1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa (luận văn thạc sỹ luật)

74 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa
Tác giả Huỳnh Như
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 108,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi tên là Huỳnh Như, mã số học viên là C18610209, là học viên lớp Cao học LuậtKinh tế Khóa 2018, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, là tá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

HUỲNH NHƯ

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN

• • THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2021

Trang 2

ịl lị

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

HUỲNH NHƯ

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN

• •THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

TP HỒ CHÍ MINH - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Huỳnh Như, mã số học viên là C18610209, là học viên lớp Cao học LuậtKinh tế Khóa 2018, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí

Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa” (Sau đây gọi tắt là “Luận

văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong luận văn này là kết quảcủa quá trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn khoa học -PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện Trong luận văn có trích dẫn nhiều điều luật hiện hành; sửdụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả cũng như tổng hợp tri thức từnhững công trình nghiên cứu đã công bố Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụthể, chính xác và có thể kiểm chứng Các thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàntoàn khách quan và trung thực

TÁC GIẢ

Trang 4

quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5năm 2013 của Chính phủ quy định về thương

mại điện tử

Nghị định số 98/2020/NĐ-CP

Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt viphạm hành chính trong hoạt động thương mại,sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng

Thông tư số 59/2015/TT-BCT

Thông tư số 59/2015/TT-BCT ngày 31 tháng 12năm 2015 của Bộ Công Thương quy định vềquản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng

dụng trên thiết bị di động

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI

Trang 5

TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG

GIAO KẾT TỪ XA 8

1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến 8

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 8

1.1.2 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 10

1.1.2.1 Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam 10

1.1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 11

1.1.2.3 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng 13

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về giao dịch mua sắm trực tuyến 15

1.2 Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa 17

1.2.1 Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa 17

1.2.2 Những đặc trưng của hợp đồng giao kết từ xa 18

1.2.2.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng 19

1.2.2.2 Đối tượng, hình thức hợp đồng, phương tiện giao kết hợp đồng 19

1.2.2.3 Trình tự giao kết hợp đồng 20

1.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa 25

1.4 Một số quy định của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa 26

Kết luận Chương 1 32

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA TẠI VIỆT NAM 33

2.1 Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa theo pháp luật Việt Nam 33

2.1.1 Biện pháp phòng ngừa 34

2.1.1.1 Vấn đề cung cấp thông tin 34

2.1.1.2 Hình thức hợp đồng giao kết từ xa 36

2.1.2 Biện pháp khắc phục 37

2.1.2.1 Quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng của người tiêu

Trang 6

2.1.2.2 Quyền rút lui khỏi hợp đồng của người tiêu dùng 39

2.1.2.3 Bảo vệ quyền lời người tiêu dùng khi người tiêu dùng phát hiện hàng hóa bị khuyết tật, hàng hóa không đảm bảo chất lượng sau khi đã sử dụng 42

2.1.3 Thực trạng chế tài xử lý hành vi vi phạm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến 45

2.1.3.1 Chế tài hành chính 45

2.1.3.2 Chế tài hình sự 49

2.1.3.3 Chế tài dân sự 50

2.1.4 Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến 52

2.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa 60

2.2.1 Định hướng chung trong hoàn thiện pháp luật 60

2.2.1.1 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch mua sắm trực tuyến với mức độ không thấp hơn so với các phương thức khác 60

2.2.1.2 Tăng cường nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với giao dịch mua sắm trực tuyến 61 2.2.2 Kiến nghị cụ thể đối với các quy định pháp luật 62

2.2.2.1 Mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng để bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến xuyên biên giới 62

2.2.2.2 Tăng cường chế tài xử lý vi phạm nhằm đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa 63 2.2.2.3 Quy định về trách nhiệm của sàn thương mại điện tử trong việc thực hiện giao dịch mua sắm trực tuyến 64

2.2.2.4 Về quyền rút lui khỏi hợp đồng của người tiêu dùng 64

2.2.2.5 Về quy trình thủ tục rút gọn 65

Kết luận Chương 2 67

Trang 7

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, mua sắm trực tuyến đã trở nên rất quen thuộc với người tiêu dùngtrên thế giới và ngày càng phổ biến tại Việt Nam Đây là hình thức mua sắm chủ yếuthông qua phương tiện điện tử1 kết nối internet2, đáp ứng nhu cầu mua sắm hiện đại,mới mẻ, thuận tiện của người tiêu dùng Thông qua hình thức giao dịch mua sắmtrực tuyến này, người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm hiểu được các thông tin về sảnphẩm3, hàng hóa4 mình muốn mua và tiếp cận từ nhiều nguồn cung cấp thông tin đadạng như: tivi; website thương mại điện tử bán hàng5, mạng xã hội (Facebook, Zalo,Instagram, Tik Tok, ) hoặc mua sắm tại website cung cấp dịch vụ thương mại điện

tử6 thông qua các sàn giao dịch thương mại điện tử như: Lazada.vn, Shopee.vn,Sendo.vn, Tiki.vn, Không thể phủ nhận những ưu điểm mà hình thức giao dịch muasắm trực tuyến này mang lại cho người tiêu dùng hiện nay với nhiều sự tiện lợi như:tiết kiệm thời gian, giao dịch nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận thông tin cũng như thamkhảo các ý kiến đánh giá sản phẩm trước khi mua,.Với nhiều ưu điểm trên, mua sắmtrực tuyến đã trở thành hình thức mua sắm rất phổ biến trên thế giới và trong vài nămtrở lại đây, hình thức mua sắm này ở Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, thể hiện

ở chất lượng dịch vụ cũng như phương thức giao dịch ngày càng được cải thiện hơn

1 Khoản 10, Điều 4, Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động

dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.

2Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Internet (thường được đọc theo khẩu âm tiếng Việt là "in-tơ-nét") là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu.

3Khoản 1, Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 quy định: “Sản phẩm là kết quả của quá trình

sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng”.

4 Khoản 1, Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 quy định: “Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào

thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị”.

5 Khoản 1, Điều 25, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định: “Website thương mại điện tử bán hàng là

website thương mại điện tử do các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình”.

6 Khoản 2, Điều 25, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định: “ Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử

là website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân,

tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bao gồm các loại sau: Sàn giao dịch thương mại điện tử; ”.

Trang 9

Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng đặc trưng trong giao kết giữa tổ chức, cánhân kinh doanh (bên bán) với người tiêu dùng (bên mua) cho các giao dịch muasắm trực tuyến, được thiết lập từ xa thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại.Thực tế, hiện nay, mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa vẫn còn tiềm ẩnnhiều rủi ro, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng với hình thức ngày càng phứctạp hơn như: mua sắm hàng giả, hàng nhái; hàng không đúng với quảng cáo về hìnhảnh, màu sắc, cam kết chất lượng, xuất xứ hàng hóa; các vấn đề liên quan đến bảohành, đổi trả sản phẩm, Và một số vấn đề hạn chế như: cách thức mua hàng quamạng vẫn còn phức tạp với nhiều người tiêu dùng; việc đổi trả sản phẩm, hàng hóakhi bị lỗi, hàng hóa không đúng như thông tin đã cung cấp, vẫn còn gây nhiều khókhăn Bên cạnh đó, hiện nay các quy định pháp luật, hành lang pháp lý bảo vệ ngườitiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa vẫn còn

một số bất cập, chưa theo kịp với xu hướng Vì vậy, tác giả xin chọn đề tài: “Bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa” để nghiên cứu và tìm hiểu, với mong muốn làm rõ thêm quy định của

pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đề xuất, kiến nghị những bất cậpcòn tồn tại về vấn đề này theo pháp luật Việt Nam bằng việc so sánh và học tập một

số nước trên thế giới, đặc biệt là pháp luật Liên minh Châu Âu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng; tăng cường hiệuquả quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ; Việt Nam đã ban hành văn bản pháp luật đầu tiên để điềuchỉnh vấn đề bảo vệ người tiêu dùng là Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng số13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/04/1999 (Pháp lệnh) Tuy nhiên, nền kinh tế thịtrường ngày càng hội nhập và phát triển, các quy định trong Pháp lệnh và các vănbản liên quan đã dần bộc lộ những điểm bất cập và chưa thực sự hiệu quả Do đó,Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (Luật số 59/2010/QH12) đã đượcQuốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và chínhthức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Ngày 27 tháng 10 năm 2011,

