọng phân tích, nghiên cứu, do đó, tác giả xin mạnh dạnchọn đề tài “Biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờitheo quy định của pháp luật tố tụng dân sự” Đây là công trình nghiên cứu tập trung
Trang 11về buộc thực hiện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT Trên cơ sở nghiêncứu những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn về việc buộc thực hiệnbiện pháp bảo đảm, tác giả mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện cácquy định của pháp luật tố tụng dân sự về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêucầu áp dụng BPKCTT.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những quy định hiện hành và những bất cập trong thựctiễn áp dụng liên quan đến buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụngbiện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đưa ra những kiến nghị thực hiện công tác xâydựng văn bản pháp quy, đảm bảo tính điều chỉnh thống nhất của các văn bản quyphạm pháp luật cũng như xây dựng tính đồng bộ của các cơ quan có liên quan trongcông tác thực hiện các biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT, để việcbuộc thực hiện biện pháp bảo đảm được thực hiện một cách chính xác, đúng đắn, đầy
đủ và kịp thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các chế định buộcthực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT
Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu buộc thực hiện biện pháp bảođảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với đường lối, chủ trương và chính sáchcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cải cách tư pháp
Đồng thời việc nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoahọc cụ thể: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm để thực hiện đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, góp phần làm sáng tỏ vấn đề
lý luận về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT theo quyđịnh pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Đồng thời tổng kết một số thực tiễn, nghiên
Trang 12cứu những vướng mắc, bất cập để từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị nhằmhoàn thiện quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụngBPKCTT, hạn chế tối đa tranh chấp có liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chương 2: Thực trạng pháp luật về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêucầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chương 3: Thực tiễn thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời và kiến nghị hoàn thiện
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI
YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
1.1 Khái niệm, ý nghĩa biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.1.1 Khái niệm buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT là việc nộpcho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc của tổchức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền,kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đươngvới tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTTkhông đúng
Việc áp dụng BPKCTT luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại đến quyền lợi đốivới các chủ thể khác Trong trường hợp có thiệt hại xảy ra do việc yêu cầu áp dụngkhông đúng, bên có yêu cầu phải chịu trách nhiệm bồi thường Để đảm bảo khả năngthực hiện nghĩa vụ bồi thường, trong một số trường hợp, bên yêu cầu sẽ phải thựchiện biện pháp bảo đảm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 131.1.2 Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời
Nhu cầu thiết lập và thực hiện các quan hệ dân sự là nhu cầu tất yếu của đờisống con người Trong quá trình thực hiện, các quan hệ dân sự không thể tránh khỏinhững mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên dẫn đến quyền lợi của công dân bị xâmphạm Khi đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể lựa chọn các phương thức khác nhau
để giải quyết những mâu thuẫn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Phápluật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự như sau:Thương lượng, hòa giải, trọng tài và khởi kiện Trong đó khởi kiện vụ án dân sự làmột trong những phương thức bảo vệ hiệu quả quyền lợi của công dân khi bị xâmphạm Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Tòa án có tính bắtbuộc, cưỡng chế thi hành, vì vậy quyền lợi của người được Tòa án bảo vệ sẽ đượcđảm bảo Do đó, khi phát sinh tranh chấp trong quan hệ dân sự, các bên lựa chọn Tòa
án là cơ quan phân xử cho mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên
Tuy nhiên, để giải quyết một tranh chấp dân sự theo thủ tục tố tụng đòi hỏiTòa án phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau, tuân theo trình tự, thủ tục
do luật định từ khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi ban hành bản án, quyết định Quátrình này chịu sự chi phối của các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau nên thờigian giải quyết xong một vụ án dân sự là tương đối dài Xuất phát từ sự phức tạp củaviệc giải quyết xong một vụ án dân sự, pháp luật tố tụng dân sự đã dự liệu đến việcbảo vệ quyền công dân bằng việc ghi nhận một số biện pháp tố tụng giúp cho hoạtđộng tố tụng được thuận lợi, khách quan, bảo đảm công bằng và bảo vệ quyền lợihợp pháp cho các bên trong tranh chấp BPKCTT là một trong các biện pháp đónhằm để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảotoàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảmviệc thi hành án
Trong Từ điển Tiếng Việt không có giải thích như thế nào là "biện pháp khẩncấp tạm thời" nhưng lại có những giải thích về "biện pháp" là cách làm, cách giảiquyết một vấn đề cụ thể, "khẩn cấp" là nghiêm trọng, cần được tiến hành, giải quyếtngay, không thể chậm trễ, "tạm thời" là chỉ có tính chất trong một thời gian ngắn
Trang 14trước mắt, không có tính chất lâu dài 1.
Theo Từ điển Luật học thì BPKCTT trong tố tụng dân sự là biện pháp mà Tòa
án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết nhucầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hay bảo đảm thi hành án, nhằm bảođảm việc giải quyết vụ án và thi hành án nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự2
Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội xuất bản năm 2014 đưa ra khái niệm về BPKCTT như sau: “BPKCTT là biện
pháp do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự nhằm giải quyết các yêu của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được bảo đảm thi hành án”.
BPKCTT, như tên gọi của nó, là những biện pháp khẩn cấp được áp dụngtrong những trường hợp đặc biệt, để tạm thời giải quyết những vấn đề cấp bách nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tranh chấp hoặc nhằm ngăn chặn các
sự việc, hiện tượng hoặc hành vi có hại cho các bên, cho xã hội cũng như cho quátrình thụ lý và giải quyết tranh chấp tại Tòa án BPKCTT thường là những biện pháp
có tính cấp bách cần phải được áp dụng ngay trong những hoàn cảnh và tình huống
cụ thể
Trong Bộ luật tố tụng Liên bang Nga được thông qua ngày 23 tháng 10 năm
2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 20033 thì các BPKCTT lànhững biện pháp tố tụng được Tòa án hay Thẩm phán áp dụng dựa trên yêu cầu củanhững người tham gia tố tụng nếu việc không áp dụng chúng có thể gây ra khó khănhay dẫn đến việc thi hành án không thể thực hiện được Các quy định này khác vớiquy định trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, bởi lẽ chúng hoàn toàn dựa trên
sự tự định đoạt của các đương sự Chỉ khi có yêu cầu của đương sự thì Tòa án mớixem xét việc áp dụng các biện pháp này Quy định này dựa trên nguyên tắc tự dothỏa thuận, định đoạt của đương sự, một trong những nguyên tắc cơ bản để điều
1Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, trang 58, 439, 814 2Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp và NXB Từ điển Bách khoa, tr 67
3Nguyễn Ngọc Khánh - Trần Văn Trung (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, NXB Tư pháp Hà Nội.
