Ngắn hạn là khoảng thời gian mà trong đó ít nhất có một yếu tố đầu vào của sản xuất không thể thay đổi được.. Sản phẩm cận biên của lao động được ký hiệu MP L : Là mức sản phẩm tăng thêm
Trang 1thuyết sản xuất
của lý thuyết về chi phí sản xuất
vào tối ưu của doanh nghiệp
chứng minh được điều kiện tối đa hóa
lợi nhuận của một doanh nghiệp
Thời lượng học
12 tiết học: 8 tiết lý thuyết và 4 tiết thảo luận
trước lúc nghe giảng và thực hành
cụ trong kinh tế học (bao gồm kiến thức đại số và hình học lớp 12) để phân tích và nghiên cứu bài học
các bài tập vận dụng để hiểu được lý thuyết và bài tập thực hành
BÀI 4: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 2Chúng ta đã được nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng trong điều kiện khan hiếm hay hạn chế về ngân sách Với doanh nghiệp cũng đối diện với sự khan hiếm về nguồn lực
sẽ quyết định tổ chức sản xuất, sử dụng nguồn lực của mình sao cho đạt hiệu quả nhất để có thể tối đa hóa được sản lượng hay tối thiểu hóa chi phí Với việc nghiên cứu về hành vi của doanh nghiệp thông qua các lý thuyết về sản xuất, chi phí và lợi nhuận sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những quyết định này hơn
4.1 Lý thuyết sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động
chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay
để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa
vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất
như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và
làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác
các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Sản xuất có
thể hiểu đơn giản là quá trình biến đầu vào hay còn
gọi là các yếu tố sản xuất thành các đầu ra (hay là sản
phẩm) Ví dụ: Để sản xuất quần áo, các doanh nghiệp phải sử dụng đầu vào như lao động, vải, kim, chỉ, máy may, cúc, kéo để sản xuất ra những bộ quần áo mùa hè, mùa đông, quần áo bảo hộ,…
Chúng ta có thể chia đầu vào theo những tiêu thức chung nhất thành lao động, nguyên vật liệu và vốn Trong đó, mỗi loại có thể được chia nhỏ hơn như: Lao động bao gồm lao động lành nghề (thợ mộc, kỹ sư), lao động giản đơn (lao động nông nghiệp) và những nguồn lực kinh doanh của những nhà quản lý Nguyên liệu bao gồm thép, chất dẻo, điện, nước, bất kỳ hàng hóa nào hãng mua và chuyển chúng thành sản phẩm cuối cùng Vốn bao gồm nhà xưởng, thiết bị và hàng tồn kho
Các yếu tố đầu vào không phải là độc lập mà có quan hệ với nhau Mối quan hệ đó được
mô tả bằng hàm sản xuất
4.1.1 Hàm sản xuất
Hàm sản xuất là một mô hình toán học cho biết lượng
đầu ra tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau
của các yếu tố đầu vào tương ứng với một quy trình
công nghệ nhất định Chúng ta cần chú ý ở đây hàm
sản xuất thể hiện các phương án hiệu quả về mặt kỹ
thuật, nên lượng đầu ra được phản ánh là đầu ra tối đa
Ứng với mỗi trình độ công nghệ nhất định, sự kết hợp
các yếu tố đầu vào khác nhau nên sẽ tương ứng với
một hàm sản xuất khác nhau Ví dụ, công nghệ hiện
đại sẽ sử dụng ít lao động hơn; công nghệ giản đơn chưa có sự áp dụng máy móc, khoa học, kỹ thuật sẽ làm cho việc sử dụng lao động nhiều hơn
Hàm sản xuất dạng tổng quát sẽ có dạng:
Q = f(x1, x2, x3,…, xn)
Nhà cung cấp
Công nghệ sản xuất
Trang 3Sản xuất ngắn hạn
được sử dụng trong quá trình sản xuất Ví dụ: Xem case study 4.1 về chi phí đầu vào để sản xuất Iphone 5
Để đơn giản trong quá trình nghiên cứu, chúng ta giả định rằng ở đây có hai đầu vào là lao động L và vốn K Khi đó hàm sản xuất có dạng:
Q = f(K,L) Trong các hàm sản xuất, khi được giả định chỉ có hai yếu tố đầu vào là lao động và vốn thì hàm sản xuất phổ biến nhất là hàm Cobb – Douglas (tên nhà kinh tế học P.H Douglas
và nhà thống kê học C.V Cobb) có dạng:
Q = A K LTrong đó Q là sản lượng đầu ra; K là vốn; L là lao động; A là một hằng số tùy thuộc vào những đơn vị đo lường các yếu tố đầu vào; và là các hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của hai yếu tố đầu vào là K và L Mỗi ngành sản xuất và với mỗi công nghệ khác nhau thì có và β khác nhau
Các hàm sản xuất mô tả những phương án khả thi về mặt kỹ thuật trong điều kiện hãng hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là khi hãng sử dụng mỗi tổ hợp các đầu vào với hiệu suất cao nhất Vì hàm sản xuất mô tả sản lượng tối đa có thể sản xuất được với một tập hợp đầu vào cho trước, theo phương thức có hiệu quả về phương diện kỹ thuật nên các đầu vào sẽ không được sử dụng nếu chúng làm giảm sản lượng
Một điều hết sức quan trọng mà trong sản xuất phải phân biệt là khái niệm ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn và trong dài hạn có sự khác nhau về trình độ công nghệ sản xuất nên mức sản lượng sẽ khác nhau Vậy ngắn hạn và dài hạn trong sản xuất được phân biệt theo tiêu thức nào?
