Câu hỏi Nếu là người tư vấn cho ông Quang, anh chị có thể phân biệt được công ty tài chính và ngân hàng thương mại hay không, các đối tượng này thuộc vào nhóm trung gian tài chính nào v
Trang 1BÀI 4: TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
Hiểu được định nghĩa và cơ chế hoạt
động của các trung gian tài chính
Phân biệt được sự khác nhau trong cách
thức hoạt động của các trung gian tài
chính khác nhau
Thời lượng học
8 tiết
Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức cơ bản về các thể chế tài chính trung gian
Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức nâng cao về từng loại hình trung gian tài chính cụ thể, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại
Trang 2TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Tình huống
Sau khi cân nhắc kỹ, ông Quang chưa quyết định tham gia vào
thị trường tài chính mà tìm hiểu cách thức tài trợ vốn khác cho
hoạt động kinh doanh của mình Ông Quang lại được tư vấn là
nên tham khảo cách thức xin tài trợ dưới dạng mua trả góp từ
phía công ty tài chính VinaFin Tuy nhiên theo thói quen, ông
Quang vẫn nghĩ là phương thức vay ngân hàng sẽ là tốt hơn
Nhưng ông không thể nào khẳng định được phương thức vay
nào là tốt hơn do không biết ngân hàng và công ty tài chính khác nhau thế nào, ngoài ngân hàng và công ty tài chính ông có thể huy động nguồn tài trợ từ nơi nào khác hay không?
Câu hỏi
Nếu là người tư vấn cho ông Quang, anh chị có thể phân biệt được công ty tài chính và ngân hàng thương mại hay không, các đối tượng này thuộc vào nhóm trung gian tài chính nào và đặc điểm của chúng khác nhau như thế nào Bên cạnh đó, vẫn còn một nhóm trung gian tài chính nữa chưa được đề cập tới ở ví dụ trên, đó là nhóm trung gian nào và đại diện tiêu biểu của nó là gì?
Trang 34.1 Giới thiệu chung về các trung gian tài chính
4.1.1 Chức năng của các trung gian tài chính
Như đã giới thiệu ở bài 2, vốn có thể được dẫn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn thông qua kênh thứ hai, kênh dẫn vốn gián tiếp Trong kênh dẫn vốn gián tiếp, người đi vay và người cho vay không trực tiếp gặp nhau mà thông qua trung gian tài
chính đứng giữa, truyền dẫn vốn từ người cho vay đến người đi vay Ví dụ các ngân hàng có thể huy động vốn từ việc nhận tiền gửi từ dân cư và sử dụng số tiền này để cung cấp các khoản vay cho doanh nghiệp hoặc mua trái phiếu công ty trên thị trường tài chính Kết quả là vốn được chuyển từ dân cư sang các doanh nghiệp với sự trợ giúp của trung gian tài chính
Kênh dẫn vốn gián tiếp sử dụng trung gian tài chính là kênh dẫn vốn chính của nền kinh tế Mặc dù thị trường tài chính ngày càng đóng vai trò quan trọng nhưng các trung gian tài chính vẫn là nguồn cung cấp vốn chính của các doanh nghiệp Điều này càng đúng hơn ở các quốc gia đang phát triển Tại sao các trung gian tài chính và kênh tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng như vậy trong các thị trường tài chính? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ nghiên cứu vai trò của các trung gian tài chính
4.1.2 Vai trò của các trung gian tài chính
Trung gian tài chính góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Chi phí giao dịch là thời gian và tiền bạc bỏ ra để thực hiện giao dịch tài chính Chi phí giao dịch là một vấn đề của những người có tiền để cho vay
Ví dụ, bạn có một số tiền 10 triệu đồng và muốn cho vay số tiền này Tuy nhiên, để đảm bảo người đi vay trả tiền, bạn phải thuê một luật sư soạn thảo hợp đồng cho vay, trong đó quy định chi tiết lãi suất, số lần thanh toán, thời điểm đáo hạn và các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng… Luật sư có thể đòi phí 2 triệu đồng để soạn thảo một hợp đồng Sau khi tính toán, bạn thấy số tiền lãi bạn có thể thu được (có thể là 1,5 triệu/năm) chưa đủ để bù đắp chi phí giao dịch bạn bỏ ra và do đó bạn không muốn cho vay nữa Ví dụ này cho thấy những người tiết kiệm với những khoản tiền nhỏ khó
có thể cho vay trên thị trường tài chính
Vậy các trung gian tài chính giúp giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy hoạt động truyền dẫn vốn trong nền kinh tế như thế nào?
Thứ nhất, các trung gian tài chính có thể giảm đáng kể chi phí giao dịch do quy mô
lớn có thể giúp họ tận dụng tính kinh tế theo quy mô (economies of scale), giảm
chi phí giao dịch cho mỗi một giao dịch khi quy mô giao dịch tăng lên (tổng chi phí tiến hành giao dịch chỉ tăng không đáng kể khi quy mô giao dịch tăng)
Ví dụ: Một ngân hàng có thể thuê luật sư soạn thảo hợp đồng cho vay chi tiết với mức phí lên đến 10 triệu đồng và sử dụng hợp đồng đó trong nhiều giao dịch, vì vậy làm giảm đáng kể chi phí giao dịch Giả sử hợp đồng này có thể được sử dụng cho 1000 giao dịch thì chi phí cho mỗi một giao dịch chỉ là 10 nghìn đồng, như vậy có thể giúp nguồn vốn của các nhà đầu tư nhỏ tiếp cận thị trường tài chính
Trang 4 Thứ hai, do hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, các trung
gian tài chính có thể sử dụng kinh nghiệm và chuyên môn của mình làm giảm chi
phí giao dịch Các tổ chức tài chính là những chuyên gia lành nghề, tinh thông nghề nghiệp, họ sẵn sàng đưa ra những hợp đồng vay nợ ít tốn kém và cung cấp các dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý Ngoài ra, các trung gian tài chính còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ phụ trợ làm cho các khách hàng dễ dàng thực hiện các giao dịch hơn, ví dụ như cho khách hàng truy cập trang web để giao dịch, vấn tin tài khoản, chuyển tiền, chi trả hóa đơn…
Các trung gian tài chính hỗ trợ hoạt động chia sẻ và phân tán rủi ro
Các trung gian tài chính giúp các nhà đầu tư giảm thiểu
rủi ro thông qua quá trình chia sẻ rủi ro Các trung gian
tài chính tạo và bán các tài sản có rủi ro thấp, phù hợp
với khách hàng và sử dụng số vốn huy động được để
mua các tài sản có độ rủi ro cao hơn Chẳng hạn các
ngân hàng có thể huy động tiền gửi ngắn hạn từ dân cư
và cung cấp các khoản vay dài hạn, nhiều rủi ro hơn cho
các doanh nghiệp
Ngoài ra, các trung gian tài chính còn thúc đẩy quá trình chia sẻ rủi ro với việc hỗ trợ các nhà đầu tư phân tán rủi ro Ví dụ, một nhà đầu tư nhỏ có 10 triệu và muốn đầu tư trên thị trường chứng khoán Với số tiền nhỏ này, số lượng chứng khoán mà nhà đầu
tư có thể mua là rất ít, do đó họ không thể phân tán được rủi ro Các quỹ đầu tư ra đời
để hỗ trợ các nhà đầu tư nhỏ trong vấn đề này Các quỹ đầu tư huy động vốn từ các nhà đầu tư nhỏ và sử dụng số tiền đó để đầu tư trên thị trường tài chính Với việc đầu
tư vào một danh mục tài sản, các quỹ đầu tư này có thể giảm đáng kể chi phí giao dịch cũng như phân tán hiệu quả rủi ro
Các trung gian tài chính giúp giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng
Thông tin bất cân xứng (asymmetric information) là việc một bên không biết đầy đủ
thông tin về bên kia trong một giao dịch khiến không thể đưa ra được các quyết định chính xác Ví dụ, người đi vay thường có nhiều thông tin về lợi nhuận dự tính và rủi ro gắn với dự án đầu tư hơn là người cho vay Sự tồn tại của thông tin bất cân xứng dẫn đến 2 vấn đề: lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard)
Lựa chọn đối nghịch là vấn đề của thông tin bất cân xứng trước khi giao dịch xảy
ra Nó xảy ra khi những người đi vay không có khả năng trả nợ, đặc biệt là những người tích cực nhất khi đi vay và do vậy có nhiều khả năng nhất để được vay Do không biết hết thông tin về người đi vay nên người cho vay có thể lựa chọn không chính xác (lựa chọn đối nghịch) Vì vấn đề lựa chọn đối nghịch khiến cho các khoản vay có thể đến không đúng địa chỉ, nên những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù vẫn có những người đi vay tốt trên thị trường, khiến cho cả người vay tốt lẫn người vay xấu đều không thể huy động vốn Vấn đề lựa chọn đối nghịch được đưa ra đầu tiên trong lĩnh vực bảo hiểm, những người đi mua bảo hiểm có rủi ro cao lại thường là những người tích cực đi mua bảo hiểm nhất
Rủi ro đạo đức là vấn đề do thông tin bất cân xứng gây ra sau khi giao dịch đã xảy
ra Chẳng hạn sau khi bạn đã mua bảo hiểm tài sản, bạn có thể không có nhiều động cơ giữ gìn tài sản đó do nghĩ rằng nếu có hư hỏng, mất mát đã được công ty
Trang 5bảo hiểm bồi thường Công ty bảo hiểm không có
nhiều thông tin về việc bạn sẽ sử dụng tài sản đó
như thế nào nên bạn có thể có những hành động đi
ngược lại quyền lợi của công ty bảo hiểm Trên thị
trường tài chính, rủi ro đạo đức có thể xảy ra khi
người đi vay sẽ thực hiện một số hoạt động mà
người cho vay không mong muốn Rủi ro đạo đức
làm giảm khả năng khoản vay sẽ được hoàn trả, do
vậy có thể khiến người cho vay không muốn cho
vay Rủi ro đạo đức có thể xảy ra trong các công ty cổ phần do sự tách biệt giữa chủ sở hữu vốn - các cổ đông và người quản lý doanh nghiệp - ban giám đốc: người quản lý doanh nghiệp, do sở hữu một phần vốn rất nhỏ, hoặc thậm chí không sở hữu một phần vốn nào của doanh nghiệp, có thể hành động vì lợi ích cá nhân của họ hơn là lợi ích của các cổ đông sở hữu vốn
Như vậy, các vấn đề do lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức có thể cản trở sự hoạt động hiểu quả của thị trường tài chính Các trung gian tài chính có thể giải quyết đáng
kể vấn đề này
Với sự có mặt của các trung gian tài chính, các nhà đầu tư nhỏ có thể góp vốn cho thị trường tài chính với việc cho một trung gian tài chính tin cậy vay vốn, trung gian này
có thể sử dụng khoản tiền này để cho vay hoặc mua chứng khoán Các trung gian tài chính, ví dụ như các ngân hàng, có thể thu được lợi tức cao hơn các nhà đầu tư nhỏ do
họ có kinh nghiệm và kỹ năng, họ có thể phân biệt các người đi vay có mức độ rủi ro tín dụng khác nhau Ngoài ra, các trung gian tài chính cũng có thể thu lợi tức cao hơn
do họ có kỹ năng giám sát người đi vay và do đó làm giảm rủi ro đạo đức Kết quả là các trung gian tài chính có thể trả lãi cho người đi vay và vẫn có thể thu được lợi nhuận cho mình
Như vậy, có thể thấy các trung gian tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi họ giúp làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy hoạt động chia sẻ và phân tán rủi ro và giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng
4.2 Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính là những tổ chức cung cấp cho
khách hàng các sản phẩm và dịch vụ tài chính hiệu quả
hơn so với giao dịch trực tiếp trên thị trường tài chính
Trong phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu các trung gian
tài chính quan trọng và cách thức các trung gian tài
chính này thực hiện chức năng trung gian Các trung
gian tài chính có thể được xếp vào 4 loại chính:
Các tổ chức nhận tiền gửi
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các công ty tài chính
Các trung gian đầu tư
Trang 64.2.1 Các tổ chức nhận tiền gửi (Depository institutions)
Các tổ chức nhận tiền gửi là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua nhận tiền gửi từ cá nhân, tổ chức rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay Hoạt động của các trung gian tài chính liên quan đến hoạt động tạo tiền gửi, một thành phần quan trọng của cung tiền
Các loại tổ chức nhận tiền gửi bao gồm:
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là các trung gian tài chính
có lịch sử lâu đời nhất Các ngân hàng đầu tiên
(như ngân hàng hiện nay) xuất hiện ở Italia từ thế
kỷ 13, tại những thành phố của thời kỳ phục hưng,
với chức năng chính là giúp thực hiện hoạt động
thanh toán và thanh toán bù trừ hỗ trợ cho thương
mại hàng hoá và dịch vụ nở rộ ở Italia lúc bấy giờ
Các NHTM huy động vốn chủ yếu dưới dạng: nhận
tiền gửi thanh toán (tài khoản vãng lai- check/current deposits), tiền gửi tiết kiệm (savings deposits) và tiền gửi có kỳ hạn (time deposits) Vốn huy động được dùng
để cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, vay thế chấp, mua chứng khoán chính phủ… Ngoài ra, các ngân hàng còn cung cấp dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và buôn bán ngoại tệ Đây là nhóm trung gian tài chính lớn nhất và được biết đến nhiều nhất
Các tổ chức cho vay và tiết kiệm (Saving and Loans Associations or S&Ls - Mỹ, Building Societies - UK) và các Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ
Các tổ chức này huy động vốn dưới dạng tiền gửi tiết kiệm (thường gọi là
cổ phần - shares), tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi thanh toán (Ở Mỹ, trước những năm
1970, các tổ chức này không được phép nhận tiền gửi thanh toán) Trong quá khứ, hoạt động của các tổ chức tiết kiệm bị giới hạn và chủ yếu các tổ chức này sử dụng vốn huy động để cho vay thế chấp để mua nhà Nhưng các giới hạn này ngày càng
bị nới lỏng và ranh giới giữa các ngân hàng thương mại và các S&Ls dần dần được xoá bỏ
Các quỹ tín dụng (Credit Unions)
Quỹ tín dụng là một tổ chức tài chính tập thể được các thành viên thành lập và quản lý Quỹ tín dụng khác với ngân hàng và các tổ chức tài chính khác ở chỗ các thành viên có tài khoản ở quỹ tín dụng là chủ của quỹ tín dụng Các quỹ tín dụng thường là các tổ chức phi lợi nhuận Chỉ có thành viên của quỹ mới có thể gửi tiền vào quỹ hoặc vay tiền từ quỹ Do vậy, các quỹ tín dụng thường cam kết giúp đỡ
các thành viên cải thiện tình hình tài chính của họ
4.2.2 Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (Contractual Savings Institutions)
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các trung gian tài chính huy động tiền theo định kỳ trên cơ sở một hợp đồng đã ký kết với khách hàng Ví dụ: Các công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu… Các tổ chức này có thể tính toán tương đối chính xác số tiền họ sẽ phải trả trong tương lai, họ không phải lo lắng như các tổ chức nhận tiền gửi
Trang 7về việc không thể thanh toán, vì thế, tính thanh khoản của tài sản không phải là một vấn đề đáng quan tâm đối với họ như các tổ chức nhận tiền gửi Do đó, các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng thường đầu tư vốn của họ chủ yếu vào các chứng khoán dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay thế chấp…
Các công ty bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính
với chức năng chủ yếu là cung cấp phương tiện để
bảo vệ các hộ gia đình, các doanh nghiệp trước
những tổn thất về tài chính do những rủi ro nhất
định gây ra thông qua việc cung cấp các hợp đồng
bảo hiểm theo đó các công ty bảo hiểm sẽ trả tiền
bảo hiểm khi rủi ro xảy ra
Có hai loại công ty bảo hiểm chính là công ty bảo hiểm phi nhân thọ và công ty bảo hiểm nhân thọ Các công ty bảo hiểm sẽ được nghiên cứu cụ thể ở phần 4.4
Các quỹ lương hưu
Các quỹ lương hưu là các tổ chức tài chính hoạt động với mục đích cung cấp cho người lao động có được khoản thu nhập ổn định sau khi về hưu thông qua việc cung cấp các chương trình lương hưu (pension
plans) Theo đó, công ty, công đoàn và cán bộ công
nhân viên đóng góp theo định kỳ (trừ vào lương
hưu hoặc tự nguyện đóng góp) trong thời gian
những người này còn đang làm việc đến khi về hưu
được nhận tiền hưu trí (trả một lần khi về hưu hoặc
trả định kỳ đều đặn cho đến chết) Các quỹ lương
hưu dùng tiền đóng góp để đầu tư đạt được mức
sinh lời nhất định trong khi vẫn đảm bảo an toàn
cho khoản vốn Do số tiền mà các quỹ phải chi trả hàng năm có thể dự đoán trước với độ chính xác cao nên quỹ thường đầu tư số tiền nhàn rỗi vào các công cụ đầu
tư dài hạn như trái phiếu và cổ phiếu, các khoản vay thế chấp dài hạn Ban quản trị của các quỹ lương hưu thường nắm giữ những tài sản có mức sinh lời cao và độ rủi
ro thấp nhờ phân tán rủi ro
4.2.3 Các công ty tài chính (Finance Companies)
Công ty tài chính huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu… và sử dụng số tiền thu được để cho cá nhân và doanh nghiệp vay Chức năng trung gian tín dụng của công ty tài chính thể hiện ở chỗ họ huy động các khoản vốn lớn nhưng thường cho vay các khoản vay nhỏ, điều này khác với các ngân hàng Ngân hàng thường huy động những khoản vốn nhỏ từ việc nhận tiền gửi và cho vay các khoản vay lớn
Điểm phân biệt các công ty tài chính với các ngân hàng: Công ty tài chính không
được thực hiện dịch vụ thanh toán, nhận tiền gửi từ dân cư Công ty tài chính chỉ
có thể huy động vốn bằng việc phát hành chứng chỉ tiền gửi trên 1 năm, cổ phiếu, trái phiếu…
Trang 8 Công ty tài chính bán hàng (Sale finance company):
Các công ty tài chính bán hàng thường là công ty
con của một công ty sản xuất, các công ty này
thường cung cấp các khoản vay cho khách hàng
mua hàng hóa của công ty mẹ Ví dụ như công ty
tài chính bán hàng General Motors cung cấp tín
dụng cho khách hàng mua xe của General Motors
Các công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp
với ngân hàng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng và được người mua hàng đánh giá cao do họ có thể tiếp cận khoản vốn vay nhanh và thuận lợi hơn, ngay tại điểm mua hàng
Công ty tài chính tiêu dùng (Consumer finance company)
Các công ty tài chính tiêu dùng cung cấp các khoản vay tiêu dùng cho khách hàng hoặc để tài trợ các khoản nợ nhỏ Các công ty tài chính tiêu dùng thường là các công ty tài chính độc lập hoặc là công ty con của một ngân hàng Các công ty này thường không cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng
Họ thường cung cấp tín dụng cho những khách hàng không thể vay vốn từ ngân hàng và cho vay với lãi suất cao
Công ty tài chính kinh doanh (Business finance company)
Các công ty tài chính kinh doanh cung cấp các khoản tín dụng đặc biệt cho các doanh nghiệp bằng việc cho vay và chiết khấu các khoản phải thu Công ty tài chính kinh doanh có thể kể đến các công ty bao thanh toán (factoring), công ty cho thuê tài chính (leasing)…
4.2.4 Các trung gian đầu tư
Các trung gian đầu tư là các trung gian tài chính chuyên hoạt động trong lĩnh vực đầu
tư Chức năng chủ yếu của các tổ chức là hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế huy động vốn
để tài trợ cho các dự án đầu tư, cũng như giúp các nhà đầu tư có thể đầu tư các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi vào thị trường tài chính
Quỹ đầu tư (Mutual fund/ investment fund)
Các quỹ đầu tư là các trung gian tài chính phát hành các chứng chỉ quỹ để huy động vốn từ các nhà đầu tư và sử dụng vốn đó để đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu)
Với việc phát hành các chứng chỉ quỹ mệnh giá nhỏ và mua chứng khoán với số lượng lớn, các quỹ đầu tư có thể giảm chi phí giao dịch và nắm giữ một danh mục chứng khoán đa dạng Các quỹ đầu tư giúp các nhà đầu tư nhỏ giảm chi phí giao dịch khi mua chứng khoán và phân tán rủi ro tốt hơn bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư Các quỹ đầu tư này có thể do một công ty đầu tư chuyên nghiệp, một công ty môi giới đầu tư hoặc một tổ chức tài chính khác (ngân hàng, các công ty tư vấn đầu tư độc lập…) quản lý
Mỗi một quỹ có những quy định đầu tư riêng (đầu tư cả cổ phiếu và trái phiếu, chỉ đầu tư cổ phiếu,…)
Trang 9Có hai loại quỹ đầu tư:
o Quỹ đầu tư mở (Open – end mutual fund): Luôn sẵn sàng phát hành thêm cổ phiếu mới hoặc hoàn lại vốn cho các cổ phiếu mà cổ đông muốn rút vốn theo giá trị tài sản ròng của chúng (Net present Value - NPV) Tổng số cổ phần của quỹ đầu tư mở thay đổi hàng ngày khi các cổ đông mua hoặc hoàn trả cổ phiếu NPV = Giá trị thị trường của các chứng khoán nắm giữ/Số chứng chỉ quỹ lưu hành
o Quỹ đầu tư đóng (Closed – end mutual fund): Phát hành chứng chỉ quỹ Các cổ phiếu này không được rút vốn ra như trong quỹ đầu tư mở Cổ phiếu này được mua bán thông qua môi giới như các cổ phiếu thường, do vậy giá của chúng có thể cao hơn hoặc thấp hơn NPV
Ngân hàng đầu tư (Mỹ), công ty chứng khoán
Các tổ chức này có chức năng giúp đỡ các doanh
nghiệp, chính phủ huy động vốn cho hoạt động của
họ thông qua phát hành chứng khoán Các ngân
hàng đầu tư còn hỗ trợ các công ty trong việc sát
nhập hoặc mua lại công ty khác và cơ cấu lại các
doanh nghiệp đang tồn tại
Ngân hàng đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp phát
hành chứng khoán trên các hoạt động sau:
Tư vấn: nên phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để huy động vốn, nếu phát hành thì
phát hành với số lượng bao nhiêu, giá như thế nào, đối với trái phiếu thì nên phát hành với lãi suất bao nhiêu, thời hạn thế nào?
Bảo lãnh phát hành: cam kết mua chứng khoán với một mức giá xác định rồi sau
đó đem bán ra thị trường thứ cấp
Tham gia hoạt động tài chính:
o Đầu tư (Investing )
o Ngân hàng đầu tư (Investment Banking)
o Tạo lập thị trường (Market Making)
o Giao dịch (Trading)
o Quản trị tiền mặt (Cash Management)
o Sáp nhập và thâu tóm (Mergers and Acquisitions)
o Các dịch vụ khác
4.3 Ngân hàng thương mại
4.3.1 Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng
Thời kỳ hoạt động của các Ngân hàng sơ khai
Hoạt động kinh doanh tiền tệ được bắt đầu với việc nhận giữ tiền vàng và các tài sản
có giá trị khác tại các đền thờ Các đền thờ cổ có thể được xem hình thức sơ khai đầu tiên của ngân hàng Khi gửi tiền, người gửi tiền được nhận một tờ biên lai làm căn cứ xác định quyền sở hữu và trả lệ phí gửi tiền Những người gửi tiền có thể sử dụng những giấy chứng nhận quyền sở hữu vàng để thanh toán Người nhận các chứng thư này không gặp khó khăn gì trong việc chuyển chúng ra tiền mặt
Trang 10Những người nắm giữ tiền nhận thấy rằng trong cùng một khoảng thời gian, có một số người đến đổi chứng thư lấy tiền, nhưng cũng có những người khác gửi tiền vào Sự
bổ sung qua lại giữa lưu lượng tiền gửi vào và rút ra làm xuất hiện một lượng tiền nhàn rỗi trong kho Điều này cho phép những người giữ tiền chỉ cần dự trữ một lượng tiền mặt nhất định so với tổng số tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụng để cho vay Có những bằng chứng cho thấy các đền thờ đã cho các thương gia vay vào thế kỷ 18 trước công nguyên Người gửi tiền do nhận được tiền lãi từ những khoản cho vay bắt đầu trả lãi cho các khoản tiền gửi để huy động vốn vào ngân hàng Một số nghiệp vụ quan trọng khác của ngân hàng cũng ra đời và bắt đầu được hoàn thiện như ghi chép
sổ sách, thanh toán bù trừ…
Đến thời Trung Cổ Châu Âu, hoạt động ngân hàng không còn tấp nập như trước do Nhà thờ không ủng hộ hoạt động này Chỉ có những người Do thái, do không chịu ảnh hưởng của Giáo hội, vẫn tiếp tục duy trì hoạt động này
Giai đoạn từ thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ XIII đánh dấu sự ra đời và phát triển của các
ngân hàng ở miền Bắc Italia, do sự phát triển của
thương mại quốc tế Đến năm 1250, chỉ tính riêng
Florence đã có 80 ngân hàng Bên cạnh các nghiệp vụ
truyền thống các nghiệp vụ khác của ngân hàng cũng
bắt đầu phát triển như chiết khấu thương phiếu, chuyển
ngân và bảo lãnh Các ngân hàng ở Florence còn có chi
nhánh ở rất nhiều nơi như ở Barcelona, Seville, Majorca, Paris, Avignon, Nice, Marseilles, London, Bruges, Constantinople, Rhodes, Cyprus and Jerusalem
Đến TK 17, các ngân hàng thực sự được công nhận như một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ và phát hành tiền dưới dạng các chứng thư, kỳ phiếu thay cho vàng Lúc đầu, các kỳ phiếu ngân hàng chỉ được phát hành khi có một khoản tiền vàng thực sự gửi vào ngân hàng (đảm bảo bằng vàng) Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XVII các ngân hàng bắt đầu lợi dụng ưu thế của mình để phát hành một khối lượng lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay, điều này đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ra tiền mặt của các kỳ phiếu được phát hành
Do tất cả các ngân hàng đều có quyền phát hành tiền nên nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông và càng không thể kiểm soát được tính chất đảm bảo của lường tiền lưu thông đó Bên cạnh đó, dân chúng có sự lựa chọn kỳ phiếu của các ngân hàng, khiến cho kỳ phiếu của các ngân hàng lớn chiếm lĩnh thị trường, đẩy kỳ phiếu của các ngân hàng nhỏ ra khỏi lưu thông Tình trạng này kéo dài dẫn đến
sự bất ổn định trong lưu thông tiền tệ
Trước tình hình đó, nhà nước buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền và đảm bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của các ngân hàng Kết quả của sự can thiệp này là chỉ còn một số ngân hàng lớn được quyền phát hành tiền kèm theo nghiệp vụ kinh doanh, các ngân hàng khác chỉ được kinh doanh hoạt động tiền tệ và tín dụng, không được phép phát hành tiền, chúng được quyền mở tài khoản và thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát hành, biến ngân hàng phát hành thanh trung tâm thanh toán
Dần dần, chỉ có một ngân hàng được quyền phát hành tiền, trở thành NH phát hành
Hệ thống ngân hàng được phân hoá thành hai cấp: ngân hàng phát hành (không có