Trang 10

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và có hiệu lực thihành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2011

Những nghiên cứu về vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngnói chung và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyếnnói riêng đã được trình bày dưới nhiều hình thức như công trình nghiên cứu khoahọc, luận văn thạc sĩ, bài viết hoặc dưới dạng xuất bản sách, như: Viện Khoa học

pháp lý - Bộ Tư pháp (2008), Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người

tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam; Nguyễn Thị Thư (2008), Hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay,

Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Dương Thúy Diễm

(2009), Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng - Thực trạng và một số

kiến nghị hoàn thiện pháp luật, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh; Đỗ Thị Huyền Thanh (2014), Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng trong giao dịch thương mại điện tử, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế

-Luật (ĐHQG-HCM); Phạm Ngọc Hân (2018), Pháp luật về giao kết hợp đồng

thương mại điện tử tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật

(ĐHQG-HCM); Bùi Thị Phương Loan (2017), Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng

trong hợp đồng giao kết từ xa, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh,

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu khoa học, bài viết học thuật trên lànhững tài liệu vô cùng quan trọng giúp tác giả có thêm thông tin hữu ích phục vụ chonghiên cứu luận văn Tuy nhiên, những nghiên cứu về cơ chế bảo vệ người tiêu dùngtrong từng lĩnh vực cụ thể vẫn chưa nhiều, đặc biệt trong giao dịch mua sắm trựctuyến theo hợp đồng giao kết từ xa đang vô cùng sôi nổi trên thị trường thương mạiđiện tử như hiện nay Thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn phổ biến

ở nhiều cấp độ và ngày càng diễn biến phức tạp Cơ chế, biện pháp bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng chưa đủ mạnh, kịp thời, làm chỗ dựa tin cậy cho người tiêu dùng đấu

Trang 11

tranh bảo vệ quyền lợi của mình Do đó, tác giả hướng đến nghiên cứu, phân tích vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tập trung vào đối tượng người tiêu dùng tronggiao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa, để góp phần hoàn thiệnpháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa tại Việt Nam;

Thứ ba: Góp phần đề xuất, kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện phápluật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay, nâng cao hiệu quả bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giaokết từ xa

Mục đích nghiên cứu đề tài hướng đến làm rõ cơ sở lý luận và thực trạngpháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, cụ thể là bảo vệ người tiêu dùngtrước hành vi vi phạm theo hợp đồng giao kết từ xa trong giao dịch mua sắm trựctuyến để từ đó đưa ra những bất cập của các quy định hiện hành Bên cạnh đó, luậnvăn cũng sẽ so sánh, đối chiếu những quy định của pháp luật Liên minh Châu Âu cóliên quan nhằm rút ra hướng quy định mới, phù hợp cho Việt Nam

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyếtnhững vấn đề sau:

- Nghiên cứu các vấn đề về người tiêu dùng, về hoạt động bảo vệ người tiêudùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa;

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hành vi vi phạm hợpđồng giao kết từ xa; thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua

Trang 12

sắm trực tuyến hiện nay;

- Nghiên cứu, đề ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ ngườitiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa, để có thểđảm bảo tính khả thi và tính phổ biến này trên thực tế

b) Về đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa,những quan điểm về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước tiên tiến trên thế giới

có liên quan đến giao dịch mua sắm trực tuyến Đặc biệt, đề tài hướng đến người tiêudùng là những người trực tiếp mua và sử dụng hàng hóa thông qua các kênh giaodịch mua sắm trực tuyến, cụ thể cả bên mua và bên bán đều sử dụng internet hoặcđiện thoại để trao đổi thông tin, tiến hành các phương thức giao dịch

c) Về phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành liên quanđến Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật dân sự, và một số văn bản liênquan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch mua sắm trực tuyếnthông qua hợp đồng giao kết từ xa, đặc biệt là hợp đồng giao kết từ xa bằng phươngtiện điện tử - đặc trưng trong giao dịch mua sắm trực tuyến Đề tài không tập trungnghiên cứu sâu đến các loại hợp đồng thương mại điện tử Đồng thời, nghiên cứuthực trạng xâm phạm và mức độ bảo vệ người tiêu dùng trong thực tiễn tại Việt Nam

và các quy định có liên quan theo pháp luật Liên minh Châu Âu nhằm đề xuất địnhhướng hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài không thể tách rời khỏi nguyên lý chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác-Lê Nin, cụ thể luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật thông qua các vụviệc trong thực tế cuộc sống tại Việt Nam; giữa các quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 13

với pháp luật của một số nước trên thế giới về quy định bảo vệ quyền lợi NTD và cáckhái niệm có liên quan đến bảo vệ NTD trong giao dịch mua sắm trực tuyến; từ đógiải quyết các vấn đề như tính thông nhất trong các quy định pháp luật hiện hành,tính phù hợp của pháp luật nước ta với pháp luật Liên minh Châu Âu;

- Phương pháp phân tích luật viết, luận văn sẽ làm rõ các quy định của phápluật và phân tích các tài liệu tham khảo được công bố chính thức trong nước và nướcngoài;

- Phương pháp tổng hợp các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng để

đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịchmua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa

Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu, sưu tầm, thống kế các số liệu thực tế vàđánh giá, phân tích những số liệu liên quan nhằm có cái nhìn khách quan về thựctrạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng trong giao dịch muasắm trực tuyến

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về lý luận: Luận văn sẽ đi vào phân tích và đánh giá các quy định pháp luật

liên quan đến đề tài theo quy định của pháp luật Việt Nam; học hỏi kinh nghiệmpháp luật của Liên minh Châu Âu; phân tích và tìm hiểu những vấn đề thiếu sót củapháp luật trong việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến hành vi xâm phạm quyềnlợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến Kết quả của nghiên cứu sẽ là

cơ sở lý luận cho việc đưa ra những kiến nghị nhằm đề xuất hoàn thiện khung pháp

lý, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng nói riêngtrong giao dịch mua sắm trực tuyến

- Về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng vi phạm quyền lợi người tiêu

dùng và việc áp dụng pháp luật liên quan đến quyền lợi của người tiêu dùng ở ViệtNam và thế giới Luận văn chỉ ra những bất cập của quy định pháp luật hiện hànhtrước yêu cầu thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích đối với học viên,sinh viên chuyên ngành luật, luật kinh tế

Trang 14

6 Bố cục đề tài

Luận văn được chia thành 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kếtluận Trong đó, phần nội dung bao gồm 02 chương:

Chương 1: Một số lý luận chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong

giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa

Chương 2: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua

sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa tại Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Trong khoa học pháp lý, “người tiêu dùng” là chủ thể của quan hệ pháp luật

khi lĩnh vực pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời Còn trong kinh tế học, thuật ngữ

“người tiêu dùng” được sử dụng để chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra

bởi nền kinh tế7 Tại Việt Nam, khái niệm “người tiêu dùng” lần đầu tiên được ghi

nhận chính thức tại Điều 1, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999

Theo đó, “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích

tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Cho đến năm 2010, khi Luật

BVQLNTD được ban hành, thay thế cho Pháp lệnh nói trên thì khái niệm này lại tiếptục được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3 của Luật này và nội dung không có sự thayđổi Như vậy, theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010 thì NTD bao gồm cácđối tượng không chỉ là cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tổ chức (như doanhnghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể )tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cánhân, gia đình hoặc tổ chức đó8

Theo quan niệm của Liên minh Châu Âu (EU) về khái niệm “người tiêu

7Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Đại học Luật Hà Nội (2014), Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội (tr.7).

8Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương (2016), Tài liệu Hỏi đáp về pháp luật về bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội (tr.11).

Trang 16

dùng” thì tại Chỉ thị số 2011/83/EC9 ngày 25 tháng 20 năm 2011 có quy định:

“Người tiêu dùng có nghĩa là bất kỳ thể nhân nào (tức là cá nhân) tham gia các hợp đồng được điều chỉnh bởi Chỉ thị này , vì mục đích ngoài thương mại, không liên quan đến hoạt động kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp của mình” Quan điểm

này của Liên minh Châu Âu tương đối đồng nhất với quan điểm của nhiều quốc giatrên thế giới, trong đó có Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Bên cạnh đó, Điều 13, Bộ

luật dân sự của Đức năm 2002 định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân

nào tham gia giao dịch không thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp của người này” Và Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của

Nhật Bản năm 2000 định nghĩa: “Người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá

nhân nhưng không bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh”.