Ngắn hạn là khoảng thời gian mà trong đó ít nhất có
một yếu tố đầu vào của sản xuất không thể thay đổi
được Yếu tố này được gọi là yếu tố cố định Ví dụ,
trong 2 năm đầu sản xuất, công ty may Tiến An đã
đầu tư xây dựng nhà máy, mua nguyên vật liệu, thuê
lao động để sản xuất quần áo xuất khẩu Trong thời
gian này, công ty đã phải thuê thêm lao động trong
những lúc có đơn hàng lớn và nguyên liệu phải mua
liên tục mới đảm bảo sản xuất đầy đủ số lượng quần
áo theo đơn đặt hàng Tuy nhiên, cơ sở sản xuất, dây
chuyền máy móc của Công ty vẫn chưa thay đổi Như vậy, công ty may Tiến An đang sản xuất trong ngắn hạn
Dài hạn là khoảng thời gian cần để cho tất cả các đầu vào đều có thể thay đổi Ví dụ, với công ty may Tiến An, khi hoạt động trên thị trường đã có nhiều uy tín và nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn Với quy mô nhà xưởng thiết bị như hai năm trước là không đủ, công ty đã quyết định đầu tư thêm nhà máy sản xuất nữa Như vậy, với khái niệm về dài hạn có thể khẳng định khi công ty thay đổi quy mô sản xuất, công ty đang sản xuất trong dài hạn
Chú ý, phân biệt ngắn hạn và dài hạn không dựa vào khoảng thời gian cụ thể mà căn cứ vào sự thay đổi của các yếu tố đầu vào Vì vậy, với mỗi ngành nghề sản xuất, kinh doanh
Trang 4khác nhau, thời gian được coi là ngắn hạn, dài hạn là khác nhau Nó không đồng nhất với tất cả các hãng, doanh nghiệp Ví dụ, dài hạn chỉ là 1 hoặc 2 ngày đối với quán nước chanh cho trẻ em, nhưng phải là 5 hay 10 năm đối với nhà máy hóa dầu hay sản xuất ô tô Chúng ta có thể phân biệt giữa sản xuất trong ngắn hạn và sản xuất trong dài hạn thông qua những phân tích ở trên Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa biết được tính chất của sản xuất trong ngắn hạn và dài hạn Đặc biệt, qua việc phân tích sản xuất trong ngắn hạn và dài hạn, chúng ta sẽ chứng minh được nhận định: “Sản xuất trong ngắn hạn mang tính kém linh hoạt hơn sản xuất trong dài hạn”
* Sản phẩm trung bình (AP):
Sản phẩm trung bình của một yếu tố đầu vào (AP) là số sản phẩm bình quân do một đơn
vị đầu vào tạo ra trong một thời gian nhất định
Sản phẩm trung bình của lao động là mức sản phẩm tính bình quân cho mỗi đơn vị lao động
Công thức tính:
Ví dụ: Một hãng sử dụng 10 lao động trong một giờ, làm ra 200 sản phẩm, khi đó mỗi
Tương tự, sản phẩm trung bình của vốn là mức sản phẩm tính bình quân cho mỗi đơn vị vốn
tố đầu vào thay đổi một đơn vị
Sản phẩm cận biên của lao động được ký hiệu MP L : Là mức sản phẩm tăng thêm khi thuê thêm một đơn vị đầu vào lao động
Trang 5Bảng 4.1 Báo cáo sản xuất với một đầu vào thay đổi (Tính cho 1 tháng sản xuất)
Số lao động
(L)
Số vốn (K)
Tổng sản phẩm (Q)
Sản phẩm bình quân (AP = Q/L)
Sản phẩm cận biên (MP = ∆Q/∆L)
Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc đưa ra một ví dụ Cột (3) của bảng 4.1 là sản lượng đầu
ra trong sản xuất được tạo ra trong một tháng, khi xưởng sản xuất tăng dần lượng công nhân (giả thiết mọi công nhân có chất lượng như nhau) trong điều kiện vốn (K) không thay đổi Ta thấy, khi không có lao động, sản lượng bằng 0 vì không có công nhân thì xưởng không sản xuất được Khi lao động tăng từ 0 tới 8 thì sản lượng tăng dần nhưng tốc độ tăng lúc đầu thì cao nhưng sau đó giảm dần Sau khi đã có 8 lao động, nếu tăng tiếp lao động thì tổng sản lượng đầu ra lại có xu hướng giảm dần Vì sao lại như vậy? Ta thấy khi lao động đang ít, thì không sử dụng được hết công suất máy móc và cơ sở vật chất của xưởng Nhưng sau khi đã sử dụng hết công suất máy móc (trong ví dụ là khi có
8 công nhân), việc tăng thêm lao động chỉ làm chậm lại quá trình sản xuất và làm giảm hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác Vì thế, tổng sản lượng đầu ra giảm dần khi lượng lao động được thuê tăng thêm nữa
giữa tổng sản phẩm (hay còn gọi là tổng sản lượng) Q trên tổng đầu vào lao động L Trong ví dụ, sản phẩm bình quân tăng dần nhưng sau đó lại giảm dần khi đầu vào lao động tăng lên trên 4
đầu vào là phần sản lượng đầu ra tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị đó Trong ví dụ,
Trang 6sản phẩm cận biên theo lao động được viết là MPL và tính bằng ∆Q/∆L, với mức vốn cố định tại 10 đơn vị, khi lao động tăng từ 2 lên tới 3, tổng sản lượng đầu ra tăng từ 30 lên
