Một số khái niệm cơ bản
Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, phản ánh nhu cầu thiết yếu của mọi chế độ và quốc gia qua các thời đại Khái niệm "quản lý" rất rộng, bao trùm nhiều khía cạnh của đời sống xã hội và có nhiều cách diễn đạt cùng quan điểm khác nhau.
“Quản lý” trong từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”
Quản lý là quá trình trông coi, chăm sóc và duy trì sự ổn định, đồng thời sửa sang, sắp xếp để thúc đẩy sự phát triển.
Tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý, C.Mác đã quan niệm rằng:
Bất kỳ hoạt động lao động xã hội hay cộng đồng nào quy mô lớn đều cần quản lý để thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng lẻ và thực hiện chức năng chung Điều này xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất, khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập Ví dụ, một nghệ sĩ chơi đàn chỉ cần điều khiển bản thân, trong khi một dàn nhạc cần có sự dẫn dắt của nhạc trưởng.
Quản lý là quá trình chỉ huy và điều khiển các hoạt động xã hội, nhằm phát triển theo quy luật và đạt được mục tiêu đã đề ra Văn hóa phản ánh những giá trị đặc trưng của cộng đồng, dân tộc, hay quốc gia, được hình thành qua sự sáng tạo của các thành viên trong nhiều thế hệ.
Quản lý được định nghĩa là việc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, đồng thời tổ chức và điều hành các hoạt động cũng theo những tiêu chí cụ thể.
Quản lý là quá trình có tổ chức và định hướng, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý Mục tiêu của quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong môi trường biến động, nhằm ổn định và phát triển hệ thống, đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý và hoạt động quản lý xuất phát từ sự phân công và hợp tác lao động, là những hoạt động khách quan cần thiết để đạt được mục tiêu chung thông qua nỗ lực tập thể Quản lý hiện diện trong tất cả các tổ chức, từ quy mô nhỏ đến lớn, và từ đơn giản đến phức tạp Khi trình độ xã hội phát triển, yêu cầu về quản lý cũng gia tăng, dẫn đến vai trò của quản lý ngày càng quan trọng hơn.
Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý, bao gồm con người hoặc tổ chức, là tác nhân tạo ra các tác động quản lý đến đối tượng quản lý Đối tượng quản lý sẽ trực tiếp tiếp nhận những ảnh hưởng từ chủ thể thông qua các công cụ và phương pháp phù hợp, tuân theo những nguyên tắc nhất định.
Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
Mục tiêu quản lý là đích đến cụ thể được xác định bởi người quản lý, tạo cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động và lựa chọn phương pháp quản lý phù hợp Sự ra đời của quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất công việc.
Quản lý văn hóa
Quản lý văn hóa là hình thức quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực văn hóa, phản ánh vai trò và chức năng của nhà nước trong lĩnh vực này Khái niệm quản lý văn hóa còn khá mới mẻ và chưa được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa rõ ràng Thuật ngữ này bao hàm cả quản lý văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong đời sống con người, giúp phân biệt giữa quản lý văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa.
Theo Giáo trình quản lý Nhà nước về xã hội, Học viện hành chính
Quản lý nhà nước về văn hóa được định nghĩa là việc sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi của con người trong các hoạt động văn hóa.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa là một hoạt động đặc thù, bởi vì văn hóa là lĩnh vực sáng tạo, sản xuất ra các giá trị văn hóa có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Hoạt động văn hóa không chỉ là tư tưởng tinh thần mà còn có khả năng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển xã hội Nó đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế, trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế Quản lý văn hóa thể hiện qua các cấp lãnh đạo, từ vi mô đến các đơn vị cơ sở, và ở Việt Nam, quản lý nhà nước về văn hóa được chia thành hai dạng: quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp đối với các hoạt động văn hóa.
Quản lý nhà nước là trách nhiệm từ Chính phủ đến các cấp Ủy ban nhân dân, Bộ, Sở, Phòng, Ban, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước Trong khi đó, quản lý sự nghiệp văn hóa tập trung vào chuyên môn theo từng lĩnh vực hoạt động văn hóa, thuộc về các thiết chế văn hóa chuyên ngành, với nhiệm vụ quản lý toàn bộ hoạt động của các thiết chế này do Nhà nước điều hành.
Văn hóa và các hoạt động văn hóa cần sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước, do đó, cần xác định rõ đối tượng mà Nhà nước quản lý, bao gồm đời sống văn hóa, hoạt động văn hóa và các công trình văn hóa phục vụ nhu cầu của nhân dân Nhà nước đại diện cho nhân dân để bảo đảm quyền văn hóa theo hiến pháp, điều tiết hài hòa cấu trúc và lợi ích văn hóa của các tầng lớp trong xã hội, đồng thời giải quyết yêu cầu phát triển và nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong bối cảnh xã hội không ngừng vận động và phát triển.
