1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông ở huyện vĩnh bảo

121 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng giáo dục chuẩn mực, ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng .... Thực trạng giáo dục hành vi và quan hệ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ LIÊN

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ LIÊN

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

Ngành: LL&PPDH Bộ môn Lý luận chính trị

Mã số: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương - giảng viên Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này hoàn thành là nhờ sự nỗ lực, cố gắng của bản thân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương và sự động viên giúp đỡ của gia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè

Trước hết, em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo

- TS Nguyễn Thị Khương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em về tri thức, phương

pháp và kinh nghiệm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá luận văn đã có nhiều góp ý về mặt khoa học để em hoàn thiện luận văn được tốt hơn; Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo - Bộ phận sau đại học cùng các thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Cuối cùng, xin được chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Liên

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

7 Giả thuyết khoa học 5

8 Những đóng góp mới của đề tài 5

9 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 10

1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu 15

1.2 Khái niệm và những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh Trung học phổ thông trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 15

1.2.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức môi trường 15

1.2.2 Biến đổi khí hậu toàn cầu 22

1.2.3 Những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 24

Trang 6

1.3 Những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên và sự cần thiết phải giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 341.3.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 341.3.2 Tính tất yếu của việc giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông 39Kết luận chương 1 44

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 45

2.1 Khái quát về môi trường tự nhiên và đặc điểm học sinh trung học phổ thông ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 452.1.1 Khái quát về môi trường tự nhiên ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 452.1.2 Đặc điểm của nhà trường và học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 492.2 Thực trạng giáo dục chuẩn mực, ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 542.2.1 Thực trạng giáo dục chuẩn mực và ý thức đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 542.2.2 Thực trạng giáo dục hành vi và quan hệ đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 602.3 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 642.3.1 Thành tựu và hạn chế trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 64

Trang 7

2.3.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo - Thành

phố Hải Phòng 68

Kết luận chương 2 70

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 71

3.1 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 71

3.1.1 Nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và giáo viên trong nhà trường về giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 71

3.1.2 Đa dạng hoá các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 75

3.1.3 Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 79

3.1.4 Phát huy vai trò tự giác, sáng tạo của học sinh trong học tập, nghiên cứu đạo đức môi trường tự nhiên 81

3.2 Thực nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của giải pháp 3.1.2 83

3.2.1 Mục đích và giả thuyết thực nghiệm 83

3.2.2 Nội dung thực nghiệm 83

3.2.3 Đánh giá kết quả sau thực nghiệm 84

Kết luận chương 3 87

PHẦN KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường ĐĐMT Đạo đức môi trường GDMT Giáo dục môi trường GDĐĐMT Giáo dục đạo đức môi trường GDĐĐMTTN Giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng HS và GV các trường THPT huyện Vĩnh Bảo 50

Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả học lực của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng 51

Bảng 2.3 Tổng hợp xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng 52

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 84

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 85

Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm MTTN, biến đổi khí hậu Thực tiễn về công tác BVMT ở các nước thời gian qua đã chứng minh rằng: sẽ không có một đạo luật hoặc mức thuế nào có thể bắt buộc được các công dân phải tôn trọng MT, vì sự tôn trọng

tự nguyện chỉ có thể được truyền thụ qua giáo dục

Năm 1987, tại Hội nghị về MT ở Moscow do UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc) và UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc) đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GDMT: Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng MT với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về MT ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, GDMT là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về MT Giáo dục môi trường, vì vậy, đã trở thành nhu cầu cấp bách, thường xuyên và lâu dài trong chiến lược phát triển và trong kế hoạch hành động của các quốc gia

Ở Việt Nam, ô nhiễm MT từ lâu đã được coi là vấn nạn trong tiến trình phát triển đất nước Ô nhiễm MT là nguyên nhân trực tiếp gây nên những bất bình, bức xúc, những phản ứng từ đơn giản đến gay gắt, thậm chí đấu tranh quyết liệt của người dân Việt Nam thời gian qua trên phạm vi cả nước với tần suất ngày một tăng Để hạn chế vấn nạn ô nhiễm MT, Việt Nam đã sử dụng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp đưa giáo dục BVMT vào trong hệ thống giáo dục quốc dân Có thể thấy, trường học là môi trường tốt nhất cho việc GDMT Nếu HS ngay từ những ngày đầu cắp sách đến trường đã có ý thức về BVMT thì sẽ tạo sức lan tỏa cho toàn cộng đồng cùng tham gia BVMT Mục

Trang 11

tiêu của GDMT nhằm trang bị cho cộng đồng những kỹ năng hành động BVMT một cách hiệu quả hơn Phương pháp GDMT hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức MT trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động BVMT

Nhận thức được tầm quan trọng của việc GDMT trong công tác BVMT, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụ thể và đã đạt được những thành tựu đáng kể Các chương trình GDMT bao gồm

cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, vận động quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác tham gia vào việc BVMT được tiến hành hàng năm Hệ thống thông tin, dữ liệu MT cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn Tất nhiên, song song với những thành quả này, công tác giáo dục ý thức bảo vệ MTTN cho quần chúng nhân dẫn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế không thể tránh khỏi

Huyện Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng, trước đây là một huyện thuần nông với cảnh quan MT trong lành, sạch đẹp Nhưng từ khi thực hiện chủ trương của Thành phố Hải Phòng về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, huyện Vĩnh Bảo đã không còn giữ được vẻ tinh khôi của MTTN nữa Nhiều năm qua, người dân ở một số xã trên địa bàn Huyện thường xuyên sống trong âu lo, quan ngại về các nguồn gây ô nhiễm MT phát sinh từ các cụm công nghiệp Trên thực tế, nó đã và đang hàng ngày, hàng giờ giết dần MTTN, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, cuộc sống của người dân

Để bảo vệ MTTN, huyện Vĩnh Bảo đã thực hiện nhiều giải pháp Một trong số đó là đưa nội dung GDMT vào kế hoạch dạy học ở các cấp Thực hiện chủ trương, kế hoạch phòng chống ô nhiễm MTTN trong Huyện, các trường THPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo đã làm tốt công tác đưa nội dung giáo dục

ý thức BVMT tự nhiên vào trong chương trình học Hầu hết các trường học luôn duy trì có hiệu quả các phong trào vệ sinh trường lớp, chú trọng nâng cao

Trang 12

chất lượng phong trào, tăng tần suất tổ chức thực hiện tổng dọn vệ sinh, chăm sóc cây xanh, cảnh quan, triển khai nhiều hoạt động giáo dục thiết thực để nâng cao nhận thức cho HS về tầm quan trọng của việc BVMT… bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú Các hoạt động ngoại khóa như ngày hội “Nước sạch

và vệ sinh môi trường”; thi “Rung chuông vàng”, thi vẽ tranh về bảo vệ môi trường; hội trại xanh; thi vẽ tranh “Em yêu thành phố quê hương”; ngày hội

“Học sinh chung tay bảo vệ môi trường”… đã góp phần nâng cao ý thức BVMT của HS THPT trên địa bàn Huyện

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đáng ghi nhận đó, công tác giáo dục ý thức BVMT tự nhiên cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo còn có những hạn chế: nhiều phong trào không được triển khai sâu rộng, còn mang tính hình thức… Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ MTTN cho HS thực sự đạt được hiệu quả như mong đợi, cần phải có những biện pháp thực tế, chính xác, hiệu quả Đặc biệt, việc giáo dục ý thức BVMT cho HS THPT huyện Vĩnh Bảo cần phải được gắn liền với tình cảm, trách nhiệm, tâm tư… và phải biến thành hành động tự giác, tự nguyện, gắn liền với đời sống hàng ngày như cơm ăn, nước uống của HS Điều đó cũng có ý nghĩa là giáo dục cho HS tình cảm, tình yêu đối với MTTN