Trang 15chỉnh các quan hệ dân sự.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hoà Pháp thì quyết địnhkhẩn cấp tạm thời là quyết định được Tòa án hay Thẩm phán áp dụng dựa trên yêucầu của một bên đương sự khi bên có mặt hay đã được triệu tập Trong những trườnghợp đặc biệt, pháp luật quy định một Thẩm phán không phải là người thụ lý tranhchấp cũng được quyền quyết định ngay tức khắc việc áp dụng BPKCTT
Tuy nhiên, pháp luật tố tụng của Cộng hoà Pháp lại không quy định cụ thể cácBPKCTT trong luật như Việt Nam và một số quốc gia khác Các BPKCTT được ápdụng theo yêu cầu của đương sự Đây là một quy định thông thoáng và linh hoạt.Quy định này đáp ứng được những yêu cầu phong phú của đương sự, nhất là trongmột xã hội mà các quan hệ ngày càng phát triển muôn hình vạn trạng
Cũng giống như quy định trong pháp luật ở Việt Nam thì quyết định áp dụngBPKCTT không có hiệu lực tố tụng như một bản án mà là quyết định đương nhiên,
có hiệu lực tạm thi hành ngay Các BPKCTT theo quy định của pháp luật Cộng hoàPháp chỉ được áp dụng khi chủ thể yêu cầu đã bảo đảm những điều kiện về chế địnhbảo lãnh hoặc thực hiện các biện pháp bảo đảm bằng tài sản đủ để đáp ứng các yêucầu về việc hoàn trả hay bồi thường khi áp dụng không đúng các BPKCTT mà gâythiệt hại cho người bị áp dụng Cụ thể là, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại này phải đặttrong mối tương quan giữa bên yêu cầu áp dụng BPKCTT và bên bị yêu cầu áp dụngBPKCTT
1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời
BPKCTT là biện pháp do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ việcdân sự hoặc được áp dụng độc lập với vụ việc đó nhằm đáp ứng nhu cầu cấp báchcủa đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ chứng cứ hoặc bảo đảm cho việc thihành án dân sự
Đồng thời, việc áp dụng BPKCTT kịp thời khắc phục những hậu quả, thiệt hại
do hành vi trái pháp luật gây ra, ngăn chặn những hành vi huỷ hoại bằng chứng làmsai lệch nội dung vụ việc Đồng thời ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản và đảm bảoviệc thi hành bản án, quyết định của Tòa án
Như vậy, việc áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Trang 16không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc Trong điều kiện hộinhập kinh tế hiện nay, BPKCTT ngày càng trở thành công cụ pháp lý vững chắc đểcác đương sự bảo vệ quyền và quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia vào cácquan hệ dân sự, thương mại và lao động.
1.1.4 Ý nghĩa của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tại khoản 1 Điều 2 của BLDS năm 2015: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật" Quy định này còn cụ thể hoá nội dung của Điều 11 BLDS
năm 2015: "Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có
quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền: 1 bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình" Đương sự trong vụ án chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, quyền
và lợi ích của họ đã được luật nội dung ghi nhận, nên nếu quyền, lợi ích của họ bịxâm phạm, tranh chấp cần được Tòa án can thiệp, bảo vệ khẩn cấp thì tiếp theo luậtnội dung, luật hình thức phải ghi nhận quyền được yêu cầu Tòa án áp dụngBPKCTT
Về phương diện lý luận, biện pháp bảo đảm được xem như biện pháp dự
phòng, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ Như vậy, mục đích của của biện pháp
bảo đảm này là nhằm chắc chắn rằng nếu việc áp dụng BPKCTT mà không đúng,gây ra thiệt hại thì đã có sẵn một giá trị tài sản bảo đảm đề bồi thường cho người bịthiệt hại
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị yêu cầu áp dụngBPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có quyền yêu cầu, các nhà lậppháp đã xây dựng trong BLTTDS những quy định về các BPKCTT buộc người yêucầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như phải gửi một khoản tiền, kim khí quý hoặc
đá quý, các loại giấy tờ có giá khác vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng
Theo quy định tại Điều 136 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu áp dụng cácBPKCTT tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 BLTTDS năm 2015 phảigửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưngphải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để đảm
Trang 17bảo quyền và lợi ích của người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạmdụng quyền yêu cầu áp dụng từ phía người có quyền yêu cầu.
- Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, quyền con người điều được ghi nhậntrong hệ thống pháp luật Mọi chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấphoặc cần ghi nhận các quyền hay tình trạng pháp lý điều được pháp luật trao choquyền yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc Trong trình tự tố tụng có nhiều giaiđoạn tố tụng khác nhau và tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng màpháp luật quy định cho đương sự các quyền và nghĩa vụ cụ thể để đương sự có thể sửdụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Điều 111 BLTTDS năm 2015 nêu rõ “1 Trong quá trình giải quyết vụ án,
đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
2 Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.
Theo quy định trên thì Tòa án sẽ áp dụng các BPKCTT cần thiết để bảo vệtính mạng, sức khoẻ, tài sản, những yêu cầu cấp thiết, thu thập chứng cứ, bảo vệchứng cứ khi đương sự có yêu cầu Việc áp dụng BPKCTT với mục đích giảiquyết nhu cầu cấp bách của đương sự, cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủthể bị ảnh hưởng bởi yêu cầu áp dụng BPKCTT
Việc Tòa án áp dụng BPKCTT có tác dụng giải quyết nhu cầu cấp bách củađương sự, giúp nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo vệ bằng chứng, bảo vệ được tàisản , do đó việc áp dụng BPKCTT của Tòa án được thực hiện trong suốt quá trìnhTòa án giải quyết vụ việc dân sự Điều này có nghĩa là Tòa án được quyền áp dụngBPKCTT vào bất cứ thời điểm nào trong khi thụ lý giải quyết vụ việc Thậm chí
Trang 18trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậuquả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án
áp dụng ngay BPKCTT đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện theo quy định tạikhoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 20154
Quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 đã tạo sự năng động, kịpthời trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, đồng thời khắc phụcđược hạn chế của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho phép áp dụng các BPKCTT vàotrước thời điểm khi xét xử
Do những mâu thuẫn về lợi ích, nên có những vụ việc đương sự yêu cầu ápdụng BPKCTT không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị ảnhhưởng, do đó, việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT
là cần thiết để ngăn chặn việc lạm dụng quyền được yêu cầu áp dụng BPKCTT củađương sự, bảo đảm vụ việc dân sự được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật
Việc áp dụng BPKCTT ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp phápcủa chủ thể bị yêu cầu, nếu việc yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng, gây thiệt hạicho chủ thể bị yêu cầu thì phải có biện pháp để bồi thường ngay những tổn thất trênthực tế cho họ
1.2 Cơ sở lý luận để xây dựng chế định buộc thực hiện biện pháp bảo d
đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.2.1 Quyền tự định đoạt của đương sự
Quyền tự quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyêntắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 5 của BLTTDS năm 20155 Nguyên tắc này thểhiện sự tôn trọng ý chí, nguyện vọng của các đương sự trong tố tụng dân sự