Di sản văn hóa
Di sản văn hóa Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là kết tinh trí tuệ và tình cảm của các thế hệ cha ông Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, Việt Nam vẫn bảo tồn được kho tàng di sản văn hóa phong phú và đa dạng Nhờ vào di sản này, các thế hệ hiện tại và tương lai có được nền tảng vững chắc về truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, giúp họ tiến bước vững chắc vào tương lai Di sản văn hóa không chỉ phản ánh tinh thần và trách nhiệm của con người Việt Nam, mà còn thể hiện cách ứng xử của họ trước những thách thức của tự nhiên và lịch sử.
Luật Di sản Việt Nam khẳng định:
Di sản văn hóa (DSVH) Việt Nam là tài sản quý giá của các dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước DSVH bao gồm cả di sản văn hóa phi vật thể và vật thể, là những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Di sản văn hóa phi vật thể thể hiện bản sắc của cộng đồng, gắn liền với các cá nhân và không gian văn hóa, được tái tạo và lưu truyền thông qua các hình thức như truyền miệng, truyền nghề và trình diễn.
DSVH vật thể là những sản phẩm vật chất mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH), di sản văn hóa (DLTC), di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu, với nhiều công trình phân tích từ các góc độ và cách phân loại khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất rằng di sản văn hóa, dù vật chất hay tinh thần, là thành quả sáng tạo của nhân dân, mang giá trị lớn lao trong đời sống và góp phần tạo nên sức sống của dân tộc Để bảo tồn và phát huy di sản vô giá này, việc thực hiện Luật Di sản của Quốc hội Việt Nam là cần thiết, đồng thời mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc Điều này không chỉ có ý nghĩa với sự phát triển đất nước mà còn ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc, giúp chúng ta khai thác giá trị văn hóa tinh thần từ di sản địa phương, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo, mang bản sắc riêng của dân tộc.
Di tích lịch sử văn hóa
1.1.4.1 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa đóng vai trò quan trọng trong di sản văn hóa dân tộc, là những dấu vết còn lại của quá khứ, mang ý nghĩa văn hóa và lịch sử Các di tích này không chỉ thể hiện giá trị lịch sử mà còn chứa đựng giá trị văn hóa, do đó, tất cả di tích văn hóa đều đồng thời là di tích lịch sử.
Mỗi quốc gia đều có những quy định riêng về Di sản văn hóa (DTLSVH) của dân tộc mình Theo Điều I của Hiến chương Vernice - Italia, DTLSVH bao gồm các công trình xây dựng đơn lẻ và khu di tích ở cả đô thị lẫn nông thôn, phản ánh nền văn minh độc đáo, sự tiến hóa có ý nghĩa, hoặc các sự kiện lịch sử quan trọng.
Di tích, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, được định nghĩa là tàn tích và dấu vết của quá khứ Trong bối cảnh di tích lịch sử văn hóa, nó bao gồm tổng thể các công trình, địa điểm, đồ vật, tác phẩm và tài liệu có giá trị lịch sử hoặc văn hóa được bảo tồn.
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định rằng di sản văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa, và khoa học.
1.1.4.2 Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa
Tại điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định di tích lịch sử văn hóa phải có một trong những tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
Công trình xây dựng và địa điểm liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhân và nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương qua các thời kỳ lịch sử Những di sản này không chỉ ghi nhớ những đóng góp của họ mà còn tạo động lực cho các thế hệ sau trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
Công trình kiến trúc và nghệ thuật, cùng với quần thể kiến trúc và tổng thể đô thị, thể hiện giá trị tiêu biểu cho nhiều giai đoạn phát triển trong lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật.
1.1.4.3 Cơ sở phân loại di tích Để tiến hành phân loại di tích, cần căn cứ vào cơ sở cơ bản sau đây:
Một là, di tích lịch sử văn hóa phải có bốn tiêu chí như ở phần
11.4.2 Khi đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận đó không dễ có được khi đọc những tư liệu ghi chép của đời sau Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu, ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố ), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật ) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Di tích thuộc loại ngày rất đa dạng, phong phú, có ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo đặc điểm tự nhiên, khí hậu, thời tiết và theo thời gian Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt
Di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình, quần thể và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong lịch sử phát triển nghệ thuật kiến trúc Việt Nam Các loại di tích này được phân chia thành 06 loại khác nhau, phản ánh sự đa dạng và phong phú của di sản kiến trúc trong văn hóa Việt Nam.
Các đô thị đã được hình thành qua lịch sử, bao gồm các thành phần cấu thành như phế tích của các đô thị cổ Những phối hợp và tổng thể của các đô thị lớn phản ánh bộ mặt đô thị cùng với các khu dân cư hiện hữu.