Xuất phát từ lí do trên, tôi đã quyết định lựa chọn vấn đề “Giáo dục đạo

đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu” làm

luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho

HS trung học phổ thông ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Một là: phân tích cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HS THPT

Trang 13

Hai là: phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HS ở các trường THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

Ba là: đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HS

THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

4.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HS

5 Phạm vi nghiên cứu

Công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HS trường THPT ở

huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2017

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề bảo

vệ môi trường tự nhiên

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp lôgic – lịch sử

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu, so sánh…

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp điều tra bằng Anket

- Phương pháp phỏng vấn

Trang 14

7 Giả thuyết khoa học

Những giải pháp đưa ra góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Đề xuất được một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu trên toàn thế giới hiện nay

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho học sinh THPT; sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục Chính trị và những người quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên

9 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương 8 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở

HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, nhất là những năm gần đây, những vấn đề ô nhiễm MTTN, khủng hoảng sinh thái, biến đổi khí hậu trên thế giới ngày càng diễn ra trên diện rộng và hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội BVMT, chống biến đổi khí hậu đã trở thành phạm trù mang tính chiến lược, tầm nhìn thời đại của nhiều quốc gia với các giải pháp khác nhau như chính trị, luật pháp, hành chính, tập tục đặc biệt là giải pháp về mặt luân lý

Việc tìm ra giải pháp về đạo đức trong việc BVMT tự nhiên làm xuất hiện các nghiên cứu về đạo đức môi trường (đạo đức môi trường tự nhiên), còn gọi là đạo đức sinh thái Theo chủ ý của tác giả trong luận văn này, việc gọi là ĐĐMT, ĐĐMT tự nhiên hay đạo đức sinh thái đều có thể được chấp nhận như nhau nếu

có chung một nội hàm là đề cập tới tình yêu của con người đối với MTTN Để thống nhất trong nghiên cứu, tác giả sử dụng thuật ngữ MTTN thay cho môi trường sinh thái; ĐĐMT thay cho ĐĐMT tự nhiên và đạo đức sinh thái

Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn:

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài

Trong lịch sử, các quan điểm về tự nhiên, về sống hòa hợp với MTTN đã được các nhà triết học nghiên cứu từ thời cổ đại trong triết lý của các triết gia

Hi Lạp, Trung Hoa Đó là bước khởi đầu để hình thành tư tưởng về ĐĐMT sau này Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX, với bản chất cách mạng và khoa học, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin mới đặt nền móng cho việc nghiên cứu ĐĐMT Trong các tác phẩm của mình, đã nhiều lần C.Mác và Ăngghen cho

Trang 16

rằng con người, xã hội và tự nhiên là một thể thống nhất Nếu bằng cách nào đó

và vì các mục đích khác nhau mà con người huỷ hoại giới tự nhiên, phá vỡ hệ thống tự nhiên - xã hội - con người thì sớm hay muộn, con người cũng bị tự nhiên “phản kháng” lại

Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” đánh dấu bước ngoặt trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và MT Trong tác phẩm này Ăngghen đã cảnh báo về sự “trả thù” của của tự nhiên đối với con người khi con người coi mình là “kẻ thống trị” tự nhiên, hành động “bóc lột” tự nhiên một cách thái quá Ông viết “ Chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết

là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng này thường hay phá huỷ tất cả những kết quả đầu tiên đó [4, tr 654]

Từ sau những lời cảnh báo của Ăngghen đến nay, nhân loại đã có cái nhìn toàn cảnh về những diễn biến xảy ra trong MT Sự tan vỡ cấu trúc của hệ thống

tự nhiên - xã hội - con người vào cuối thế kỷ XX buộc loài người phải có những nỗ lực rất lớn cả về nhận thức và hành động để “cứu lấy Trái Đất”

Trên phương diện thực tiễn, hành động, tháng 6 năm 1972, Hội nghị lần đầu tiên của Liên hợp quốc về MT đã được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển), với sự tham gia của 113 quốc gia trên thế giới Tại Hội nghị, các chính trị gia

và các nhà khoa học đã đưa ra Tuyên bố chung gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc về

bảo vệ thiên nhiên, MT và bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh Cũng ở Hội nghị này, các quốc gia còn kiến nghị cần phải quan tâm đến GDMT trong nhà trường và khẳng định rằng không có một quốc gia nào có thể bỏ qua sự cần thiết để GDMT cho HS trong nhà trường

Trang 17

Tính đúng đắn trong Hội nghị Stockholm dẫn đến sự thành lập của Chương trình MT Liên Hợp Quốc (UNEP) và nhiều hội nghị bàn về những vấn

đề MT mà GDĐĐMT là một nội dung quan trọng đã được tổ chức ở khắp nơi trên thế giới Điển hình là: Hội nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi (Cộng hoà Grudia) năm 1977; Hội nghị quốc tế về GDMT do UNESCO và UNEP được tổ chức tại Mátxcơva (1987); Hội nghị thượng đỉnh của thế giới về

MT và Phát triển được tổ chức (năm 1992); Hội nghị bàn tròn về ĐĐMT tại Seoul – Hàn Quốc năm 1997; Hội nghị cấp cao thế giới về Phát triển bền vững của hành tinh tại Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 Cho đến nay, Liên Hợp Quốc đã tuyên bố hàng loạt bản tuyên bố, công ước, hiệp ước, chương trình hành động quốc tế về phát triển bền vững đã được đề ra Nhiều quốc gia trên thế giới đã ngồi lại với nhau, tiếp tục tìm kiếm, xây dựng chương trình hành động cho mỗi quốc gia và toàn thế giới để khắc phục những nghịch

lý về phát triển xã hội trong đó có vấn đề bảo vệ MTTN

Còn trên phương diện nghiên cứu lý luận và nhận thức, ĐĐMT được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX Năm 1967 tác giả Lynn White đã

công bố nghiên cứu “Những nguồn gốc lịch sử của sự khủng hoảng sinh thái”

Ba năm sau, năm 1970 Aldo Leopold, nhà khoa học xã hội của Hoa Kỳ đã cho

ra đời bài viết “Đạo đức đối với Trái Đất” Các công bố trên đã phân tích tỉ mỉ

nguồn gốc dẫn đến sự khủng hoảng sinh thái và thái độ của con người đối với

tự nhiên Theo đó, nguồn gốc của khủng hoảng sinh thái xét đến cùng là từ con người, do sự phát triển sản xuất của con người gây nên Để khắc phục khủng hoảng sinh thái, các tác giả đã khẳng định, con người cần thiết phải thay đổi cách ứng xử của mình đối với tự nhiên

Sự phân tích của Lynn White và Aldo Leopold về khủng hoảng sinh thái

đã bám sát vào hiện tượng các mối quan hệ con người – tự nhiên đã được định hình rõ nét Về mặt nhận thức, có thể khẳng định, các bài viết trên là sự khởi đầu cho việc nghiên cứu ĐĐMT sau này Từ sau các bài viết trên, những nghiên cứu về MT, về BVMT tự nhiên, về ĐĐMT được các nhà khoa học trên

Trang 18

thế giới đi sâu phân tích tỉ mỉ với mong muốn tìm ra các giải pháp để cứu lấy

cái nôi của sự sống đang hàng ngày, hàng giờ bị con người xâm hại và tàn phá

Năm 1980, Ernest Partridge cho xuất bản cuốn sách “Đạo đức môi trường

và chính sách công” (Environmental Ethics and Public Policy) Trong tác phẩm này, Ernest Partridge đã phân tích sâu sắc những vấn đề về ĐĐMT, chỉ ra những triết lý về ĐĐMT Giải thích cho câu hỏi: Tại sao cần có ĐĐMT? Ernest Partridge cho rằng, việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người với MTTN dựa trên cơ sở đạo đức, không chỉ giúp cho MTTN được ổn định mà con người sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ MTTN [11]