Có thể thấy, các quốc gia nói trên đều có chung một cách tiếp cận đó là coiNTD bao gồm cá nhân, chứ không bao gồm các tổ chức Quan điểm này xuất phát từmục đích của việc bảo vệ NTD với tư cách là bên yếu thế trong quan hệ với bên cungứng hàng hóa, dịch vụ do sự mất cân xứng về khả năng tiếp cận thông tin cũng nhưđiều kiện kinh tế của một cá nhân so với một tổ chức hoạt động kinh doanh chuyênnghiệp

Trên thế giới, hầu hết các quốc gia thường nhận diện NTD dựa trên việc đánhgiá 03 tiêu chí, đó là: (i) NTD là cá nhân (nhưng cũng có thể gồm cả tổ chức); (ii)Đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ; (iii) Việc tham gia vào quan hệ khôngnhằm mục đích kinh doanh Xét trên tiêu chí này, NTD là người mua hàng hóa, dịch

vụ nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình chứ không sử dụnghàng hóa, dịch vụ vào mục đích cung cấp lại để tìm kiếm lợi nhuận Quan hệ tiêudùng được xác lập dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc trên cơ

sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ Như vậy, quan niệm của pháp luật Việt Nam về NTDkhá đồng nhất với quan niệm hiện nay của các nước trên thế giới

1.1.2 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng

9 Chỉ thị 2011/83 / EU của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 25 tháng 10 năm 2011 về quyền của người tiêu dùng.

Trang 17

1.1.2.1 Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam

Kể từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thịtrường, kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, vaitrò của NTD ngày càng được nâng cao Qua đó, công tác bảo vệ quyền lợi NTD đãđược xác định và quy định bởi pháp luật

Ở Việt Nam, giai đoạn trước năm 1986 hầu như chưa có một văn bản pháp lýnào liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Sau năm 1986, các quy định về bảo

vệ quyền lợi NTD ở thời kỳ này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khácnhau10 Và cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiếnpháp Việt Nam năm 1992 quy định vấn đề bảo vệ NTD tại Điều 28, Hiến pháp 1992

quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền

lợi của người tiêu dùng”.

Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 chính là bước đi đầu tiên trongviệc bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta Sự ra đời của Pháp lệnh này mang lại ý nghĩahết sức quan trọng, bởi lẽ, nó là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên, quyđịnh đầy đủ quyền, trách nhiệm của NTD; trách nhiệm của các ngành, các cấp chínhquyền; trách nhiệm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi NTD.Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâurộng, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD đã chưa thể tạo ra hành lang pháp lý đầy đủtrong việc bảo vệ quyền lợi của NTD Chính vì vậy, ngày 17/11/2010, Quốc hội ViệtNam đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12; bổ sungnhiều quy định quan trọng như bảo vệ thông tin NTD, trách nhiệm bồi thường thiệthại do hàng hóa có khuyết tật gây ra, hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giaodịch chung So với các nước trong khu vực, Việt Nam là một trong những quốc giađầu tiên ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề bảo vệ NTD với Pháp lệnhBảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm 1999 và Luật BVQLNTD được banhành năm 2010

10Pháp lệnh đo lường ngày 06/7/1990, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 140/HBT ngày 25/04/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn hàng giả, Bộ luật dân sự năm 1995, Luật Thương mại ngày 10/5/1997 Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa,

Trang 18

Luật BVQLNTD được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 17tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Sự ra đờicủa Luật BVQLNTD không chỉ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới mà còn có ýnghĩa quan trọng trong việc xây dựng nền tảng hoạt động và tạo động lực thúc đẩythực thi hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam.

1.1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong cáchoạt động bảo vệ NTD Theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010, việc bảo vệquyền lợi NTD được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm

chung của Nhà nước và toàn xã hội” Trong mối quan hệ giữa NTD và tổ chức, cá

nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì NTD thông thường sẽ ở thế yếu hơn, thiếuthông tin, ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhànước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD (bên yếu thế).Một xã hội công bằng, văn minh thì mọi người cần phải được bình đẳng, đặc biệt lànhững người yếu thế như NTD cần được bảo vệ quyền lợi, được ghi nhận trong LuậtBVQLNTD và được thi hành trong thực tế Để làm được điều này, không chỉ một cánhân hay một tổ chức thực hiện, mà cần có sự phối hợp của Nhà nước và toàn xã hội.Đây là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 4, Luật BVQLNTD năm

2010, nhằm khẳng định trách nhiệm bảo vệ NTD là trách nhiệm không của riêng ai.Với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng tinh vi như hiện nay, nguyên tắcnày càng có ý nghĩa quan trọng, kêu gọi mọi thành phần trong xã hội phải ý thứcđược trách nhiệm của mình đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD

Thứ hai, nguyên tắc “Quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo

vệ theo quy định của pháp luật” Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Khoản 2, Điều

4, Luật BVQLNTD năm 2010, theo đó, quyền là những gì pháp luật quy định choNTD được hưởng và thực hiện, không ai được tước đoạt hay xâm phạm những quyền

và lợi ích hợp pháp đó11, bất cứ hành vi xâm phạm, gây thiệt hại cho NTD đều phảichịu trách nhiệm trước pháp luật nhằm đảm bảo công bằng xã hội Tuy nhiên, với sự

11 Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Trang 19

phát triển của xã hội hiện nay cùng với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD vẫn còndiễn ra thì trên thực tế các quyền này của NTD vẫn chưa được bảo vệ triệt để.

Thứ ba, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng phải được thực

hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật” Nguyên tắc này được ghi

nhận tại Khoản 3, Điều 4, Luật BVQLNTD năm 2010 Khi có hành vi xâm phạmquyền lợi NTD, cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền phải kịp thời có phương

án xử lý nhanh chóng, hiệu quả nhằm chấm dứt hành vi xâm phạm, hạn chế tối đathiệt hại cho NTD Khi tiến hành hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các công tác thựchiện phải đảm bảo công bằng, minh bạch và tuân theo quy định của pháp luật như: vềtrình tự thủ tục, xác định hành vi vi phạm, biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạmnhằm tránh hiện tượng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, không công bằng, gâybất lợi cho NTD Để nguyên tắc trên được thực thi một cách có hiệu quả, thì tráchnhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ NTD là rất quan trọng

Vì chỉ có những chủ thể có thẩm quyền mới được yêu cầu tổ chức, cá nhân kinhdoanh chấm dứt hành vi để giải quyết vụ việc

Thứ tư, nguyên tắc “Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không được

xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác” 12 Mọi cá nhân, tổ chức khi

thực hiện bất kỳ hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi NTD nào thì phải tuân theonguyên tắc chung là không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi íchhợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhânkhác Nguyên tắc này nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sản xuất, kinh doanhđối với NTD nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này

1.1.2.3 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng

Nhìn chung, quyền lợi của NTD ở các quốc gia đều có sự tương tự nhau vàhầu hết đều dựa theo quy định của Liên Hợp Quốc Theo Nghị quyết số 39/248 ngày

09 tháng 04 năm 1985 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua “Bản hướng dẫn

bảo vệ Người tiêu dùng”, theo đó, NTD có 08 quyền cơ bản như sau: (1) Quyền

được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản; (2) Quyền được an toàn; (3) Quyền được lựa

12 Khoản 4, Điều 4, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Trang 20

chọn; (4) Quyền được thông tin; (5) Quyền được giáo dục tiêu dùng; (6) Quyền đượcgiải quyết và bồi thường thiệt hại; (7) Quyền được đại diện; (8) Quyền được hưởngmột môi trường lành mạnh Theo quy định của Liên Hợp Quốc thì NTD được đảmbảo tất cả các quyền lợi cơ bản trên một cách chính đáng.