Tôn trọng nguyên tắc này, khi xây dựng các quy định về BPKCTT trong tố
4 Khoản 2 Điều 111 BLTTDS 2015 quy định: “Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.
5 Điều 5 của BLTTDS năm 2015: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”
Trang 19tụng dân sự, các nhà làm luật cũng đề cao sự tự quyết định và định đoạt của đương
sự bằng việc quy định cho họ có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, đối với quy địnhbuộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT, sau khi đương sựchứng minh họ đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm theo yêu cầu của Toà án thìTòa án sẽ quyết định áp dụng BPKCTT khi yêu cầu này là hợp pháp và thật sự khẩncấp Khi yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự là hợp pháp thì Tòa án có tráchnhiệm áp dụng đúng biện pháp, đúng phạm vi yêu cầu của đương sự, bảo đảm tínhhiệu quả của việc áp dụng biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời Việc áp dụng BPKCTT là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, kịp thời ngăn chặn những hành vi gây thiệt hại, tẩu tán tài sản, huỷ hoạichứng cứ và đảm bảo thi hành án Đồng thời, chế định buộc thực hiện biện pháp bảođảm nhằm làm tăng tính trách nhiệm của người có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT,buộc họ phải cân nhắc cẩn trọng trước khi nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT
Do vậy, đòi hỏi khi xây dựng các quy định về BPKCTT nhà làm luật phải tínhđến hiệu quả của BPKCTT được áp dụng từ đó xây dựng nên các quy định về buộcthực hiện biện pháp bảo đảm phù hợp với đối tượng áp dụng của BPKCTT
1.2.2 Bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự
Phải nói rằng tất cả quy định của pháp luật tố tụng dân sự đều nhằm bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Pháp luật quy định cho đương sự
có quyền yêu cầu áp dụng những BPKCTT nhưng để tránh sự lạm quyền từ chínhngười có yêu cầu, cũng như từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, và đặc biệt tránhthiệt hại cho người bị áp dụng, pháp luật quy định việc buộc thực hiện biện pháp bảođảm khi có yêu cầu áp dụng BPKCTT Khi có thiệt hại phát sinh do áp dụngBPKCTT thì giá trị buộc thực hiện biện pháp bảo đảm được dùng để khắc phục hậuquả thiệt hại do chính BPKCTT gây ra Vì vậy, bên cạnh quy định cho đương sự cóquyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, pháp luật còn quy định buộc đương sự thực hiệnbiện pháp bảo đảm, có như vậy, quyền lợi của bên yêu cầu áp dụng BPKCTT và chủthể bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng BPKCTT đều được đảm bảo
1.3 Các biện pháp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
Trang 201.3.1 Chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc
tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụthay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảolãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng, bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảolãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên đượcbảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bênnhận bảo lãnh Đối với hình thức bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của tổ chức tíndụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cũng đòi hỏi một chứng từ xácnhận trách nhiệm thanh toán của bên bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thựchiện được nghĩa vụ của mình
Trong vụ án dân sự, khi đương sự có yêu cầu áp dụng BPKCTT, nếu có chứngthư bảo lãnh của ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cánhân khác đảm bảo cho nghĩa vụ của người có yêu cầu áp dụng BPKCTT và nếuthoả mãn các điều kiện khác thì Toà án ban hành Quyết định áp dụng BPKCTT
1.3.2 Tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 17/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim, vàcác loại kim loại quý khác Đá quý bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồngngọc), emorot (lục bảo ngọc), saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đáquý khác
Về giấy tờ có giá, BLDS năm 2015 không định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá màchỉ nêu giấy tờ có giá là một loại tài sản Theo quy định tại khoản 8 Điều 6 LuậtNgân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN ngày 15/4/2016 và khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN ngày16/02/2012 của Ngân hàng Nhà nước quy định: Giấy tờ có giá là bằng chứng xácnhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sử dụng giấy tờ
có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác
Tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Toà án nhân dân
Trang 21tối cao, các loại giấy tờ có giá gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, sec, công
cụ chuyển nhượng khác; Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổphiếu; Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ làm phát sinh nghĩa vụtrả nợ; Công văn số 114/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 hướng dẫn các Toà ánnhân dân xác định Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, gồm: Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xemáy; Giấy đăng ký xe ô tô không phải là “giấy tờ có giá”
Các loại tài sản như kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá sẽ có giá trị biến độngtheo từng thời điểm, phụ thuộc vào yếu tố thị trường Do đó, việc định giá để xácđịnh một mức giá trị cụ thể của kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá chỉ mang tínhtương đối, chưa đảm bảo tính ổn định của biện pháp bảo đảm
1.4 Đặc điểm pháp lý của biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.4.1 Là biện pháp tiền đề để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm
Trong hoạt động tố tụng, việc áp dụng BPKCTT là rất cần thiết và quan trọng.Việc áp dụng các biện pháp này mang tính "khẩn cấp" nhằm giải quyết những nhucầu cấp thiết, không thể chậm trễ để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cácđương sự Nếu không áp dụng BPKCTT có thể dẫn đến những thiệt hại nhất định chomột trong các bên tranh chấp Tính khẩn cấp đặt ra cho Tòa án trách nhiệm xem xét
và áp dụng một cách nhanh chóng khi có yêu cầu của đương sự và quyết định đóphải thi hành ngay mới đảm bảo được mục đích của BPKCTT
Các BPKCTT chỉ mang tính tạm thời Các quyết định trong quyết định ápdụng BPKCTT chưa phải là nội dung giải quyết tranh chấp, chưa phải là quyết địnhcuối cùng Trong khi vụ án chưa được thụ lý, hoặc đang trong quá trình giải quyết vàchưa có phán quyết nhưng vì nhu cầu trước mắt nên phải áp dụng biện pháp này6.Tính tạm thời của các biện pháp này còn thể hiện ở quy định: Trong quá trình tốtụng, các BPKCTT vẫn có thể được thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ khi không còn
6 Tống Công Cường (2007), Luậ t tố tụ ng dân sự Việt Nam nghiên cứu so sánh, NXB Đại học Quốc gia
TP.Hồ Chí Minh, tr 279.
Trang 22phù hợp với tình hình thực tế hoặc khi tình trạng khẩn cấp đã bị bãi bỏ.
Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định BPKCTT như là công cụ hữu hiệu mangtính tạm thời trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ tài liệu, chứng cứ và tài sản nhằmphục vụ cho công tác xét xử cũng như công tác thi hành án Tuy nhiên, không thểtránh khỏi một bên đương sự lạm dụng quyền được yêu cầu Tòa án áp dụngBPKCTT để gây thiệt hại cho chủ thể khác hoặc gây khó khăn cho chính quá trình tốtụng Để ngăn chặn trường hợp này, cũng như để đảm bảo bên yêu cầu áp dụngBPKCTT phải có trách nhiệm cao khi đưa ra yêu cầu BPKCTT, trong một số trườnghợp, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải thựchiện biện pháp bảo đảm, chỉ khi thực hiện xong biện pháp bảo đảm và chứng minhcho Tòa án thấy rằng người yêu cầu áp dụng BPKCTT đã thực hiện xong biện phápbảo đảm thì Tòa án mới ra quyết định áp dụng BPKCTT
1.4.2 Là biện pháp tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi có tính cấp thiết của các đương sự trong tố tụng dân sự
Việc áp dụng BPKCTT là nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự,bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phụcđược hoặc bảo đảm việc thi hành án Giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sựchính là giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền lợi cấp thiết của đương sự đểtránh những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.4.3 Được quy định trong một số văn bản pháp luật tố tụng điều chỉnh quan hệ dân sự
Căn cứ quan hệ tranh chấp, có 03 bộ luật điều chỉnh 03 nhóm quan hệ giảiquyết tranh chấp trong xã hội, thứ nhất là Bộ luật tố tụng dân sự điều chỉnh thủ tụcgiải quyết quan hệ tranh chấp dân sự giữa cá nhân, cơ quan Nhà nước, đơn vị vũtrang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có liên quan với nhau; thứ hai là Bộ luật tố tụnghình sự điều chỉnh quan hệ giữa một bên là Nhà nước (bảo vệ khách thể quan hệ xãhội bị xâm phạm) với một bên là tội phạm; thứ ba là Luật Tố tụng hành chính điềuchỉnh trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án hành chính giữa người khởi kiện là cơquan, tổ chức, cá nhân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định
Trang 23kỷ luật buộc thôi việc và người bị kiện là cơ quan, tổ chức cá nhân có quyết địnhhành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc ;
Các quy định về BPKCTT trong tố tụng hành chính được quy định tạiChương V từ Điều 66 - Điều 77 BLTTHC năm 2015, theo đó các BPKCTT gồm có:Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh; Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính; Cấm hoặcbuộc thực hiện hành vi nhất định
Luật Tố tụng hành chính quy định về BPKCTT nhưng BPKCTT trong Luật
Tố tụng hành chính không đa dạng như trong Bộ luật tố tụng dân sự và không quyđịnh việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT Nguyênnhân của sự khác biệt này xuất phát từ sự khác nhau về bản chất của đối tượng tranhchấp trong vụ án dân sự và vụ án hành chính Đối tượng tranh chấp trong vụ án dân
sự chính là quyền tài sản hay quyền nhân thân của các bên đương sự, nên các biệnpháp BPKCTT trong tố tụng dân sự cũng tác động đến những vấn đề về nhân thân vàtài sản, trong khi đó, vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, tổ chức khởikiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hànhchính của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính.Đồng thời quyền tài sản và quyền nhân thân không phải là đối tượng của tranh chấphành chính Do không ảnh hưởng đến quyền tài sản và quyền nhân thân nên việc gây
ra thiệt hại khi thực hiện yêu cầu áp dụng BPKCTT hầu như không ảnh hưởng đếnngười bị yêu cầu và người liên quan Chính vì tính không gây thiệt hại nên biện phápbảo đảm không được quy định trong LTTHC năm 2015
Trong pháp luật tố tụng hình sự cũng có những biện pháp được cơ quan cóthẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn những thiệt hại xảy ra, cũng như bảođảm cho việc thi hành án Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự những biện pháp đókhông được gọi là BPKCTT mà được gọi là biện pháp ngăn chặn Biện pháp ngănchặn là biện pháp cưỡng chế do luật tố tụng hình sự quy định do cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi
tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa
họ tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố,
Trang 24xét xử và thi hành án nên biện pháp bảo đảm không được đặt ra trong hoạt động tốtụng hình sự.
Trong tố tụng hình sự còn có biện pháp bảo đảm thi hành án gần giống nhưBPKCTT buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm, đó là biện pháp kê biêntài sản Tuy nhiên, khác với BPKCTT trong tố tụng dân sự, kê biên tài sản trong tốtụng hình sự là một trong những biện pháp tiến hành điều tra, chỉ áp dụng đối với bịcan, bị cáo phạm vào tội mà Bộ luật Hình sự quy định có thể tịch thu tài sản hoặcphạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ
án hình sự7 Mục đích của việc kê biên tài sản trong tố tụng hình sự là để có cơ sởbuộc bị can, bị cáo chấp hành án đối với phần có liên quan đến tịch thu tài sản, phạttiền hoặc buộc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, do đó, sự khác nhau
về chủ thể áp dụng và mục đích áp dụng nên biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự không yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm
Trong pháp luật tố tụng trọng tài thương mại thì là những biện pháp khẩn cấp,cần thiết được trọng tài tạm thời áp dụng trong quá trình thụ lý và giải quyết tranhchấp, trước khi ra quyết định cuối cùng về vụ việc tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài cũngnhư đảm bảo cho tố tụng trọng tài được thực hiện đúng quy định, do đó các bên tranhchấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời8
Theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 Luật TTTM thì Hội đồng trọng tài chỉ
có thể quyết định áp dụng BPKCTT khi có đủ 04 điều kiện sau:
- Phải có đương sự yêu cầu áp dụng một hoặc một số BPKCTT;
- Người yêu cầu phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự cần thiếtphải áp dụng BPKCTT;
- Người yêu cầu áp dụng BPKCTT đã thực hiện nghĩa vụ bảo đảm về tàichính để bảo đảm việc bồi thường những thiệt hại do việc yêu cầu áp dụng BPKCTTkhông đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng;
7 Nguyễn Thị Bích Thảo (2008), “Các BPKCTT trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại
Tòa án”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (9), tr 51.
8Khoản 1 Điều 48 Luật TTTM năm 2010.
Trang 25- Chưa có đương sự nào yêu cầu Toà án áp dụng BPKCTT.
Theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu áp dụng BPKCTT phảigửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấnđịnh tương đương với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng BPKCTT khôngđúng để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng BPKCTT Khoản tiền, kim khíquý, đá quý hoặc giấy tờ có giá được gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng doHội đồng trọng tài quyết định Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn,ngay sau khi bên yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo đảm thì Hội đồng trọng tài xemxét ra quyết định áp dụng BPKCTT Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, Hội đồngtrọng tài thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết 9
Biện pháp bảo đảm tài chính là tiền đề để Hội đồng trọng tài quyết định ápdụng BPKCTT hay không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT vì cũng giống nhưtrong tố tụng dân sự, việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài là để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tranh chấp, bảo toàn tình trạng tài sản, bảođảm đối tượng của vụ tranh chấp không bị thay đổi trước khi Hội đồng trọng tài raphán quyết về vụ tranh chấp Vì vậy việc buộc người yêu cầu áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính là vô cùng cần thiết,đảm bảo rằng người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải có trách nhiệm về yêu cầu của
họ và người bị ảnh hưởng bởi quyết định áp dụng BPKCTT được bù đắp một cáchhợp lý nhất những tổn thất về tính mạng, sức khoẻ và tài sản
1.5 Quá trình hình thành và phát triển của chế định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
9Khoản 4 Điều 50 Luật TTTM năm 2010.
Trang 26của quyết định công nhận thuận tình ly hôn, nguyên tắc và thủ tục hòa giải đối vớicác đương sự trong vụ án ly hôn, những BPKCTT và hiệu lực của quyết định ápdụng BPKCTT, quyền chống án đối với quyết định này, quyền lợi của người thứ ba.