Sau hai thập kỷ, tác giả Michael Boylan - người Hoa Kỳ trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa con người và MT, đặc biệt là dựa trên sự biến đổi của MT dưới ảnh hưởng của ý thức con người, đã đề cập đến nhiều vấn đề ĐĐMT như mối quan hệ giữa con người với MT trên phương diện đạo đức, những vấn đề cơ bản của ĐĐMT, ứng dụng ĐĐMT trong cuộc sống Các quan niệm đó được Michael Boylan phân tích sâu sắc trong cuốn “Đạo đức môi trường” (Environmental Ethics) [26]

Bên cạnh nghiên cứu “Đạo đức môi trường” (Environmental Ethics) của Michael Boylan, là tác phẩm “Đạo đức môi trường ngày nay” (Environmental Ethics Today) của tác giả Peter S.Wenz Với cách tiếp cận các vấn đề MT theo chủ nghĩa tôn giáo, Peter S.Wenz đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về

MT Đặc biệt là lý giải chủ nghĩa tôn giáo về MT, qua đó chỉ ra việc ứng dụng ĐĐMT của con người như thế nào [31]Có thể nói, trên bình diện quốc tế, các tác phẩm, bài viết về ĐĐMT khá sắc bén Các công trình đã chỉ ra thực tế vấn

đề ô nhiễm MT và trách nhiệm của công dân trong BVMT Các tác giả còn nhấn mạnh, việc tìm ra tiếng nói về đạo đức trong quá trình BVMT là vấn đề then chốt để cứu lấy Trái Đất của chúng ta ngày nay Các nghiên cứu đó là tài liệu hữu ích để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn này

Trang 19

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

* Các nghiên cứu về bảo vệ MTTN, giáo dục bảo vệ MTTN

Bảo vệ môi trường tự nhiên (có tác giả gọi là môi trường sinh thái) cũng như giáo dục bảo vệ MTTN (có tác giả gọi là bảo vệ môi trường sinh thái) là đề tài được bàn luận nhiều ở Việt Nam trong thời gian qua

Tác giả Lê Văn Khoa (chủ biên) trong tác phẩm Môi trường và giáo dục

bảo vệ môi trường đã đề cập tới các vấn đề chung về khoa học môi trường, sinh

thái quyển và các kiểu hệ sinh thái chính, tác động của con người đối với MT, giới thiệu một số văn bản liên quan đến chính sách MT Trong hoạt động giáo dục BVMT, tác giả cho rằng cần giáo dục cho HS trong và ngoài nhà trường bằng nhiều hình thức khác nhau như các hoạt động thực tế: tham quan, thực nghiệm, thực địa; các hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật như thơ, chuyện, tranh ; các hoạt động thực tế BVMT như thu gom rác thải, trồng cây, dọn vệ sinh Ngoài ra, việc thành lập các câu lạc bộ (bảo vệ cây xanh ), các cuộc thi (vẽ, hát, múa, báo tường ) cũng có tác dụng tốt tới công tác giáo dục đạo đức sinh thái và BVMT cho HS [16]

Tác giả Nguyễn Thị Khương (chủ biên) trong cuốn sách tham khảo Quan

hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam đã đưa ra nhiều vấn đề về giải quyết mối quan hệ giữa phát

triển kinh tế và BVMT ở miền núi phía Bắc nước ta Trong cuốn sách tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm kết hợp đúng đắn giữa phát triển kinh tế và BVMT

ở miền núi phía Bắc nước ta Ở giải pháp thứ tư, tác giả nhấn mạnh: “Trường học và gia đình là những nơi thuận tiện nhất cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế Do vậy, các cấp chính quyền các tỉnh miền núi Đông Bắc phải tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục quốc dân đưa nội dung kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường vào giảng dạy trong nhà trường ở các cấp học Cần thiết phải giúp cho các cơ sở giáo dục thông qua giáo dục các kiến thức chính sẽ từng bước hình thành và giáo dục cho học sinh

Trang 20

chú trọng tình yêu đối với thiên nhiên, có nếp sống gần gũi, thân thiện với môi trường Mặt khác, các cấp chính quyền còn phải tạo điều kiện để mỗi gia đình

sẽ là một cơ sở giáo dục nhỏ về bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế” [20, tr 108]

Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm trong bài viết “Xây dựng đạo đức sinh thái

- một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên” đăng trên Tạp chí Triết học số 6 năm 2009 cho rằng trong quan hệ đạo đức sinh thái thì con người

là chủ thể, còn tự nhiên là khách thể Đã nhiều năm sự tác động giữa con người

và tự nhiên chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con người và xã hội,

bỏ qua lợi ích và giá trị nội tại của các khách thể tự nhiên, vì vậy con người đã mang lại hậu quả khôn lường cho MT sống Do đó việc xây dựng đạo đức sinh thái là rất cần thiết để bảo vệ MTST [40]

Trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn

hoá trong lịch trình thế kỷ XXI”, tác giả Đỗ Huy đã thấy được vai trò vô cùng

quan trọng của môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế Theo tác giả, do nhu cầu tăng năng suất người ta đã từng coi việc cải tạo, thu lợi vô hạn

độ trên MT là hành động tích cực Hậu quả là có khói, có máy chạy, có công trường để có việc làm song các giá trị văn hoá lại bị xuống cấp, sức khoẻ con người bị xâm phạm thì lại không được chú ý thích đáng Giá trị của hệ sinh thái

có ảnh hưởng đến cuộc sống con người Các giá trị này tuy “im lặng” nhưng nếu con người lạm dụng quyền lực của mình, vô đạo đức thì cái giá phải trả là rất lớn Đứng trước tình cảnh đó, tác giả Đỗ Huy khẳng định việc giáo dục đạo đức sinh thái là rất cần thiết để MT và con người phát triển một cách hài hoà [13]

Tác giả Phan Thị Hồng Duyên trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái

vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên” đã đưa ra những bức

xúc về vấn đề MT và BVMT hiện nay ở nước ta Tác giả cho rằng, Việt Nam cần thiết phải phát triển bền vững Phát triển bền vững mà Phan Thị Hồng Duyên đề cập trong bài viết này là dựa theo quan điểm của sinh thái học, đó là

Trang 21

sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và BVMT Quan niệm này hoàn toàn đúng

và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển hiện nay của nước ta [8]

Trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái”, tác

giả Vũ Trọng Dung cho rằng “môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người” Tác giả khẳng định việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái phải bằng công tác giáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng

và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái cho mọi chủ thể Tác giả cũng cho rằng sự thống nhất giữa nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp

lý trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái là đòi hỏi cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay [7]

Luận án “Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện

nay” của Phan Thị Hồng Duyên, (2012) Trên cơ sở của việc khẳng định tầm

quan trọng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam, luận án

đã nêu lên một số vấn đề đặt ra về giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, qua đó đề ra năm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, đó là: (1) Tiếp tục xây dựng và bổ sung, hoàn thiện pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái; (2) Xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên lồng ghép vào các môn học khác phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay; (3) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên giảng dạy về đạo đức sinh thái từ các môn học khác nhau; (4) Đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên; (5) Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của sinh viên trong giáo dục đạo đức sinh thái [9]

Đề tài “Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ

chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay” (2004) tác giả Vũ

Trọng Dung đã làm sáng tỏ những vấn đề về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo

Trang 22

đức sinh thái; Phân tích thực trạng đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay;

Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay [6]

* Các nghiên cứu về GDĐĐMT và GDĐĐMT cho HS THPT

Việc nghiên cứu ĐĐMT và GDĐĐMT là khá mới mẻ ở nước ta Vấn đề ĐĐMT lần đầu tiên được bàn luận tới một cách có hệ thống là trong đề tài