- Di tích kiến trúc cư trú, gồm các ngôi nhà ở tại thành thị và nông thôn, các cung thất, dinh thự
- Di tích kiến trúc dân dụng như các công sở, các công trình văn hóa, các công trình phục vụ đời sống
- Di tích kiến trúc tôn giáo (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ, ) lăng tẩm cũng có thể đưa vào loại hình này
- Di tích kiến trúc quân sự như: thành, lũy, hào
Di tích kiến trúc phong cảnh là những khu vực tự nhiên nơi các công trình kiến trúc được hòa quyện vào không gian của công viên, vườn hoa và khu sinh thái.
Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật được thể hiện qua tổng thể và bố cục kiến trúc, sự hòa quyện giữa kiến trúc và cảnh quan, các bức chạm khắc tinh xảo trên kết cấu gỗ, vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ, cùng với nét chạm tinh tế của các đồ thờ tự.
Di tích khảo cổ học là những địa điểm quan trọng, phản ánh sự phát triển của các nền văn hóa qua các thời kỳ Chúng được phân loại thành ba nhóm chính: di tích cư trú, di tích mộ táng và di chỉ cư trú - mộ táng Ngoài ra, di tích cũng có thể được phân chia theo thời đại, bao gồm thời đại đồ Đá, đồ Đồng và đồ Sắt Việt Nam sở hữu nhiều di tích khảo cổ quý giá, cung cấp nguồn tư liệu thiết yếu cho việc nghiên cứu lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời kỳ tiền sử đến các giai đoạn sau này.
Di tích danh lam thắng cảnh là những địa điểm có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học, bao gồm cảnh quan thiên nhiên và các công trình kiến trúc Chúng được chia thành hai loại: loại 1 là những cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm kết hợp với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu, và loại 2 là khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học hoặc chứa đựng dấu tích vật chất về sự phát triển của trái đất Danh lam thắng cảnh thường kết hợp với các công trình tôn giáo tín ngưỡng trong bối cảnh thiên nhiên tươi đẹp.
1.1.4.4 Quy định xếp hạng di tích
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và cấp độ quản lý thì các di tích được xếp hạng như sau:
Di tích cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là những di tích có giá trị tiêu biểu tại địa phương, được công nhận và xếp hạng bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố.
Di tích quốc gia là những di tích có giá trị tiêu biểu được công nhận bởi Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thể thao thông qua quyết định xếp hạng.
Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
DTLSVH là một thành phần quan trọng của DSVH, cần được bảo tồn và phát huy tích cực Việc tổ chức và điều hành các hoạt động bảo vệ DTLSVH sẽ giúp lưu truyền và giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau.
Công tác quản lý di sản văn hóa không chỉ là bảo tồn các giá trị hiện có, mà còn quan trọng hơn là khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, từ đó làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa khoa học và đại chúng.
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa (DSVH) được quy định trong Luật DSVH do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 2001, cùng với các sửa đổi, bổ sung vào năm 2009.
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
6 Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DTLSVH
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [39]
Quản lý di sản văn hóa cần thực hiện đồng bộ các nội dung cơ bản, được cụ thể hóa trong từng giai đoạn của quy trình quản lý nhà nước Các bước này bao gồm tổ chức nghiên cứu, thống kê, phân loại, xếp hạng, lập dự án bảo tồn và tôn tạo, phát huy giá trị, cũng như thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, khen thưởng và kỷ luật.
Hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước về di tích
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo và đấu tranh kiên cường của các dân tộc, phản ánh sự giao lưu và tiếp thu tinh hoa từ nhiều nền văn minh thế giới Qua thời gian, các thế hệ trước đã để lại cho chúng ta một kho tàng di sản văn hóa quý giá, được hiện thực hóa và cô đọng tại các di tích lịch sử.
Việc gìn giữ giá trị văn hóa là rất quan trọng để thế hệ sau có thể hiểu và tiếp cận Để bảo vệ những giá trị này, cần thiết phải có sự can thiệp của pháp luật.
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Di sản văn hoá, đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý di sản Luật này thiết lập khung pháp lý cao nhất cho việc quản lý di tích lịch sử và văn hoá trên toàn quốc, gồm 07 chương và 74 điều, trong đó điều 55 nêu rõ các nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hoá.
Chính phủ đảm bảo quản lý Nhà nước về di sản văn hoá, với Bộ Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng có trách nhiệm quản lý di sản văn hoá theo sự phân công của Chính phủ Đồng thời, UBND các cấp thực hiện quản lý di sản văn hoá tại địa phương trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn theo phân cấp của Chính phủ.
Luật Di sản văn hóa đã thiết lập khung pháp lý đồng bộ cho việc bảo tồn di sản văn hóa, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu Luật này quy định những hành vi được phép và bị cấm, đồng thời quy trách nhiệm cho các bộ, ngành liên quan Nó cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật và tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho việc dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Luật cũng điều chỉnh các vấn đề mới và hoàn thiện những quy định trước đây để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Luật Di sản văn hóa đã tạo động lực mới cho việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc, tập trung vào việc bảo tồn và tôn vinh các di sản tiêu biểu Quy định này khuyến khích sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là các chủ sở hữu di sản, trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đồng thời, di sản văn hóa cũng được phát huy để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Việc vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN giúp tạo nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ văn hóa tại di tích, từ đó tái đầu tư cho công tác bảo quản và phục hồi di tích Để thực thi Luật Di sản văn hóa, Chính phủ và Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành.
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin đã ban hành Quyết định số 1706/2001/QĐ - BVHTT, phê duyệt Quy hoạch tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá và du lịch tâm linh đến năm 2010.
Vào ngày 11 tháng 11 năm 2002, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP, quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa.
Ngày 18/2/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số
Ngày 05/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 05/2002/CT-TTg nhằm tăng cường các biện pháp quản lý và bảo vệ cổ vật tại các di tích, đồng thời ngăn chặn hành vi đào bới và trục vớt trái phép các di chỉ khảo cổ học Tiếp theo, vào ngày 06/02/2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh.
Ngày 19/5/2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Chỉ thị số
73/CT - BVHTTDL để nhằm tăng cường công tác quản lý di tích và nâng cao chất lượng các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích
Ngày 03/02/2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Chỉ thị số
16/CT-BVHTTDL về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, ban hành ngày 06/11/2010, hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009 Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy định của Luật Di sản văn hóa, đặc biệt liên quan đến quản lý di tích lịch sử văn hóa.
Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 quy định nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, bao gồm các di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt Hồ sơ khoa học phải tuân thủ đầy đủ các thành phần theo Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành Luật Di sản văn hóa và các sửa đổi, bổ sung liên quan Ngày 18/9/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP để bổ sung các quy định này.
Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập và phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh có hiệu lực từ ngày 15/11/2012 Một yêu cầu quan trọng là lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân và công bố công khai dự án tu bổ di tích đã được phê duyệt Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động này là phải phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cần có định hướng lâu dài từ 10 đến 20 năm nhằm làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư Các dự án phải giữ gìn tối đa các yếu tố gốc của di tích, đảm bảo sự đồng bộ về không gian kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật Nghị định cũng quy định rõ trình tự lập, thẩm định và phê duyệt dự án tu bổ di tích, trong đó dự án có mức đầu tư lớn cần được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ hoặc các cơ quan quản lý cấp tỉnh.
Dựa trên tình hình thực tế trong công tác quản lý di sản, nhiều thay đổi đã diễn ra, khiến cho Luật Di sản văn hóa hiện hành không còn phù hợp Do đó, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, nhằm khắc phục và bổ sung những hạn chế của Luật Di sản văn hóa năm 2001.
Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, đồng thời nêu rõ các điều kiện năng lực và hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch và dự án tu bổ di tích Theo đó, các cá nhân và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này cần có giấy chứng nhận hành nghề, chứng chỉ hành nghề và phải chứng minh đủ điều kiện năng lực của cơ quan, đơn vị khi tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng di tích.
Sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm, đa dạng và giàu truyền thống Văn hóa Việt Nam luôn mở rộng và tiếp nhận các tinh hoa văn hóa nhân loại, điều này được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam (sửa đổi) năm 2013, thể hiện rõ nét nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ.
Khái quát về di tích lịch sử văn hóa đền Gắm làng Cẩm Khê, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Làng Cẩm Khê
Tiên Lãng, huyện phía tây nam Hải Phòng, nổi bật với truyền thống cách mạng và tinh thần lao động cần cù của nhân dân Nơi đây ba mặt giáp sông và phía đông giáp biển, có nhiều công trình văn hóa tâm linh như đình, chùa, đền, miếu, trong đó nổi bật là “Ngũ linh từ” với năm ngôi đền thiêng được bảo vệ và gìn giữ, bao gồm đền Bì, đền Canh Sơn, đền Để Xuyên, đền Hà Đới và đền Gắm Đền Gắm tọa lạc tại làng Cẩm Khê, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, mang giá trị nghệ thuật và văn hóa sâu sắc của vùng ven biển.
Toàn Thắng là xã thuộc huyện Tiên Lãng, có diện tích tự nhiên khoảng 4,5 km² và đất canh tác 234,4 ha, với dân số trên 4.000 người chủ yếu là dân tộc Kinh Xã nằm giáp ranh với các xã Quang Phục, Tiên Minh, Tiên Thắng và có sông Văn Úc làm ranh giới tự nhiên với huyện Kiến Thụy Khu vực này thuộc đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, được hình thành nhờ phù sa từ sông Văn Úc và sông Thái Bình Toàn Thắng nổi bật với 03 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích cấp Quốc gia và 01 di tích cấp thành phố.
Làng Cẩm Khê thuộc xã Toàn Thắng, nằm trong vùng đất sa bồi của đồng bằng ven biển châu thổ Bắc Bộ, được hình thành từ sự bồi đắp của sông Văn Úc từ hàng nghìn năm trước Theo tài liệu địa chất, khoảng 6000 đến 4000 năm trước, biển đã làm ngập lụt phần lớn huyện Tiên Lãng, và chỉ đến khoảng 3000 năm trước, vùng đất Cẩm Khê mới nổi lên khỏi mặt biển dưới dạng các doi cát Nhờ có sông Văn Úc và các lạch thoát triều kết nối với sông Thái Bình, quá trình lắng đọng phù sa và bồi đắp mảnh đất Cẩm Khê diễn ra nhanh chóng.
Ngay từ buổi đầu dựng nước, con người đã từ miền núi cao và trung du khô cằn xuống khai phá vùng đất bồi hoang hóa ven cửa biển Văn Úc, tạo dựng những trang ấp đông vui và mở mang ruộng vườn màu mỡ Dấu vết của cuộc di dân này còn lại trong tên địa danh “Sông Khuể”, đoạn sông Văn Úc chảy qua các xã như Tiên Cường, Tự Cường và Thị trấn Tiên Lãng Tên “Khuể” có nguồn gốc từ “Khuẩy” trong ngữ hệ Tày - Thái, mang ý nghĩa là rộng, nhưng đã được đọc chệch âm thành Khuể như hiện nay.
Trang Cẩm Khê được cho là ra đời sớm hơn các làng khác ở xã Toàn Thắng, với tên Nôm là làng Gắm Theo các nhà địa danh học, những làng có cả tên Nôm và tên chữ như Cẩm Khê thường hình thành muộn nhất vào thời Bắc Thuộc.
Tên Gấm Khê phản ánh tính chất phong thuỷ của khu đất, với "Khê" nghĩa là khe nước nhỏ, gợi ý rằng mảnh đất làng đẹp tựa gấm bên dòng nước Các công trình kiến trúc tôn thờ thường mang tên làng xã nơi chúng được xây dựng, như đền thờ Thái phó họ Ngô mang tên Gấm Khê, sau này được đọc chệch thành Gắm Vào đầu thế kỷ XIX, tên làng Gấm Khê được đổi thành Cẩm Khê, trong đó "Khê" vẫn giữ nguyên, còn "Cẩm" cũng mang nghĩa là Gấm Nguyên nhân đổi tên hiện nay không còn được nhớ rõ, nhưng tên đền vẫn không thay đổi qua thời gian, ngày nay được gọi là Gắm trong tên nôm và Cẩm Khê trong tên chữ.
Đền Thống lãnh họ Ngô tại xã Cẩm Khê, huyện Tiên Minh, thờ thần Lý Tín, một quan tướng thời Lý Cao Tông, người đã có công trong việc tuần tra và đánh giặc Sau khi ông qua đời tại đây, người dân đã lập đền thờ và cầu đảo, cho thấy sự linh thiêng của nơi này Cuộc sống của người dân trong làng ngày càng phát triển với các công trình văn hóa, xã hội và cơ sở chăm sóc sức khỏe được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo giảm, và làng Cẩm Khê đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nông thôn mới tại xã Toàn Thắng.
Người dân làng Cẩm Khê tự hào về truyền thống lịch sử và văn hóa của tổ tiên Họ nỗ lực bảo vệ di sản văn hóa, xây dựng quê hương và phát triển các di tích thành điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng.
Lịch sử hình thành
Đền Gắm, tọa lạc tại thôn Cẩm Khê, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, là một công trình kiến trúc cổ do người dân làng Cẩm Khê xây dựng Đền thờ và tưởng niệm Thái phó Ngô Lý Tín, một vị tướng tài ba của triều đại nhà Lý.
Đền Gắm, tọa lạc tại vị trí đắc địa bên dòng sông Văn Úc, được xây dựng từ thời vua Lý Cao Tông để tưởng nhớ danh tướng Ngô Lý Tín Với khung cảnh bao quanh là sông nước, trời mây, và lưng tựa vào bờ đê cùng ruộng đồng, làng mạc thôn Cẩm Khê, đền Gắm không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn thu hút du khách bởi vẻ đẹp thiên nhiên hữu tình.
Vào tháng 8 năm 1992, đền Gắm đã được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia Sau khi trải qua quá trình trùng tu và tôn tạo, trong những năm gần đây, đền Gắm đã trở thành một điểm du lịch tâm linh và sinh thái thu hút đông đảo du khách từ Hải Phòng và các tỉnh lân cận.
Là một trong năm ngôi đình, đền thuộc “Ngũ linh từ” của huyện Tiên Lãng, đền Gắm được xây dựng trên chính mảnh đất của danh tướng Ngô
Lý Tín đã xây dựng cuộc sống khởi đầu bằng việc cắm đất, xây nhà và mở trường dạy học, đồng thời rèn luyện binh thư và võ nghệ, trở nên nổi tiếng khắp vùng Đền Gắm không chỉ là nơi thờ cúng mà còn chứa phần mộ của Tín Công ở hậu cung Theo quan niệm của người dân địa phương, sự khác biệt này chính là nguồn gốc của sự linh thiêng, dẫn đến việc lưu truyền câu ca từ xa xưa.
“Thứ Nhất đền Bì, thứ Nhì đền Gắm”
Trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt vào năm 1953, đền Gắm trở thành một chiến luỹ quan trọng trong cuộc chiến tại Tiên Lãng, khi Pháp tiến hành trận càn Cờ Lốt để củng cố "vành đai an toàn" quanh Hải Phòng Sự đóng góp của đền Gắm đã giúp quân dân Tiên Lãng thất bại âm mưu của địch và thúc đẩy phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Mặc dù hệ thống công trình và kiến trúc của đền bị san phẳng, hậu cung của đền vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.
Vào năm 1958, mặc dù gặp nhiều khó khăn về kinh tế, lễ hội đền Gắm đã được người dân địa phương khôi phục và duy trì Trong hơn một thập kỷ qua, lễ hội này đã được tổ chức thường xuyên hàng năm Các công trình kiến trúc của đền cũng đã được trùng tu từng bước Đặc biệt, vào năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nhà nước đã đầu tư hơn 20 tỷ đồng để tôn tạo đền Gắm Đến nay, công trình đã hoàn thành và khu di tích đã được mở rộng gần 2 hecta.
Đền Gắm, mặc dù được xây dựng khang trang hơn trước, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc xưa với kiểu “tiền nhất hậu đinh” gồm 5 gian tiền đường, 3 gian tiền tế và 1 gian hậu cung Kiến trúc của đền bao gồm các kèo gỗ kiểu “thuận chồng, đốc thước” và mái lợp ngói mũi hài, cùng với các cửa kiểu “cửa thùng khung khách” Một số hạng mục như nghi môn, nhà bia, nhà trưng bày, nhà đón khách và tường rào bao quanh đã được phục dựng và xây mới Đền Gắm hiện vẫn bảo tồn nhiều hiện vật quý giá từ thời kỳ trước.
Bốn viên gạch hình rồng thời Lý, hiện còn nguyên vẹn tại đền Gắm, là di sản văn hóa quý giá, trong đó hai viên được lưu giữ tại đền và hai viên được trưng bày tại Nhà truyền thống huyện Tiên Lãng Những viên gạch vuông này, với trang trí hình rồng nổi bật, khi ghép lại tạo thành một con rồng hoàn chỉnh, từng được đặt ở bậc thềm giữa toà tiền đường và toà hậu đường của ngôi đền Đền Đô tại Từ Sơn, Bắc Ninh cũng sở hữu các viên gạch hình rồng tương tự, ghi dấu công lao của Tín Công đối với đất nước Ngoài ra, các di vật quý thời Nguyễn như cuốn thư, hoành phi, câu đối và cửa võng chạm cũng góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam.
“lưỡng long chầu nguyệt”, y môn, ngai rồng, án hương, bát bửu, chuông đồng và một số đồ thờ tự khac vẫn còn được lưu giữ nơi đây [45].
Khái quát về đối tượng thờ phụng tại đền Gắm
Thành hoàng làng Cẩm Khê, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là Đức Thánh Ngô Lý Tín, được thờ phụng tại đền Gắm Theo truyền thuyết địa phương, có nhiều câu chuyện thú vị về tiểu sử của vị thần này.
Vào thời Lý (1010-1226), tại trấn Sơn Nam, phủ Khoái Châu, gia đình Ngô Huy Hiến và Đào Thị Phức sống hòa thuận nhưng chưa có con cái Trong một chuyến đi, họ đã dừng lại tại một miếu nhỏ ở Nam Sơn và cúng lễ Sau khi hoàn tất, họ nghỉ lại tại miếu và vào nửa đêm, họ thấy một vị thần xuất hiện với hào quang sáng chói, tay cầm roi ngọc, và truyền cho họ một bài thơ để ghi nhớ.
Ngọc tê thiên thượng hứa ngô gia Vạn cổ danh phương đối hải hà
Vợ chồng ông Hiến nghe tiếng sấm, tỉnh dậy và trở về Vĩnh Đồng Trang Một thời gian sau, bà Phức mang thai và sinh ra một con trai tên là Lý Tín vào ngày 20 tháng Giêng năm Bính Ngọ, với diện mạo khác biệt Năm 12 tuổi, Lý Tín được gửi đi học với giáo viên Kính Chủ nổi tiếng Nhờ trí thông minh, cậu nhanh chóng tiếp thu kiến thức, nhưng khi 18 tuổi, cơn tai biến ập đến, khiến bố mẹ cậu lần lượt qua đời, và Lý Tín sống nhờ sự đùm bọc của bà con hàng xóm.
Trong bối cảnh hạn hán, đời sống nhân dân khổ cực, Ngô Lý Tín rời quê hương về trang Cẩm Khê, huyện Bình Hà, mở trường dạy học và luyện võ Danh tiếng ông nhanh chóng lan rộng, và khi đất nước rơi vào hỗn loạn cuối triều Lý Anh Tông, ông đã chiêu tập binh sĩ để bảo vệ Tổ quốc Với tài năng quân sự xuất sắc, Ngô Lý Tín đánh bại giặc ngoại xâm và được phong thượng tướng quân năm 1182 Tiếp tục chinh phạt, ông được thăng chức Thái phó và sau đó làm Phụ chính, trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất triều đại phong kiến, điều này thật kỳ diệu cho một người xuất thân từ dòng dõi bình dân Năm 1190, đất nước trở lại thanh bình dưới sự lãnh đạo của ông.
Lý Tín, cùng đoàn thuyền gia nhân, trở về thăm lại trang Cẩm Khê, nơi ông đã lập nghiệp và chiến đấu dẹp giặc, góp phần vào những chiến công vĩ đại Tuy nhiên, một cơn bão bất ngờ đã đưa ông về cõi vĩnh hằng, và dòng sông đã đưa xác ông về đúng bãi sông, nơi nhân dân thương tiếc và chôn cất ông Từ ngôi mộ, một gò đất nổi lên, khiến nhân dân làm sớ tâu vua Nhà vua thương tiếc vị trung thần, ra lệnh lập miếu thờ tại nơi an táng, cấp 300 quan tiền cho dân tu tạo, miễn thuế và lao dịch ba năm Ông được phong mỹ tự “Thượng thượng đẳng phúc thần vạn cổ huyết thực” và ghi vào sử sách quốc gia Lễ hội đền Gắm trở thành quốc lễ, hàng năm có quan khâm sai triều đình tổ chức và quan huyện sở tại làm chủ tế.
Ngô Lý Tín đã thành lập trang trại tại khu vực này, từ đó ông khởi đầu cuộc chiến chống lại giặc ngoại xâm và dẹp tan hải tặc trên dòng sông Cuối cùng, ông đã an nghỉ tại nơi đây.
Từ khi ông Ngô Lý Tín trừ khử hải tặc, khúc sông Cẩm Khê trở nên yên bình, dân làng tin rằng uy linh của ông vẫn hiện hữu Nhiều thuyền bè qua đây cầu xin sự bình yên và đều được linh ứng Lịch sử cho thấy Tiên Lãng từng có một thương cảng nhộn nhịp, nơi mà hải tặc xuất hiện là điều không thể tránh khỏi Việc bảo vệ sự yên bình cho dòng sông luôn là trách nhiệm của mọi thế hệ Tấm lòng của Thượng tướng Ngô Lý Tín vẫn sống mãi với dòng sông và dân làng nơi đây.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN GẮM
Chủ thể quản lý
2.1.1 Chủ thể quản lý nhà nước
2.1.1.1 Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng
Theo Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND ngày 13 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng có trách nhiệm quản lý tất cả các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố.
Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm và kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể tại thành phố; cấp giấy phép cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện nghiên cứu và sưu tầm di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn.
Quản lý và hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn nhằm phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống và tín ngưỡng liên quan đến di tích và nhân vật lịch sử tại địa phương.
Tổ chức kiểm kê, lập danh mục, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở thành phố
Thỏa thuận chủ trương lập dự án và báo cáo kinh tế - kỹ thuật là bước quan trọng trong quá trình thẩm định dự án Việc thỏa thuận thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cấp thành phố cần được thực hiện một cách nghiêm túc Đồng thời, hướng dẫn và tổ chức thực hiện tu sửa cấp thiết cùng các dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thuộc thành phố quản lý sẽ được triển khai sau khi được phê duyệt.
Thẩm định dự án cải tạo và xây dựng các công trình ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp thành phố là cần thiết, nhằm đánh giá tác động đến cảnh quan và môi trường của di tích Việc này đảm bảo rằng các hoạt động phát triển không làm ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa và lịch sử của khu vực.
Phòng Quản lý di sản văn hóa, trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và hướng dẫn công tác chuyên môn về di sản văn hóa và di tích lịch sử Phòng cũng tham mưu cho Ban Giám đốc Sở trong lĩnh vực quản lý nhà nước theo Luật Di sản và các quy định hiện hành Được thành lập cách đây hơn 1 năm, Phòng Quản lý di sản đã thay thế Phòng Nghiệp vụ văn hóa trong công tác quản lý di tích.
Sở Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm chính, đồng thời Phòng Nghiệp vụ di tích thuộc Bảo tàng Hải Phòng sẽ hướng dẫn trực tiếp về nghiệp vụ và chuyên ngành trong lĩnh vực di tích.
Phòng Quản lý di sản thuộc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng được thành lập từ sự tách ra của Phòng Nghiệp vụ văn hóa và Phòng Quản lý văn hóa Hiện tại, phòng có 03 cán bộ công chức, bao gồm 01 Trưởng phòng phụ trách chung, 01 Phó trưởng phòng và 01 chuyên viên hỗ trợ Trong đội ngũ cán bộ, 66% có trình độ thạc sĩ về văn hóa, trong khi 34% có trình độ đại học.
2.1.1.2 Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tiên Lãng
Theo Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV và Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT-BTTTT-BNV, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cũng như Sở Thông tin và Truyền thông, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể tại các cấp tỉnh, thành phố và huyện Quyết định số 57/2018/QĐ-UBND của UBND huyện Tiên Lãng quy định chức năng và nhiệm vụ của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, nhằm hỗ trợ UBND huyện trong việc quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và thông tin - truyền thông, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ quản lý cho UBND cấp xã và cán bộ văn hóa xã.
Phòng Văn hóa và Thông tin đóng vai trò trung gian trong việc truyền tải các chính sách từ Trung ương và thành phố đến cơ sở xã, thị trấn Đồng thời, đây là lực lượng quan trọng hỗ trợ Ủy ban nhân dân huyện, Sở Văn hóa và Thể thao, cũng như Sở Thông tin - Truyền thông trong việc nắm bắt tình hình và xử lý các tình huống liên quan đến công tác điều hành, tổ chức, kiểm tra và giám sát các hoạt động văn hóa, thông tin tại địa phương.
Về cơ cấu tổ chức, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tiên Lãng có
Đội ngũ cán bộ, công chức gồm 05 thành viên, bao gồm 01 Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng và 02 chuyên viên Độ tuổi trung bình của họ dao động từ 25-40 tuổi, chiếm 60% tổng số, trong khi số cán bộ trên 40 tuổi chiếm 40% Về thâm niên công tác, thông tin cụ thể sẽ được cung cấp thêm.
30 năm có 01 cán bộ; từ 2-10 năm có 4 cán bộ Về trình độ chuyên môn, hiện nay, phòng có 02 thạc sỹ, 02 đại học và 1 trung cấp
* Mộ t số nhiệ m vụ , quyề n hạ n về lĩ nh vự c Vă n hóa, Thể thao và Du lị ch
Trình UBND huyện ban hành Quyết định, Chỉ thị, Kế hoạch dài hạn
Trong 5 năm tới, các đề án và chương trình cải cách hành chính sẽ được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và thông tin truyền thông Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện sẽ trình dự thảo văn bản liên quan và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đã được phê duyệt Đồng thời, cần hướng dẫn tuyên truyền, giáo dục pháp luật và theo dõi việc thi hành trong các hoạt động phát triển văn hóa và thể thao Các phong trào văn hóa, thể dục thể thao sẽ được khuyến khích, cùng với việc xây dựng nếp sống văn minh và bảo vệ di tích lịch sử Cơ quan chức năng sẽ phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật và thực hiện công tác thống kê, báo cáo về tình hình hoạt động trong các lĩnh vực này theo quy định.
2.1.1.3 Ban Văn hóa - Xã hội xã Toàn Thắng
Ban Quản lý di tích cấp xã thuộc Ban Văn hóa - Xã hội của xã, do Phó Chủ tịch UBND xã Toàn Thắng phụ trách lĩnh vực Văn hóa.
Xã hội làm trưởng ban, Cán bộ trong Ban quản lý là công chức Văn hóa,
Kế toán, Công an, Quân sự, Đoàn Thanh niên và các thành viên liên quan đến di tích làm việc theo chế độ kiêm nhiệm Tùy thuộc vào quy mô và đặc điểm của từng di tích, có thể hợp đồng ngắn hạn hoặc theo mùa với cộng tác viên và người lao động.
Ban Văn hóa - Xã hội được quản lý chuyên môn bởi Phòng Văn hóa và Thông tin cùng Sở Văn hóa và Thể thao Theo Điều 51 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP, UBND xã, thị trấn có trách nhiệm tổ chức, bảo vệ và bảo quản di sản văn hóa (DSVH), tiếp nhận và báo cáo về di sản lên cấp trên, kiến nghị xếp hạng di tích, cũng như phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi đe dọa an toàn của DSVH và xử lý các hoạt động mê tín dị đoan theo thẩm quyền.