Trong những năm 1945-1975 đất nước chưa hoàn toàn thống nhất, từ năm
1954 - 1975 tồn tại hai hệ thống pháp luật ở hai miền Nam Bắc, giai đoạn này mộtmặt đấu tranh thống nhất đất nước, một mặt củng cố chính quyền và chống các thếlực thù địch nên pháp luật trong giai đoạn này chú trọng những vấn đề thuộc về hìnhluật Pháp luật tố tụng dân sự quy định chung trong một số văn bản điều chỉnh tốtụng hình sự Năm 1975 sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, Nhà nướckhông ngừng xây dựng và hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, nền kinh tế lúc bấy giờ lànền kinh tế bao cấp, các quan hệ dân sự đặc biệt là các quan hệ về kinh doanh thươngmại bị kìm hãm, chưa thật sự phát triển, kéo theo đó là quan hệ tố tụng dân sự cũngkhông được chú trọng và quan tâm đúng mức
Trong giai đoạn này, chế định về các BPKCTT cũng không được pháp luậtghi nhận trong một văn bản pháp luật cụ thể nào, mà chỉ được đề cập một cách chungchung trong các sắc lệnh và thông tư của Tòa án nhân dân tối cao Vào những năm
1950, các BPKCTT được nhắc đến với tên gọi là phương pháp bảo thủ Điều 11 Sắc
lệnh số 85/SL của Chủ tịch nước ngày 22 tháng 5 năm 1950 quy định "nếu hoà giải
bất thành mà Tòa án có thẩm quyền chưa quyết định gì, thì Hội đồng hoà giải có thể tạm thời cho thi hành những phương pháp bảo thủ cần thiết Tòa án nhân dân huyện phải đệ trình ngay hồ sơ cùng biên bản hoà giải bất thành ghi việc cho thi hành những phương pháp bảo thủ lên Tòa án có thẩm quyền Tòa án sẽ duyệt y, sửa chữa hay bác bỏ những phương pháp bảo thủ nếu xét thấy không cần thiết" Tuy nhiên,
các phương pháp bảo thủ cần thiết bao gồm những phương pháp bảo thủ nào và trình
tự thủ tục áp dụng phương pháp bảo thủ thì pháp luật tố tụng dân sự thời kỳ nàykhông có quy định cụ thể Việc xem xét thi hành những phương pháp bảo thủ cầnthiết tuỳ thuộc vào nhận định chủ quan của Tòa án
Có thể thấy rằng, trong các văn bản pháp luật điều chỉnh những quan hệ dân
sự cụ thể thì có những quy định riêng về BPKCTT được áp dụng cho các quan hệdân sự đó Quy định về BPKCTT trong giai đoạn này chưa thống nhất trong một văn
Trang 27bản pháp luật nào Những quy định rải rác, thiếu tập trung đã gây khó khăn trongviệc áp dụng quy định này Ngoài ra, quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sựvẫn chưa được chú trọng, việc áp dụng tuỳ thuộc vào Tòa án nhưng lại không có cơchế chịu trách nhiệm khi Tòa án không ra quyết định hoặc áp dụng BPKCTT khôngđúng gây thiệt hại cho đương sự Sắc lệnh số 85/SL của Chủ tịch nước ngày 22 tháng
5 năm 1950 quy định phương pháp bảo thủ được Tòa án nhân dân cấp huyện đệ trìnhngay hồ sơ cùng biên bản hoà giải bất thành ghi việc cho thi hành những phươngpháp bảo thủ lên Tòa án có thẩm quyền Sắc lệnh số 85/SL của Chủ tịch nước khôngquy định việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm mà chỉ quy định Tòa án nhân dâncấp huyện trình hồ sơ vụ việc và biên bản hoà giải bất thành thì Tòa án nhân dân cóthẩm quyền sẽ quyết định việc duyệt y, sửa chữa hay bác bỏ những phương pháp bảothủ Trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn kiến thiết, tình hình đất nước bịngoại bang lăm le can thiệp, các quan hệ dân sự chưa thực sự phát triển, tính chất cácquan hệ chưa phức tạp, giá trị tranh chấp chưa lớn nên khả năng gây thiệt hại từ việcyêu cầu áp dụng BPKCTT hầu như không có Vì vậy, pháp luật tố tụng trong giaiđoạn này không quy định các BPKCTT buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảođảm
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004
Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh tế Việt Namchuyển hẳn từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, mở cửa giao lưu và hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới Cùng với sựchuyển biến này, pháp luật cũng có những thay đổi tích cực để kịp thời điều chỉnhcác quan hệ mới phát sinh Văn bản quy phạm quan trọng nhất phải kể đến trong giaiđoạn này là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) đượcthông qua ngày 29/11/1989 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1990 Pháp lệnh này
đã dành trọn chương VIII để quy định về BPKCTT
Tại PLTTGQCVADS năm 1989, các BPKCTT được áp dụng đối với từng vụviệc cụ thể hơn so với giai đoạn trước Tại Điều 41 PLTTGQCVADS năm 1989 thìtrong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểmsát, đương sự, có thể áp dụng những biện pháp sau đây để tạm thời giải quyết yêu
Trang 28cầu cấp bách của đương sự hoặc để bảo vệ bằng chứng:
a Buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng;
b Giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chămnom;
c Trả tiền lương hoặc tiền công lao động;
d Kê biên tài sản đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán;
e Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp;
f Cho thu hoạch và bảo quản sản vật có liên quan đến việc tranh chấp;
g Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định
Trước khi mở phiên tòa, nếu có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT thì đương sựphải làm đơn, Viện kiểm sát nhân dân phải có văn bản gửi Tòa án Tòa án nghe lờitrình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến yêu cầu đó trước khi quyếtđịnh áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT Nếu cần phải áp dụng ngay BPKCTTthì Tòa án có quyền ra quyết định ngay
PLTTGQCVADS năm 1989 không quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thờibuộc người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm
Sau đó là sự ra đời của Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế(PLGQCVAKT) năm 1994 quy định trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Các BPKCTT được quy định tại Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm
1994 là:
a Kê biên tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài khoản;
b Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hành vinhất định;
c Cho thu hoạch và bảo quản tài sản vật có liên quan đến tranh chấp;
d Cho bán sản phẩm, hàng hoá dễ bị hư hỏng
PLGQCVAKT năm 1994 quy định đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Tòa
án ra quyết định áp dụng BPKCTT để bảo vệ bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; nếu có lỗi trong việcgây thiệt hại thì phải bồi thường
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn
Trang 29bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng BPKCTT và phải chịu tráchnhiệm về quyết định đó Nếu do quyết định áp dụng BPKCTT trái pháp luật mà gâythiệt hại thì phải bồi thường.