“Đạo đức môi trường – Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới” do PGS.TS Nguyễn Văn Phúc làm chủ nhiệm đề tài Trên cơ sở khảo sát các quan niệm về ĐĐMT, các kinh nghiệm thế giới về xây dựng ĐĐMT, đề tài làm rõ thực chất và những chuẩn mực chủ yếu của ĐĐMT, từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng ĐĐMT ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 3 chương Chương 1: Các quan niệm tôn giáo và một số khuynh hướng đạo đức học hiện đại về ĐĐMT Chương 2: Những kinh nghiệm thế giới

về BVMT và xây dựng ĐĐMT Chương 3: Đạo đức môi trường và xây dựng ĐĐMT ở nước ta hiện nay [33]

Từ sau đề tài của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, một số tác giả khác đã đề cập đến ĐĐMT ở các khía cạnh khác nhau Dự án “Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay” cuả GS.TS Vũ Dũng trên cơ sở hệ thống một số vấn

đề lý luận cơ bản về ĐĐMT như khái niệm, các quan điểm nghiên cứu, những biểu hiện của ĐĐMT, các tiêu chí để xác định ĐĐMT… đã chỉ ra thực trạng ĐĐMT ở nước ta hiện nay, nguyên nhân của thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐMT ở nước ta Từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp về xây dựng, nâng cao ĐĐMT, qua đó góp phần xây dựng một MT bền vững ở nước

ta hiện nay

Trong Báo cáo tổng kết đề tài Giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh Trung học cơ sở, TS Dương Quang Ngọc (chủ nhiệm đề tài) đã phân tích những khủng hoảng về MT ở nước ta, chỉ ra những nguyên nhân và đi đến

Trang 23

khẳng định: Để giáo dục ĐĐMT cho HS trung học cơ sở đạt hiệu quả cao, cần chú trọng một số giải pháp cụ thể đối với các cơ quan quản lý, nghiên cứu giáo dục; đối với nhà trường trung học cơ sở; đối với GV trung học cơ sở; đa dạng cách tiếp cận giáo dục ĐĐMT; về các điều kiện hỗ trợ khác [27]

Trong tác phẩm “Đạo đức môi trường ở nước ta - Lý luận và thực tiễn”, tác giả Vũ Dũng đã phân tích làm rõ các nội dung: (1) Một số vấn đề lý luận cơ bản về ĐĐMT Trong phần này tác giả trình bày khái niệm ĐĐMT, các tiêu chí đánh giá ĐĐMT, sự xuất hiện và những khuynh hướng cơ bản của ĐĐMT, các chức năng cơ bản của ĐĐMT; (2) Kinh nghiệm BVMT ở một số nước nhìn từ góc độ ĐĐMT Ở đây tác giả phân tích kinh nghiệm BVMT của một số quốc gia, chỉ ra những khía cạnh đạo đức của những hoạt động BVMT này (3) Tổng quan về MT và ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay Trong đó tác giả đề cập đến nhận thức của người dân về ĐĐMT, thực trạng hành vi ĐĐMT ở nước ta Ở phần thứ ba, từ góc độ của ĐĐMT tác giả đã chỉ ra một thực trạng là ở hầu hết các lĩnh vực từ doanh nghiệp đến người dân, từ thành thị đến nông thôn và miền núi, chúng ta còn có nhiều hành vi mang tính phi ĐĐMT Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay Từ đây, tác giả đề xuất một giải pháp cơ bản để BVMT là xây dựng ĐĐMT cho mọi tầng lớp nhân dân [6]

Liên quan đến GDĐĐMT còn có bài viết “Đạo đức học môi trường và vai trò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế

hệ trẻ” của tác giả Nguyễn Thị Khương Bài viết đã chỉ ra rằng đạo đức học môi trường nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau về quan hệ đạo đức giữa

con người với MT, song trước hết được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, dựa

trên cơ sở lý luận của đạo đức học truyền thống, đạo đức học MT ứng dụng vào một lĩnh vực cụ thể của thực tiễn - đó là lĩnh vực MT sống của con người mà trước hết là ĐĐMT, với hy vọng tìm ra những quan điểm, những hành vi, những quy tắc ứng xử của cá nhân với MT xung quanh mình

Trang 24

Thứ hai, đạo đức học MT nhìn nhận như một sự mở rộng chủ thể đạo đức

sang đối tượng khác Nếu đạo đức học nghiên cứu mối quan hệ đạo đức giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, với xã hội thì đạo đức học môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa cá nhân với MT, với giới tự nhiên [19] Nghiên cứu về ĐĐMT và công tác GDĐĐMT cho HS giữ một vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục toàn diện HS Gần đây, trên quy mô cả nước, các nhà khoa học đã bước đầu có sự quan tâm tới nghiên cứu ĐĐMT, song chưa nhiều Đặc biệt, nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT thì vẫn là mảng trống còn bỏ ngỏ Việc lựa chọn nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT

ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng của tác giả có thể coi là nghiên cứu đầu tiên ở THPT với chủ đích đóng góp sức mình vào việc nghiên cứu về GDĐĐMT nói chung cho lứa tuổi HS THPT

1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu về ĐĐMT đã làm rõ nhiều vấn đề cơ bản của ĐĐMT; là cơ sở phương pháp luận để những người đi sau học hỏi Trên cơ sở các công trình nghiên cứu đó, tác giả đề tài tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những nội dung sau:

- Bước đầu đề xuất khái niệm về GDĐĐMT cho HS

- Nghiên cứu để chỉ rõ thực trạng công tác GDĐĐMT cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm GDĐĐMT cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng hiện nay

1.2 Khái niệm và những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh Trung học phổ thông trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

1.2.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức môi trường

1.2.1.1 Khái niệm đạo đức

Từ xa xưa, con người đã biết dùng khái niệm “Đạo đức” để chỉ một thành

tố trong tính cách và giá trị của một con người Người được coi là có đạo đức

Trang 25

nghĩa là người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực, có nét đẹp trong đời sống tâm hồn Nói đến đạo đức là nói đến con người Tất cả những suy nghĩ, cử chỉ, hành vi của con người như đường ăn, nét

ở, nét đi đứng đều chứa đựng những yếu tố tạo nên đạo đức ở con người Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm và biến đổi cùng với sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội Ngay từ khi xã hội hình thành, phạm trù đạo đức đã phản ánh một cách sinh động đời sống xã hội thông qua mối quan hệ biện chứng giữa con người với con người, giữa con người với

xã hội Kể từ đó, đạo đức luôn là một trong những khái niệm biến đổi thành phương thức hữu hiệu điều chỉnh hành vi của con người, góp phần quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức Dưới đây là một số quan niệm đó:

Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội [14, tr 7]

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [23, tr 7]

Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và cả với bản thân mình [34, tr 6]

Đạo đức là chuẩn mực mang tính lịch sử, do ý chí chung của con người trong những cộng đồng cụ thể đặt ra để điều chỉnh hành vi của chính họ cho phù hợp với quyền lợi chung của cộng đồng mà họ đang sống [12, tr 10]

Về bản chất, đạo đức là sự phản ánh giá trị cao đẹp của đời sống con người trong mối tương quan giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội Đạo

Trang 26

đức là một hệ thống hoàn chỉnh gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan

hệ đạo đức

Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi

phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người

Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, biểu hiện trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và

1.2.1.2 Khái niệm môi trường tự nhiên

Để hiểu “Môi trường tự nhiên là gì?” cần phải bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm “Môi trường”

Trong từ điển tiếng Việt, MT được định nghĩa là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, sinh vật ấy” [42, tr 639- 640]

Theo điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014, MT “bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau,

Trang 27

bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [35, tr 17]

Ngoài hai nghĩa trên, MT còn được hiểu theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, MT là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như đất, nước, không khí, động vật, thực vật Còn theo nghĩa hẹp, MT chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người Theo nghĩa này,

MT không bao gồm tài nguyên thiên nhiên

Tùy theo cách tiếp cận mà MT được phân thành nhiều loại như MT vô sinh, MT hữu sinh, MT đất, MT nước, MT không khí, MT tự nhiên, MT xã hội Mỗi loại MT sẽ có vai trò và vị trí khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của con người