Căn cứ vào 08 quyền cơ bản của NTD theo quy định của Liên Hợp Quốc vàtrên cơ sở tình hình kinh tế - xã hội của nước ta, quyền lợi của NTD Việt Nam đãđược thể chế hóa tại Điều 8, Luật BVQLNTD năm 2010 hiện hành, bao gồm 08nhóm quyền cơ bản Trong 08 nhóm quyền cơ bản của NTD Việt Nam, tác giả xinđược lược bỏ việc đi vào phân tích chi tiết mà chỉ đề cập sâu hơn đến những quyềnlợi mà NTD thường bị xâm phạm trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồnggiao kết từ xa, đó là:

Thứ nhất, “Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi

ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp” 13 Quyền được an toàn này của NTD

đã được quy định tại Luật BVQLNTD năm 2010, đây là sự cam kết của các tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với NTD khi giao dịch hoặc sử dụng hàng hóa,dịch vụ đúng như thỏa thuận, hướng dẫn sử dụng Quyền được an toàn không chỉliên quan đến những sản phẩm, hàng hóa mà còn liên quan đến các dịch vụ và quátrình sản xuất Quyền được an toàn của NTD được quy định nhằm bảo vệ NTD trướcnhững hành vi cung cấp hàng hóa, dịch vụ không an toàn, gây nguy hiểm đến tínhmạng, sức khỏe, tài sản và các quyền lợi hợp pháp khác của NTD Tuy nhiên, đểquyền an toàn được thực hiện hiệu quả, Nhà nước cần công bố những tiêu chuẩn bắtbuộc áp dụng về an toàn và những tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về thông tin chonhững sản phẩm có khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của NTD14;bên cạnh việc chủ động nâng cao nhận thức về quyền lợi của NTD, thì cơ quan Nhànước, các ngành chức năng, các địa phương cần tăng cường các giải pháp nhằm xâydựng môi trường giao kết lành mạnh, phù hợp trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng

13 Khoản 1, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

14 Nguyễn Bảo Ngọc (2016), “Bảo vệ người tiêu dung đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh

không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM).

Trang 21

Thứ hai, “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân

kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch

và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng” 15 Quyền được thông tin của NTD là một quyền mang tính chất tự nhiên, thiếtyếu của NTD trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giao dịch mua sắm trựctuyến đang rất phổ biến hiện nay Quyền được thông tin của NTD được tạo bởi cácquyền cấu thành sau: quyền được tiếp nhận thông tin; quyền tìm kiếm thông tin;quyền phổ biến, chia sẻ thông tin16 Để quyền được cung cấp thông tin hiệu quả, Nhànước cần tăng cường công tác tuyên truyền về quyền được cung cấp thông tin củaNTD, tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ NTD trong việc nắm bắt thông tin; phát huyviệc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luậtbảo vệ quyền lợi NTD,

Thứ ba, “Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu

chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết”17 và “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ

chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”18 Trong trường hợp, NTD bị xâm hạiđến quyền lợi của mình, thì NTD có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hànghóa, dịch vụ bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng theo những công

bố, quảng cáo trước đó Do đó, sự đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quyđịnh pháp luật là tiền đề quan trọng trong việc nâng cao sự hiểu biết và nâng cao khảnăng tự bảo vệ mình của NTD

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về giao dịch mua sắm trực tuyến

Để hiểu rõ khái niệm “giao dịch mua sắm trực tuyến”, chúng ta sẽ tìm hiểu các khái niệm liên quan gồm: “giao dịch” và “mua sắm trực tuyến” Thứ nhất, khái

15 Khoản 2, Điều 8, Luật BVQLNTD năm 2010.

16 Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc bảo đảm thực thi hiện

nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Số 2, 26-28.

17 Khoản 6, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

18 Khoản 7, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Trang 22

niệm “giao dịch” được dẫn chiếu khái niệm từ Điều 116, BLDS năm 2015 thì:

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Thứ hai, “mua sắm trực tuyến” là

một dạng hoạt động thương mại điện tử19, cho phép NTD trực tiếp mua hàng hóa,dịch vụ từ người bán thông qua internet và các phương tiện điện tử khác Hiện nay,NTD có thể mua sắm trực tuyến bằng nhiều loại máy tính và thiết bị khác nhau, baogồm: máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại thông minh,

Do đó, giao dịch mua sắm trực tuyến là hành vi mua, bán hàng hóa, dịch vụthông qua internet và các phương tiện điện tử khác Ví dụ: NTD mua sắm trực tuyếntrên website của đơn vị kinh doanh điện thoại bằng cách thực hiện các giao dịch theohướng dẫn thông qua thiết bị máy tính kết nối internet, khi đó, NTD sẽ có thể tìmkiếm sản phẩm, đặt hàng và chọn hình thức nhận hàng, phương thức thanh toán vềsản phẩm điện thoại mà mình muốn mua

Mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống đều là hình thức cho phépNTD (bên mua) có thể mua hàng từ tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ(bên bán) Tuy nhiên, giữa hai hình thức này có nhiều điểm khác nhau, như: Muasắm truyền thống sẽ tiêu tốn nhiều thời gian của NTD hơn so với mua sắm trựctuyến, bởi vì, trong mua sắm truyền thống, NTD phải tốn nhiều thời gian trong việcxem xét, lựa chon sản phẩm, hàng hóa muốn mua hay chỉ đơn giản là để xem và sosánh giá Trong khi đó, đối với mua sắm trực tuyến thì NTD sẽ dễ dàng tìm kiếm sảnphẩm thông qua phương tiện điện tử, lựa chọn, cập nhật nhanh những ưu đãi hấp dẫn

và xác nhận mua hàng hóa đó chỉ với những thao tác nhanh chóng Bên cạnh đó, thìviệc mua sắm trực tuyến sẽ không làm tốn thời gian di chuyển của NTD đến địađiểm bán để mua sắm, NTD có thể mua sắm liên tục, không giới hạn về thời gian vàkhông gian, NTD có thể mua sắm vào bất kỳ thời gian nào hay đang ở đâu, chỉ cần

sử dụng phương tiện điện tử để xác lập giao lịch mua sắm trực tuyến Một điều khácbiệt giữa hai hình thức này, đó là tính rủi ro: Đối với mua sắm truyền thống, NTD cóthể nhìn tận mắt, chạm trực tiếp vào sản phẩm, nhận được sự tư vấn từ bên bán, thậm

19 Khoản 1, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến

hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.

Trang 23

chí có thể dùng thử, xem xét sản phẩm trước khi mua; trong khi đó, điều này làkhông thể khi NTD mua sắm trực tuyến Do đó, tính rủi ro trong mua sắm trực tuyến

có thể kể đến về sự thanh toán, quảng cáo gian đối, Tuy nhiên, trong trường hợpNTD thanh toán qua ví điện tử hoặc thẻ ngân hàng trước khi nhận hàng đã ngày càngphổ biến như hiện nay thì tính rủi ro cũng sẽ cao hơn Thật vậy, cả hai hình thức muasắm truyền thống và mua sắm trực tuyến đều có những mặt thuận lợi cũng như hạnchế đối với NTD, tuy nhiên không thể phủ nhận sự quan tâm và lựa chọn hình thứcmua sắm trực tuyến ngày càng tăng cao của NTD hiện nay

1.2 Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa

Trong hơn một thập kỷ gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất làmạng internet toàn cầu đã đem lại cho chúng ta phương thức giao dịch mới nhưphương thức giao dịch thông qua mạng internet hoặc thông qua điện thoại, với những

ưu điểm như: chi phí rẻ, tốc độ nhanh, chuyển tải đa dạng thông tin, không phụ thuộcvào khoảng cách địa lý đã làm cho phương thức này ngày càng trở nên phổ biến,được nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh áp dụng và NTD quan tâm, sử dụng Qua

đó, đã dần hình thành và xuất hiện một hình thức hợp đồng là hợp đồng giao kết từxa

1.2.1 Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa

Hợp đồng được luật pháp thừa nhận là công cụ pháp lý để ghi nhận quyền vànghĩa vụ của các bên tham gia Theo quy định tại Điều 385, BLDS năm 2015 thì

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân dự” Do đó, hợp đồng là sự thỏa thuận và cam kết giữa các bên

nhằm tiến hành một công việc, một hoạt động hay một hành vi nhất định nhằm đemlại quyền và lợi ích nhất định cho các bên tham gia

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề về hợp đồng giao kết từ xa được quy định tạiNghị định 99/2011/NĐ-CP, theo đó, khái niệm hợp đồng giao kết từ xa được quy

định như sau: “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa người tiêu

dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện

Trang 24

tử hoặc điện thoại 20 ”.

Hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) là sự thỏa thuận (tự nguyện, thiện chí)giữa các bên, thông qua các phương tiện điện tử hoặc điện thoại để xác lập hợp đồng.HĐGKTX là hợp đồng được ký kết từ xa giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh

mà các bên không phải gặp nhau ký hợp đồng trực tiếp như hợp đồng truyền thống.HĐGKTX có thể bao gồm hai loại hợp đồng là HĐGKTX mang tính chất hợp đồngdân sự và HĐGKTX mang tính chất hợp đồng thương mại Bởi vì, HĐGKTX có mộtbên là NTD không vì mục đích lợi nhuận và một bên là tổ chức, cá nhân kinh doanhnhằm mục đích sinh lời Về cơ bản, HĐGKTX cũng giống hợp đồng thương mạitruyền thống về chức năng, nội dung và giá trị pháp lý, do đó, HĐGKTX phải tuânthủ các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng dân sự nói chung được quy định trongBLDS Nhằm phù hợp với loại hình mua sắm trực tuyến hiện nay và các quy địnhpháp luật liên quan, luận văn sẽ phân tích HĐGKTX dưới góc độ hợp đồng dân sự(hợp đồng tiêu dùng), về bản chất, HĐGKTX cũng là loại hợp đồng giao kết vớiNTD là bên yếu thế, trong đó NTD sẽ gặp nhiều hạn chế, bất lợi về năng lực đàmphán, bất cân xứng về thông tin hợp đồng

Điểm khác biệt nổi bật của HĐGKTX là hình thức thể hiện, phương thức kýkết và thực hiện HĐGKTX Đó là, các bên giao kết hợp đồng không phải gặp nhautrực tiếp để giao dịch (giao kết từ xa), mà chủ yếu sẽ thông qua phương tiện điện tử21

hoặc qua điện thoại để tiến hành các công đoạn của quá trình mua bán hàng hóa nhưgiới thiệu, tiếp thị sản phẩm, đàm phán, thỏa thuận về các điều kiện mua bán, cũngnhư cùng nhau thực hiện các giao dịch có liên quan khác về hàng hóa, dịch vụ cầnmua bán giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh

1.2.2 Những đặc trưng của hợp đồng giao kết từ xa

HĐGKTX là thuật ngữ dùng để chỉ loại hợp đồng với phương thức giao dịch

từ xa Phân biệt với các hợp đồng được các bên giao dịch trực tiếp: về bản chất, hợpđồng này có nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông

20 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2011/NĐ-CP.

21 Điều 3, Luật Kế toán năm 2015 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên

công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.

Trang 25

thường và tuân theo quy định điều chỉnh của quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ cụ thể đó Tuy nhiên, vì hợp đồng có sử dụng phương tiện điện tử hoặc điệnthoại nên HĐGKTX có sự điều chỉnh cụ thể và đặc thù hơn HĐGKTX về cơ bản cóhai đặc trưng quan trọng là: (i) Hợp đồng được giao kết từ xa; (ii) Được giao kếtbằng phương tiện điện tử hoặc điện thoại.

1.2.2.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 3, Nghị định 99/2011/NĐ-CP thì HĐGKTX được

ký kết giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Do đó, chủ thểcủa HĐGKTX bao gồm: NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Trong quan hệ HĐGKTX thì các chủ thể này được chia làm 2 nhóm, gồm:bên mua, bên bán tham gia vào hoạt động mua sắm trực tuyến

a) Bên mua: NTD (bao gồm: cá nhân, tổ chức không tham gia vào giao dịch

với mục đích thương mại; mà mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêudùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó);

b) Bên bán: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ22

1.2.2.2 Đối tượng, hình thức hợp đồng, phương tiện giao kết hợp đồng a) Đối tượng của hợp đồng:

Trong HĐGKTX thì đối tượng của giao dịch là những hàng hóa và dịch vụđược phép lưu thông và đáp ứng được các nhu cầu của NTD

b) Hình thức hợp đồng:

Liên quan đến hình thức của hợp đồng được giao kết với NTD thì tại Khoản

1, Điều 14, Luật BVQLNTD năm 2010 có quy định: “Hình thức hợp đồng giao kết

với người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự”.

22 Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh

doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: a) Thương nhân theo quy định của Luật thương mại; b) Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh”.

Trang 26

HĐGKTX là hợp đồng được giao kết với NTD, do đó, hình thức của HĐGKTX cóthể được lập bằng văn bản hoặc bằng lời nói Như vậy, về cơ bản thì hình thức củahợp đồng do các bên thỏa thuận và được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặcbằng hành vi cụ thể23 Điều này cũng được hiểu là HĐGKTX bằng điện thoại thì hợpđồng được hình thành với hình thức giao kết bằng lời nói.

Hiện nay, HĐGKTX được thể hiện chủ yếu là các hợp đồng được thiết lậpdưới dạng thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ dựa trên công nghệ điện, điện

tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệtương tự

c) Phương tiện giao kết hợp đồng:

Theo định nghĩa HĐGKTX tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định 99/2011/NĐ-CPthì HĐGKTX được chia thành hai loại, đó là: loại hợp đồng giao kết bằng phươngtiện điện tử24 và hợp đồng giao kết bằng lời nói thông qua điện thoại Do đó, tươngứng với cách phân loại này thì có hai phương thức giao kết phổ biến hiện nay là giaokết thông qua website thương mại điện tử, hoặc giao kết bằng cách gọi điện trựctiếp đến tổ chức, cá nhân kinh doanh để mua hàng, yêu cầu cung ứng dịch vụ Vềphương tiện giao kết hợp đồng thì quy định của pháp luật Việt Nam liệt kê bao gồmhai phương tiện giao kết là: phương tiện điện tử và điện thoại

1.2.2.3 Trình tự giao kết hợp đồng

Các bên giao kết hợp đồng không phải gặp nhau trực tiếp để giao dịch màthông qua phương tiện điện tử (email, trang thông tin điện tử bán hàng - website, )hoặc qua điện thoại để tiến hành các công đoạn của quá trình mua bán hàng hóa, dịch

vụ như: giới thiệu, tiếp thị sản phẩm, đàm phán, thỏa thuận các điều kiện mua bán,cũng như thực hiện các giao dịch có liên quan khác về hàng hóa, dịch vụ giữa NTD

và tổ chức, cá nhân kinh doanh

Về trình tự giao kết HĐGKTX cũng bao gồm hai bước cơ bản là: đề nghị giao

23 Khoản 1, Điều 199, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời

nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”.

24 Khoản 7, Điều 3 Luật kế toán 2015 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa

trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.

Trang 27

kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết và chấp nhận giaokết hợp đồng trong HĐGKTX sẽ được thực hiện bằng thông điệp dữ liệu thông quaphương tiện điện tử kết nối internet hoặc thông qua gọi điện thoại trực tiếp.

Đề nghị giao kết hợp đồng:

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng vàchịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị được xácđịnh cụ thể25 Tại Điều 12, Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định: “Một thông báo

bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Thông báo đó chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận”.

Theo đó, đề nghị giao kết hợp đồng phải xác định rõ bên đề nghị và bên được

đề nghị một cách cụ thể Trường hợp khi NTD vào website thương mại điện tử vànhận được lời mời từ tổ chức, cá nhân kinh doanh thì chưa phải là một đề nghị giaokết hợp đồng mà chỉ được xem là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Bởi vìlời mời đó không nhằm hướng đến một NTD cụ thể mà là lời mời hướng đến cho tất

cả NTD vào website thương mại điện tử đó Việc cung cấp những thông tin về hànghóa, dịch vụ trên website thương mại điện tử chỉ mang tính chất tham khảo, quảngcáo nhằm thúc đẩy những giao dịch mua sắm trực tuyến

Đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có thể được xem xét chấp nhận khi nó đượcchuyển tới bên được đề nghị Theo Khoản 2, Điều 338, BLDS năm 2015 có quy định

về trường hợp thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xem là bên

được đề nghị đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng: “Đề nghị được đưa vào hệ

thống thông tin chính thức của bên được đề nghị”; đối với trường hợp mua sắm trực

tuyến và chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chứcnăng đặt hàng trực tuyến được coi là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đốivới hàng hóa hoặc dịch vụ26 Đối với quy định về thời điểm gửi một chứng từ điện tử

25 Khoản 1, Điều 386, Bộ luật dân sự năm 2015.

26 Điều 17, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

Trang 28

thì: “Thời điểm gửi một chứng từ điện tử 27 là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi

hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử 28 ”.

Bên cạnh đó, tại Khoản 12, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định:

“Chức năng đặt hàng trực tuyến là một chức năng được cài đặt trên website thương mại điện tử hoặc trên thiết bị đầu cuối của khách hàng và kết nối với website thương mại điện tử để cho phép khách hàng khởi đầu quá trình giao kết hợp đồng theo những điều khoản được công bố trên website đó, bao gồm cả việc giao kết hợp đồng với hệ thống thông tin tự động” Do đó, khi NTD thực hiện thao tác đặt hàng, thì đây

được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng và được thể hiện là một loại chứng từ điện

tử Website thương mại điện tử sẽ phải cho phép NTD rà soát, bổ sung, sửa đổi vàxác nhận nội dung giao dịch trước khi giao kết hợp đồng Ví dụ: NTD muốn muađiện thoại trên website https://www.thegioididong.com thì NTD sẽ thực hiện cácbước như sau: vào website của bên bán; tìm kiếm sản phẩm điện thoại phù hợp vớinhu cầu của mình bao gồm tham khảo, tra cứu thông tin, xem các thông tin liên quanđến sản phẩm (mô tả, giá, chế độ bảo hành, chính sách hỗ trợ, ), đọc kỹ các điềukhoản trước khi mua hàng trực tuyến của bên bán; dựa trên những thông tin do bênbán cung cấp, NTD lựa chọn sản phẩm, nhấn nút chọn sản phẩm, nhấn chọn mua/đặthàng; nhập thông tin và xác nhận đơn hàng, đây được xem là lời đề nghị giao kết hợpđồng của NTD

Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh có công bố thời hạn trả lời đề nghịgiao kết hợp đồng thì nếu hết thời hạn này mà NTD vẫn không nhận được trả lời thì

đề nghị giao kết hợp đồng của NTD chấm dứt hiệu lực Việc trả lời chấp nhận sauthời hạn này được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng khác từ phía tổ chức, cá nhânkinh doanh Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không công bố rõ thời hạn trả

27Khoản 3, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại (dưới

đây gọi tắt là chứng từ điện tử) là hợp đồng, đề nghị, thông báo, xác nhận hoặc các tài liệu khác ở dạng thông điệp dữ liệu do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng”.

28 Khoản 1, Điều 10, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

Trang 29

lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 12 (mười hai) giờ kể từ khi gửi đềnghị giao kết hợp đồng, NTD không nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì

đề nghị giao kết hợp đồng của NTD được coi là chấm dứt hiệu lực Quy định về thờihạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong vòng 12(mười hai) giờ theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP đã được tăng thêm thời gian so vớithời hạn 08 (tám) giờ theo Thông tư 09/2008/TT-BCT29 trước đây

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

Trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng thì khi nhận được đề nghị giao kết hợpđồng, bên được đề nghị giao kết có quyền chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặckhông chấp nhận lời đề nghị đó Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là biểu thị sựđồng ý của bên được đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng, do đó, chấp nhận đềnghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 393, BLDS năm 2015 quy định: “Chấp

nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” Do đó, “chấp nhận toàn bộ” đồng nghĩa với việc là

trường hợp chấp nhận một phần sẽ không được coi là chấp nhận giao kết và một biểuthị đồng ý với đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có kèm theo các sửa đổi, bổ sung sovới đề nghị giao kết hợp đồng thì không được xem là chấp nhận mà là một đề nghịmới

Đối với HĐGKTX bằng phương tiện điện tử thì việc trả lời chấp nhận hoặckhông chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ phải được thực hiện dưới hình thứcphù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin củakhách hàng30” Trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX thì việc chấpnhận phải được thực hiện với tính chất là NTD chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị

29 Thông tư 09/2008/TT-BCT Hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử.

30 Khoản 1, Điều 19, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

Trang 30

Thời điểm giao kết hợp đồng:

Trong HĐGKTX, theo BLDS năm 2015 thì thời điểm giao kết hợp đồng đượctính là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết31; trường hợp cácbên có thỏa thuận “im lặng” là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thờihạn, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó Do đó,thực tế thì phần lớn trong giao dịch mua sắm trực tuyến hiện nay, thời điểm giao kếthợp đồng là thời điểm mà NTD nhận được trả lời của tổ chức, cá nhân kinh doanhchấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng Ví dụ: NTD đã nhấn nút chọn mua/đặthàng sản phẩm điện thoại trên website thương mại điện tử của bên bán thì thời điểm

mà NTD nhận được trả lời của bên bán như: email/tin nhắn xác nhận đơn hàng củabên bán, chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng của NTD thì đó được xem là thờiđiểm giao kết hợp đồng

Đối với việc giao kết hợp đồng qua điện thoại, thời điểm giao kết hợp đồngbằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng32 Như vậy,nếu NTD đề nghị giao kết hợp đồng qua điện thoại và bên bán (tổ chức, cá nhân) trảlời đề nghị ngay thì chấp nhận đề nghị của bên bán đã có hiệu lực Tuy nhiên, thực tếthì do hai bên không gặp gỡ trực tiếp và có thể trao đổi qua điện thoại bằng lời nóitrong thời gian ngắn là có thể hoàn tất quá trình thỏa thuận, giao kết hợp đồng nênthời điểm bên đề nghị nhận được câu trả lời (bên được đề nghị trả lời chấp nhận haykhông chấp nhận lời đề nghị) và thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợpđồng thường sẽ trùng nhau Do đó, hiện tại HĐGKTX bằng điện thoại vẫn còn chưa

rõ về thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm bên đề nghị nhận đượctrả lời chấp nhận giao kết hay thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợp đồng(thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói)

31 Khoản 1, Điều 400, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên

đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”.

32 Khoản 3, Điều 400, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là

thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng”.

Trang 31

1.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa

Sự thành công của HĐGKTX phụ thuộc vào việc xây dựng một môi trườnggiao dịch thu hút cũng như an toàn đối với các bên tham gia Điều này đặc biệt đúngkhi nói tới khía cạnh bảo vệ NTD Một yếu tố quan trọng để tạo môi trường cho lòngtin và sự tín nhiệm trong giao kết HĐGKTX là phải bảo vệ được NTD Với đặctrưng của giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX thì các bên tham gia giao kếtbằng phương tiện điện tử hoặc điện thoại thì không nhất thiết gặp mặt nhau Vàthông thường, NTD sẽ không nắm rõ các thông tin về hàng hóa, dịch vụ được cungcấp như bên bán nên dẫn đến khả năng chịu rủi ro sẽ cao hơn, do đó cần có nhữngquy định pháp luật bảo vệ NTD

HĐGKTX đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa, đặc biệt là vớiquy trình “tự động hóa” hiện nay được thiết lập sẵn trên các website thương mại điện

tử, website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, đặt hàng qua mạng xã hội, Do đó,HĐGKTX giúp NTD tiết kiệm thời gian mua sắm; giảm được phần nào chi phí muahàng, cung ứng dịch vụ; tiết kiệm chi phí tài chính để đi lại, đàm phán, Bên cạnh

đó, HĐGKTX còn giúp cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tiết kiệmđược thời gian, hạn chế các chi phí tài chính như: chi phí đi lại, chi phí thuê cửahàng, thuê nhân viên và các chi phí khác; hình thức giao kết hợp đồng hiện đại, thuhút NTD trong nước và quốc tế; đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước trong thời kỳ hội nhập thế giới Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, NTD luôn ởthế yếu so với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Thế yếu này bắt nguồn

từ chính phương thức giao kết hợp đồng, phải sử dụng biện pháp liên lạc từ xa thôngqua phương tiện điện tử hoặc điện thoại, NTD có thể thiếu thông tin về tình hìnhthực tế hay pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng này Ví dụ như mua quần áothông qua một website thương mại điện tử bán hàng, mạng xã hội hay sàn

thương mại điện tử, NTD không thể kiểm tra màu sắc, kích cỡ hay chất liệu quần áonhư khi mua trực tiếp ở một cửa hàng thời trang, vì vậy, có thể sẽ có rủi ro khi giaokết hợp đồng này, sự đồng ý của NTD sẽ không rõ ràng như khi ký kết hợp đồng với

Trang 32

sự hiện diện của các bên Khi các HĐGKTX, hợp đồng điện tử đa phần dưới dạng làhợp đồng mẫu, thì vị thế của NTD trong giao dịch mua sắm trực tuyến lại càng yếuthế vì họ không thể thỏa thuận, thương lượng33.

Trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX, sẽ không tránh khỏi có

sự bất bình đẳng giữa các bên, tình trạng bất cân xứng giữa NTD và tổ chức cá nhânkinh doanh về thông tin của hàng hóa, dịch vụ; khả năng thương lượng; quy trình;phương thức giao kết kết; Đối với NTD thì không phải ai cũng có thể hiểu rõ vàbiết được những quyền lợi của mình, do đó , NTD dễ dàng gặp phải những rủi ro,đặc biệt là khi phát sinh tranh chấp về chất lượng hàng hóa, dịch vụ như: giao hàngkhông đúng như quảng cáo; hàng kém chất lượng; hàng giả; thì NTD dễ gặp nhiềukhó khăn hơn trong việc thu thập minh chứng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình Vì vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của pháp luật bảo vệ quyền lợi của NTD

- bên thế yếu trong quan hệ giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX

1.4 Một số quy định của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa

Liên minh Châu Âu (tiếng Anh là “European Union” - viết tắt “EU”) đã trởthành một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vựcnhư hợp tác phát triển, thương mại và đầu tư, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển

và hội nhập quốc tế của Việt Nam Đặc biệt là trong bối cảnh Hiệp định Thương mại

Tự do EU-Việt Nam (EVFTA) đang triển khai, đem lại thuận lợi cho việc mở rộngcác cơ hội đầu tư và thương mại, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của thị trườngthương mại điện tử tại Việt Nam Một số quy định của pháp luật Liên minh Châu Âu

và pháp luật Việt Nam có những nét tương đồng về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD,đặc biệt là trong giao dịch mua sắm trực truyến theo HĐGKTX

Liên minh Châu Âu đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD,chú trọng đến việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng giao kết giữa thương nhân (bên bán,bên cung cứng dịch vụ) và NTD như HĐGKTX (tiếng Anh là “Distance Contract”)

Có nhiều quy định tại EU ảnh hưởng đến lĩnh vực mua sắm trực tuyến nhằm

33 Trần Văn Biên (2010), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua

Internet”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (181) - http://lapphap.vn/.

Trang 33

bảo vệ quyền lợi NTD Theo đó, các đặc trưng của HĐGKTX trong giao dịch muasắm trực tuyến tại EU được thể hiện trong các văn bản mang tính quy phạm của Hộiđồng Châu Âu Ngày 13/6/2014, Chỉ thị 2011/83/EC về quyền lợi người tiêu dùng(CRD) thay thế Chỉ thị 97/7/EC về bảo vệ người tiêu dùng Chỉ thị mới này sẽ hợpnhất 04 chỉ thị được ban hành trước đây thành một luật chuẩn duy nhất34.

Theo quy định tại Điều 2.(7), Chỉ thị 2011/83 đã đưa ra khái niệm HĐGKTX

khá đầy đủ như sau: “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa thương

nhân và người tiêu dùng theo một chương trình cung cấp dịch vụ hoặc bán hàng từ

xa có tổ chức mà không có sự hiện diện thực tế đồng thời của thương nhân và người tiêu dùng, với việc sử dụng độc quyền một hoặc nhiều phương tiện liên lạc từ xa lên đến và bao gồm cả thời gian mà hợp đồng được giao kết” Theo cách tiếp cận của

EU, HĐGKTX có các đặc trưng cơ bản như: (i) Được giao kết từ xa; (ii) Sử dụngmột hoặc một số phương tiện liên lạc từ xa trong quá trình giao kết hợp đồng (chẳnghạn như đặt hàng qua thư, internet, điện thoại hoặc fax)

Bên cạnh đó, theo EU thì việc xác định HĐGKTX còn phụ thuộc vào địađiểm mà NTD thương thảo và ra quyết định giao kết, bao gồm cả các sắp xếp đượccung cấp bởi bên thứ ba được sử dụng bởi thương nhân và không bao gồm trườnghợp đặt chỗ của NTD nhằm yêu cầu cung cấp dịch vụ Định nghĩa đó cũng đề cậpđến các tình huống, trong đó NTD đến thăm cơ sở kinh doanh chỉ với mục đích thuthập thông tin về hàng hóa hoặc dịch vụ và sau đó đàm phán và ký kết hợp đồng từ

xa Tuy nhiên, trường hợp một hợp đồng được thương lượng tại cơ sở kinh doanhcủa thương nhân và cuối cùng được ký kết bằng phương tiện liên lạc từ xa hoặc hợpđồng được bắt đầu bằng phương tiện liên lạc từ xa nhưng cuối cùng được ký kết tại

cơ sở kinh doanh của thương nhân thì sẽ không được coi là HĐGKTX

Về định nghĩa HĐGKTX theo Chỉ thị 2011/83/EC của EU và Nghị định99/2011/NĐ-CP thì cơ bản giống nhau, đều công nhận HĐGKTX là một hợp đồngdân sự (hợp đồng tiêu dùng) và có thể giao kết thông qua nhiều phương tiện như

34 Chỉ thị 2011/83 / EU của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 25 tháng 10 năm 2011 về quyền của người tiêu dùng, sửa đổi Chỉ thị của Hội đồng 93/13 / EEC và Chỉ thị 1999/44 / EC của Nghị viện Châu

Âu và của Hội đồng và bãi bỏ Chỉ thị 85 của Hội đồng / 577 / EEC và Chỉ thị 97/7 / EC của Nghị viện Châu

Âu và Văn bản của Hội đồng có liên quan đến EEA, từ < https://eur-lex.europa.eu/legal- content/EN/TXT/? uri=celex%3A32011L0083 >.

Trang 34

phương tiện điện tử và điện thoại Tuy nhiên, Nghị định 99/2011/NĐ-CP chỉ quyđịnh yếu tố phương tiện giao kết chứ chưa làm rõ được đặc tính về khoảng cách địalý.

a) Đối tượng của hợp đồng:

Quy định tại Chỉ thị 2011/83/EC của EU thì đối tượng của HĐGKTX baogồm hàng hóa và dịch vụ Bên cạnh đó, Chỉ thị còn đề cập đến đối tượng giao dịch làcác nội dung số

Theo đó, “nội dung số”35 là dữ liệu được sản xuất và cung cấp dưới dạng kỹ

thuật số Và “nội dung kỹ thuật số” được hiểu là dữ liệu được sản xuất và cung cấp ở

dạng kỹ thuật số, chẳng hạn như chương trình máy tính, ứng dụng, trò chơi, nhạc,video hoặc văn bản, bất kể dữ liệu đó được truy cập thông qua hình thức tải xuốnghay phát trực tuyến, từ một phương tiện hữu hình hay thông qua bất kỳ phương tiệnnào khác Nếu nội dung kỹ thuật số được cung cấp trên một phương tiện hữu hình,chẳng hạn như CD hoặc DVD, thì nội dung đó được coi là hàng hóa theo Chỉ thị2011/83/EC Có thể thấy, nội dung số là đối tượng giao dịch đặc biệt, bởi sự chuyểngiao, cũng như chúng sẽ được cung cấp cho NTD một cách rất nhanh chóng (khôngbiên giới), dẫn đến khó khăn trong việc xác định luật áp dụng, quyền và nghĩa vụ cácbên và cơ chế giải quyết khi có tranh chấp

Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng có định nghĩa về sản phẩm nội dung số tại

Khoản 8, Điều 3, Thông tư 59/2015/TT-BTC như sau: “Sản phẩm nội dung số là các

văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng” Tuy nhiên, quy định này còn mang tính chất

chung chung, đặc biệt là khái niệm “môi trường mạng 36 ” vẫn chưa rõ ràng Hiện

nay, nội dung số tồn tại nhiều trong môi trường điện tử hoặc các trung gian chứa như

CD, DVD,

b) Phương thức giao kết:

Mặc dù Chỉ thị 2011/83/EC không đưa ra thêm bất kỳ định nghĩa nào để phân

35 Điều 2.(11), Chỉ thị 2011/83/EC.

36Điều 4, Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định: “Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được

cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin”.

Trang 35

biệt các phương thức giao kết trong HĐGKTX, tuy nhiên có thể hiểu HĐGKTXbằng phương tiện liên lạc từ xa bao gồm phương tiện điện tử là các thiết bị điện tửchẳng hạn như đặt hàng qua thư, internet, điện thoại hoặc fax.

Khi đó, HĐGKTX được giao kết bằng các phương tiện, thiết bị điện tử còncần phải được tạo lập bởi các ngôn ngữ, phương thức và chương trình chạy tươngthích với thiết bị điện tử Theo EU, yếu tố phương tiện là chưa đủ mà còn phải căn

cứ vào cách thức mà các bên sử dụng phương tiện để giao kết hợp đồng37

Căn cứ vào Điều 3, Chỉ thị 2011/83/EC thì chỉ thị này không áp dụng chogiao dịch từ xa sử dụng phương tiện trung gian là máy điện thoại công cộng, máybán hàng tự động hoặc hoạt động thương mại sử dụng công nghệ tự động hóa Bêncạnh đó, Chỉ thị này cũng không áp dụng cho hợp đồng được giao kết mua hoặcchuyển nhượng bất động sản hoặc các quyền đối với bất động sản; và Chỉ thị cũngkhông áp dụng đối với các hợp đồng cho các dịch vụ tài chính; hợp đồng đối với việccung cấp thực phẩm, đồ uống hoặc các hàng hóa khác phục vụ nhu cầu tiêu dùnghiện tại của hộ gia đình và được thương nhân cung cấp và thường xuyên giao hàngđến nhà, nơi ở hoặc nơi làm việc của NTD

c) Các bên trong HĐGKTX theo EU:

Các bên trong HĐGKTX theo EU là: i) Bên bán là thương nhân; ii) Bên mua

là NTD, bao gồm cá nhân, tổ chức, giao kết hợp đồng không với mục đích thươngmại (hay còn gọi là khách hàng) và iii) Bên thứ ba là trung gian thông tin

Trong quan hệ hợp đồng, EU cũng đề cao nguyên tắc tự do thỏa thuận của cácbên Để đảm bảo quyền lợi cho NTD, EU đã có quy định đặc biệt dành cho các bênbán trong HĐGKTX, đó là bên bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin trước khi tiếntới giao kết hợp đồng, theo đó, đối với HĐGKTX thì trước khi NTD bị ràng buộc bởihợp đồng này thì thương nhân (bên bán) phải cung cấp cho NTD những thông tinđược quy định tại Điều 6, Chỉ thị 2011/83/EC một cách đầy đủ, rõ ràng hoặc cungcấp các thông tin đó cho NTD theo cách phù hợp với phương tiện giao tiếp từ xa

37 Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải (2019), “Một số khía cạnh pháp lý của hợp đồng giao kết từ ca

bằng phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tham luận

Hội Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu”, 291302.

Trang 36

được sử dụng bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu Trong trường hợp, HĐGKTX đượcxác lập qua điện thoại, thì khi bắt đầu cuộc trò chuyện với NTD, thương nhân sẽ tiết

lộ danh tính và trao đổi về mục đích thương mại của cuộc gọi

Theo EU, trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX còn có một chủthể đóng vai trò quan trọng không kém đó là bên thứ ba là bên tạo môi trường kỹthuật, cơ sở hạ tầng cho các giao dịch mua sắm trực tuyến; không thể phủ nhận vaitrò rất cần thiết của bên thứ ba là đơn vị các nhà cung cấp dịch vụ mạng và là trunggian thông tin như đơn vị truyền thông quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của tổ chức,

cá nhân kinh doanh tới NTD Thật vậy, bên thứ ba không tham gia trực tiếp vào quátrình đàm phán, giao kết hợp đồng mà tham gia với tư cách hỗ trợ cho việc thực hiệnhợp đồng và đảm bảo tính hiệu quả cũng như giá trị pháp lý của hợp đồng

d) Hình thức hợp đồng:

HĐGKTX là loại hợp đồng đặc biệt, đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ đơn giản,

dễ đọc, dễ hiểu cho NTD, do đó, EU cũng đặc biệt quan tâm và quy định khá cụ thể

về ngôn ngữ thể hiện trong hợp đồng Bởi vì, trong giao dịch mua sắm trực tuyến,HĐGKTX sẽ phải thể hiện khá nhiều thông tin do thương nhân cung cấp trong khônggian giới hạn; ví dụ như các thông tin có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc NTDđưa ra quyết định giao kết hợp đồng, cũng như những nút lệnh, xác nhận thì cần phảiđược thể hiện một cách nổi bật, dễ thấy nhằm giúp NTD tránh việc bỏ sót hoặckhông đọc được thông tin

Trang 37

Kết luận Chương 1

Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trở thành xu thếchung của tất cả các quốc gia để phát triển, liên kết mạng lưới NTD qua các mạng xãhội trực tuyến và thị trường thương mại điện tử đã trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn

Do đó, giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX là nhu cầu tất yếu bởi những

ưu điểm vượt trội so với các hợp đồng thương mại được giao kết bằng phương thứctruyền thống, giúp NTD tiết kiệm thời gian, nhanh chóng, tiện lợi, không bị giới hạnbởi thời gian và không gian địa lý, mang lại những lợi ích cho các chủ thể tham gia

Pháp luật Việt Nam đã có quy định về HĐGKTX, có những sự điều chỉnh kịpthời đối với những vấn đề liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng này Tuynhiên, các quy định về đối tượng, hình thức giao kết, quyền và nghĩa vụ giữa các bêntrong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX còn tồn tại nhiều vấn đề pháp lý.Bên cạnh những ưu điểm thì HĐGKTX trong mua sắm trực tuyến cũng tiềm ẩn rủi

ro đối với NTD Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì giao dịch muasắm trực tuyến ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là quyền lợi NTDcũng dễ bị thu hẹp và hạn chế hơn Do đó, việc nghiên cứu và phân tích tình trạngtrên là điều cần thiết, cũng như tìm hiểu vấn đề liên quan theo quy định của pháp luậtLiên minh Châu Âu để có những kiến nghị phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi NTD tạinước ta

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải (2019), “Một số khía cạnh pháp lý của hợp đồng giao kết từ ca bằng phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tham luận Hội Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu”, 291-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số khía cạnh pháp lý của hợpđồng giao kết từ ca bằng phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam"”, Tham luận Hội Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sựvà hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu
Tác giả: Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải
Năm: 2019
2. Phạm Ngọc Hân (2018), “Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG- HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tửtại Việt Nam”
Tác giả: Phạm Ngọc Hân
Năm: 2018
3. Bùi Thị Phương Loan (2017), “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng tronghợp đồng giao kết từ xa”
Tác giả: Bùi Thị Phương Loan
Năm: 2017
4. Nguyễn Bảo Ngọc (2016), “Bảo vệ người tiêu dung đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người tiêu dung đối với hành vi quảng cáonhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bảo Ngọc
Năm: 2016
5. Đỗ Thị Huyền Thanh (2014), “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong giao dịch thương mại điện tử”
Tác giả: Đỗ Thị Huyền Thanh
Năm: 2014
6. Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc bảo đảm thực thi hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Số 2, 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việcbảo đảm thực thi hiện nay
Tác giả: Trần Quốc Việt
Năm: 2017
6. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2011 Khác
7. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
8. Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
9. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về thương mại điện tử Khác
10. Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
11. Thông tư số 59/2015/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Công Thương quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động.II. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w