Việc áp dụng BPKCTT có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trongquá trình giải quyết vụ án Yêu cầu áp dụng BPKCTT phải được Tòa án xem xéttrong thời hạn ba ngày, kể từ ngày có yêu cầu Nếu chấp nhận yêu cầu thì Tòa án raquyết định áp dụng BPKCTT
PLGQCVAKT năm 1994 đã quy định chế định chịu trách nhiệm đương sự vànếu yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự gây thiệt hại nếu do lỗi thì phải bồithường Việc bồi thường ở đây căn cứ vào lỗi và mức độ gây thiệt hại của việc yêucầu áp dụng BPKCTT và được xem xét giải quyết trong cùng vụ kiện Pháp lệnhkhông đòi hỏi người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm trước khi Tòa ánquyết định áp dụng BPKCTT, đảm bảo cho yêu cầu áp dụng BPKCTT được xem xét
và cho thi hành ngay Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa giải quyết vấn đề ràng buộc tráchnhiệm của người yêu cầu áp dụng BPKCTT, bởi việc không quy định họ phải thựchiện biện pháp bảo đảm dễ dẫn đến việc đương sự lạm dụng quyền được yêu cầu Tòa
án áp dụng BPKCTT, gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT và người liênquan
1.5.3 Giai đoạn từ 2004 đến năm 2015
Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự(BLTTDS) năm 2004 - Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam Bộ luật này được Quốc hội khoá IX thông qua ngày15/6/2004 và có hiệu lực ngày 01/01/2005 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết
số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII "Các biện phápkhẩn cấp" của BLTTDS BPKCTT trong BLTTDS thể hiện nhiều quy định tích cực,tiến bộ phù hợp với nhu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng dân sự Nhìn dưới góc
độ so sánh thì điểm mới về theo quy định của gồm hai vấn đề liên quan đến thờiđiểm xem xét áp dụng BPKCTT và việc buộc người có yêu cầu phải thực hiện biệnpháp bảo đảm
Trang 30Theo quy định trước đây thì BPKCTT chỉ được yêu cầu và áp dụng khi đãđược thụ lý, nhưng theo quy định của BLTTDS năm 2004, đương sự có thể yêu cầu
áp dụng BPKCTT cùng lúc với việc nộp đơn khởi kiện trong những trường hợp tình
thế khẩn cấp Điều 99, khoản 2 BLTTDS năm 2004 quy định: "Trong trường hợp do
tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó".
Trong một số trường hợp, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị ápdụng BPKCTT và tránh sự lạm quyền của chủ thể có quyền yêu cầu, BLTTDS quyđịnh buộc chủ thể yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì mới được Tòa ánxem xét, áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của người đó được quy định tại khoản 1
Điều 120 của BLTTDS như sau: "Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các quy
định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 12 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người yêu cầu có quyền yêu cầu".
Đây là những quy định hoàn toàn mới và tiến bộ so với quy định về BPKCTTtrong các Pháp lệnh trước đó Ngoài ra, các BPKCTT trong BLTTDS năm 2004 cũng
đa dạng hơn, chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng cũng rõ ràng hơn và quy định cụ thểhơn về trách nhiệm do áp dụng BPKCTT không đúng
1.5.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 số 92/2015/QH13 được Quốc hội trong kỳhọp Khoá 10 thông qua ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày01/7/2016 (trừ các quy định cụ thể hoá các quy định mới có liên quan của BLTTDSnăm 2015 thì có hiệu lực từ ngày 01/7/2015), bao gồm các quy định những nguyêntắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giảiquyết các vụ án về tranh chấp dân sự và nhiều điểm mới cập nhật thay cho BLTTDSnăm 2004 và BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 BLTTDS năm
Trang 312015 đã xây dựng chế định về BPKCTT với những nội dung tiến bộ, bổ sung thêmquyền yêu cầu của đương sự về loại BPKCTT, đảm bảo sự đa dạng của các loạiBPKCTT, tạo điều kiện thuận lợi để đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình, đảm bảo việc giải quyết vụ án theo quy định pháp luật cũng như đảm bảoviệc thi hành án.
Điều 114 BLTTDS năm 2015 quy định các BPKCTT đa dạng hơn so với quyđịnh tại Điều 102 của BLTDS năm 2004, như: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa
vụ, Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình, Tạm dừng việc đóng thầu và cáchoạt động có liên quan đến việc đấu thầu, Bắt giữ tàu bay, tàu biển để giải quyết vụ
án Đây là những quy định nhằm bắt kịp với tình hình mới liên quan đến việc trốntránh nghĩa vụ dân sự như việc cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ hoặc các vụviệc dân sự trong tình hình đất nước hội nhập với thế giới thì các tranh chấp có yếu
tố nước ngoài, các tranh chấp có giá trị lớn đòi hỏi có tài sản đảm bảo đặc biệt nhưtàu bay, tàu biển ngày càng phổ biến nên loại BPKCTT bắt giữ tàu bay, tàu biển đãđược BLTTDS năm 2015 cập nhật, bổ sung kịp thời
Về việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT,BLTTDS năm 2015 bổ sung hình thức bảo đảm là chứng từ bảo lãnh được bảo đảmbằng tài sản của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác và thay cụm từ "nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực
hiện" bằng quy định "tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng" Đối với hình thức bảo đảm bằng chứng từ bảo lãnh
được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác hoặc của
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, BLTTDS năm 2015 đã kịp thời cập nhật hoạt độngtín dụng - vốn là hoạt động ngày càng quan trọng trong nền kinh tế và hoạt động hỗtrợ, giúp đỡ nhau giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, tổ chức với nhau
để bổ sung cho quy định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụngBPKCTT Đồng thời việc quy định rõ ràng về tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh
đã làm rõ thế nào là nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện, bảo đảm
sự rõ ràng trong cách lập pháp về trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng BPKCTTkhông đúng, đảm bảo lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT
Trang 32Cùng với sự phát triển của các quan hệ dân sự trong xã hội, các nhà lập phápkhông ngừng xây dựng và hoàn thiện chế định BPKCTT để việc áp dụng BPKCTTđạt hiệu quả cao nhất, cũng như các biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người yêu cầuthực hiện biện pháp bảo đảm nhằm bù đắp những rủi ro, tổn thất khi yêu cầu của họgây ra thiệt hại cho bên bị yêu cầu cũng như những chủ thể khác có liên quan.
Trang 33BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN TẠM THỜI 2.1 Quy định về chủ thể thực hiện biện pháp bảo đảm
Theo quy định tại Điều 196 của BLTTDS, thì trong thời hạn 03 ngày kể từngày thụ lý vụ án, Thẩm phán thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơquan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết việc giải quyết vụ án vàtrong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầucủa nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.Như vậy, khi nộp đơn khởi kiện thì người nộp đơn chưa có tư cách của nguyên đơn
và khi chưa có tư cách nguyên đơn trong hồ sơ vụ án thì họ chưa có được quyền,nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 của BLTTDS, trong đó có quyềnđược đề nghị Toà án quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạmthời Dù người nộp đơn chưa có được quyền, nghĩa vụ của đương sự, nhưng họ đượcquyền yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng BPKCTT đồng thời với việc nộp đơnkhởi kiện trong các trường hợp khẩn cấp
Theo các nhà lý thuyết về pháp luật tố tụng của một số nước theo hệ thốngChâu Âu lục địa thì cần phải trao cho Toà án thẩm quyền ban hành lệnh áp dụng cácBPKCTT một cách “kịp thời và có hiệu quả” Nguyên tắc này đã được thể hiện trongcác quy định cụ thể về thủ tục áp dụng các BPKCTT Theo đó, thủ tục về cácBPKCTT có thể áp dụng một cách độc lập trước khi khởi kiện mà không phụ thuộcvào điều kiện chính10
Việc quy định người khởi kiện có quyền nộp Đơn yêu cầu áp dụng BPKCTTcùng lúc với nộp Đơn khởi kiện nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của ngườikhởi kiện Đây là một quy định mới rất quan trọng mà theo các nhà nghiên cứu đó làkết quả của quá trình và xu thế hội nhập với thủ tục tố tụng của nhiều quốc gia trên
10 Ngô Hoàng Oanh, Phạm Quỳnh Lan (2018), “Một số vấn đề về biện pháp phong toả tài sản của người có
nghĩa vụ theo BLTTDS năm 2015”, Tạp chí Nghề Luật (5), tr 66.