Như vậy, khó có thể thống nhất tuyệt đối khái niệm “môi trường” Trong khuôn khổ giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả luận văn chỉ nghiên cứu MT dưới góc độ tự nhiên hay còn gọi là MTTN nhằm tìm ra cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề ĐĐMT MTTN cũng là một khái niệm đa nghĩa

Môi trường tự nhiên bao gồm “các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên, tồn tại, vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một cơ thể thống nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con người, và chính con người cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới quá trình vận động và phát triển tới chủ thể của nó” [29, tr 160]

Môi trường tự nhiên bao gồm “các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học (thường được gọi chung là môi trường vật lý), sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người” [2, tr 18] Môi trường tự nhiên còn được hiểu “là một tổng hòa những yếu tố tự nhiên vô cơ và hữu cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật” [21, tr 109]

Trang 28

Môi trường tự nhiên “bao gồm các nhân tố thiên nhiên tồn tại ngoài ý muốn của con người và ít nhiều chịu sự tác động của con người như đất, nước, không khí, động vật, thực vật; nó có quan hệ trực tiếp tới quá trình sản xuất vật

chất và đời sống xã hội của con người” [20, tr 16]

Như vậy, mặc dù không giống nhau tuyệt đối, nhưng các quan niệm trên đều khẳng định MTTN là các yếu tố thiên nhiên, chi phối đời sống của con

người Từ các quan niệm này, tác giả đi tới kết luận: Môi trường tự nhiên là

toàn bộ các yêu tố thiên nhiên tồn tại một cách khách quan bên ngoài con người và ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại, phát triển của con người MTTN bao gồm các yếu tố đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên nói chung

MTTN cung cấp cho con người tư liệu sinh hoạt để con người sinh sống, là điều kiện thiết yếu và quan trọng duy trì hoạt động sản xuất, lao động, giải trí của con người theo đúng tinh thần mà C Mác và Ph Ănghen đã đề cập

"Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người và nó chính là giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể con người Như thế nghĩa

là tự nhiên là thân thể của con người; để khỏi chết, con người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên quan khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một

bộ phận của tự nhiên” [3, tr 91-92]

1.2.1.3 Khái niệm đạo đức môi trường

Ngay từ xa xưa và cho đến ngày nay, trong quá trình sinh tồn, con người thường xuyên phải xác lập vô vàn các mối quan hệ xung quanh mình Ngoài mối quan hệ giữa con người với con người, thì mối quan hệ giữa con người với MTTN cũng được con người quan tâm chú trọng Nếu mối quan hệ giữa con người với con người cùng những niềm tin, thái độ, chuẩn mực điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội giữa con người với con người gọi là "đạo đức xã hội”, thì mối quan hệ giữa

con người với tự nhiên cùng niềm tin, thái độ, chuẩn mực điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được gọi là “đạo đức môi trường”

Trang 29

Những tư tưởng về ĐĐMT được hình thành từ khá sớm trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Từ xa xưa, người Phương Đông đã thể hiện ĐĐMT như một triết lý sống hài hoà với thiên nhiên Quan điểm “Thiên - nhân hợp nhất”,

“thiên - địa nhân hòa”, “thiên - nhân cảm ứng” đã từng thống trị lâu dài trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại Còn ở phương Tây, trong quan niệm của mình, các nhà triết học Hi Lạp thời cổ đại cũng đã bàn luận rất nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

Ở Việt Nam, khái niệm ĐĐMT xuất hiện khi con người phải giải quyết hàng loạt những vấn đề cấp bách về MT nước ta Và dưới nhiều góc độ khác nhau, các quan niệm khác nhau về ĐĐMT được thiết lập

“Đạo đức học môi trường là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ đạo đức giữa con người và giới tự nhiên với tư cách là môi trường sống của con người, từ đó, xác lập những chuẩn mực nhằm quy định hành vi ứng xử của con người với giới tự nhiên cho phù hợp với những chuẩn mực của đạo đức nói chung” [19, tr 3]

“Đạo đức môi trường là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình với môi trường sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với sự tiến bộ xã hội và với sự phát triển môi trường một cách bền vững, thể hiện sự tôn trọng của con người đối với môi trường” [5, tr 60]

“Đạo đức môi trường là một phương diện của đạo đức nói chung, là sự thể hiện và thực hiện đạo đức xã hội trong lĩnh vực mối quan hệ giữa con người với tự nhiên” [30, tr 156]

“Đạo đức môi trường là tổng thể những cách đối xử của con người, của

xã hội nói chung mang tính tích cực, phù hợp, thoả đáng đối với sự phát triển của toàn bộ hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” nhằm bảo đảm mối quan hệ hoà hợp, luôn được cải thiện, phát triển giữa “Con người - Xã hội và

Tự nhiên” Mối quan hệ này cũng chính là điều kiện quy định sự tồn tại bền vững của con người và xã hội” [36, tr 1]

Trang 30

Dựa trên các tài liệu đã có về ĐĐMT, tác giả luận văn hiểu rằng nói đến ĐĐMT là nói đến cách ứng xử của con người và xã hội loài người về mặt đạo đức đối với MTTN, bảo đảm sự cùng tồn tại và phát triển của tự nhiên và xã

hội Do đó, ĐĐMT là toàn bộ những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhờ đó

con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với quy luật của tự nhiên, vừa đảm bảo lợi ích của con người, vừa đảm bảo cho MTTN phát triển một cách bền vững, thể hiện mối quan hệ hài hòa, thống nhất giữa con người

Cũng giống như đạo đức xã hội, ĐĐMT bao gồm 3 phương diện là ý thức ĐĐMT, hành vi ĐĐMT và quan hệ ĐĐMT

Ý thức ĐĐMT là hệ thống những quy tắc và chuẩn mực đạo đức của con người trong ứng xử với tự nhiên Việc con người có những hiểu biết về tầm quan trọng của MTTN, có những tình cảm yêu quý, trân trọng MTTN đều là biểu hiện của ý thức ĐĐMT

Hành vi ĐĐMT là quá trình con người hiện thực hóa ý thức ĐĐMT trong đời sống thực tiễn, như con người có những hành động, cử chỉ, việc làm cụ thể tác động một cách hợp lý, nhân văn, nhân đạo đến MT

Quan hệ ĐĐMT là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, con người và tự nhiên trong mối quan hệ với tự nhiên Quan hệ ĐĐMT được biểu hiện ra ở quan hệ lợi ích, lợi ích của cả chủ thể đạo đức (con người) lẫn khách thể đạo đức (giới tự nhiên)

Ở nước ta, trong những năm qua, với việc xây dựng một nền kinh tế mở,

đa dạng, năng động, làm cho nước ta có những bước đột phá về kinh tế Song,

Trang 31

vấn đề về MT, môi sinh lại đang đứng bên bờ vực thẳm Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bất hợp lý, tàn sát MTTN vì lợi ích kinh tế trước mắt đều là những biểu hiện suy thoái về ĐĐMT ĐĐMT là một phương diện của đạo đức nói chung, là sự hoàn thiện và thực hiện đạo đức của con người Nếu chúng ta điều chỉnh lợi ích giữa con người với giới tự nhiên dựa trên chuẩn mực đạo đức thì chắc chắn rằng sự điều chỉnh ấy sẽ đem lại giá trị lớn cho toàn thể xã hội, đặc biệt không cần tiêu tốn nhiều giá trị vật chất của xã hội Thực tế đã chứng minh rằng, pháp luật hoặc chính trị nhiều khi không có tác dụng lớn bằng đạo đức Việt Nam đã có Luật môi trường, đã tham gia Công ước quốc tế về BVMT, ký Nghị định thư Kyoto, Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường … nhưng nhiều tổ chức, cá nhân vẫn bất chấp tất cả, hàng ngày, hàng giờ khai thác và hủy hoại MT Trong điều kiện như vậy, ĐĐMT đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh việc khai thác hợp

lý nguồn tài nguyên để đảm bảo lợi ích lâu dài của con người cũng như của tự nhiên Tuy nhiên, cũng giống như đạo đức xã hội, ĐĐMT không được hình thành một cách tự phát ở mỗi con người, mà nó được hình thành một cách tự giác thông qua con đường giáo dục và tự giáo dục là chính