60, tức là tăng thêm 30 đơn vị – 30 sản phẩm do người lao động thứ ba mới được thuê vào làm gia tăng sản lượng Giống như sản phẩm bình quân, sản phẩm cận biên trước hết cũng tăng dần và sau đó thì giảm dần
c Quy luật sản phẩm cận biên giảm dần
Năng suất cận biên của một đầu vào biến đổi sẽ giảm dần khi sử dụng ngày càng nhiều hơn đầu vào đó trong quá trình sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định (với điều kiện giữ cố định các đầu vào khác)
Nội dung của quy luật: Khi gia tăng liên tiếp những đơn vị của một đầu vào biến đổi trong khi cố định các đầu vào khác thì số lượng sản phẩm đầu ra sẽ tăng dần, tuy nhiên tốc độ tăng sẽ ngày càng giảm (khi đó MP dương và sẽ giảm), đạt đến một điểm nào đó số lượng sản phẩm đầu ra sẽ đạt cực đại (MP = 0) rồi sau đó giảm xuống (khi đó MP âm)
Giải thích quy luật: Năng suất của một yếu tố đầu vào phụ thuộc vào số lượng của các yếu tố đầu vào khác cùng sử dụng với nó Khi gia tăng yếu tố đầu vào biến đổi trong khi
cố định các đầu vào khác, tỷ lệ đầu vào biến đổi so với đầu vào cố định giảm dần làm cho năng suất của yếu tố đầu vào biến đổi giảm dần
Ví dụ: Sản xuất quần áo tại một hộ gia đình Nếu chỉ có một lao động thì người đó làm mọi công việc như: Đo, cắt, may, ghép cúc và thùa khuyết, vắt sổ Thời gian chết trong công việc là không có
Khi thuê thêm một lao động nữa thì công việc sẽ được chuyên môn hóa hơn, một người
đo, cắt và một người chuyên may, ghép cúc, thùa khuyết, vắt sổ Điều này làm cho thời gian chết trong công việc bắt đầu xuất hiện khi người may, ghép cúc, thùa khuyết, vắt sổ không kịp với người đo và cắt Điều này làm cho sản phẩm tạo ra tăng không gấp đôi sản lượng do người thứ nhất làm Tức là sản phẩm cận biên của người thứ hai nhỏ hơn người thứ nhất
Nếu thêm lao động nữa một người sẽ chuyên đo, cắt, một người may và vắt sổ, một người ghép cúc và thùa khuyết Sự mâu thuẫn cục bộ giữa các khâu sản xuất trở nên tăng hơn Và thời gian chết cũng tăng lên Khi người may, vắt sổ không kịp người ghép cúc
và thùa khuyết Người ghép cúc và thùa khuyết không kịp tốc độ với người đo và cắt Như vậy, sản phẩm cận biên của người thứ 3 sẽ nhỏ hơn người thứ 2
Đặc biệt, nếu lao động tăng lên vượt mức độ chuyên môn hóa, ví dụ lên 7 người, mà công đoạn sản xuất chỉ có 6 khâu và các vật dụng cho cắt may ban đầu chỉ dành cho một người Như vậy các vật dụng đều hoạt động hết công suất với 6 người lao động, nếu thêm một người nữa sẽ dẫn tới sử dụng nguồn lực không hiệu quả, có người chơi và chờ việc nhiều, không có việc làm Ngoài ra do không có việc, người này có thể đi buôn chuyện với người này, người khác Nói chuyện bao giờ cũng phải có đối tác, không thể nói chuyện một mình nên với người lao động quá mức này có thể làm cho hiệu quả lao động của những người lao động trước giảm và làm cho số sản phẩm được tạo ra không
Tổng sản phẩm, sản phẩm bình quân hay sản phẩm cận biên theo một đầu vào này sẽ phụ thuộc vào
số lượng đầu vào khác đang được sử dụng Trong ví dụ trên, nếu vốn tăng từ 10 lên tới 20 thì chắc chắn sản phẩm cận biên theo lao động sẽ tăng và cũng sẽ làm cho AP L và Q cũng thay đổi theo Nguyên nhân là với mức đầu tư và trang bị điều kiện sản xuất tốt hơn cho công nhân sẽ giúp tăng năng suất lao động
Trang 7tăng lên mà còn giảm đi Như vậy, sản phẩm cận biên của người lao động thứ 7 này có thể bằng 0 hoặc nhỏ hơn 0
Khi nghiên cứu về quy luật sản phẩm cận biên giảm dần (hay hiệu suất sử dụng các yếu
tố đầu vào giảm dần) chúng ta cần nhớ giả định các đầu vào lao động là có trình độ ngang nhau Vì vậy, hiệu suất giảm đi là do những hạn chế khi sử dụng các yếu tố cố định Theo như ví dụ trên, vốn không thay đổi, các vật dụng cho sản xuất quần áo không thay đổi, nên hiệu quả sử dụng các vật dụng này giảm đi khi thuê thêm lao động Điều
đó khẳng định rằng, hiệu suất giảm dần không phải là do sự giảm sút về chất lượng của người lao động Ngoài ra, quy luật này áp dụng với công nghệ sản xuất cho trước Vì sao lại như vậy? Do nếu có sự tiến bộ về công nghệ sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên,
sự hạn chế về sử dụng các yếu tố cố định được thay thế bởi những tiến bộ về công nghệ
và làm cho sản phẩm cận biên tăng lên
d Mối quan hệ giữa sản phẩm cận biên MP L và sản phẩm bình quân AP L
Trên trục tọa độ hai chiều ta biểu diễn đường sản lượng với trục tung là sản lượng Q và trục hoành biểu diễn số lượng lao động L Sản lượng tăng lên cho đến khi đạt mức tối đa sau đó giảm xuống Đoạn đi xuống xuất phát từ đỉnh C, khi sản xuất vượt quá mức sản
nằm trong hàm sản xuất Hàm sản xuất kỹ thuật không chấp nhận những mức sản phẩm cận biên âm
Hình 4.1 Mối quan hệ giữa đường Q, AP L và MP L
AP L
Trang 8Không phải ngẫu nhiên mà đường sản phẩm biên lại cắt trục hoành của đồ thị tại điểm tổng sản lượng đạt tối đa Điều này xảy ra vì khi sản lượng đạt cực đại thì việc đưa thêm một người công nhân vào dây chuyền sản xuất làm cản trở dây chuyền sản xuất và làm giảm tổng sản lượng, cũng có nghĩa là sản phẩm biên của người đó là âm
Như vậy, sản phẩm biên của lao động tại một điểm là độ dốc của đường tổng sản lượng tại điểm đó
Tại L1 ta có
1
1 L
1 1
ALQAP
2 2
BLQAP
3 3
CLQAP
L OL
tọa độ lên đến điểm nằm trên đường sản lượng ứng với số lượng lao động tại điểm đó
Từ điểm O đến điểm B thì độ dốc xuất phát từ điểm O đến các điểm trên đường sản
đạt giá trị lớn nhất
Có thể tóm tắt hình dạng các đường như sau:
giá trị cực đại
Trang 94.1.3 Sản xuất trong dài hạn
Tương tự như việc nghiên cứu sản xuất trong ngắn hạn, chúng ta sẽ xem xét về hàm sản xuất dài hạn, các chỉ tiêu về sản xuất trong dài hạn
a Hàm sản xuất dài hạn
Trong dài hạn, cả yếu tố đầu vào vốn và lao động đều biến đổi nên hàm sản xuất của doanh nghiệp sẽ có dạng:
Q = f(K,L) Sản xuất trong dài hạn mang tính linh hoạt cao hơn so với sản xuất trong ngắn hạn (do tất cả các yếu tố đầu vào đều thay đổi được)
Bảng 4.2 Sản xuất với 2 đầu vào thay đổi
Đầu vào lao động (L) Đầu vào vốn
và 2 vốn đầu vào, sản lượng đầu ra là 85
Vẽ số liệu trong Bảng 4.2 trên đồ thị sẽ tạo nên các điểm và nếu ta nối các điểm có cùng mức sản lượng thì sẽ tạo nên đường đồng lượng Một đường đồng (đẳng) lượng là một đường thể hiện tất cả các kết hợp đầu vào hợp lý mà mang lại cùng một mức đầu ra
Hình 4.2 Sản suất với 2 đầu vào biến đổi
Trục tung biểu thị vốn/năm và trục hoành lao động/năm Đường đẳng lượng thể hiện sự kết hợp của những đầu vào biến đổi cần thiết của một doanh nghiệp để sản xuất cùng một lượng đầu ra Một tập hợp các đường đẳng lượng, hay bản đồ đường đẳng lượng,
Trang 10mô tả hàm sản xuất của doanh nghiệp Đầu ra tăng khi một đường dịch chuyển từ đường
Ví dụ: Đồ thị 4.3 cho ta ba đường đẳng lượng vẽ từ số liệu bảng 4.2 Ví dụ, đường đẳng
đầu ra là 55 Hai điểm A và D, trên đồ thị, nối lại với nhau cho ta dạng thông thường của một đường đồng lượng Tại điểm A, chỉ có một lao động với 3 vốn trong khi tại B là 3
mức sản lượng đầu ra là 75, vì đường này có kết hợp nhiều lao động, hoặc vốn hoặc cả
Chú ý: Doanh nghiệp sẽ thay đổi các điều kiện này theo thời gian, và điều đó làm phức tạp bài toán của chúng ta Để đơn giản hóa, chúng ta sẽ không tính tới thời gian mà chỉ xét
số lượng của lao động, vốn và đầu ra tại một khoảng thời gian và không gian nhất định Qua bảng số liệu có thể thấy, có những trường hợp mặc dù sự kết hợp về đầu vào là khác nhau nhưng vẫn tạo ra mức sản lượng như nhau Khi biểu thị trên đồ thị các cách kết hợp
đó sẽ nằm trên một đường được gọi là đường đồng lượng
Đường đồng lượng có tính chất tương tự như đường bàng quan, đường đồng lượng càng
xa gốc tọa độ thể hiện các cách kết hợp đầu vào tạo ra nhiều sản lượng hơn, đường đồng lượng là đường có độ dốc âm và là đường cong lồi về phía gốc tọa độ, không có hai đường đồng lượng cắt nhau
Điểm khác ở đây là mỗi đường đồng lượng ứng với mức sản lượng cụ thể Trong khi những con số gán cho đường bàng quan chỉ có ý nghĩa xếp hạng theo thứ tự vì không đo lường được một mức thỏa dụng cụ thể
c Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên
giảm đi khi dùng thêm một đơn vị lao động nữa mà vẫn giữ nguyên mức sản lượng Hay
Trang 11nói cách khác, MRTSL/K thể hiện 1 đơn vị lao động có thể thay thế cho bao nhiêu đơn vị vốn mà sản lượng đầu ra không thay đổi
Độ dốc của mỗi đường đồng lượng cho thấy có thể thay thế một đầu vào này bằng một lượng đầu vào kia mà không thay đổi mức sản lượng
nghiệp muốn thuê thêm 1 đơn vị lao động cần giảm đi 3 đơn vị vốn
Hình 4.5 Sự di chuyển các điểm trên đường đồng lượng
Khi di chuyển từ điểm A đến điểm B trên đường sản lượng Q ta có:
ǀ∆Lǀ đơn vị lao động thay thế được cho ǀ∆K ǀ đơn vị vốn
MPK
Trang 12Hai trường hợp đặc biệt của đường đồng lượng:
Cũng giống như đường bàng quan, khi các yếu tố đầu vào có mối quan hệ mật thiết với nhau sẽ làm cho đường đồng lượng có những hình dạng đặc biệt như sau:
Hai đầu vào thay thế hoàn hảo:
Giả sử lao động có thể thay thế hoàn hảo cho vốn Do đó, cùng một mức sản lượng thì có thể được sản xuất hầu hết chỉ dùng vốn (tại A) hay chỉ sử dụng lao động (tại C)
MRTS không đổi tại mọi điểm trên đường đồng lượng
Ví dụ: Người lao động và máy cày được sử dụng để cải tạo đất ở vùng đồi núi thành ruộng bậc thang Theo thống kê cứ 5 người làm sẽ có được kết quả là 100 bậc ruộng thang trong một ngày bằng với kết quả làm của một chiếc máy cày
K
L
Q3
Q 1 Q20
Hình 4.6 Đường đồng lượng với 2 đầu vào thay thế hoàn hảo
Hai đầu vào bổ sung hoàn hảo:
Ví dụ: Dây chuyền sản xuất tôm đông lạnh xuất khẩu, cứ mỗi dây chuyền đòi hỏi có
50 công nhân đứng để hoàn thiện hộp tôm thành phẩm Hay mỗi quay sợi vải đòi hỏi một người ngồi quay (thủ công), với mỗi hệ thống kiểm soát vé xe tự động IPaking của công ty Cổ phần công nghệ Futech đòi hỏi một người giám sát
Cũng tương tự như đường bàng quan ứng với các hàng hóa có khả năng bổ sung hoàn hảo cho nhau, đường đồng lượng trong trường hợp đầu vào bổ sung hoàn hảo cũng có dạng hình chữ L
Các điểm A, B, C là những phương án kết hợp đầu vào có hiệu quả về mặt kỹ thuật
lượng Sản lượng chỉ tăng thêm lên khi tăng cả lao động và vốn
Hình 4.6 Đường đồng lượng với 2 đầu vào bổ sung hoàn hảo
Trang 134.2 Lý thuyết về chi phí sản xuất
4.2.1 Chi phí và các cách tiếp cận chi phí
Chi phí sản xuất là toàn bộ phí tổn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải bỏ ra, phải gánh chịu trong một thời kỳ nhất định
Chi phí thuê lao động, vay vốn, thuê đất đai
Chi phí khấu hao tài sản cố định…
Khi xét đến chi phí, chúng ta cần xét hai thuật ngữ chi phí kinh tế và chi phí kế toán Một nhà kinh tế nghĩ đến chi phí khác một kế toán viên Kế toán viên chỉ quan tâm đến báo cáo tài chính của hãng, họ thường nhìn vào hoạt động tài chính của hãng trong quá khứ vì họ phải theo dõi các tài sản và nguồn vốn, đánh giá hoạt động đã qua Xem case study 4.1
Chi phí kế toán là những khoản chi phí đã được thực
hiện bằng tiền và được ghi chép trong sổ sách kế toán
Bao gồm chi phí nguyên vật liệu, nhà xưởng, máy
móc, chi phí tiền lương cho người lao động, chi phí
khấu hao máy móc thiết bị, thuế
Các nhà kinh tế nhìn về tương lai của hãng, họ quan
tâm đến việc dự tính chi phí trong thời gian tới sẽ thế
nào và hãng làm thế nào để phân bổ lại các nguồn lực
nhằm giảm chi phí và tăng lợi nhuận Do đó, họ quan
tâm đến chi phí cơ hội là chi phí liên quan đến những cơ hội đã bị bỏ qua do nguồn lực của hãng không được sử dụng vào công việc đem lại nhiều giá trị nhất
Chi phí kinh tế là toàn bộ phí tổn của việc sử dụng các nguồn lực kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Chi phí kinh tế chính là chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn lực
Ví dụ: Một công ty đang sở hữu một tòa nhà và do vậy không phải trả tiền thuê văn phòng Vậy chi phí thuê văn phòng là bao nhiêu? Kế toán viên: chi phí này bằng 0 Nhà kinh tế: Công ty có thể kiếm được tiền cho thuê văn phòng bằng cách đem tòa nhà này cho công ty khác thuê Số tiền thuê nhà này là chi phí cơ hội của việc sử dụng văn phòng
và phải được coi như một phần chi phí kinh doanh
Tương tự như việc nghiên cứu về lý thuyết sản xuất, chúng ta cũng nghiên cứu về chi phí trong ngắn hạn và dài hạn và mối quan hệ giữa chúng
4.2.2 Chi phí sản xuất trong ngắn hạn
Chi phí sản xuất trong ngắn hạn là những phí tổn mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi tiến hành sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn Bao gồm: tổng chi phí ngắn hạn (chi phí
Tổng chi phí sản xuất ngắn hạn (TC): Là toàn bộ những phí tổn mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong thời gian ngắn hạn
Tổng chi phí gồm hai bộ phận chi phí cố định và chi phí biến đổi
Chi phí ẩn
Trang 14Chi phí cố định (TFC): Là những chi phí không thay đổi theo mức sản lượng Bao gồm
chi phí nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị
Chi phí cố định không thay đổi theo mức sản lượng, nó là khoản chi ngay cả khi không
có sản phẩm Chỉ có thể loại trừ định phí bằng cách đóng cửa toàn bộ doanh nghiệp
Chi phí biến đổi (TVC): Là những khoản chi phí thay đổi theo mức sản lượng Bao gồm
các khoản chi trả tiền công, lương tháng và mua nguyên vật liệu
Ta có tổng chi phí bằng chi phí cố định cộng với chi phí biến đổi:
Hình dạng của các đường chi phí
Chi phí cố định TFC không thay đổi theo sản lượng nên được biểu diễn là một đường nằm ngang
Chi phí biến đổi TVC = 0 khi Q = 0 và sau đó tăng khi sản lượng tăng Tổng chi phí TC
là tổng theo chiều dọc của TFC và TVC
FC
Hình 4.7 Các đường chi phí trong ngắn hạn
Để quyết định sản xuất bao nhiêu, những người quản lý của hãng cần biết biến phí
sẽ tăng lên như thế nào khi mức sản lượng tăng Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần đưa ra thêm một số thước đo chi phí nữa Đó là chi phí cận biên (MC) và chi phí trung bình (ATC)
TFC TFC
TVC TFC
Trang 15Chi phí bình quân (ATC, AVC, AFC)
Chi phí cố định bình quân (AFC) là tổng chi phí cố định tính trên một đơn vị sản phẩm:
TFCAFC =
Q
Vì TFC là cố định nên khi mức sản lượng tăng lên chi phí cố định bình quân sẽ giảm xuống Nói cách khác, AFC liên tục giảm khi sản lượng tăng vì khi mức sản lượng tăng lên thì chi phí cố định được phân bổ cho số lượng đơn vị sản lượng ngày càng lớn hơn
Chi phí biến đổi bình quân (AVC) là tổng chi phí biến đổi tính trên một đơn vị sản phẩm
TVCAVC =
Q
Do quy luật hiệu suất giảm dần nên chi phí biến đổi bình quân (AVC) lúc đầu giảm khi doanh nghiệp tăng sản lượng nhưng sau đó có xu hướng tăng lên Do đó, AVC có hình dạng chữ U
Chi phí bình quân (ATC) là chi phí sản xuất tính trên một đơn vị sản phẩm Tổng chi phí
bình quân bằng tổng chi phí chia cho mức sản lượng của hãng đó
TCATC =
Q
Vậy tổng chi phí bình quân có thể được tính bằng tổng của chi phí cố định bình quân và chi phí biến đổi bình quân
Do đó, hình dạng của ATC phản ánh hình dạng của hai đường AVC và AFC Tại các mức sản lượng thấp, tổng chi phí bình quân cao vì chi phí cố định chỉ được phân bổ cho một số ít đơn vị sản phẩm Khi sản lượng tăng đến một mức độ nào đó thì tổng chi phí bình quân giảm Khi hãng sản xuất thêm sản lượng thì tổng chi phí bình quân tăng lên do chi phí biến đổi bình quân tăng mạnh Do đó, đường tổng chi phí bình quân cũng có dạng chữ U
Vì AFC giảm theo Q nên khoảng cách theo chiều dọc giữa các đường ATC và AVC giảm dần khi sản lượng tăng lên Do vậy, khi sản lượng tăng thì khoảng cách giữa đường ATC và AVC càng gần nhau hơn
Hình 4.8 Các đường chi phí bình quân trong ngắn hạn
ATC
Trang 16Chi phí cận biên (MC): là sự thay đổi trong tổng chi phí khi sản xuất thêm một đơn vị
sản phẩm
Công thức tính:
' Q
tự tổng chi phí sản xuất cũng tăng từ 128 tới 148 triệu đồng) AFC bằng TFC (cột 2) chia cho lượng đầu ra (cột 1) Ví dụ: AFC của Q = 4 đơn vị là 50/4 = 12.5 triệu đồng/đơn vị Tương tự, AVC khi sản xuất 5 đơn vị đầu ra là 26 = 130/5 (triệu đồng/đơn vị) Cuối cùng, tổng chi phí bình quân (ATC) ở mức đầu ra 5 đơn vị là 36 = 180/5 (triệu đồng/đơn vị) Về cơ bản, tổng chi phí bình quân cho chúng ta biết chi phí trên một đơn vị sản xuất Bằng cách so sánh tổng chi phí bình quân với giá bán của sản phẩm, chúng ta có thể xác định sản xuất của doanh nghiệp có lãi hay không
Trang 17hay chi phí bình quân thì có xu hướng lúc đầu giảm sau đó lại tăng Sở dĩ MC và ATC có
xu hướng như vậy do tác động của quy luật lợi tức giảm dần mà đã đề cập trong phần trước
Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và sản phẩm cận biên
Giả sử quá trình sản xuất của một hãng chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, vốn là yếu tố cố định Giá thuê một đơn vị lao động là w
Khi hãng thuê thêm ΔL đơn vị lao động, hãng mất một chi phí là w.ΔL và số lượng sản phẩm thay đổi một lượng là ΔQ
phẩm cận biên giảm dần, tức có nghĩa là trong ngắn hạn, càng bổ sung thêm yếu tố đầu
lên Thật vậy, khi hãng đang sản xuất với một mức sản lượng nhỏ thì hãng thuê ít nhân công và nhiều thiết bị không được sử dụng Bởi vì hãng có thể dễ dàng sử dụng những nguồn lực nhàn rỗi này nên sản phẩm cận biên của mỗi công nhân tăng thêm lớn và chi phí cận biên cho mỗi sản phẩm tăng thêm là
nhỏ Ngược lại, khi hãng đang sản xuất với một
mức sản lượng lớn, hãng sẽ thuê thêm nhiều
công nhân và hầu hết các thiết bị đã được sử
dụng hết Hãng có thể sản xuất nhiều sản lượng
hơn bằng cách thuê thêm lao động nhưng lao
động mới phải làm việc trong điều kiện chật
chội và có thể phải chờ đợi để được sử dụng
thiết bị Do đó, khi sản lượng được sản xuất ở
mức quá cao, sản phẩm cận biên của mỗi công
nhân tăng thêm thấp và chi phí cận biên của mỗi
sản phẩm lớn
Hình dạng của đường chi phí cận biên MC được mô tả sau đây
Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân
Giữa tổng chi phí bình quân và chi phí cận biên (ATC và MC)
Hình 4.9: Đường chi phí cận biên
Trang 18o Khi '
Q
MC ATC ATC 0 Hàm ATC là hàm đồng biến tức là Q tăng thì
o Khi MC ATC ATCQ' 0 ATCmin
Chúng ta có thể lấy ví dụ rất dễ hiểu như sau: Điểm bình quân tích lũy kỳ này của học sinh A là tổng chi phí bình quân Và
Mối quan hệ giữa AVC và MC
o MC AVC AVCQ' 0 AVC min
C
Q
AC
AVC MC
0
ACminAVCmin
Q1 < Q2
Hình 4.10 Mối quan hệ giữa MC, ATC và AVC
Chú ý:
AVC đạt cực tiểu của nó tại mức sản lượng thấp hơn so với đường ATC
Vì MC = AVC tại điểm cực tiểu của AVC Do MC = ATC tại điểm cực tiểu của ATC,
phải nằm trên và về bên phải điểm cực tiểu của đường AVC
Mối quan hệ trên giữa tổng chi phí bình quân (ATC) và chi phí cận biên (MC) có ý nghĩa quan trọng Đường chi phí cận biện cắt đường chi phí bình quân tại điểm có quy
mô hiệu quả Tại sao lại khẳng định được điều đó? Vì tại điểm mà MC cắt ATC ta có
không nên mở rộng quy mô sản xuất
ATC
Trang 19TechInsights: Chi phí sản xuất iPhone 5 khoảng 167,5 USD
Theo ước tính của UBM TechInsights, phiên bản mới của
iPhone mà Apple vừa ra mắt sử dụng nguyên vật liệu đắt
tiền hơn so với thành viên tiền nhiệm iPhone 4S của mình
Điện thoại Iphone 5
Theo ước tính ban đầu, chi phí để sản xuất iPhone 5 phiên
bản 16 GB là vào khoảng 167,5 USD Con số này bao gồm
18 USD để sản xuất màn hình 4 inch có độ phân giải 1136
x 640 pixel, 7,5 USD cho màn hình cảm ứng, 3 USD cho
pin, 28 USD cho VXL A6, 10 USD cho máy ảnh và 4 USD
cho Wi–Fi/Bluetooth/GPS Cùng với các chi phí thành phần
khác, giá cho nguyên vật liệu sản xuất iPhone 5S là vào khoảng 167,5 USD
Cũng theo TechInsights, Apple phải bỏ số tiền 132,5 USD để sản xuất iPhone 4S phiên bản
16 GB, còn với iPhone 4 là 112 USD Ngoại trừ pin và bộ nhớ flash NAND, tất cả các thành phần khác của iPhone 5 cao hơn so với 2 phiên bản tiền nhiệm
Lưu ý rằng ước tính mà TechInsights đưa ra dành cho iPhone 5 chỉ là một ước tính rất sơ bộ bởi các thành phần bên trong vẫn chưa được tháo rời và phân tích TechInsights hứa hẹn sẽ
mở iPhone mới và kiểm tra bên trong nó một khi thiết bị được phát hành ra thị trường vào ngày 21/9 tới đây để có con số ước tính chính xác hơn
Được biết, iPhone 5 16/32/64 GB được bán với giá tương ứng lần lượt là 199/299/399 USD, bao gồm hợp đồng sử dụng 2 năm với nhà cung cấp dịch vụ Hiện người dùng đã có thể đặt hàng trước iPhone 5 trên trang web của Apple cũng như các đối tác Sprint, AT&T và Verizon
Theo CNET
4.2.3 Chi phí sản xuất trong dài hạn
Chúng ta cần chú ý tới điều kiện sản xuất trong dài hạn không có chi phí cố định mà chỉ
có chi phí biến đổi Vì tất cả các yếu tố sản xuất đều thay đổi trong dài hạn Chúng ta sẽ xem xét một số chỉ tiêu về chi phí trong dài hạn như sau:
a Một số chỉ tiêu về chi phí sản xuất trong dài hạn
Tổng chi phí dài hạn (LTC)
Tổng chi phí dài hạn bao gồm toàn bộ những phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh các hàng hóa hay dịch vụ trong điều kiện các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đều có thể điều chỉnh
Thông qua số liệu ví dụ về sự linh hoạt hơn của sản xuất trong ngắn hạn và dài hạn, chúng ta có thể thấy chi phí trong dài hạn là chi phí ứng với khả năng sản xuất trong ngắn hạn tốt nhất (chi phí trong ngắn hạn là thấp nhất) ứng với từng mức sản lượng đầu ra
Trang 20Điểm xuất phát của đường LTC là từ gốc tọa độ
Chi phí bình quân dài hạn (LAC)
Là mức chi phí bình quân tính trên mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất trong dài hạn
Công thức tính:
LTCLAC
Q
Đường LAC cũng có dạng hình chữ U giống như hình dạng của đường AC, tuy nhiên mức độ thoải hơn Chúng ta hoàn toàn có thể chứng minh được điều này thông qua xem xét mối quan hệ giữa AC và LAC
Mối quan hệ giữa chi phí bình quân dài hạn và chi phí cận biên dài hạn
Cũng giống như trong ngắn hạn Chi phí bình quân trong dài hạn cũng có mối quan hệ với chi phí cận biên trong dài hạn Cụ thể là:
LMC nằm dưới đường LAC hay LMC < LAC khi đường LAC đi xuống và nằm trên đường LAC hay LMC > LAC khi đường LAC đi lên Giao điểm cực tiểu của đường LAC
C
Q
0
LAC LMC
LACmin
Hình 4.13 Mối quan hệ giữa các đường LMC và LAC
Trang 21b Hiệu suất theo quy mô
Nếu trong trường hợp sản xuất trong ngắn hạn phải đối diện với quy luật hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào giảm Trong dài hạn, với sự gia tăng của quy mô sản xuất (các yếu tố đầu vào tăng lên cùng một tỷ lệ n), chúng ta sẽ xem xét trong 3 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Sản lượng tăng lên với mức tỷ lệ m > n
Khi đó hãng đạt được hiệu suất tăng theo quy mô Điều này có thể xảy ra do quy mô xí nghiệp lớn hơn cho phép công nhân và các nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác những nhà xưởng và thiết bị đồ sộ hơn, tinh vi hơn Ví dụ: Dây chuyền sản xuất ô tô Hiện nay chúng ta có thể thấy các hãng có sức cạnh tranh lớn thường có lợi thế theo quy mô Tức là càng tăng quy mô, sản lượng sản xuất nhiều hơn
và làm cho chi phí giảm Qua đó họ có thể thực hiện việc kiểm soát giá, bán với giá thấp hơn các hãng nhỏ mà vẫn đạt mức lợi nhuận cao Doanh nghiệp đạt hiệu suất tăng theo quy mô khi chi phí cận biên dài hạn nhỏ hơn chi phí bình quân Từ đó làm cho chi phí bình quân dài hạn giảm xuống (hay tổng chi phí tăng ít hơn so với sự tăng lên của tổng sản lượng, LAC giảm) Ta có thể biểu diễn hiệu suất tăng theo quy mô thông qua đồ thị giữa LAC và LMC:
C
Q
0
LAC LMC
Hình 4.14 Hiệu suất tăng theo quy mô
Trường hợp 2 Hiệu suất không đổi theo quy mô
Giả sử sản lượng tăng lên với tỷ lệ m = n Với hiệu suất không đổi theo quy mô, quy mô sản xuất của hãng không ảnh hưởng đến năng suất các đầu vào Sản phẩm bình quân và sản phẩm cận biên của các đầu vào không thay đổi cho dù nhà máy lớn hay nhỏ với hiệu suất không đổi theo quy mô Một nhà máy sử dụng một quy trình sản xuất cụ thể nào đó
có thể dễ dàng được nhân rộng ra sao cho có hai nhà máy sẽ sản xuất ra sản lượng gấp đôi Trường hợp hiệu suất không đổi theo quy mô, ta có chi phí cận biên dài hạn bằng với chi phí bình quân dài hạn Điều này được thể hiện trên đồ thị sau:
Trang 22Trường hợp 3: Hiệu suất giảm theo quy mô
Trong trường hợp này sản lượng tăng lên với tỷ lệ m < n Trường hợp này xảy ra khi những khó khăn về quản lý xuất phát từ tính phức tạp của quá trình tổ chức và điều hành sản xuất lớn làm cho năng suất của cả lao động lẫn vốn đều giảm Liên hệ giữa công nhân và các nhà quản lý càng trở nên khó theo dõi hơn và chỗ làm việc trở nên khó quản
lý hơn Do đó, trường hợp hiệu suất giảm dần chắc chắn có liên quan với những vấn đề phối hợp các nhiệm vụ và duy trì những kênh liên lạc hữu ích giữa ban giám đốc và công nhân Doanh nghiệp có hiệu suất giảm theo quy mô khi đó chi phí cận biên dài hạn lớn hơn chi phí bình quân dài hạn và làm cho chi phí bình quân của doanh nghiệp tăng lên Chúng ta có đồ thị thể hiện hiệu suất giảm theo quy mô như sau:
C
Q
0
LAC LMC
Hình 4.16 Hiệu suất giảm theo quy mô
Tóm lại, khi tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên cùng một tỷ lệ, xem xét tốc độ tăng của sản phẩm đầu ra
Nếu f(aK,aL) > a.f(K,L) hiệu suất kinh tế tăng theo quy mô
Nếu f(aK,aL) < a.f(K,L) hiệu suất kinh tế giảm theo quy mô
Nếu f(aK,aL) = a.f(K,L) hiệu suất kinh tế không đổi theo quy mô
Trong dài hạn, chúng ta thấy rằng hầu hết công nghệ sản xuất của hãng ban đầu đều thể hiện lợi tức tăng dần theo quy mô, sau đó thể hiện hiệu suất không đổi theo quy
mô và cuối cùng chuyển thành hiệu suất giảm dần theo quy mô Do đó, đường chi phí bình quân dài hạn có dạng chữ U giống đường chi phí trung bình ngắn hạn nhưng nguyên nhân gây ra hình dạng chữ U này là do hiệu suất tăng và giảm dần theo quy
mô chứ không phải là hiệu suất giảm dần của một yếu tố sản xuất
Ví dụ: Một trong các hàm sản xuất được sử dụng rộng rãi trong thực tế để mô tả hiệu
Trong đó: A là một hằng số phụ thuộc vào tình trạng các đầu vào và đầu ra mà không lượng hoá được khi đo lường theo đơn vị đang tính, α và β là các hằng số nói cho chúng ta biết về mức đóng góp của lao động và vốn trong quá trình sản xuất tạo đầu
ra Ở đây, α và β đều nhỏ hơn một Tổng của hai hằng số α và β có ý nghĩa rất lớn trong kinh tế học
Nếu α + β = 1, thì hàm sản xuất thể hiện hiệu suất theo quy mô không đổi
Nếu α + β < 1, thì đây là hàm sản xuất thể hiện hiệu suất quy mô giảm
Nếu α + β > 1, thì đây là hàm sản xuất thể hiện hiệu suất quy mô tăng