Trang 34dẫn đến việc giải quyết vụ án trở nên không còn ý nghĩa11.
2.2 Các trường hợp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo quy định tại Điều 136 BLTTDS năm 2015, việc buộc thực hiện biệnpháp bảo đảm khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau:
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp;
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhànước; phong tỏa tài khoản ở nơi gửi giữ;
- Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu;
- Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án
Đây là sự kế thừa các quy định của BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sungnăm 2011, sự kế thừa này đã bổ sung những yêu cầu áp dụng BPKCTT buộc ngườiyêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự
2.2.1 Kê biên tài sản đang tranh chấp
Theo quy định tại Điều 120 của BLTTDS năm 2015 thì biện pháp kê biên tàisản đang tranh chấp được Tòa án áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn
cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản.Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT khi có đơn yêu cầu của những người có quyềnyêu cầu
Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp phải tuân thủ các điềukiện áp dụng sau:
- Biện pháp này được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp vềtài sản, theo yêu cầu của đương sự Người yêu cầu áp dụng biện pháp kê biên tài sản
11 Lê Thu Hà (2007), “Những điểm mới về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí
Toà án nhân dân (1), tr 21.
Trang 35Hành vi tẩu tán tài sản là hành vi chuyển dịch tài sản, che đậy quyền sở hữucủa mình đối với tài sản Hành vi huỷ hoại tài sản là hành vi nhằm làm mất đi giá trị
sử dụng của tài sản Cả hành vi này đều làm thay đổi tình trạng tài sản đang tranhchấp và ảnh hưởng trong việc giải quyết vụ án cũng như khả năng thi hành án Hành
vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản phải là hành vi tác động đến tài sản đang tranh chấp Do
đó, chỉ tiến hành kê biên đối với tài sản đang tranh chấp, không được kê biên tài sảnkhác của người bị áp dụng biện pháp này
- Tài sản kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án, hoặclập biên bản giao cho người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án,nhằm bảo toàn tình trạng, giá trị của tài sản
Khi áp dụng các BPKCTT kê biên tài sản đang tranh chấp Tòa án cần có sựkết hợp giữa các quy định của BLTTDS và các quy định trong Luật Trọng tài thươngmại, Luật Sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các quy định hiện nay về biện pháp này cònchưa thực sự cụ thể Pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể hơn theo hướng mở rộng hơnđối với trường hợp cần ngăn chặn trước người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vitẩu tán, huỷ hoại tài sản Ngoài ra, trong quyết định kê biên cần chỉ rõ nghĩa vụ củabên đương sự hoặc người thứ ba được giao quản lý tài sản trong việc không đượcchuyển dịch tài sản này cho đến khi có quyết định khác của Tòa án
Khi yêu cầu đương sự thực hiện biện pháp bảo đảm, cần xác định rõ tài sảnđang tranh chấp và phải xác định ngay giá trị tài sản đang tranh chấp để buộc đương
sự thực hiện biện pháp bảo đảm Tuy nhiên, đối với những tài sản là bất động sản màranh giới còn chồng lấn lên nhau, chưa xác định được cụ thể diện tích, việc xác địnhgiá trị của đối tượng áp dụng BPKCTT gặp nhiều khó khăn Do đó, việc xác định giátrị buộc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với tài sản là đối tượng đang bị tranh chấpphụ thuộc nhiều vào hiện trạng tài sản đang tranh chấp Trên thực tế, tài sản là đốitượng khởi kiện trong vụ án dân sự rất đa dạng, do đó, việc xác định giá trị của biệnbảo đảm để áp dụng BPKCTT trong trường hợp này rất phức tạp, đòi hỏi Thẩm phánthụ lý giải quyết phải cân nhắc, xem xét cẩn trọng trước khi ra quyết định
Trang 36là việc không cho thay đổi quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp TheoĐiều 121 BLTTDS năm 2015 thì biện pháp này được áp dụng trong quá trình giảiquyết vụ án dân sự nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sảnđang tranh chấp có hành vi chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranhchấp cho người khác Việc chuyển dịch về quyền tài sản này sẽ làm phức tạp thêmquá trình giải quyết vụ tranh chấp, gây khó khăn cho việc thi hành án sau này.
Do vậy, việc cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp là cần thiếtnhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án
Để áp dụng biện pháp này, cần tuân thủ đến các điều kiện áp dụng sau:
- Biện pháp này được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp vềtài sản, theo yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, khác với biện pháp kê biên tài sảnđang tranh chấp, biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đangtranh chấp được áp dụng khi có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tàisản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản có thể là hành vi muabán, chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê tài sản đang tranh chấp Những hành vinày sẽ gây khó khăn, phức tạp hơn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp, đồngthời sẽ ảnh hưởng đến hoạt động thi hành án, nên việc áp dụng biện pháp này là cầnthiết
- Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản chỉ áp dụng đối với tài sảnđang tranh chấp Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thể ra quyết định ápdụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản nếu tài sản đó thuộc sở hữu hợppháp của người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT, không phải là đối tượng tranh chấp
Đối với trường hợp này, nếu tài sản đang tranh chấp đang bị quản lý, chiếmgiữ bởi chủ thể khác, không phải là đương sự trong cùng vụ án thì việc xác định giátrị của tài sản đó rất khó khăn, đối với tài sản là động sản như phương tiện vận
chuyển (xe ô tô cho thuê, ) thường xuyên thay đổi người quản lý, thay đổi vị trí thì
việc xác định giá trị tài sản đang bị tranh chấp để làm cơ sở áp dụng BPKCTT rấtphức tạp; đối với tài sản là quyền sử dụng đất thì việc xác định giá trị còn phức tạp
Trang 37khác thì việc xác định giá trị của đối tượng là giá trị quyền sử dụng đất hay xác địnhluôn cả giá trị của công trình trên đất đòi hỏi Thẩm phán phải cân nhắc cẩn trọng đểđưa ra giá trị đúng theo quy định của đối tượng yêu cầu áp dụng BPKCTT.