1.2.2 Biến đổi khí hậu toàn cầu

Biến đổi khí hậu là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm hàng đầu trong thế kỷ XXI Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp, toàn diện, sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội và MT toàn cầu Trong những thập kỷ qua, rất nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu không ít những thiên tai nguy hiểm như bão, hạn hán, mưa đá, mưa tuyết gây thiệt hại lớn cho con người về tính mạng và vật chất Các nghiên cứu đã cho thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa các thiên tai nói trên với tình trạng biến đổi khí hậu [37]

Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu thì sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người (trực tiếp hoặc gián tiếp) làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào

Trang 32

khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được được cho là biến đổi khí hậu [39]

Biến đổi khí hậu còn được hiểu là sự thay đổi đáng kể của khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định Biến đổi khí hậu gây nên những tác động không nhỏ đến

hệ thống tự nhiên và sinh thái, đến sản xuất lương thực, đe dọa an ninh lương thực, tác động đến nguồn nước, đến sức khỏe của con người Biến đổi khí hậu còn làm cho mọi nguồn lực trên thế giới đều giảm sút một cách nghiêm trọng

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven

bờ và đất liền khác Hay nói một cách khác, tình trạng khí hậu bị biến đổi có nguyên nhân chủ yếu từ việc con người không biết tôn trọng, bảo vệ MTTN Việt Nam được đánh giá là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu do chúng ta có bờ biển dài Theo các kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ bị ngập nước Khi đó sẽ có khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, với tổn thất khoảng 10% GDP

Biến đổi khí hậu đang là thách thức nghiêm trọng nhất đối với quá trình phát triển bền vững đối với tất cả các nước trên thế giới, từ nước có điều kiện phát triển, đến các nước còn nghèo Nếu không ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu thì thành quả phát triển kinh tế xã hội sẽ chịu tổn hại, quá trình phát triển bền vững sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí là không thể đạt được

Để phòng chống biến đổi khí hậu, bên cạnh việc nghiên cứu, ban hành các chính sách, biện pháp phù hợp để cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, dần dần chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc

Trang 33

vào nhiên liệu không tái tạo sang năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu suất và tiết kiệm năng lượng thì cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục ý thức phòng chống biến đổi khí hậu trong mọi tầng lớp nhân dân nhất là thế hệ trẻ đang học trong nhà trường phổ thông

1.2.3 Những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu

1.2.3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức môi trường

Giáo dục đạo đức môi trường góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sự hiểu biết về MT và BVMT ở mọi quốc gia, dân tộc Ngày nay, GDĐĐMT còn góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới Sở hữu tri thức về ĐĐMT trở thành sở hữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ GDĐĐMT sẽ góp phần bồi dưỡng nhân tài, xây dựng được đội ngũ lao động không chỉ giỏi về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có tay nghề cao mà còn có được nền tảng đạo đức sinh thái nhân văn để tác động một cách có ý thức, có đạo đức tới MTTN, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước Ngày nay, việc đưa các nội dung giáo dục BVMT đã và đang là mối quan tâm của các cấp, ngành, các nhà khoa học và toàn xã hội ta hiện nay

Năm 1948, tại Paris, trong cuộc họp của Liên Hợp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên nhiên, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng Năm

1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa: GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các

kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hoá, thế giới vật chất bao quanh Giáo dục ý thức MT đồng thời cũng được thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với vấn đề liên quan tới đặc tính của MT

Trong tuyên bố của Hội nghị Liên hiệp quốc về “Môi trường con người” tại Stockholm, ngày 5/6/1972 đã khẳng định, việc GDMT cho mọi người để họ có được trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải tạo MT là vô cũng cần thiết Ngay sau đó, Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc cùng với Tổ chức văn

Trang 34

hoá, khoa học, giáo dục Liên hiệp quốc đã thành lập Chương trình GDMT Quốc tế (IEEP) đã đưa ra nghị định khung tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn GDMT Từ sau Hội nghị Belgrate, tháng 10 năm

1975, Chương trình GDMT quốc tế bắt đầu triển khai và có khoảng 60 quốc gia

đã đưa GDMT vào các trường học

Ở Việt Nam, năm 1962, Bác Hồ đã phát động phong trào “Tết trồng cây” Cho đến nay, phong trào này ngày càng phát triển mạnh mẽ Năm 1991, Bộ Giáo dục và đào tạo đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo và BVMT (1991 - 1995) Thông qua việc thay sách giáo khoa (cải cách giáo dục năm 1986 - 1992), các tác giả đã chú trọng đến việc đưa nội dung GDMT vào trong chương trình giảng dạy cho HS, trước hết ở các môn như Sinh học, Địa lý, Hóa học và Kỹ thuật Đến nay, việc giáo dục ý thức ĐĐMT cho thế hệ trẻ đang ngày được coi trọng

Giáo dục ĐĐMT là một quá trình giáo dục đặc biệt cho con người về cách ứng xử của con người và xã hội loài người đối với giới tự nhiên, nhằm đảm bảo

sự cùng tồn tại, phát triển của tự nhiên cũng như xã hội Đó còn là quá trình xây dựng một cách có ý thức hoạt động thực tiễn của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên, trang bị cho con người ý thức tự chủ, tích cực tham gia vào các hoạt động cải tạo, bảo vệ MTTN trên cơ sở nắm vững những chuẩn mực về ĐĐMT GDĐĐMT phải được tiến hành đồng thời ở cả ba thành tố của

nó là giáo dục chuẩn mực ý thức, giáo dục quan hệ và giáo dục hành vi ĐĐMT Giáo dục đạo đức môi trường trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu là quá trình sư phạm được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, trong đó dưới vai trò của giáo viên, học sinh THPT hình thành và phát triển nhận thức đúng đắn về

sự thay đổi của thành phần khí hậu toàn cầu do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo; hình thành ý thức tự chủ, thái độ và hành động tích cực bảo vệ, tham gia xây dựng và cải tạo môi trường sống nhằm đảm bảo sự cùng tồn tại và phát triển bền vững của tự nhiên và con người dựa trên các chuẩn mực về đạo đức đối với môi trường

Trang 35

1.2.3.2 Giáo dục chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông

Khi nói đến ĐĐMT, trước hết là nói đến hành vi ứng xử của con người đối với MT Bởi vì, đạo đức của con người phải được thể hiện qua hành vi cụ thể hàng ngày của con người Những hành vi ứng xử của con người đối với MT

là những hành vi mang tính chuẩn mực

Chuẩn mực ĐĐMT là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phối hành vi ĐĐMT được chấp nhận bởi xã hội và có tác dụng điều chỉnh hành vi của một cá nhân, nhóm người hay xã hội khi họ tác động đến MTTN

Chuẩn mực ĐĐMT phản ánh những kết quả nghiên cứu bản chất tự nhiên của ĐĐMT, sự lựa chọn về mặt ĐĐMT của con người và cách thể hiện triết lý ĐĐMT Chuẩn mực ĐĐMT thường được thể hiện thành những quy tắc hay chuẩn mực hành vi của nhà nước, đảng phái, các tổ chức, các cộng đồng nhất định nào đó Khi đó, chuẩn mực ĐĐMT chính là tiêu chuẩn hành vi ĐĐMT của nhà nước, đảng phái, tổ chức hay cộng đồng đó Đây là hình thức vận dụng phổ biến nhất của các chuẩn mực ĐĐMT trong thực tiễn Giáo dục các chuẩn mực ĐĐMT cho HS trước hết thể hiện ở việc làm cho HS hiểu và thực hiện đúng các nguyên tắc, luật pháp về BVMT mà Đảng, Nhà nước và các tổ chức đưa ra, cụ thể là:

- Các công ước quốc tế về MT đã được Chính phủ Việt Nam chấp thuận

- Các Luật, đạo luật về BVMT, chống biến đổi khí hậu

- Các Nghị định của Chính phủ, các Chỉ thị, Quyết định của các Bộ, Ngành về BVMT, chống biến đổi khí hậu

- Các quy định của UBND các tỉnh, thành phố, các Sở Tài nguyên và môi trường các địa phương về BVMT ở địa phương

Việc giáo dục các chuẩn mực ĐĐMT còn được thể hiện ở việc giáo dục cho HS hiểu và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, chiến lược của Đảng

và Nhà nước về BVMT như chiến lược tăng trưởng xanh, chiến lược phát triển bền vững, chiến lược bảo vệ môi trường biển

Trang 36

Có thể nói, các chuẩn mực luật pháp về BVMT rất đa dạng và phong phú Giáo dục cho HS các chuẩn mực pháp luật đó tức là hình thành ở người học ĐĐMT ở mức độ tối thiểu Tuy nhiên, để người học đạt tới chuẩn mực ĐĐMT

ở mức độ tối đa, cần giáo dục cho họ ý thức tự giác trong việc BVMT, biến những quy định pháp luật phải tuân theo thành những quy định tự giác thực hiện, xuất phát từ tình yêu và mong muốn được bảo vệ MTTN Mọi hành động của con người đều phải xuất phát từ việc bảo vệ và vì MTTN, tôn trọng MTTN Ngoài việc giáo dục các chuẩn mực pháp luật về BVMT, cần phải giáo dục cho

HS các chuẩn mực ĐĐMT dưới đây:

Thứ nhất, giáo dục cho HS có ý thức và hành động bảo vệ MTTN một

cách tự giác Làm cho HS tự nguyện tham gia các hoạt động BVMT nơi sinh sống, học tập và những nơi đến tham quan, làm việc Tuyên truyền, vận động gia đình, bạn bè và những người xung quanh thực hiện BVMT Việc bảo vệ MTTN còn bao gồm cả tôn trọng, bảo vệ các giống loài động, thực vật, bảo vệ

đa dạng sinh học Do đó, cần làm cho HS nhận thấy được tầm quan trọng của

đa dạng sinh học, qua đó biết cách ứng xử cho phù hợp Việc giáo dục cho HS đấu tranh lên án những hành vi săn bắt, hành hạ động vật hoang dã, chặt cây phá rừng là việc cần làm để nâng cao hành vi ĐĐMT cho HS

Thứ hai, giáo dục chuẩn mực ĐĐMT là xây dựng cho HS “văn hóa tiêu

dùng văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên” [9, tr 28] hưởng ứng các hoạt động BVMT như tham gia giờ Trái đất; tham gia ngày toàn dân BVMT Có ý thức tiết kiệm điện, khi hết giờ học phải tắt bóng điện, sử dụng nước rửa rau để tưới cây; sử dụng các sản phẩm thân thiện với MT trong các hoạt động tiêu dùng hàng ngày Nếu tất cả HS đều hưởng ứng thì hàng năm sẽ giảm tải một số lượng rác lớn có hại cho MT Chẳng hạn, các em sử dụng các sản phẩm thân thiện với MT như nói không với túi nilon khi đựng thực phẩm, dùng cặp sách bằng những sản phẩm tự nhiên như cặp cói, vải; vừa tiết kiệm được tài nguyên vừa bảo vệ được MTTN Đây là những hoạt động nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ MTTN Mặt

Trang 37

khác, còn giúp cho HS hiểu rằng tài nguyên thiên nhiên trên trái đất không phải

là vô hạn Thông qua các hành vi tiêu dùng hợp lý sẽ góp phần tái tạo tự nhiên,

đảm bảo khả năng tái tạo và tự phục hồi MTTN Giúp HS hiểu “Mục tiêu cuối

cùng của xã hội về mặt sinh thái là phải đưa nền sản xuất xã hội - phương thức

trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin của xã hội với tự nhiên gia nhập thực

sự vào chu trình sinh học của sinh quyển, trở thành một mắt khâu liên hoàn của

chu trình đó” [9, tr 238], chuẩn mực ĐĐMT là chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất của GDĐĐMT cho HS THPT hiện nay

Thứ ba, giáo dục chuẩn mực ĐĐMT cho HS cần được tiến hành một cách

hài hòa, có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc với quốc tế, cá nhân với xã hội, con người với tự nhiên Những phong tục, tập quán, nếp sống của các cộng đồng dân cư ở một phương diện nào đó còn có ý nghĩa lớn trong bảo vệ MTTN Thực tế cho thấy, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đã từ lâu đồng bào các dân tộc đã hình thành cho mình lối sống hòa hợp với tự nhiên theo phương cách sống mang đậm nét phương Đông “Thiên - Nhân hợp nhất”, “Thiên - Địa - Nhân hợp nhất” Lối sống này đã ăn sâu, bám

rễ vào cộng đồng các dân tộc và được phát huy, duy trì trong cộng đồng làng, bản Chẳng hạn, trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc mình, người Mông ở vùng núi Đông Bắc đã đề quy ước bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai của bản; đưa ra những quy định, những hình phạt hết sức nghiêm khắc đối với những cá nhân

tự ý khai thác hoặc đốt rừng Ngay cả những quy ước mang đậm tín ngưỡng duy tâm nhưng cũng có lợi cho việc bảo vệ MTTN, như: quy ước cấm xâm phạm vào những khu rừng, những con suối được đồng bào coi là “linh thiêng”, là của “Giàng”; quy ước về trồng rừng cho “Giàng”… Tục thả cá, chim sống về với

tự nhiên, trồng hoa, cây cảnh cũng góp phần làm tăng ý thức của người dân về việc giữ gìn đa dạng sinh học Tuy nhiên, không phải tất cả các quan niệm truyền thống đều phù hợp với thực tế BVMT hiện nay Chẳng hạn quan niệm “Thiên - Địa - Nhân hoà đồng”, “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên” Do vậy, cần phải

có một chuẩn mực ĐĐMT mới định hướng hành vi ĐĐMT cho HS

Trang 38

Những giá trị tốt đẹp trong đạo đức truyền thống nói trên, đã góp phần tạo nên những giá trị ĐĐMT cần được giáo dục cho HS Bên cạnh những giá trị truyền thống, hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã có những hành động, việc làm thiết thực mang đậm dấu ấn văn hóa sinh thái nhân văn mà chúng ta cần phải học tập và giáo dục cho các em Chẳng hạn, ở Cộng hoà liên bang Đức, Chính phủ nước này đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thải nguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng, pháp luật khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại; giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy hại.; hay ý tưởng phát triển Singapore - thành phố xanh, sạch, đẹp, được hình thành từ những năm 1960, trong đó việc BVMT sinh thái được coi là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra ở rất nhiều nước đã đề cao và yêu cầu nhân dân sử dụng các sản phẩm tái chế để BVMT Đó là những chuẩn mực ĐĐMT hiện đại mà chúng ta cần phải giáo dục cho HS THPT ở Việt Nam

1.2.3.3 Giáo dục ý thức đạo đức bảo vệ môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông

Giáo dục ý thức ĐĐMT tự nhiên là quá trình hình thành ở người học hệ thống quan điểm, quan niệm về MTTN, để từ đó biết yêu thương, quý trọng MTTN, biết cách ứng xử đúng mực với MT xung quanh, sống và làm việc theo những điều ước, công ước, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về BVMT Đó cũng là quá trình giáo dục để người học hiểu và tôn trọng quy luật tự nhiên, có ý thức cao trong bảo vệ MTTN, tránh xa những thói hư tật xấu có hại cho MTTN Giáo dục ý thức ĐĐMT tự nhiên nhằm giúp HS ý thức được về cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong khi quan hệ với MT, từ đó các em sẽ thực hành lối sống ứng xử có văn hoá đối với MTTN Giáo dục ý thức ĐĐMT

