LÊ HOÀI ĐỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DU LỊCH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÕNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận v
Trang 1LÊ HOÀI ĐỨC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ
MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DU LỊCH Ở TRƯỜNG
Trang 2LÊ HOÀI ĐỨC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ
MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DU LỊCH Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Đình Tuấn
Hà Nội, 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất
kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
Đã ký
Lê Hoài Đức
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY LỊCH SỬ
MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN VĂN HÓA DU LỊCH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 9
1.1 Cơ Sở Lý Luận về Phương pháp và Phương pháp dạy học 9
1.1.1.Khái niệm Phương pháp 9
1.1.2 Phương pháp dạy học 10
1.2 Môn học Lịch sử mĩ thuật Việt Nam 11
1.2.1 Nội dung của môn học 11
1.2.2 Mục tiêu, ý nghĩa của môn học 12
1.3 Du lịch văn hóa 13
1.3.1 Khái niệm về Du lịch Văn hóa 13
1.3.2 Vai trò của môn học LSMTVN với các hoạt động du lịch văn hóa 14
1.4 Vài nét về trường Đại học Hải Phòng và ngành Việt Nam học 15
1.4.1 Trường Đại học Hải Phòng 15
1.4.2 Khoa Du lịch 16
1.4.3 Ngành Việt Nam học 17
1.4.4 Chuyên ngành Văn hóa du lịch 18
1.5 Thực tế giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên
Văn hóa Du lịch 20
1.5.1 Đặc điểm của sinh viên và đội ngũ giảng viên 20
1.5.2 Chương trình giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam 24
1.5.3 Phương thức kiểm tra đánh giá 29
1.6 Những bất cập trong việc giảng dạy Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên Văn hóa Du lịch 32
1.6.1 Về nội dung chương trình 32
Trang 6Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN VĂN HÓA
DU LỊCH 38
2.1 Tiêu chí và cách thức nâng cao chất lượng 38
2.1.1 Tiêu chí nâng cao chất lượng 38
2.1.2 Cách thức nâng cao chất lượng 39
2.2 Điều chỉnh phương pháp giảng dạy 43
2.2.1 Đối với phương pháp thuyết trình 44
2.2.2 Đối với phương pháp giảng dạy trực quan 45
2.2.3 Đối với phương pháp thảo luận 47
2.2.4 Điều chỉnh những vấn đề trong kiểm tra đánh giá 48
2.3 Thực nghiệm sư phạm 50
2.3.1 Mục tiêu và tiêu chí thực nghiệm 50
2.3.2 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 50
2.3.3 Kết quả thực nghiệm 54
Tiểu kết chương 2 57
KẾTLUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 66
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhiều năm gần đây, du lịch được coi là ngành công nghiệp thần kỳ đối với những quốc gia có nguồn tài nguyên hạn chế và nền công nghiệp chưa đủ mạnh Còn với các nước đang phát triển thì du lịch lại là một tác nhân phát triển sống còn và là một lựa chọn kinh tế lý tưởng để phát triển đất nước Trên thực tế ta đã thấy du lịch là một trong những nguồn thu chính của một số quốc gia như Singapo, Thái Lan…
Từ nhiều thập kỷ nay, du lịch - trong đó có du lịch văn hóa, đã trở thành một hoạt động phát triển mạnh mẽ Nhu cầu của du khách đối với việc hiểu biết và trải nghiệm những nét riêng trong nền văn hóa truyền thống của các quốc gia hoặc các vùng miền đã dẫn tới việc khai thác các loại hình nghệ thuật cổ truyền mang bản sắc dân tộc như một sản phẩm du lịch, nhằm thu hút du khách và đem lại lợi ích về nhiều mặt cho đất nước Đây là một xu thế toàn cầu đã và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới
và Việt Nam không nằm ngoài quỹ đạo đó
Một trong những loại hình của mĩ thuật đã và đang được đưa vào khai thác trong thị trường du lịch Việt Nam chính là di sản của nghệ thuật tạo hình Đối với mỗi du khách tham gia loại hình du lịch nhân văn, ngoài nhu cầu thưởng thức những di sản nghệ thuật như một loại hình nghệ thuật giải trí thuần túy, họ còn muốn tìm hiểu về giá trị văn hóa, nghệ thuật chứa đựng trong những di sản nghệ thuật đó Vì vậy, việc tạo điều kiện cho du khách có được sự trải nghiệm như hòa mình vào những công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, những tác phẩm hội họa, điêu khắc, tự mình in ra những bức tranh dân gian tại làng tranh Đông Hồ, làng Sình… là một trong những điểm nhấn tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước
Nằm trong những đối tượng có vai trò quan trọng, giúp cho du khách
dễ dàng tiếp cận với các loại hình nghệ thuật như vừa nói ở trên chính là
Trang 8những người làm công tác du lịch, đặc biệt là các hướng dẫn viên (HDV)
Để có được những hiểu biết cũng như kỹ năng thực hành tối thiểu theo yêu cầu của ngành về mỗi loại hình của mĩ thuật cổ truyền, các HDV phải được trang bị kiến thức ngay từ trong môi trường đào tạo Nếu có được đội ngũ những người làm công tác văn hóa du lịch có kiến thức tốt về lĩnh vực này thì lợi ích mà họ có thể mang lại sẽ là rất lớn Đó không chỉ là lợi nhuận kinh tế mà còn là việc gìn giữ, quảng bá những di sản cũng như bản sắc văn hóa của dân tộc
Trước tình hình nói trên, việc đào tạo những sinh viên có kiến thức,
kỹ năng để có thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của ngành du lịch trở thành nhiệm vụ quan trọng của nhiều trường đại học trong cả nước, trong đó
có Trường Đại học Hải Phòng (ĐHHP) Đây là một trong những trường đại học có mô hình đào tạo sinh viên chuyên ngành Văn hóa du lịch (VHDL) từ năm 2005 (khóa 6) Cho tới mùa tuyển sinh năm 2015, nhà trường đã tiếp nhận khóa sinh viên thứ 11
Được sự đồng ý của hội đồng khoa học nhà trường, từ khóa 6 (2005 - 2009) khoa Khoa học xã hội (KHXH) đã đưa môn học Lịch sử mĩ thuật Việt Nam vào khung chương trình đào tạo cho sinh viên chuyên ngành VHDL
Về cơ bản, chương trình được thực hiện theo giáo trình Lịch sử mĩ thuật Việt Nam của tác giả Phạm Thị Chỉnh
Là cán bộ của nhà trường, nhiều năm làm công tác quản lý sinh viên trong đó có chuyên ngành VHDL của trường ĐHHP, người viết nhận thấy trong nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy nhiều năm qua còn
có những hạn chế nhất định Chính vì thế hầu hết sinh viên đều cho rằng lượng kiến thức trong chương trình quá lớn, trong khi nhiều mảng kiến thức thực sự cần thiết cho công việc của họ sau khi ra trường lại ít được đề cập tới Bởi vậy, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp, khi có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về nghệ thuật tạo hình Việt Nam tại các điểm dẫn tour để
Trang 9phục vụ cho công việc (như đưa khách tham quan tại Bảo tàng mĩ thuật, chùa Tây Phương….), lại liên hệ với các giảng viên để xin được tư vấn
Xuất phát từ những đặc điểm thực tiễn nói trên, người viết đã quyết
định lựa chọn đề tài: Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử mĩ
thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa du lịch ở trường Đại học Hải Phòng để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và
phương pháp dạy học bộ môn Mĩ thuật
2 Lịch sử nghiên cứu
Cho tới nay đã có khá nhiều bài viết, công trình, giáo trình nghiên cứu về lịch sử mĩ thuật Việt Nam cũng như nghiên cứu nhằm tìm ra biện pháp hiệu quả để áp dụng vào quá trình giảng dạy ở trường học từ bậc Trung học đến Cao đẳng và Đại học Có thể điểm ra sau đây một số tư liệu thuộc hai dạng vừa nêu như sau:
- Lê Bá Dũng - Đại cương mỹ thuật, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội (2009)
Tác giả giáo trình này tập trung phân tích những vấn đề cơ bản như Lý luận chung về các loại hình nghệ thuật và Mĩ thuật, Kiến trúc và điêu khắc, Hội họa, Đồ họa và Mĩ thuật ứng dụng Đây là một công trình đầy đủ và chi tiết về các loại hình của Mĩ thuật, dùng để giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa
- Nguyễn Quốc Toản (chủ biên), Hoàng Kim Tiến, Giáo trình phương pháp dạy học mĩ thuật, Nxb Đại học sư phạm (2010)
Giáo trình này đi sâu phân tích các phương pháp dạy học mĩ thuật như trực quan, gợi mở, vấn đáp, luyện tập, làm việc nhóm… Là giáo trình đầy
đủ và chi tiết về các phương pháp giảng dạy bộ môn mĩ thuật cho giáo viên THCS
- Nguyễn Thu Tuấn, Giáo trình phương pháp dạy học mĩ thuật, Nxb
Đại học sư phạm (2011)
Trang 10Tác giả đề cập đến các phương pháp giảng dạy ứng với các phân môn được dạy trong chương trình học mĩ thuật của học sinh THCS như vẽ theo mẫu, Vẽ ký họa, vẽ trang trí, thưởng thức mĩ thuật
- Phạm Thị Chỉnh, Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm
Hà Nội (2009)
Tác giả liệt kê tiến trình của lịch sử mĩ thuật Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thời kỳ dựng nước Đặc điểm chung của mĩ thuật Việt Nam các giai đoạn Lý, Trần, Lê, Nguyễn, trước và sau Cách mạng tháng Tám Đây
là giáo trình chi tiết nhất về lịch sử mĩ thuật Việt Nam được dùng để đào tạo hướng dẫn giáo viên THCS
- Nguyễn Văn Cương, Mỹ thuật đình làng đồng bằng bắc bộ, Nxb
Văn hóa thông tin (2006)
Công trình đi sâu phân tích về nghệ thuật đình làng như: đình làng và văn hóa làng đồng bằng bắc bộ, điêu khắc, kiến trúc, tranh vẽ ở đình làng, ý nghĩa biểu tượng của những mô típ trang trí được sử dụng trong điêu khắc đình làng Công trình này phù hợp với sinh viên nghiên cứu chuyên sâu về
Mĩ thuật đình làng
- Trịnh Quang Vũ , Lược sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb Mĩ thuật (2009)
Tác giả đề cập đến lịch sử mĩ thuật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử như
Mĩ thuật thời cổ đại, Lý - Trần, Lê sơ - Mạc, Lê - Trịnh, Nguyễn và Mĩ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 Bên cạnh nội dung về diễn trình lịch sử mĩ thuật Việt Nam tác giả còn có những khảo cứu chuyên biệt về nghệ thuật lăng mộ các triều đại, hội họa sắc phong, trang trí thuyền, đồ sơn cung đình Việt Nam, kiến trúc và điêu khắc trong các đền thờ, chùa cổ
- Nguyễn Phi Hoanh (1970), Lược sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb Mĩ
thuật (1977)
Ở công trình này tác giả cũng đi sâu phân tích đặc điểm nghệ thuật của từng thời kỳ lịch sử Việt Nam từ thời kỳ Nguyên thủy đến cuối thế
kỷ XX
Trang 11- Trần Lâm Biền, Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Mĩ thuật (2011)
Tác giả phân tích lịch sử hình thành, ý nghĩa của những hình tượng được sử dụng trong nghệ thuật điêu khắc, trang trí ở những di tích cổ của người Việt
- Nguyễn Đức Nùng (chủ biên) Mỹ thuật thời Lý Nxb Văn hóa Hà
Nội (1973)
Nội dung đề cập đến nghệ thật kiến trúc, điêu khắc, hội họa thời Lý,
phân tích một số tác phẩm, công trình còn lại của giai đoạn nghệ thuật này
- Nguyễn Đức Nùng (chủ biên) Mỹ thuật thời Trần Nxb Văn hóa Hà
phân tích về đặc điểm của nghệ thuật tạo hình thời Lê sơ
Những tài liệu trên các tác giả đã đề cập rất chi tiết đến các vấn đề về Lịch sử mĩ thuật Việt Nam (Nguyễn Phi Hoanh, Phạm Thị Chỉnh, Trịnh Quang Vũ, Nguyễn Đức Nùng), di sản mĩ thuật Việt Nam (Nguyễn Văn Cương, Trần Lâm Biền ) và những phương pháp học tập, giảng dạy bộ môn mĩ thuật (Nguyễn Quốc Toản, Nguyễn Thu Tuấn)… đây là những tư liệu rất quan trọng để sinh viên VHDL có thể tra cứu, làm TLTK trong quá trình học tập Tuy nhiên, cho tới thời điểm thực hiện luận văn này, chúng tôi chưa thấy một bài viết hay một công trình nghiên cứu nào đề cập đến
Trang 12vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm ra những giải pháp thích hợp để điều chỉnh chương trình và phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả đào tạo môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch ở trường Đại học Hải Phòng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên của luận văn , nhiệm vụ trước hết là phải tìm ra những điểm hạn chế trong việc giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành VHDL ở trường ĐHHP Trên cơ sở
đó tác giả luận văn đề xuất một số phương hướng giải quyết những vấn đề còn tồn đọng liên quan đến việc giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành VHDL ở trường ĐHHP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến việc giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam (LSMTVN) cho sinh viên chuyên ngành VHDL tại trường ĐHHP trong thời gian qua Đó là: giáo trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, những hình thức kiểm tra đánh giá Ngoài đặc điểm của sinh viên liên quan đến việc tiếp thu kiến thức Lịch sử mĩ thuật Việt Nam như năng lực, tâm lý, chương trình đào tạo chuyên ngành VHDL, cũng là đối tượng cần được quan tâm nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này người viết chỉ tiến hành nghiên cứu việc giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành VHDL ở
Trang 13trường ĐHHP từ khóa 11 (năm học 2011-2012) đến khóa 16 (năm học 2016-2017)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh - đối chiếu tài liệu: Xuyên suốt trong tất các các phần của luận văn, tác giả luôn sử dụng phương pháp tiếp cận văn bản, phân tích dữ liệu văn bản Đối chiếu các tài liệu để thống kê các vấn đề liên quan đến luận văn
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn, phóng vấn sinh viên: Để
có những đánh giá khách quan, tác giả đã sử dụng các phương pháp như điều tra, quan sát thực tiễn, phóng vấn sinh viên Dựa vào những điều tra qua thực tế, bảng hỏi, phỏng vấn các giảng viên đang giảng dạy và sinh viên đang học cũng như sinh viên đã tốt nghiệp để có những số liệu và thông tin gắn với thực tế
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Quan phương pháp thực nghiệm sư phạm tác giả đã kiểm chứng, đánh giá lại những giải pháp được nêu nên trong luận văn có phù hợp để ứng dụng trong việc giảng dạy bộ môn Những số liệu, kết quả của thực nghiệm sư phạm sẽ quyết định tính khả thi của luận văn
6 Những đóng góp của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu sâu về cách thức nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch ở trường Đại học Hải Phòng Qua đó, tác giả luận văn mong muốn đưa ra được một số giải pháp phù hợp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này Hy vọng rằng những đề xuất đưa ra trong luận văn sẽ được Ban
Trang 14lãnh đạo trường Đại học Hải Phòng quan tâm, đồng thời cũng là một tài liệu tham khảo cho các trường có đào tạo sinh viên Văn hóa Du lịch
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy Lịch sử mĩ thuật
Việt Nam cho sinh viên văn hóa du lịch ở trường Đại học Hải Phòng
Chương 2: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử mĩ thuật
Việt Nam cho sinh viên ngành Văn hóa Du lịch ở trường Đại học Hải Phòng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY LỊCH SỬ
MĨ THUẬT VIỆT NAM CHO SINH VIÊN VĂN HÓA DU LỊCH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÕNG 1.1 Cơ Sở Lý Luận về Phương pháp và Phương pháp dạy học
1.1.1.Khái niệm Phương pháp
Phương pháp là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình hoạt động Khi đã xác định được mục đích và nội dung hoạt động thì phương pháp hoạt động có vai trò quyết định chất lượng hoạt động Đêcactơ R (1596-1650), một đại biểu của triết học Pháp thế kỉ XVII đã nói “ Không
có phương pháp người tài cũng mắc lỗi, có phương pháp người bình thường cũng có thể làm được những công việc phi thường” [60, tr.15]
Trong triết học có hai hướng tiếp cận vấn đề phương pháp nói chung: Tiếp cận của Heghen (1770-1831): Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật Theo quan điểm của Heghen, mỗi sự vật đều có bản chất (nội dung) của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định Hình thức vận động và nội dung của mỗi sự vật luôn luôn tồn tại gắn kết với nhau, không tách rời nhau Do đó, mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng Vận dụng cách tiếp cận này vào quá trình dạy học cho thấy mỗi nội dung dạy học có một phương pháp dạy học đặc thù, mang lại hiệu quả nhất mà không phương pháp dạy học nào thay thế được Vì thế không nên nói một cách trừu tượng rằng phương pháp này tốt, phương pháp kia không tốt mà phải xác định với nội dung này thì phương pháp phù hợp với nó là gì? Hệ quả từ cách tiếp cận của Heeghen: Muốn xác định và sử dụng được phương pháp dạy học tối ưu trước hết phải trả lời câu hỏi dạy cái gì? Sau
đó mới đến câu hỏi dạy như thế nào Phương pháp dạy học phải phù hợp với nội dung dạy học, sự thay đổi của nội dung dẫn đến sự thay đổi phương pháp dạy học [58, tr.20]
Trang 16Hướng tiếp cận của CacMac (1818-1883): Phương pháp là cách thức, là phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định Theo quan điểm này, phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung sự vật Ví dụ cùng là việc sản xuất ra hạt lúa nhưng nếu bằng phương pháp đào lỗ hoặc cày đất bằng tay với sức kéo của con trâu khác với việc sản xuất bằng máy cày với sức kéo của máy Cái tạo ra khác biệt về trình độ và hiệu quả của việc làm ra hạt thóc là phương pháp
và phương tiện thực hiện Hệ quả từ cách tiếp cận của Mác: Có nhiều phương pháp triển khai một nội dung dạy học, trong đó có một phương pháp tốt nhất Vì thế, muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học phải trả lời được câu hỏi: Phương pháp, phương tiện dạy học nào là tối ưu nhất để chuyển tải nội dung dạy học đến cho người học? [9, tr.25]
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì “phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” [61, tr.723]
1.1.2 Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
"Methodos", có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích Theo Heghen (dưới góc độ triết học) “phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung” Định nghĩa này chứa đựng nội hàm sâu sắc Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Phương pháp gắn bó chặt chẽ với lý luận, có những phương pháp riêng cho từng lĩnh vực khoa học [58, tr.5]
Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên và cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, trong quan
hệ đó, phương pháp dạy quyết định, điều khiển phương pháp học, phương pháp học tập của học sinh là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy Tuy
Trang 17nhiên, kết quả học tập được quyết định trực tiếp bởi phương pháp học tập của học sinh
Như vậy, phương pháp dạy học là sự kết hợp hữu cơ, biện chứng giữa phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh, phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học
1.2 Môn học Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
1.2.1 Nội dung của môn học
Nội dung môn học LSMTVN bao gồm các mảng kiến thức cơ bản sau đây: Tổng quát về môn học LSMTVN, giới thiệu cho sinh viên khái niệm mĩ thuật, nội dung cơ bản của nền mĩ thuật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử: nghệ thuật sơ khai thời nguyên thủy đến nghệ thuật trang trí trên đá
và gốm thời tiền sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật trang trí trên các chất liệu đá, đồng, gỗ, gốm… từ thời sơ sử đến các giai đoạn lịch
sử và vài nét về mĩ thuật Việt Nam thời cận - hiện đại
Giới thiệu cho sinh viên một số công trình kiến trúc tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử, các tác phẩm hội họa, đồ họa và điêu khắc có niên đại từ sớm đến muộn, hiện được lưu giữ tại các bảo tàng và các di tích lịch sử văn hóa như đình, chùa, lăng miếu, bảo tàng… Sau khi học xong môn này sinh viên sẽ nắm được quá trình hình thành và phát triển của mĩ thuật Việt Nam
từ thời nguyên thủy đến hiện đại, cách phân kì lịch sử mĩ thuật và các đặc điểm cơ bản của mĩ thuật Việt Nam qua từng thời kì lịch sử và có thể phân tích được một số yếu tố tạo hình của tác phẩm, tuy không chuyên sâu bằng
Trang 18sinh viên chuyên ngành mĩ thuật nhưng sinh viên VHDL cũng nắm vững được những giá trị cơ bản của tác phẩm
Hiểu được giá trị nghệ thuật của di sản văn hóa vật thể truyền thống của dân tộc Việt Nam, vận dụng kiến thức về đặc điểm nghệ thuật qua từng thời kì lịch sử để định được niên đại cho các di tích, di vật văn hóa nghệ thuật Có kĩ năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm trong việc nghiên cứu, phân tích và nhận diện các di tích, di vật thuộc giai đoạn lịch sử khác nhau dựa trên nghệ thuật tạo hình và trang trí
Rèn luyện kĩ năng trình bày, thuyết trình một số vấn đề lý luận về mĩ thuật cổ, nâng cao khả năng quan sát, phân tích và khảo tả các di sản văn hóa vật thể do cha ông để lại, có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học
để nghiên cứu, đánh giá được giá trị của di sản văn hóa vật thể truyền thống dân tộc
1.2.2 Mục tiêu, ý nghĩa của môn học
Mục tiêu mà môn học LSMTVN hướng tới là trang bị cho sinh viên một kiến thức khái quát về Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, giúp các em cảm thụ, hiểu và phân tích được những nét hay, nét đẹp của một số tác phẩm mĩ thuật Việt Nam tiêu biểu Sinh viên phải nắm vững các giai đoạn phát triển của nền mỹ thuật dân tộc: có hiểu biết đầy đủ, chính xác những thành tựu sáng tạo mỹ thuật của từng giai đoạn lịch sử; nắm vững niên đại, đặc trưng của từng giai đoạn mỹ thuật, các hiện vật, tác phẩm, công trình, lịch sử các
di tích mỹ thuật; nắm vững đặc điểm về phong cách, về phẩm chất tạo hình,
về trang trí, về những biểu hiện các bản sắc của mỹ thuật Việt Nam
Đồng thời môn học còn khẳng định những đặc điểm của một nền mĩ thuật dân tộc Nền mĩ thuật đó có chịu ảnh hưởng của một số nền văn hóa xung quanh ở một vài nội dung và trong những thời kì nhất định, nhưng phong cách sáng tạo hoàn toàn mang đặc điểm, tinh thần, tư tưởng và quan niệm tạo hình của người Việt Nam Do đó, những tác phẩm mĩ thuật Việt
Trang 19Nam từ ngàn xưa đến nay đã phản ánh được cuộc sống, sinh hoạt con người và cảnh vật quê hương đất nước, với một phong cách Việt Nam mang đậm đà bản sắc dân tộc
1.3 Du lịch văn hóa
1.3.1 Khái niệm về Du lịch Văn hóa
Nhiều năm gần đây, thị trường du lịch của Việt Nam trở nên rất sôi động với nhiều loại hình du lịch mới Đến với nơi đây du khách sẽ được làm quen với nhiều hình thức du lịch với những tên gọi khá mới mẻ, ví dụ như: Tham quan, Giải trí, Nghỉ dưỡng, Khám phá, Thể thao, Tâm linh, Lễ hội, Sắc tộc…đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách trong và ngoài nước Một trong những loại hình du lịch phổ biến, có quan hệ mật thiết tới các di sản văn hóa trong đó có di sản MTVN đó chính là du lịch văn hóa
Theo định nghĩa của Luật du lịch (năm 2005): “du lịch văn hóa là
hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [30, tr.4]
Còn trong tài liệu Nhập môn khoa học du lịch, du lịch văn hóa
được định nghĩa là “hình thức du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn” [42, tr.63]
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [30, tr.8]
Trong xã hội đương đại, với sự phát triển đa dạng về kỹ thuật, kinh tế, văn hóa xã hội… nhu cầu của con người cũng phát triển đa dạng hơn Người ta đi du lịch không chỉ với mục đích nghỉ dưỡng, nâng cao thể chất đơn thuần mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu giao lưu, khám phá
Trang 20thế giới Qua đó chúng ta có thể thấy du lịch văn hóa là một loại hình du lịch hữu hiệu nhất, giúp cho du khách có được sự trải nghiệm và hiểu sâu hơn về những nền văn hóa khác nhau, tạo lên điều kiện và cơ hội cho con người xích lại gần nhau hơn
1.3.2 Vai trò của môn học LSMTVN với các hoạt động du lịch văn hóa
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một
bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa
là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc,
cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông
để lại.”
Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành bốn loại hình cơ bản là
di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh Trong đó liên quan đến lịch sử mĩ thuật Việt Nam là hệ thống
di tích kiến trúc - nghệ thuật
Di tích kiến trúc - nghệ thuật (như chùa Tây Phương, chùa Keo, chùa Thầy, đình Tây Đằng…) chứa đựng những giá trị to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích kiến trúc - nghệ thuật còn
Trang 21mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và
bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ (chạm khắc chùa Thái Lạc, đình Bảng…), ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ như tượng chùa Dâu, chùa Tây Phương, chùa Mía… ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự như hương án chùa Keo, chùa Thầy, bát bảo đền vua Đinh, vua Lê…
1.4 Vài nét về trường Đại học Hải Phòng và ngành Việt Nam học
1.4.1 Trường Đại học Hải Phòng
Trường ĐHHP được thành lập vào ngày 9 tháng 4 năm 2004, trên
cơ sở phát triển từ trường Đại học Sư phạm Hải Phòng (ĐHSPHP) Đây là một trong những trung tâm đào tạo đại học đa lĩnh vực, đa ngành, là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc gia và khu vực, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng, các tỉnh duyên hải Bắc Bộ và cả nước
Mục tiêu của trường phấn đấu đến năm 2020 là trở thành Trung tâm giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vững mạnh của khu vực đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ Để đáp ứng yêu cầu đào tạo mới, trong thời gian vừa qua, nhà trường đã kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự và nâng cao chất lượng đào tạo bắt đầu từ việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, cũng như nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết
bị dạy học Bên cạnh đó, nhà trường đã có chủ trương nâng cao chất lượng đào tạo các khoa, ngành truyền thống, kịp thời bổ sung những khoa, ngành, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong tình hình mới
Trang 22Trong giai đoạn đầu phát triển đa ngành, Trường Đại học Hải Phòng đã thực hiện được những khâu quan trọng để đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội, đào tạo theo địa chỉ là hợp tác với các địa phương, doanh nghiệp và các cơ sở sử dụng lao động trong vùng tuyển sinh, tăng cường khảo sát, điều tra, xác định nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội để mở các ngành nghề đào tạo cho phù hợp Trong đó nhà trường đã chú ý phát triển đào tạo các ngành kinh tế - kĩ thuật, công nghệ và du lịch Với mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo, nhà trường đã chủ động phối hợp với các doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất lượng, đảm bảo việc cung cấp cho
xã hội nguồn nhân lực có chất lượng tốt
Cho đến nay, trường Đại học Hải Phòng đã có 15 khoa - viện, phụ trách đào tạo 56 ngành học, 5 trung tâm đào tạo, 15 phòng ban và 3 trường thực hành Với sự tổ chức chặt chẽ, nhà trường ngày càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của các khoa
1.4.2 Khoa Du lịch
Khoa Khoa học xã hội (KHXH) là sự tiếp nối của các cơ sở đào tạo giáo viên, các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, trong hơn nửa thế kỉ qua của thành phố Hải Phòng Từ năm 1987 - 1999, khoa đã gắn liền với những năm tháng xây dựng và phát triển nhanh chóng cả về chất lượng đào tạo và đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng
Từ năm 2000 trở lại đây, khoa có nhiệm vụ đào tạo giáo viên các ngành Lịch sử, Địa lý, Mỹ thuật và Âm nhạc với các ban đào tạo: Địa lý, Sử - Giáo dục công dân, Sử - Đoàn đội, Âm nhạc, Lịch sử, Mỹ thuật
Từ năm 2005, được sự đồng ý của ban lãnh đạo nhà trường, khoa KHXH phát triển thêm một bộ môn mới, đó là tổ Văn hóa, phụ trách đào tạo ngành đại học Việt Nam học chuyên ngành Văn hóa du lịch
Tháng 10 năm 2014, tổ bộ môn Văn hóa được tách ra thành một
đơn vị độc lập, đó là khoa Du lịch Nhiệm vụ đào tạo chính của khoa là
giảng dạy các chuyên ngành trong ngành Việt Nam học
Trang 231.4.3 Ngành Việt Nam học
Mục tiêu giảng dạy của ngành Việt Nam học là trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hệ thống, hiện đại và thiết thực về Việt Nam học (và cả về tiếng Việt trong trường hợp sinh viên là người nước ngoài), giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng đi sâu nghiên cứu và giảng dạy về Việt Nam học; hoặc trở thành hướng dẫn viên cho ngành Du lịch; hoặc để làm việc trong các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện, văn phòng thương mại, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở trong và ngoài nước Việt Nam Chương trình cũng nhằm bồi dưỡng
và nâng cao trình độ tiếng Việt và hiểu biết về đất nước Việt Nam cho những người gốc Việt ở nước ngoài
Cùng với chuyên ngành Văn hóa du lịch, cho tới mùa tuyển sinh năm học 2015 - 2016, khoa Du lịch của trường ĐHHP đã hoàn thành thủ tục mở
mã ngành mới, đó là hệ đào tạo cử nhân đại học các chuyên ngành Quản trị
du lịch; Hướng dẫn du lịch; Quản trị nhà hàng và Kỹ thuật nấu ăn
Năm học 2014 - 2015, khoa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, luôn vượt định mức giảng dạy với chất lượng bài giảng tốt Ngoài sinh viên trong hệ đào tạo chính quy của nhà trường, khoa còn tham gia giảng dạy cho sinh viên các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Lào tại nhà trường
Gắn lí thuyết với thực hành, nhà trường hợp tác với xã hội trong đào tạo và kiểm soát chất lượng, khoa đã thực hiện 100% các bài giảng thực tế, thực địa, thực hành có trong chương trình đạt kết quả tốt Để tăng cường rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên, khoa và liên chi đoàn trong khoa đã tổ chức câu lạc bộ (CLB) nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch hoạt động thường xuyên với kết quả rất tốt
Câu lạc bộ Văn hóa du lịch, được thành lập vào dịp 20 tháng 11 năm
2006 khi còn trực thuộc khoa KHXH, với thành phần chủ chốt là các giảng
Trang 24viên thuộc chi đoàn giáo viên trong ban chủ nhiệm câu lạc bộ Sinh viên tham gia theo các chi hội, mỗi lớp là một chi hội Ngoài ra, các giảng viên khác trong khoa cũng thường xuyên tham dự với vai trò thành viên của các hội đồng cố vấn chuyên môn Mục tiêu và những phương hướng hoạt động của (CLB) đều có sự kiểm soát chặt chẽ của ban chủ nghiệm khoa theo kế hoạch từng học kì, tập trung vào một số hoạt động thiết thực như sau:
Tổ chức một số lớp học nghiệp vụ cho hội viên các chi hội với những nội dung: Lễ tân ngoại giao, hướng dẫn; hoạt náo viên, khách sạn Ngoài ra CLB còn tổ chức rèn luyện cho các hội viên những kĩ năng như: kể truyện cười, thuyết trình trước đám đông, trình chiếu về di sản của Việt Nam, thuyết trình bằng powerpoint, cách khai thác internet hiệu quả, làm việc nhóm, cắm hoa, trang điểm, hát dân ca và đặc biệt là kỹ năng xử lí các tình huống nghiệp vụ
Hàng năm, vào các mùa du lịch (xuân - hạ), để đáp ứng với việc gia tăng đột biến của du khách đến với thành phố Hải Phòng, CLB đã lựa chọn những sinh viên xuất sắc giới thiệu với các công ty du lịch trong địa phận thành phố để họ có cơ hội rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trong thực tế
1.4.4 Chuyên ngành Văn hóa du lịch
Là chuyên ngành chính, ra đời cùng với ngành Việt Nam học, mục tiêu đào tạo của chuyên ngành Văn hóa du lịch là: Đào tạo những cử nhân cho ngành du lịch có hiểu biết về lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới; các địa danh du lịch, các di sản văn hóa du lịch và kiến thức chuyên môn về quản lí nhà hàng, khách sạn
Với phương châm đào tạo “Học để trở thành sứ giả văn hóa dân tộc”, học đi đôi với hành, sinh viên chuyên ngành văn hóa du lịch sẽ được tham gia các hoạt động ngoại khóa và tham gia thực tế tại các khách sạn, các khu
du lịch điển hình, các khu di tích lịch sử, văn hóa, khu du lịch sinh thái và các điểm tham quan hấp dẫn du khách, các nhà hàng đạt tiêu chuẩn, đồng
Trang 25thời sinh viên còn được tham gia nghiên cứu khoa học về các di sản văn hóa Việt Nam và thế giới
Sinh viên chuyên ngành văn hóa du lịch được ưu tiên thời gian cho Chương trình Anh ngữ thực hành, để đảm bảo cho các bạn khi ra trường có thể giao tiếp được với người nước ngoài bằng tiếng Anh
Yêu cầu của ngành đối với sinh viên sau khi ra trường là:
Có khả năng xây dựng, tổ chức, điều hành tốt, hiệu quả các chương
trình du lịch (tour); có khả năng xây dựng những bài thuyết minh có cấu
trúc hợp lý, khoa học, chứa đựng nội dung thông tin phong phú, đặc sắc… tương ứng với từng tuyến, điểm du lịch cụ thể và tiến hành hướng dẫn du lịch tại các tuyến, điểm tham quan du lịch đó, hoàn thành tốt vai trò nhiệm
vụ của người hướng dẫn du lịch suốt tuyến
Có trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ bậc đại học; có phẩm chất chính trị, đạo đức và sức khoẻ tốt; có kiến thức cơ bản, hệ thống, hiện đại và thiết thực với chuyên môn nghiệp vụ của thực tế đặt ra Có nhận thức đúng về nghề nghiệp, yêu ngành, yêu nghề, gắn bó với nghề nghiệp đã chọn
Có kiến thức chuyên môn vững vàng để có thể hoàn thành tốt nhiệm
vụ ở các vị trí khác nhau trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, trong các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng hay cơ sở lưu trú khác
Có khả năng sáng tạo, xây dựng các chương trình, dự án phát triển
du lịch, hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội có liên quan ở địa phương Tổ chức khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương để kinh doanh
du lịch đạt hiệu quả tối ưu
Có kiến thức và kỹ năng tổ chức điều hành, hoàn thành tốt tất cả những công đoạn trong một chu trình kinh doanh du lịch lữ hành đạt hiệu quả kinh tế - văn hóa - xã hội cao
Trang 26Trên đây chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản nhất về đặc điểm của nhà trường cho tới mục tiêu đào tạo của chuyên ngành VHDL tại trường ĐHHP
1.5 Thực tế giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên Văn hóa Du lịch
1.5.1 Đặc điểm của sinh viên và đội ngũ giảng viên
1.5.1.1 Đặc điểm sinh viên
Cho đến nay, phạm vi tuyển sinh của trường ĐHHP vẫn là các tỉnh phía Bắc và bắc Trung bộ, nhưng thực tế sinh viên đã và đang học tập tại trường trong một số năm gần đây, chủ yếu là có hộ khẩu tại Hải Phòng và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh và Nam Định Cá biệt cũng có những sinh viên đến từ Hà Tĩnh, Nghệ An hoặc Thanh Hóa… Đây là những địa phương có sự hình thành đô thị khá sớm, địa hình bằng phẳng, cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thuận lợi cho sự phát triển về kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và du lịch ở vùng đồng bằng và ven biển Bắc bộ
Đây là một phần của vùng văn hóa Bắc Bộ với bề dày lịch sử, cũng như mật độ dày đặc của các di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật Bao thế hệ dân nơi đây đã được sinh ra và lớn lên trong không gian văn hóa của những ngôi đình làng cổ kính Hình ảnh của những pho tượng Phật cổ cùng các bức tranh dân gian đã là một phần trong kí ức của họ Tuy rằng những sinh viên hiện nay là lớp người mới, nhưng ít nhiều các em vẫn cảm nhận được không gian văn hóa đó qua những câu truyện của ông bà, cha mẹ hoặc những di sản vật thể còn hiện hữu trên quê hương Trước mắt, đây chính là những điều kiện thuận lợi về mặt nhận thức và động cơ quan trọng cho các
em học tập Bảo tồn hay phát triển những vốn văn hóa đó trong tương lai sẽ không chỉ là nhiệm vụ trong công tác, mà còn là nghĩa vụ, trọng trách đối với quê hương
Trang 27Điều kiện dự tuyển về mặt kiến thức là: Học sinh đã tốt nghiệp phổ thông, đạt điểm chuẩn theo quy định tuyển sinh của Bộ Giáo dục, Đào tạo
và trường ĐHHP với các môn thi thuộc khối C (Văn, sử, địa) và khối D1 (Toán, Văn, tiếng Anh)
Đối với môn học LSMTVN, sinh viên chuyên ngành VHDL có những thuận lợi trong việc tiếp thu kiến thức về mặt lý thuyết, bởi họ đã được học các môn hỗ trợ như: Dân tộc học, Xã hội học, Phong tục tập quán
và lễ hội, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Đặc trưng văn hóa các dân tộc Mĩ thuật Việt Nam là một thành tố trong văn hóa dân tộc, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng nói chung ít nhiều đều có vai trò của mĩ thuật Vì vậy môn học LSMTVN thực sự là một mảng kiến thức cần thiết, bổ khuyết cho sự hoàn thiện về nhận thức của sinh viên về văn hóa dân tộc Hơn nữa, kiến thức về những hình thức sinh hoạt văn hóa, xã hội có thể giúp cho việc nắm bắt kiến thức MTVN của sinh viên được nhanh chóng và chắc chắn hơn
Tuy nhiên, những yêu cầu về tìm hiểu và cảm thụ mĩ thuật đối với các em lại là một trở ngại lớn Xuất phát từ sự hạn chế về kiến thức mĩ thuật dẫn đến sự nảy sinh tâm lý ngại dẫn khách trong các tour liên quan đến di sản mĩ thuật
Phần lớn các môn học trong chương trình đào tạo chuyên ngành VHDL mang tích chất đào tạo lí thuyết, đặc điểm đó đã sớm tạo cho sinh viên thói quen tư duy nghiên cứu và ý thức làm việc nghiêm túc Do đó việc chấp hành những quy định học tập từ giờ giấc cho tới việc nghe giảng, ghi chép bài học trên lớp, chuẩn bị bài học trước khi lên lớp nói chung rất tốt
Tuy nhiên, cũng có nguyên nhân khác không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến việc giảng dạy và học tập của môn học này, đó chính là ý thức về vai trò của môn học trong khung chương trình đào tạo Do áp lực
về các khối kiến thức chung và sự hạn chế của thời lượng đào tạo, một số môn học, trong đó có LSMTVN được xếp vào các học phần tự chọn trong
Trang 28khối kiến thức chuyên ngành Khái niệm “học phần tự chọn” có mặt tích cực là sinh viên lựa chọn môn học dựa vào sở thích và các điều kiện tự thân khác Những điều kiện đó thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức, và quan trọng là phù hợp với nhu cầu công việc nếu như sinh viên đã có sự định hướng hoặc được tư vấn về công việc sau đào tạo Đó là những động lực và điều kiện rất quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức của sinh viên
Bên cạnh đó, học phần tự chọn cũng tạo ra tâm lí tiêu cực cho sinh viên Theo họ, đây có thể là những học phần không quan trọng, không hoặc
ít có ảnh hưởng đến quá trình học tập hoặc yêu cầu công việc sau khi ra trường Học phần tự chọn là học phần chỉ học cho biết, học cho có, không nhất thiết phải đầu tư quá nhiều thời gian, tâm sức, không nhất thiết phải đạt kết quả cao, nếu dễ thì học, khó thì thôi
Ngoài ra, việc lựa chọn môn học của sinh viên có thể không căn cứ vào vai trò cũng như tính chất của môn học đó đối với ngành đào tạo Có một thực tế, do tâm lý ngại học, nhiều sinh viên không có tư tưởng chọn môn học mà chọn giảng viên Nếu cảm thấy môn học không quá quan trọng, sinh viên sẽ chọn môn học mà giảng viên phụ trách dễ tính Thực tế
đó gây trở ngại khá nhiều đối với việc giảng dạy và ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo của môn học
Trong khung chương trình đào tạo chuyên ngành VHDL của trường ĐHHP có bốn môn thuộc học phần tự chọn, đó là: Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, Âm nhạc cổ truyền, Thể chế chính trị hiện đại và Văn hóa doanh nghiệp du lịch Sinh viên được phép chọn một trong bốn môn học nêu trên Thực tế của 9 năm đào tạo chúng tôi nhận thấy sinh viên chỉ tập trung vào chọn hai trong bốn môn, đó là Lịch sử mĩ thuật Việt Nam và văn hóa doanh nghiệp du lịch Theo thống kê của bốn khóa đào tạo gần đây, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ sinh viên đăng ký học môn LSMTVN không ổn định Ở
Trang 29lớp VHDL khóa 10, số sinh viên đăng ký chiếm 59/100; khóa 11 có 35/100; khóa 12 có 57/100; khóa 13 có 46/100 Tuy nhiên tỉ lệ này không hoàn toàn xác thực, vì để tránh sự chênh lệch về học viên trong các lớp, được sự đồng ý của nhà trường và các em sinh viên, ban chủ nhiệm khoa đã
có sự điểu chỉnh
1.5.1.2 Đội ngũ giảng viên
Phụ trách giảng dạy môn LSMTVN cho sinh viên chuyên ngành VHDL ở trường ĐHHP có 2 giảng viên, trình độ chuyên môn đều đã tốt nghiệp đại học, cao học Một người có năng lực thực hành vẽ minh họa tốt,
đã có nhiều kinh nghiệm giảng dạy bộ môn hình họa, kí họa cho sinh viên ngành Sư phạm mĩ thuật, người còn lại có khả năng thuyết trình tốt, nhiều năm tìm hiểu về lịch sử mĩ thuật cũng như đưa sinh viên đi điền dã tại miền trung Cả hai giảng viên đều đã được tập huấn giảng dạy môn học LSMTVN theo dự án đào tạo giáo viên THCS
Về tâm lí, khi mới được phân công giảng dạy bộ môn LSMTVN cho sinh viên VHDL, các giảng viên đều không có sự định hướng về nhu cầu tiếp cận kiến thức của sinh viên Vì vậy về cơ bản, phương pháp giảng dạy cũng như kiến thức và kỹ năng cần có trong môn học, đều được áp dụng giống như sinh viên ngành Sư phạm mĩ thuật Trong quá trình giảng dạy, trước thực tế về nhu cầu kiến thức cũng như năng lực của sinh viên VHDL, các giảng viên bước đầu có sự điều chỉnh về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, những điều chỉnh đó chưa có hệ thống
và phần lớn vẫn lệ thuộc vào mục tiêu đào tạo của giáo trình dành cho sinh viên Sư phạm mĩ thuật
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản về nhu cầu, điều kiện cũng như năng lực của những đối tượng tham gia quá trình giảng dạy và học tập môn học LSMTVN thuộc chuyên ngành VHDL của trường ĐHHP
Trang 301.5.2 Chương trình giảng dạy môn Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
1.5.2.1 Hệ thống bài học và lịch trình giảng dạy
Đề cương học phần Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên ngành Văn hóa du lịch ở trường đại học Hải Phòng hiện nay được xây dựng dựa
trên giáo trình Lịch sử mĩ thuật Việt Nam của tác giả Phạm Thị Chỉnh [12,
tr.4]
Cấu trúc của giáo trình bao gồm 6 chương Chương 1, giới thiệu về
Mĩ thuật Việt Nam thời nguyên thủy và thời đại dựng nước, chương này gồm có hai bài là LSMTVN thời kỳ nguyên thủy, LSMTVN thời kỳ dựng nước Chương 2, giới thiệu về mĩ thuật Việt Nam thời kỳ phong kiến độc lập dân tộc, trong chương này có 6 bài về LSMTVN từ thời Lý đến thời Nguyễn Chương 3, giới thiệu LSMTVN từ 1885 đến 1945 Trong đó nội dung đề cập đến hoàn cảnh xã hội và sự thành lập Trường Cao Đẳng Mĩ thuật Đông Dương, Sự phát triển của mĩ thuật Việt Nam thời Pháp thuộc Chương 4, LSMTVN từ 1945 đến nay Chương 5, Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của mĩ thuật Việt Nam hiện đại, chương này giới thiệu cho SV về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Diệp Minh Châu Chương 6, Tranh dân gian Việt Nam, đề cập đến hai dòng tranh chính là dòng tranh dân gian Đông Hồ và tranh dân gian Hàng Trống Bên cạnh những nội dung chính như trên thì trong các chương đều
có phần mở đầu, mục tiêu, câu hỏi-bài tập
Lịch trình giảng dạy được phân bố cụ thể trong bảng dưới đây:
Trang 31Bảng 1.1 Lịch trình giảng dạy học phần LSMTVN
Hệ thống bài học Hình thức học tập Thời
lượng
Chương 1 Mĩ thuật Việt Nam thời
nguyên thủy và thời đại dựng nước Học lý thuyết 5 tiết Chương 2 Mĩ thuật thời kỳ phong kiến
Chương 3 Mĩ thuật Việt Nam từ 1885
Chương 4 Mĩ thuật Việt Nam từ 1945
Chương 5 Giới thiệu một số tác giả
tiêu biểu của mĩ thuật Việt Nam hiện
đại
Học lý thuyết 3 tiết
Chương 6 Tranh dân gian Việt Nam Học lý thuyết 3 tiết
1.5.2.2 Phương pháp giảng dạy
Phương pháp quan sát: Khi tiếp xúc với thế giới xung quanh, ta thường dùng mắt để nhìn, để ngắm, để quan sát Tất nhiên ta còn dùng các giác quan khác nữa Nhưng mắt giúp ta nhận thức đối tượng đầy đủ hơn về kích thước to nhỏ, cao thấp, vị trí trước sau, xa gần, về màu sắc, về đậm nhạt…và như vậy nhận thức về đối tượng sẽ phong phú và sâu sắc hơn
Trước tiên ở mức độ nào đó, quan sát cũng là nhìn, là ngắm Song quan sát thường có tính mục đích nhất định, rõ ràng được đặt ra từ trước, chứ không phải là nhìn thoáng qua, thấy bất chợt Quan sát cần có thời gian
để nhìn kĩ, để có nhận xét nào đó về đối tượng chứ không phải chỉ nhìn, chỉ thấy để rồi lãng quên ngay sau đó
Trang 32Phương pháp trực quan: Mĩ thuật là môn học trực quan Đối tượng của mĩ thuật thường là những gì ta có thể nhìn thấy, sờ được - có hình khối,
có đậm nhạt, có màu sắc, ở xung quanh ta, gần gũi và quen thuộc Dạy - học nói chung, dạy - học mĩ thuật nói riêng thường dạy và học bằng trực quan và như vậy bao giờ cũng mang lại hiệu quả cao Riêng với mĩ thuật, tất cả các loại bài bài học đều phải sử dụng đồ dùng dạy học, bao gồm: những gì có thực, như các đồ vật, hoa quả, động vật, cỏ cây, nhà cửa tranh ảnh, hình vẽ trên bảng, biểu bảng, bài vẽ… Còn với môn học LSMTVN thì gồm có những tác phẩm mĩ thuật (hội hoa, đồ họa, điêu khắc,
trang trí….)
Dạy - học mĩ thuật thường dạy và học trên đồ dùng dạy học Do vậy
đồ dùng dạy học ở mĩ thuật là nội dung, là kiến thức của bài học Đồ dùng dạy học còn phản ánh mức độ kiến thức của bài học, trình độ của người dạy Cho nên chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học xem như giáo viên đã nắm được nội dung bài và phương pháp dạy - học Và quá trình lên lớp chỉ là trình bày, diễn giải theo đồ dùng dạy học đã chuẩn bị
Nói đến phương pháp trực quan tức là đề cập tới cách dạy sao cho người học thấy ngay, thấy một cách rõ ràng, cụ thể và hiểu nhanh, nhớ lâu, đồng thời có hứng thú học tập Dạy - học bằng trực quan sẽ làm cho những khái niệm trừu tượng, như cân đối, hài hòa hay những gì ẩn chứa trong bố cục, đường nét, màu sắc, của đối tượng được thể hiện một cách rõ ràng
Phương pháp vấn đáp: Theo cách hiểu thông thường thì vấn là hỏi,
đáp là trả lời - hỏi và trả lời Khi dạy học người dạy thường nêu lên các câu hỏi cho người học suy nghĩ và trả lời về nội dung bài học Các câu hỏi đều được người dạy chuẩn bị trước Có câu hỏi đơn lẻ về một nội dung cụ thể
nào đó Ví dụ: Thế nào là bố cục? Thế nào là đường nét ? Vì sao phải quan
sát từ bao quát đến chi tiết? (đó là với môn học về mĩ thuật nói chung,
trong môn LSMTVN thì nội dung câu hỏi thường mang tính lý thuyết)
Trang 33Có thể có một hệ thống câu hỏi, theo một logic của nội dung bài dạy Qua trả lời của người học, giáo viên đã phần nào thấy được khả năng của các em và kết quả bài dạy, từ đó giáo viên củng cố, bổ sung cho nội dung đầy đủ, hoàn chỉnh hơn Các dạy này người học suy nghĩ trước những nội dung của bài học Có thể, các em suy nghĩ, trả lời sai hay chưa đủ, những câu hỏi vẫn có lợi, có tác dụng vì nó “buộc” mọi người học phải suy nghĩ, phải tập trung hướng tới nội dung bài học, như vậy người học sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức hơn Một số SV trả lời chưa đúng sẽ thấy được những hạn chế mình Ngược lại, những SV trả lời đúng sẽ tự tin, phấn khởi học tập hơn Khi câu hỏi được đặt ra, tất cả SV phải suy nghĩ, phải tìm kiếm, lựa chọn cách trả lời, lựa chọn nội dung, điều đó rất có lợi, bởi nó sẽ gây thói quen suy nghĩ trước về một vấn đề nào đó rồi mới trả lời, đồng thời xây dựng cho SV ý thức tự giác học tập
Phương pháp gợi mở: Khi người học đang gặp khó khăn, chưa tìm ra
cách giải quyết vấn đề , hoặc đang băn khoăn, chưa hài lòng với những gì mình đã , như đang muốn tìm kiếm thêm một cái gì đó để bài làm hoàn chỉnh hơn, lúc đó người học cần có sự tác động của giáo viên, của bạn Tác động đúng lúc, đúng chỗ, có mức độ, có chất lượng sẽ tạo điều kiện cho người học suy nghĩ thêm, tìm tòi tiếp và giải quyết được bài làm hay nâng cao chất lượng bài làm bằng khả năng của mình Như vậy, gợi mở như là gợi ý, mở ra,
vạch ra hướng suy nghĩ, hướng giải quyết tiếp một vấn đề nào đó
Đối với dạy - học LSMTVN, gợi mở là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cho việc phân tích tác phẩm là hơn cả, vì nó phù hợp với đặc trưng của môn mĩ thuật là tạo ra cái đẹp muôn màu, muôn vẻ, đồng thời nó phù hợp với năng lực và cảm nhận của mỗi sinh viên Vì thế giáo viên nên gợi ý ngay trên cơ sở đã có của tác phẩm (bố cục, hình tượng, chất liệu…) để mỗi sinh viên suy nghĩ, tìm tòi, bổ sung nâng cao chất lượng cho bài làm của mình một cách cụ thể
Trang 34Phương pháp luyện tập: Môn học nào cũng cần luyện tập Luyện tập
để củng cố kiến thức Với môn LSMTVN, luyện tập được coi là hoạt động học tập chủ yếu, thường xuyên để củng cố kiến thức đã tiếp thu, đồng thời trong quá trình luyện tập, người học còn tìm ra nhiều điều mới mẻ làm cho nhận thức trở nên phong phú, kiến thức càng sâu sắc hơn và mầm mống của sáng tạo sẽ được hình thành
Môn Mĩ thuật có nhiều dạng luyện tập: luyện tập quan sát, nhận xét, đánh giá sự vật, hiện tượng xung quanh, luyện tập củng cố kĩ năng nhận biết về bố cục, đường nét, màu sắc… luyện tập nâng cao khả năng tìm tòi, sáng tạo, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ…Mỗi dạng luyện tập thể hiện trong những bài học cụ thể, có yêu cầu, mức độ cho từng thời kì trong quá trình học tập và ở trình độ nhất định của người học
Phương pháp liên hệ với thực tiễn cuộc sống: Thực tiễn cuộc sống phong phú và đa dạng Mọi lý luận đều xuất phát từ thực tiễn sinh động Liên hệ với thực tiễn cuộc sống sẽ làm cho sự hiểu biết của người học sâu sắc thêm, giờ học trở lên hấp dẫn hơn Học đi đôi với hành Lý luận gắn liền với thực tiễn là nguyên lý, phương châm giáo dục, đòi hỏi mỗi giáo
viên phải nắm vững và vận dụng vào giảng dạy của mình
Thực tiễn cuộc sống rất rộng, bao gồm tất cả những gì có ở xung quanh Với môn LSMTVN là các tác phẩm nghệ thuật tạo hình, con người
và mọi mối quan hệ của chúng Hơn nữa, nghệ thuật nói chung, mĩ thuật nói riêng luôn lấy chất liệu từ cuộc sống - phản ánh cuộc sống bằng ngôn ngữ của mình Thực tiễn cuộc sống còn được hiểu rộng hơn cả về sinh hoạt, học tập của con người, (phong tục, tập quán), những gì gắn bó với cuộc sống Vì thế, người học cần phải hiểu thực tiễn cuộc sống xung quanh để làm cho nhận thức của mình thực hơn, sinh động hơn, để hiểu hơn mối liên quan giữa nghệ thuật và cuộc sống
Trang 35Phương pháp dạy học theo cặp, theo nhóm: Ngày nay, kiến thức của loài người ngày càng nhiều, càng phong phú, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, đồng thời với mục tiêu giáo dục trong xã hội mới là đào tạo người lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, để có sản phẩm mới, tốt và đẹp Vì thế, cách dạy - học thụ động không thích hợp, nên dạy - học theo cặp, theo nhóm được áp dụng rộng khắp Cách dạy - học này
là giáo viên chuẩn bị nội dung và tổ chức cho người học thực hiện tự học,
có ưu điểm: Người học phát huy được tính tập thể trong học tập và nêu cao tính tự giác của mỗi thành viên Giúp đỡ nhau trong học tập có hiệu quả hơn, thể hiện ở: mỗi sinh viên đều phải suy nghĩ, tìm tòi và nêu ra ý kiến của mình, cùng nhau thảo luận để tìm ra kiến thức hoặc cách giải bài tập theo nhiều góc độ khác nhau
Có rất nhiều phương pháp dạy học, mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế nhất định Tùy theo đặc điểm của môn học mà giảng viên sử dụng phương pháp thích hợp Môn học LSMTVN có lượng kiến thức lớn, nhưng thời lượng không nhiều mà lại khá phức tạp Vì vậy nếu giảng viên không linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy thì chất lượng giảng dạy sẽ không đạt được kết quả như mong muốn Phương pháp truyền thống
mà các giảng viên ở trường ĐHHP đã và đang sử dụng cho môn học này những năm gần đây chủ yếu là phương pháp thuyết trình và phương pháp thảo luận
1.5.3 Phương thức kiểm tra đánh giá
Trong quy chế đào tạo theo tín chỉ của trường ĐHHP, đối với những học phần có lý thuyết hoặc cả lý thuyết và thực hành phương thức kiểm tra
và đánh giá được thực hiện theo quy định sau:
Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần được căn cứ vào tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ
Trang 36tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50% Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết học phần
Đối với môn LSMTVN, hình thức đánh giá bộ phận được chọn trên
cơ sở điểm chuyên cần, căn cứ trên việc chấp hành quy định về thời gian học trên lớp với tinh thần thái độ học tập, với trọng số là 15%; điểm kiểm tra thường xuyên, căn cứ vào chất lượng bài tiểu luận giữa học kì, với trọng
số là 15%; điểm thi kết thúc học phần có trọng số là 70%
1.5.3.1 Điểm kiểm tra chuyên cần
Theo đó, điểm chuyên cần của sinh viên được đánh giá theo ý thức
tham gia các buổi học trên lớp cụ thể như sau: Sinh viên nghỉ mỗi buổi
trong học kì sẽ bị trừ 1 điểm Nếu nghỉ quá 3/15 buổi sẽ không được thi, và phải học lại môn học đó Sinh viên đi học muộn 2 buổi sẽ tính như một
buổi nghỉ Khảo sát việc chấp hành quy định về thời gian trên lớp của 4
khóa chúng tôi có kết quả như sau:
Bảng 1.2 Kết quả khảo sát mức độ chuyên cần của sinh viên
VHDL 11 30/59=50.8% 23/59= 39% 3/59= 5% 2/59= 3.4% 1/59=1.7% VHDL 12 0/35=0% 29/35=82.8% 6/35=17.1% = 0%
VHDL 13 4/57= 7% 29/57=50.9% 19/57=33.3% 2/57= 3.5% 3/57=5.2% VHDL 14 4/46=8.7% 23/46=50% 3/46=6.5% 12/46=26% 4/46=8.7%
Trang 37Theo thông số trên bảng khảo sát cho thấy, tỉ lệ sinh viên vi phạm quy định về thời gian tuy không phải là nhiều nhưng có xu hướng tăng dần, năm sau cao hơn năm trước
1.5.3.2 Điểm kiểm tra điều kiện
Hình thức kiểm tra thường xuyên được đánh giá bằng chất lượng của bài tập giữa kì Bài tập giữa kì đối với môn LSMTVN, được thực hiện ở hình
thức 1 bài tiểu luận với nội dung có thể là: Phân tích đặc điểm cơ bản của mĩ thuật thời Lê trung hưng?
Bài tập được thực hiện theo tổ chức nhóm (khoảng 6 sinh viên một nhóm) Bài được trình bày theo đúng cấu trúc một bài nghiên cứu khoa học, với dung lượng trên 20 trang
Phương thức đánh giá: Giảng viên sẽ chấm điểm tổng thể về hình thức và nội dung của tiểu luận, sau đó mỗi sinh viên sẽ được gọi lên trình bày và trả lời câu hỏi về những đóng góp của mình trong tiểu luận, điểm cá nhân sẽ là trung bình cộng của 2 kết quả trên Trên cơ sở đó chúng tôi có kết quả như sau:
Bảng 1.3: Kết quả kiểm tra thường xuyên của sinh viên
Giỏi (8,5-10) Khá (7-8,4) Trung bình (5,5-6,9) Yếu < 5,4 VHDL 11 12/59= 20.3% 20/59=33.9 27/59=45.8% 0
VHDL 12 0/35= 0% 30/35= 85.7% 5/35= 14.3% 0
VHDL 13 8/57= 14% 37/57=65% 3/57= 5,2% 3/57=
5.2% VHDL 14 11/46=24% 32/46= 70% 3/46=6.5% 0
Theo kết quả khảo sát, chất lượng bài tập giữa kỳ của sinh viên các khóa cho thấy lớp VHDL khóa10 có chất lượng bài làm không đồng đều, những bài có chất lượng tốt (khá và giỏi) chiếm 54%; những bài có chất lượng trung bình cũng chiếm tới 46% Nhưng các khóa sau, những bài có chất lượng thấp không vượt quá 15%
Trang 381.5.3.3 Điểm thi kết thúc học phần
Thi kết thúc học phần là phần đánh giá quan trọng nhất của một chương trình học Hình thức thi được thực hiện cho môn học này thời gian qua là thi vấn đáp Đề thi có hai câu hỏi, trong thời gian chuẩn bị là 15 phút Chi tiết về đề thi, xin trình bày cụ thể trong phần phụ lục Khảo sát kết quả thi hết học phần của 4 khóa gần đây, chúng tôi có kết quả như sau:
Bảng 1.4: Kết quả thi kết thúc học phần
Giỏi (8,5-10) Khá (7-8,4) Trung bình (5,5-6,9) Yếu >5,4 VHDL 11 12/59= 20.3% 34/59=57.6% 13/59=22% 0
VHDL 12 8/35= 22.8% 22/35= 62.8% 2/35=5.7% 3/35=8.6% VHDL 13 12/57=21% 34/57=59.6% 10/57=17.5% 1/57=1.75% VHDL 14 14/46=30.4% 17/46=36.9% 12/46=26.1% 3/46=6.5%
Sau khi khảo sát kết quả thi kết thúc học phần chúng tôi nhận thấy tỉ
lệ sinh viên đạt kết quả cao (khá và giỏi) vẫn chiếm từ 67% cho đến hơn 80%
1.6 Những bất cập trong việc giảng dạy Lịch sử mĩ thuật Việt Nam cho sinh viên Văn hóa Du lịch
Sau khi nghiên cứu quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy việc giảng dạy LSMTVN ở trường ĐHHP còn tồn tại một số hạn chế, thể hiện ở
ba khía cạnh đó là: nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và phương thức kiểm tra đánh giá
1.6.1 Về nội dung chương trình
Có thể thấy ngay sự hạn chế đầu tiên của chương trình dạy học môn LSMTVN ở trường ĐHHP đó là chưa có giáo trình chuyên biệt cho chuyên ngành Văn hóa du lịch Hiện nay giáo trình được sử dụng để tham khảo chính vẫn là giáo trình dành cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm mĩ thuật (sách của Dự án đào tạo giáo viên THCS), chưa phù hợp với sinh viên
Trang 39ngành Văn hóa du lịch Bởi vậy, còn thiếu nhiều nội dung liên quan tới yêu cầu công tác sau này của sinh viên Ngoài ra, xét nội dung của chương trình
đã giảng dạy nhiều năm qua có thể thấy: lượng kiến thức trong đó rộng, phần thực hành tham quan tại các Bảo tàng mĩ thuật, làng tranh dân gian, các công trình kiến trúc nghệ thuật còn hạn chế do thời gian phân phối cho môn học chưa phù hợp với đối tượng sinh viên này
1.6.2 Về phương pháp giảng dạy
Như đã trình bày trong mục 1.5.2.2., một số phương pháp như: thuyết
trình, trực quan, thực hành và thảo luận, là những phương pháp và cách thức giảng dạy đều đã được các giảng viên sử dụng trong giờ học môn LSMTVN Chúng tôi cho rằng, đây là những phương pháp và cách thức hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, nếu linh hoạt và thực sự quan tâm tới nhu cầu sử dụng kiến thức của sinh viên thì những phương pháp đó còn có thể mang lại hiệu quả cao hơn nữa
Trong phương pháp thuyết trình, tuy các giảng viên đã tăng cường các câu hỏi gợi mở để sinh viên chủ động hơn trong việc nắm bắt kiến thức nhưng những câu hỏi được đặt ra chưa có sự liên hệ, hoặc hướng vào những mục tiêu sử dụng kiến thức cho công việc sau này của sinh viên Rất nhiều sinh viên sau này ra trường sẽ là hướng dẫn viên du lịch, nhưng khi hướng dẫn về kiến trúc kinh thành Huế thì sinh viên chỉ giới thiệu cho khách một cách chung chung, chưa lột tả hết được vẻ đẹp của kiến trúc và trang trí của các công trình như cổng Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thế Miếu…Vì khi giảng dạy về mĩ thuật thời Nguyễn, giáo viên chỉ phân tích những đặc điểm chung về tạo hình chứ chưa đi sâu chi tiết mà những chi tiết đó lại rất cần thiết với nghề hướng dẫn
Đối với các bài học trong các chương, số tiết phân bố không đồng đều, dựa vào nội dung các chương như bảng 1 ta sẽ nhận thấy rằng thời lượng 30 tiết sẽ là rất ít nếu như giáo viên dạy đủ cả 6 chương Để có để dạy
Trang 40đủ cho kịp chương trình, giáo viên sẽ không tránh khỏi việc lược bỏ một số nội dung trong từng bài
Với thời lượng là 3, 5, 9 tiết trong một chương và được phân phối 2 tiết một tuần, mỗi sinh viên sẽ có 2 tuần để đọc toàn bộ lượng kiến thức lớn như vậy là rất khó và kém hiệu quả Thực tế, theo yêu cầu của chương trình, các em vẫn đọc và cũng đã hướng tới những chủ đề trong quá trình đọc tài liệu Tuy nhiên, để trắc nghiệm được kiến thức của sinh viên thông qua việc các em trình bày những thắc mắc nào đó là điều không đơn giản Thời gian
và cả kiến thức chưa đủ để cho các em cảm nhận và tổng hợp những thông tin trong bài học, do đó trong thời gian lên lớp, nếu giảng viên không hỏi các
em cũng không có ý kiến Ngược lại khi giảng viên hỏi, các em lại mở sách
và đọc những nội dung đó
1.6.3 Những vấn đề trong việc kiểm tra và đánh giá
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng nhằm xác định mức độ hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, và khả năng vận dụng của người học Nhiều năm qua, quá trình giảng dạy môn học LSMTVN cho sinh viên chuyên ngành VHDL ở trường ĐHHP được áp dụng những cách kiểm tra và đánh giá như sau:
1.6.3.1 Kiểm tra đầu giờ
Kiểm tra đầu giờ thường được thực hiện với mục đích củng cố lại kiến thức trong bài học trước, thông qua một số cá thể để trắc nghiệm mức
độ nhận thức của cả tập thể lớp, hệ thống kiến thức sinh viên đã được học trong bài cũ với bài học tiếp theo Đặc điểm của việc kiểm tra đầu giờ thường được thực hiện trong thời gian ngắn, những thông tin cần kiểm tra chỉ cần đảm bảo đủ những ý chính theo nội dung câu hỏi của giảng viên yêu cầu Tuy nhiên, điểm trong phần kiểm tra này thường chỉ có giá trị đánh giá mức độ chuyên cần của sinh viên trên phương diện ý thức, không