2.2.3 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là việc không cho phép thayđổi hiện trạng tài sản đang là đối tượng của một vụ án về tranh chấp tài sản
Theo pháp luật hiện hành thì đương sự chỉ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụngbiện pháp khẩn cấp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp khi người đangchiếm hữu, giữ tài sản có các hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản đang có tranhchấp Tuy vậy, dưới góc độ nghiên cứu, sẽ hợp lý hơn nếu pháp luật cho phép ápdụng biện pháp này ngay cả trong trường hợp cần ngăn chặn người đang chiếm hữu,giữ tài sản có các hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án sẽ xem xét áp dụng BPKCTT cấm thayđổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp nếu người yêu cầu chứng minh được ngườiđang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có những hành vi làm thay đổi hiệntrạng tài sản đang tranh chấp Những hành vi được xem là làm thay đổi hiện trạng tàisản đó là hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm Hành vi huỷ hoại tài sản trongbiện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp cũng là một dạng hành vi làm thay đổi hiệntrạng tài sản, nhưng nó làm mất đi giá trị sử dụng của tài sản Còn những hành vitrong biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp lại có thể làm tănggiá trị tài sản đang tranh chấp lại có thể làm tăng giá trị tài sản đang tranh chấp hoặclàm tài sản không còn nguyên trạng kiểu dáng ban đầu Sự thay đổi hiện trạng tài sảnđang tranh chấp có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của chứng cứ và ảnh hưởngđến việc thi hành án Do đó, trong những trường hợp nhất định, cần phải áp dụngbiện pháp này trong quá trình giải quyết tranh chấp về tài sản
Đối với tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sảngắn liền với đất, nếu nhà trên đất là nhà đã được xây dựng lâu năm, có nguy cơ bịsập, khi xem xét thẩm định tại chỗ, Thẩm phán nhận thấy công trình trên thuộc
Trang 38trường hợp thiệt hại xảy ra khi áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sảnđang tranh chấp, bởi khi ra quyết định áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tàisản đang tranh chấp thì không được thực hiện bất cứ hành vi cải tạo, xây dựng đốivới tài sản đó, nếu tài sản là nhà hoặc công trình xây dựng đã cũ, có nguy cơ lún sụp
mà không được cải tạo, xây dựng khi công trình đó lún, sập gây thiệt hại về tài sản
và tính mạng, sức khoẻ của con người thì hậu quả rất lớn
2.2.4 Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
Đây là BPKCTT có thể được áp dụng trong các vụ án kinh doanh, thươngmại, tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, về lao động và chỉ áp dụng đối vớingười có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nướchoặc có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảocho việc giải quyết vụ án và thi hành án sau này
Theo quy định tại Điều 124 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án quyết định ápdụng BPKCTT phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạcNhà nước khi đương sự có yêu cầu và trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ chothấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạcNhà nước và cần thiết phải áp dụng BPKCTT để đảm bảo cho việc giải quyết vụ ánhoặc đảm bảo cho việc thi hành án Việc chứng minh người có nghĩa vụ có tài khoảntại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước thuộc về trách nhiệm của ngườiyêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT này nếu xét thấy việc phong tỏa tàikhoản của người có nghĩa vụ tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước làcần thiết cho việc xét xử và thi hành án sau này và người yêu cầu đã thực hiện biệnpháp bảo đảm tương đương với nghĩa vụ về tài sản của người có nghĩa vụ
Việc áp dụng BPKCTT về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tíndụng khác, kho bạc Nhà nước và phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ là tương tự nhau,bao gồm các điều kiện áp dụng sau:
- Để Tòa án áp dụng biện pháp này, người yêu cầu phải chứng minh người bị
Trang 39phải thực hiện Chẳng hạn như trong quan hệ mua bán hàng hoá, người bán có nghĩa
vụ giao hàng có quyền nhận đủ tiền thanh toán từ người mua hàng, ngược lại, ngườimua có nghĩa vụ thanh toán tiền và có quyền sở hữu hàng Nếu một bên đã thực hiệnphần nghĩa vụ của mình nhưng bên còn lại không thực hiện phần nghĩa vụ của họ thìbên không thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng sẽ gọi là bên có nghĩa vụ
Ngoài ra, người yêu cầu còn phải chứng minh người có nghĩa vụ có tài khoảntại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước hoặc có tài sản Nếu tài sản
là tiền, được gửi giữ tài các tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước thì sẽ áp dụng biệnpháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nướctheo quy định tại Điều 124 của BLTTDS năm 2015 Nếu tài sản là tiền hoặc tài sảnkhác được gửi giữ ở một nơi khác đã được xác định, không phải là tổ chức tín dụng,kho bạc Nhà nước thì áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ theo quyđịnh tại Điều 125 của BLTTDS năm 2015 Nếu người có nghĩa vụ có tài sản và tàisản hiện đang chịu sự quản lý trực tiếp của chính họ thì áp dụng biện pháp phong tỏatài sản của người có nghĩa vụ
- Tài sản trong các BPKCTT này là tài sản để đảm bảo người có nghĩa vụthực hiện nghĩa vụ của mình, đây không phải là tài sản tranh chấp như trong biệnpháp kê biên tài sản đang tranh chấp hay biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sảnđối với tài sản đang tranh chấp
- Tòa án trước khi ra quyết định áp dụng BPKCTT này cần phải xem xét việc
áp dụng biện pháp này có thật sự cần thiết hay không, tính cần thiết thể hiện ở chỗ,nếu không áp dụng sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc làm cho việc thihành án sau này gặp khó khăn
Để phong toả tài khoản tại ngân hàng, đương sự có yêu cầu phải chứng minhngười bị yêu cầu áp dụng BPKCTT có tài khoản tại ngân hàng, tuy nhiên không dễdàng để có thông tin do ngân hàng cung cấp, theo quy định của pháp luật tố tụng dân
Trang 40cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án tài liệu, chứng cứ mà mình đanglưu giữ, quản lý khi có yêu cầu13.
Khi Toà án ban hành Quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ yêu cầu tổ chứctín dụng cung cấp thông tin về tài khoản ngân hàng thì tổ chức tín dụng có thể khôngcung cấp vì căn cứ Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 thông tin liênquan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng quy định các thông tin liên quan đếntiền gửi và tài sản gửi của khách hàng là thông tin “mật”, thuộc danh mục bí mật Nhànước trong ngành ngân hàng được lưu trữ và bảo vệ theo chế độ mật của Nhà nước14
Do không có thông tin về tài khoản ngân hàng, không xác định rõ số dư tài khoảnngân hàng để buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm, nên trường hợp nàyToà án có thể không áp dụng BPKCTT
2.2.5 Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
Biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được quy định tại khoản
11 Điều 114 và Điều 126 của BLTTDS và là một trong mười bảy BPKCTT đượcTòa án áp dụng trong quá trình xét xử vụ án theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.Phong tỏa tài sản có thể được hiểu là một biện pháp được thực hiện nhằm mục đíchngăn chặn khả năng thực hiện quyền định đoạt tài sản, bao gồm quyền bán, chuyểndịch hoặc bất kỳ hình thức giao dịch nào khác đối với tài sản Bản chất của biện phápphong tỏa tài sản nằm ở việc cấm bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanhoặc bất kỳ bên thứ ba khác không được định đoạt tài sản trong quá trình xem xét vụ
án mà trong trường hợp không thực hiện các biện pháp này mục đích của việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được thoả mãn
Điều 126 BLTTDS năm 2015 quy định biện pháp này được áp dụng nếu
" trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản
và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án
12 Điều 6 BLTTDS năm 2015 quy định cung cấp chứng cứ và chứng minh.
13 Điều 7 BLTTDS năm 2015 quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ.
14 Điều 1, Điều 2 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.