Trang 39

tự nhiên cho HS THPT cần được tiến hành ở tất cả các yếu tố của nó, là giáo dục tri thức ĐĐM tự nhiên, tình cảm ĐĐMTtự nhiên, niềm tin ĐĐMT tự nhiên

và ý chí ĐĐMT tự nhiên

Việc giáo dục ý thức ĐĐMTTN cho HS phải được bắt đầu từ việc giáo

dục tri thức ĐĐMT Đó là việc giáo dục cho HS hiểu biết về MTTN, về nghĩa

vụ, lương tâm, về thiện – ác, tốt - xấu, đúng - sai trong cách ứng xử của con người đối với tự nhiên Sự hiểu biết của HS về giới tự nhiên, về các giống loài động – thực vật trong tự nhiên sẽ giúp HS biết yêu quý, trân trọng cảnh quan thiên nhiên và có tình thương với các giống loài động vật quý hiếm

Giáo dục cho HS nắm vững những quan niệm, có hiểu biết đầy đủ về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người - tự nhiên; về sự thích nghi của con người với MTTN, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa con người - tự nhiên, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Chỉ khi nào người học hiểu đúng những giá trị của MTTN đối với cuộc sống của mình, thì khi đó họ mới không tác động một cách thô bạo, không lãng phí khi sử dụng tài nguyên thiên nhiên Không những thế, họ còn biết tuân theo những quy luật của tự nhiên

Giáo dục ý thức ĐĐMTTN cho HS còn là quá trình giúp cho HS nhận thức sâu sắc về phát triển bền vững Giúp họ hiểu được rằng con người muốn tồn tại và phát triển phải dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình Nhưng nếu con người khai thác tự nhiên một cách thiếu ý thức sẽ làm cho MTTN bị tổn thương và do đó, sớm hay muộn tự nhiên cũng sẽ tìm cách “trả thù” con người

Giáo dục tri thức ĐĐMT cho HS phải giúp HS “ý thức được sâu sắc và có

căn cứ khoa học rằng, con người muốn tồn tại và phát triển không thể thiếu được những điều kiện cần thiết như nước, không khí, ánh sáng, thức ăn, nhà ở…, xã hội loài người cũng không thể phát triển được nếu không có những nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên, nhiên liệu, vật liệu khác được lấy từ tự nhiên Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho

Trang 40

con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết đó Quan hệ giữa con người

và tự nhiên là “quan hệ máu thịt”, “con người sống bằng giới tự nhiên”, “đời sống thể xác và tinh thần của con người là gắn liền khăng khít với giới tự nhiên” Tự nhiên vừa là nhà ở, vừa là phòng thí nghiệm, vừa là công xưởng và cũng là bãi chứa chất thải khổng lồ của xã hội” [9, tr 54]

Giáo dục tình cảm ĐĐMT cho HS được tiến hành sau quá trình giáo dục

tri thức ĐĐMT Tình cảm ĐĐMT không được hình thành một cách ngẫu nhiên,

tự phát mà được hình thành một cách có chủ đích thông qua quá trình giáo dục Trong quá trình ứng xử với tự nhiên sẽ hình thành nên tình cảm ĐĐMT Nói đến tình cảm ĐĐMT không chỉ nói đến trạng thái tâm lý phản ánh những tác động từ bên ngoài vào ý thức của con người, mà quan trọng hơn là nói đến sự biểu hiện thái độ của con người khi đứng trước những hiện tượng ĐĐMT Chẳng hạn, đứng trước tình huống một con vật bị thương, đứa trẻ chăm sóc vết thương cho nó – đó chính là tình cảm ĐĐMT đã ngự trị trong tâm hồn đứa trẻ Tình cảm ĐĐMT thường được biểu hiện ở sự “rung cảm”, cảm nhận của

HS đối với hành vi của chính bản thân mình hoặc hành vi của người khác khi tác động tới MTTN Đứng trước hiện tượng một người cố ý xả rác ra MTTN,

HS có tiếng nói bảo vệ MTTN hay thờ ơ, lạnh nhạt trước hiện tượng đó phụ thuộc rất lớn vào suy nghĩ, thái độ, hành động của từng cá nhân HS Vì vậy, tình cảm đạo đức tự nhiên không chỉ là trạng thái cảm nhận của HS trước tự nhiên, mà còn là năng lực tự ý thức của HS trong khai thác, sử dụng, bảo vệ giới tự nhiên vì cuộc sống của con người

Tình cảm ĐĐMT giúp cho HS có những suy nghĩ và hành động ứng xử văn minh, có đạo đức với MTTN, làm cho tự nhiên gần gũi, thân thiện hơn trong cuộc sống của mình

Trong quá trình giáo dục ĐĐMT, niềm tin ĐĐMT có một vai trò to lớn, giúp cho HS hướng đến các giá trị chân - thiện – mỹ khi tiếp xúc với MTTN

Chính vì vậy, giáo dục niềm tin ĐĐMT cho HS là một trong những yếu tố

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Hữu Bình (2005) Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc miền núi, NXB Lí luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc miền núi
Nhà XB: NXB Lí luận chính trị
2. Hoàng Hữu Bình (2006), Những tác động của yếu tố văn hóa – xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, tr. 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác động của yếu tố văn hóa – xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2006
3. Các Mác (1995), Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, NXB Sự thật, Hà Nội, tr 91-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1995
4. Các Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, tr.654 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Các Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
5. Vũ Dũng, Đạo đức môi trường ở nước ta - lý luận và thực tiễn, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2011, tr.60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức môi trường ở nước ta - lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
6. Vũ Trọng Dung (2004), Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay, Đề tài NCKH, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Dung (2004), "Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Trọng Dung
Năm: 2004
7. Vũ Trọng Dung (2009), Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.… tr.153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái
Tác giả: Vũ Trọng Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
8. Phan Thị Hồng Duyên (2008), “Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên”, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phan Thị Hồng Duyên
Năm: 2008
9. Phan Thị Hồng Duyên (2012), Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thị Hồng Duyên (2012), "Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Thị Hồng Duyên
Năm: 2012
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, tr.304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
12. Vũ Thị Tùng Hoa (2013), Giáo trình đạo đức học, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Tác giả: Vũ Thị Tùng Hoa
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
13. Đỗ Huy (2007), “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hóa trong lịch trình thế kỉ XXI”, Tạp chí Lí luận chính trị, số 2, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hóa trong lịch trình thế kỉ XXI”, "Tạp chí Lí luận chính trị
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 2007
14. Trần Hậu Kiêm (1997), Đạo đức học, NXB Giáo dục, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Trần Hậu Kiêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
15. Lê Văn Khoa (2001), Khoa học môi trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Lê Văn Khoa, Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tr.249-265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
17. Nguyễn Thị Khương (2010) "Giáo dục ý thức phát triển bền vững về môi trường cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên hiện nay", Tạp chí Khoa học và công nghệ - Đại học Thái Nguyên, số 06/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ý thức phát triển bền vững về môi trường cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên hiện nay
18. Nguyễn Thị Khương (2011), "Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên với việc giáo dục đạo đức học môi trường cho sinh viên", Tạp chí Giáo dục, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên với việc giáo dục đạo đức học môi trường cho sinh viên
Tác giả: Nguyễn Thị Khương
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Khương (2011) "Đạo đức học môi trường và vai trò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế hệ trẻ", Hội thảo khoa học cán bộ trẻ các trường Đại học Sư phạm toàn quốc, Lần thứ nhất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học môi trường và vai trò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế hệ trẻ
20. Nguyễn Thị Khương, chủ biên, (2015), Quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Khương, chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
39. Tổng cục môi trường, Công ước khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc 1992, http://vea.gov.vn, ngày 20/8/2009 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm