1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ TẠI BV Y HỌC CỔ TRUYỀN BCA LUẬN VĂN THẠC SĨ

123 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ B ỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (12)
      • 1.1.1. Sơ lược lịch sử bệnh đái tháo đường (12)
      • 1.1.2. Đặc điểm bệnh đái tháo đường (12)
      • 1.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường typ2 (14)
      • 1.1.4. Phân loại bệnh đái tháo đường (14)
      • 1.1.5. Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đườ ng typ 2 (16)
      • 1.1.6. Liên quan giữa bệnh đái tháo đường và các bệnh kèm theo (19)
      • 1.1.7. Kiểm soát bệnh đái tháo đường typ 2 (20)
    • 1.2. QUAN ĐIỂM Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP2 (21)
      • 1.2.1. Bệnh danh (21)
      • 1.2.2. Bệnh nguyên bệnh cơ (21)
      • 1.2.3. Phân thể lâm sàng (22)
    • 1.3. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (22)
      • 1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống (22)
      • 1.3.2. Chất lượng cuộc sống bệnh nhân Đái Tháo Đường (24)
    • 1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM (25)
      • 1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới (25)
      • 1.4.2. Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam (27)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (29)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (29)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân (29)
    • 2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.4. THIẾT KẾ NGUYÊN CỨU (29)
    • 2.7. CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU (30)
      • 2.7.1. Đặc điểm lâm sàng người bệnh đái tháo đường typ2 và kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường typ2 (30)
      • 2.7.2. Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường (32)
    • 2.8. CÁCH THU THẬP THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ (32)
      • 2.8.1. Cách thu thập thông tin (32)
      • 2.8.2. Cách đánh giá (34)
    • 2.9. XỬ LÝ SỐ LIỆU (38)
    • 2.10. SAI SỐ VÀ KHỐNG CHẾ SAI SỐ (38)
    • 2.11. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU (38)
  • Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (39)
    • 3.1. MỨC KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 (0)
    • 3.2. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN (0)
    • 3.3. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (0)
  • Chương 4. DỰ KIẾN BÀN LUẬN (65)
  • KẾT LUẬN (77)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (80)
  • PHỤ LỤC (86)

Nội dung

TỔNG QUAN

QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ B ỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường là bệnh chuyển hóa phổ biến nhất, với lịch sử nghiên cứu lâu dài, nhưng những tiến bộ trong nghiên cứu về bệnh chỉ được ghi nhận trong vài thập kỷ gần đây.

Vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã mô tả các triệu chứng của bệnh nhân mắc bệnh đái nhiều, trong khi Dobson vào năm 1775 đã phát hiện ra rằng vị ngọt của nước tiểu ở bệnh nhân đái tháo đường là do sự hiện diện của glucose.

Năm 1869, Langerhans phát hiện ra tổ chức tiểu đảo, bao gồm hai loại tế bào tiết insulin và glucagon mà không kết nối với đường dẫn tụy Đến năm 1889, Minkowski và Von Mering đã gây ra đái tháo đường thực nghiệm ở chó sau khi cắt bỏ tụy, từ đó hình thành cơ sở cho học thuyết về đái tháo đường do tụy.

Vào năm 1921, Banting và Best cùng các cộng sự đã thành công trong việc chiết xuất insulin từ tuyến tụy Đến các năm 1936, 1976 và 1977, các nhà nghiên cứu Himsworth, Gudworth và Jeytt đã phân loại bệnh đái tháo đường thành hai loại chính: đái tháo đường type 1 và type 2.

Nghiên cứu DDCT, công bố năm 1993, và nghiên cứu UKPDS, công bố năm 1998, đã đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong điều trị bệnh đái tháo đường Kỷ nguyên này tập trung vào việc kết hợp y tế chuyên sâu với y học dự phòng, nhằm hạn chế sự xuất hiện và phát triển của bệnh.

1.1.2 Đặc điểm bệnh đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường type 2 là tình trạng kháng insulin và giảm tiết insulin, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì mức glucose máu bình thường Các bất thường này do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường sống, bao gồm cả suy dinh dưỡng trong thời kỳ bào thai Tuy nhiên, các gen cụ thể gây ra những bất thường này vẫn chưa được xác định.

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị, bệnh đái tháo đường vẫn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, làm tăng tỷ lệ tử vong và tàn phế Hơn 60% người mắc bệnh không được phát hiện, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như bệnh tim mạch, suy thận, và mù lòa Bệnh tiến triển âm thầm với khoảng 6 người tử vong mỗi phút trên toàn cầu; cứ 30 giây lại có một người bị cắt cụt chi do biến chứng bàn chân đái tháo đường, và mỗi ngày có 5.000 người bị mù do biến chứng mắt Hàng năm, khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến đái tháo đường, khiến bệnh này được coi là "kẻ giết người thầm lặng" của nhân loại hiện đại.

Bệnh thường diễn biến âm thầm và giai đoạn đầu không có biểu hiện lâm sàng, khiến nhiều người không quan tâm đến việc kiểm tra sức khỏe Tuy nhiên, đây là thời điểm quan trọng để đánh giá các yếu tố nguy cơ và thực hiện xét nghiệm đường máu Nếu được phát hiện và can thiệp kịp thời, bệnh nhân có thể giảm 47% tỷ lệ tử vong, 36% tỷ lệ nhồi máu cơ tim, 28% tỷ lệ mắc biến chứng thận-mắt, đồng thời hạn chế bệnh thận tiến triển nặng thêm 28% và sự phát triển nặng của bệnh lý võng mạc lên tới 50%.

Nếu không phát hiện sớm, bệnh nhân có nguy cơ cao chuyển sang giai đoạn tăng đường máu mạn tính, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm Khi mắc bệnh đái tháo đường, việc điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát đường huyết để phòng ngừa biến chứng, nhưng không thể hồi phục hoàn toàn Người bệnh cần điều trị tích cực và theo dõi chặt chẽ để đưa mức đường máu về gần bình thường, điều này gây tốn kém cho gia đình và xã hội Ngược lại, nếu phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ hoặc mức đường máu ở ngưỡng tiền đái tháo đường, việc áp dụng chế độ ăn uống và luyện tập có thể giảm thiểu chi phí điều trị và tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.

1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 2

Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA (Hiệp hội ĐTĐ Mỹ) năm 2019, chẩn đoán ĐTĐ khi có một trong các tiêu chuẩn sau:

- Glucose máu bất kỳ ≥ 200mg/dL ( 11,1 mmol/l) với triệu chứng của tăng đường huyết (uống nhiều, đái nhiều, sút cân)

- Glucose máu lúc đói (nhịn ăn >8-14h) ≥126mg/dL (7,0 mmol/l) (nhịn đói tối thiểu 8 giờ)

- Glucose máu 2 giờ sau làm nghiệm pháp dung nạp ≥ 200mg/dL (11,1 mmol/l) (uống 75g glucose theo tiêu chuẩn của WHO)

- HbA1c ≥ 6,5% (48mmol/L) (Xét nghiệm theo phương pháp NGSP hay DCCT)

1.1.4 Phân loại bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường type 1 chiếm khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân đái tháo đường toàn cầu, do sự phá hủy tế bào bê-ta dẫn đến thiếu hụt insulin nghiêm trọng Các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) có liên quan mật thiết đến sự phát triển của bệnh Đái tháo đường type 1 thường xuất hiện trước 40 tuổi, đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên, với triệu chứng đầu tiên có thể là nhiễm toan ceton Mặc dù đa số bệnh nhân có thể trạng gầy, nhưng người béo cũng không nằm ngoài nguy cơ Người mắc đái tháo đường type 1 hoàn toàn phụ thuộc vào insulin để duy trì cuộc sống.

Có thể có các dưới nhóm:

- Đái tháo đường qua trung gian miễn dịch

- Đái tháo đường type 1 không rõ nguyên nhân

1.1.4.2 Đái tháo đườ ng type 2 Đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% đái tháo đường trên thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo đường type 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh[2] Đặc trưng của đái tháo đường type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối [1] Đái tháo đường type2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…, nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng [4] Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường type2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh Người mắc bệnh đái tháo đường týp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin

1.1.4.3.Đái tháo đườ ng thai nghén Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng, gặp khi có thai lần đầu Sự tiến triển của đái tháo đường thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: Bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình thường [6]

1.1.4.4 Các th ể đái tháo đườ ng khác (hi ế m g ặ p)

Nguyên nhân liên quan đến một số bệnh, thuốc, hoá chất

- Khiếm khuyết chức năng tế bào bê - ta

- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin

- Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinom tụy…

- Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp…

- Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch

1.1.5 Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tuổi tác có mối liên hệ chặt chẽ với sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường type 2 Cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh này tăng theo độ tuổi, với tỷ lệ cao nhất ở những người trên 30 tuổi tại châu Á Trong khi đó, ở châu Âu, bệnh đái tháo đường type 2 thường xuất hiện sau tuổi 50, chiếm từ 85 đến 90% các trường hợp.

[8] Từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ bệnh đái tháo đường lên tới 16% [7]

Sự gia tăng bệnh tiểu đường type 2 theo độ tuổi liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có những thay đổi chuyển hóa carbohydrate Điều này lý giải vì sao nhiều người mang gen di truyền bệnh tiểu đường lại không phát bệnh từ khi còn trẻ mà chỉ mắc phải khi về già.

Tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay đã dẫn đến việc ngày càng nhiều người trẻ tuổi mắc đái tháo đường type 2 Nghiên cứu cho thấy, trong các gia đình có yếu tố di truyền, bệnh thường xuất hiện ở thế hệ thứ nhất vào độ tuổi 60 - 70, nhưng ở thế hệ thứ hai, độ tuổi mắc bệnh đã giảm xuống còn 40 - 50 Đặc biệt, hiện nay, việc chẩn đoán đái tháo đường type 2 ở những người dưới 20 tuổi không còn là điều hiếm gặp.

QUAN ĐIỂM Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP2

1.2.1 Bệnh danh Đái tháo đường là bệnh danh của YHHĐ, không phải là bệnh danh của YHCT Đái tháo đường được phát hiện và mô tả rất sớm từ thế kỷ thứ IV- V trước công nguyên Trong “Hoàng đế nội kinh tố vấn” gọi là chứng tiêu hay tiêu khát

Theo “Tuệ Tĩnh nam dược thần hiệu”, tiêu khát là triệu chứng biểu hiện bằng cơn khát nước liên tục và tiểu tiện nhiều lần Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể do dâm dục quá độ, uống trà rượu không điều độ, ăn nhiều thực phẩm chiên xào, hoặc thường xuyên uống nước kim thạch, dẫn đến tình trạng khô kiệt nước trong thận và khí nóng trong cơ thể Hệ quả là các cơ quan nội tạng trở nên khô ráo, từ đó phát sinh chứng tiêu khát.

Theo “Hải Thượng Lãn Ông”, bệnh tiêu khát chủ yếu do hỏa làm hao tổn chân âm, dẫn đến sự khô kiệt của năm chất dịch Ba tạng phế, tỳ và thận là những tạng chính liên quan, và dù triệu chứng có biểu hiện ở tạng nào, chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Tiên thiên bất túc và ăn uống không điều độ là hai nguyên nhân chính gây ra chứng tiêu khát Tiên thiên bất túc xảy ra do bẩm tố yếu kém, dẫn đến ngũ tạng hư yếu và giảm sút tinh khí ở thận, gây ra tình trạng tinh khuy dịch kiệt Trong khi đó, thói quen ăn uống không hợp lý, như tiêu thụ nhiều thực phẩm béo ngọt, rượu, và đồ xào nướng, có thể tạo ra nhiệt tích ở tỳ vị, làm tiêu hao tân dịch và dẫn đến chứng tiêu khát.

Tình chí thất điều xảy ra khi suy nghĩ căng thẳng quá mức hoặc uất ức kéo dài, dẫn đến việc tổn hại đến ngũ chí Điều này gây ra tình trạng hỏa vượng, làm tổn thương phế, vị và thận, từ đó gây ra nhiệt ở phế và tình trạng thận âm hư.

Phòng lao quá độ do đam mê tửu sắc và sinh hoạt bừa bãi dẫn đến tổn thương thận tinh, gây hư hỏa nội sinh và làm cho thủy kiệt thêm Kết quả là thận hư, phế táo và vị nhiệt, từ đó gây ra chứng tiêu khát.

Việc sử dụng thuốc kéo dài để tăng cường hoạt động tình dục có thể dẫn đến hao tổn tân dịch, gây ra tình trạng táo nhiệt bên trong Điều này làm giảm âm dịch và có thể gây ra triệu chứng tiêu khát.

Thể âm hư nhiệt thịnh biểu hiện qua các triệu chứng như họng khô, miệng táo, tâm phiền và sợ nhiệt Người bệnh thường cảm thấy khát nước, thích uống nước, ăn nhanh đói, tiểu đỏ, đại tiện bí kết Lưỡi có màu đỏ, rêu lưỡi vàng, và mạch có thể là tế hoạt sác hoặc tế huyền sác.

Thể thấp nhiệt khốn tỳ biểu hiện qua thân hình béo bệu, ngực bụng trướng, cảm giác nặng nề và khó chịu, cùng với triệu chứng tiểu tiện vàng đỏ và đại tiện không hết Trong khi đó, thể khí âm lưỡng hư gây ra họng khô, miệng táo, mệt mỏi, ăn nhiều mà vẫn nhanh đói, kèm theo triệu chứng hồi hộp, mất ngủ, và tiểu đỏ Cả hai thể trạng đều có dấu hiệu lưỡi đỏ và mạch không ổn định, cho thấy sự mất cân bằng trong cơ thể.

Thể âm dương lưỡng hư và khí huyết nội đình thường biểu hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, họng khô, miệng táo, lưng gối lạnh, tay chân sợ lạnh, và đi tiểu đêm nhiều Người bệnh có thể cảm thấy đầu váng, mắt hoa, hồi hộp, trống ngực, mất ngủ, ra mồ hôi tự nhiên, dễ bị cảm mạo, và khí đoản ngại nói Sắc mặt thường nhợt nhạt, tay chân phù, đi tiểu nhiều bọt hoặc lượng tiểu ít Đối với nam giới có thể gặp tình trạng liệt dương, trong khi nữ giới có thể gặp lãnh cảm Ngoài ra, đại tiện thường khô nát không đều, lưỡi bệu có hằn răng, và mạch đập trầm tế vô lực.

Thể huyết ứ lạc mạch thường biểu hiện qua các triệu chứng như đau ngực, đau sườn, đau lưng, và đau vai, với cảm giác đau cố định hoặc như kim châm Người bệnh có thể cảm thấy tê bì chi thể, cơn đau tăng lên vào ban đêm, da khô ráp, môi tím, và mặt có ban ứ Ngoài ra, họ cũng có thể gặp tình trạng hồi hộp, hay quên, tâm trạng phiền muộn, mất ngủ, cùng với chất lưỡi tối có ban ứ và tĩnh mạch dưới lưỡi giãn to, mạch huyền hoặc trầm sáp.

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS) được đề cấp rất sớm Trước công nguyên,

Aristotle định nghĩa CLCS là "một cuộc sống tốt" hoặc "một công việc trôi chảy" Khái niệm CLCS lần đầu tiên được đề cập sau công nguyên vào năm 1920.

Sức khỏe, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ năm 1960, không chỉ đơn thuần là việc không mắc bệnh, mà còn bao gồm cảm giác hạnh phúc về thể chất, tinh thần và xã hội Mặc dù chất lượng cuộc sống (CLCS) được xem là một khía cạnh quan trọng của sức khỏe, nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về CLCS trên toàn cầu Trong thập niên 1960 và 1970, CLCS thường được hiểu qua sự kết hợp giữa cảm giác hài lòng và hạnh phúc.

George và Bearon (1980) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) qua bốn khía cạnh cơ bản: sức khỏe chung, tình trạng chức năng và xã hội, sự hài lòng với cuộc sống và các yếu tố liên quan, cùng với sự tự tin Clark và Bowling (1989) mở rộng định nghĩa CLCS không chỉ bao gồm năng lực chức năng và trạng thái tinh thần mà còn các khái niệm như sự riêng tư, tự do, tôn trọng cá nhân, cảm xúc hạnh phúc và duy trì phẩm giá Ferrans và Power (1985) cho rằng CLCS là nhận thức về hạnh phúc, xuất phát từ sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực quan trọng trong cuộc sống, bao gồm sức khỏe, chức năng, tâm lý, tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình.

Mặc dù có nhiều định nghĩa về chất lượng cuộc sống xã hội (CLCS), định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) được coi là phổ biến và toàn diện nhất Theo TCYTTG, CLCS là sự hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ thuộc về, cũng như mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ Để phản ánh các vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, cần có một định nghĩa hẹp hơn về CLCS liên quan đến sức khỏe, dẫn đến khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health related quality of life - HRQOL).

Theo TCYTTG, CLCS liên quan đến sức khỏe là việc đo lường các mối quan hệ kết hợp giữa thể chất, tinh thần, sự hài lòng và mức độ hoạt động độc lập của cá nhân Những yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến đặc tính nổi bật của hoàn cảnh sống của mỗi người.

1.3.2 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân Đái Tháo Đường

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS) phản ánh sự ảnh hưởng của bệnh tật và các biện pháp điều trị từ góc nhìn của bệnh nhân Việc đánh giá CLCS đã trở thành yếu tố quan trọng trong việc đo lường kết quả điều trị và can thiệp y tế Đặc biệt, nó giúp đánh giá tác động của các bệnh mạn tính, khi hai bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng tương tự nhưng cảm xúc và suy nghĩ khác nhau sẽ có CLCS khác nhau, dẫn đến hiệu quả điều trị cũng khác nhau Do đó, việc đánh giá CLCS cần sử dụng các phương pháp và công cụ phù hợp để đảm bảo tính chính xác.

Các công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chăm sóc sức khỏe Nhiều bộ công cụ chung và riêng đã được áp dụng để khảo sát chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Tuy nhiên, các bộ công cụ này thường mang lại những kết quả đầu ra khác nhau.

EQ5D hiện đang được khuyến khích sử dụng bởi nhiều tổ chức uy tín như Viện Nghiên cứu Lâm sàng Quốc gia Anh (NICE) và Hội đồng Bảo hiểm Y tế Hà Lan Đây là một công cụ đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, được phát triển bởi Tập đoàn EuroQol, có thể áp dụng trong nhiều điều kiện điều trị và sức khỏe khác nhau Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe sử dụng bộ công cụ EQ5D.

Năm 2017-2018, nhóm nghiên cứu từ Trường Đại Học Y tế công cộng, Trường Đại Học Y Hà Nội và Trường Đại Học Umea, Thụy Điển đã hoàn thành nghiên cứu về chất lượng cuộc sống tại Việt Nam, và kết quả đã được Euroqol phê chuẩn.

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan đến sức khỏe bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) rất phong phú Bộ công cụ EQ-5D-5L phiên bản tiếng Việt giúp đánh giá CLCS của bệnh nhân ĐTĐ, tập trung vào các triệu chứng như đau, khả năng tự chăm sóc và mức độ lo âu Công cụ này bao gồm 5 lĩnh vực và 5 mục để đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe của người bệnh.

1 Đi lại của người bệnh (phụ lục 1)

2 Tự chăm sóc bản thân với 5 mức đánh giá (phụ lục 1)

3 Sinh hoạt thường lệ của người bệnh (phụ lục 1)

4 Đau khó chịu với 5 mức đánh giá (phụ lục 1)

5 Lo lắng/ u sầu (phụ lục 1)

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đã gia tăng đáng kể trên toàn cầu, khiến Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phải cảnh báo về vấn đề nghiêm trọng này.

Năm 1992, tác giả Marie Laure Auciaux và cộng sự ước tính có khoảng 2 triệu người mắc bệnh tiểu đường loại 2 tại Pháp Tại Mỹ, theo số liệu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), số người mắc bệnh tiểu đường đã tăng 14% trong hai năm, từ 18,2 triệu người vào năm 2003 lên 20,8 triệu người vào năm 2005.

Theo Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, vào năm 2006, có khoảng 246 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm từ 85 đến 95% tổng số bệnh nhân ở các nước phát triển, và tỷ lệ này còn cao hơn ở các nước đang phát triển.

Tỷ lệ bệnh đái tháo đường khác nhau giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, cũng như theo từng vùng địa lý Khu vực Bắc Mỹ có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất với 7,8%, tiếp theo là khu vực Địa Trung Hải và Trung Đông với 7,7%, châu Âu với 4,9% và châu Phi chỉ đạt 1,2%.

Tỷ lệ đái tháo đường tại châu Á, đặc biệt ở Đông Nam Á, đang gia tăng nhanh chóng, đạt 5,3% Nguyên nhân chính bao gồm đô thị hóa nhanh, di cư từ nông thôn ra thành phố, thay đổi lối sống công nghiệp, giảm hoạt động thể chất, tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn uống không cân đối với nhiều chất béo Biến chứng thần kinh ngoại vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi, dẫn đến giảm khả năng tự chăm sóc, tuân thủ điều trị, kiểm soát đường huyết, đồng thời tăng nguy cơ biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, cũng như tỷ lệ tử vong.

Nghiên cứu của A Mikailiukstiene và cộng sự (2013) cho thấy điểm số CLCS của nam giới cao hơn trong tất cả các khía cạnh đánh giá của bộ công cụ SF36 Bên cạnh đó, điểm số DSQL đo bằng bộ công cụ DSQL cũng cho thấy bệnh nhân nam có điểm số thấp hơn (48,8 ± 12,7 so với 51,9 ± 13,1) Điều này tương ứng với kết quả nghiên cứu của Grandy năm 2017, cho thấy CLCS của bệnh nhân ĐTĐ typ cao hơn.

Nghiên cứu của Koopmanschap và cộng sự cho thấy chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) của bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) tại 5 nước châu Âu được đánh giá bằng bộ công cụ EQ5D, với giá trị trung bình đạt 0,69 cho 4.189 bệnh nhân Đặc biệt, nhóm bệnh nhân chưa có biến chứng có giá trị cao hơn là 0,76 Phân tích đa biến chỉ ra rằng các yếu tố như giới tính, biến chứng, phương pháp điều trị, tuổi tác, béo phì và tăng glucose huyết đều ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân ĐTĐ Theo nghiên cứu của Grandy, CLCS của bệnh nhân ĐTĐ typ 2 đạt 0,798 điểm, thấp hơn 0,04 điểm so với nhóm chứng.

Ngoài ra, 2 nghiên cứu sử dụng công cụ EQ5D cho cùng kết quả bệnh nhân lớn tuổi hơn có điểm số CLCS thấp hơn [41,42]

Nghiên cứu của Niraula và cộng sự (2013) tại Nepal cho thấy 40,3% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có triệu chứng trầm cảm, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ Các yếu tố liên quan đến trầm cảm được xác định bao gồm kiểm soát glucose máu kém, sử dụng insulin, béo phì và thu nhập cao.

Vào năm 2014, tại Nablus, Palestine, nghiên cứu của Sweileh và CS đã sử dụng thang Beck với điểm tới hạn thấp hơn 16 điểm để đánh giá 294 bệnh nhân ĐTĐ týp 2, và kết quả cho thấy tỷ lệ trầm cảm đạt 40,2%.

1.4.2 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam

Năm 2002, điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam là 2,7% cho lứa tuổi từ 30 - 64, với tỷ lệ cao hơn ở các thành phố (4,4%) so với vùng đồng bằng ven biển (2,2%) và miền núi (2,1%).

Một nghiên cứu trên 2394 người từ 30-64 tuổi tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường dao động từ 4,6% đến 4,9% Đáng lưu ý, phần lớn bệnh nhân mắc đái tháo đường vẫn chưa được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc và Đỗ Trung Quân tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ đái tháo đường týp 2 chiếm 81,5%, trong khi tỷ lệ đái tháo đường type 1 chỉ chiếm 18,5% Đặc biệt, trong số bệnh nhân, tỷ lệ nữ là 61,2% và nam là 38,8%.

Năm 2009, Bế Thu Hà đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng điều trị bệnh đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn Kết quả cho thấy chỉ có 23,9% bệnh nhân kiểm soát glucose máu ở mức tốt, 21,4% đạt mức chấp nhận, trong khi 54,7% còn lại có mức kiểm soát kém.

Năm 2016, nghiên cứu của Cao Thị Vân và Cộng sự tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An, Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương, và Bệnh viện Trường Đại Học Y Hà Nội cho thấy chỉ có 48,6% bệnh nhân đái tháo đường type 2 có biến chứng thần kinh ngoại vi đạt chất lượng cuộc sống tốt, trong khi 51,4% còn lại có chất lượng cuộc sống chưa tốt.

Năm 2018, nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân tại Bệnh viện Đa khoa Mê Linh về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú cho thấy 42% có chất lượng cuộc sống trung bình kém, 54,2% ở mức trung bình khá, trong khi chỉ 3,8% đạt mức khá tốt và tốt.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đã được quản lý và điều trị tại phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Người bệnh được chẩn đoán xác định là đái tháo đường typ2 Theo ADA

- Người bệnh tuân thủ khám định kỳ và quản lý ĐTĐ từ năm 2019 đến tháng 5 năm 2020

- Người bệnh tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Người bệnh không được chẩn đoán ĐTĐ type 2

- Người bệnh không tự nguyện tham ra nghiên cứu

ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Phòng khám ngoại trú Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An.

THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020.

THIẾT KẾ NGUYÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo công thức: n = Z 2 1-α/2 p(1-p) d 2 Trong đó: n: cỡ mẫu tối thiểu đạt được

Để xác định cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu với độ tin cậy 95%, sử dụng hệ số Z 2 1-α/2, ta có p = 94% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Anh và sai số mong muốn d = 0,03 Với z = 1,96, tương ứng với mức ý nghĩa 95%, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu được tính toán là n = 240.

Cơ mẫu thực tế n= 273 bệnh nhân

Tất cả người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An từ tháng 1/2019 đến tháng 07/2020, đang được quản lý và tuân thủ khám định kỳ, đã được lựa chọn theo tiêu chuẩn nghiên cứu.

CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

2.7.1 Đặc điểm lâm sàng người bệnh đái tháo đường typ2 và kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường typ2

Bảng 2.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh đái tháo đường typ2 và kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường typ2

Tên biến số Định nghĩa

Tuổi Số tuổi của ĐTNC theo năm dương lịch tính bằng cánh lấy tháng và năm nghiên cứu trừ đi tháng và năm sinh của ĐTNC

Giới Là biến độc lập với 2 giá trị là nam và nữ

Chia 3 nhóm: một là đang là cán bộ chiến sỹ trong ngành Công

An Hai là cán bộ chiến sỹ trong ngành Công An đã về hưu Nhóm ba là nhóm còn lại

Cân nặng Là trọng lượng cơ thể của ĐTNC khi bắt đầu lập sổ và hiện tại

Tên biến số Định nghĩa được tính bằng kilogam (kg)

Chiều cao Là chiều cao của ĐTNC hiện tai tính bằng mét (m)

Thời gian Là thời gian bắt đầu lập sổ điều trị tại bệnh viện

Là người thân trong gia đình có mối quan hệ huyết thống bị bệnh giống ĐTNC hay không

Tiền sử bản than Sinh con >4kg

Chế độ ăn có tuân thủ và không tuân thủ theo chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường

Có thể dục, thể thao của ĐTNC có thường xuyên và không Luyện tập < 45 phút/ngày hoặc >45 phút/ngày

Có sử dụng rượu 50ml/ngày không

Có sử dụng bia 330ml/ngày

Có hút thuốc bao nhiêu điếu/ngày

Có ăn nhiều đồ béo ngọt không Tất cả đều tính đến tại thời điểm nghiên cứu

Bao gồm: tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu, suy thận, bệnh thần kinh ngoại vi do đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu

Mức độ tuân thủ điều trị Là bệnh nhân có tuân thủ tái khám định kỳ không

Các chỉ số xét nghiệm cận lâm sàng

- Cholesterol TP, Triglycerid, HDL-C, LDL-C, AST, ALT, creatinin, ure Được làm trong thời gian nghiên cứu

- Đương huyết lúc đói, HbA1c, được làm định kỳ 3 tháng 1 lần trong thời gian nghiên cứu Đặc điểm bệnh

Vọng chẩn: Thầy thuốc dùng mắt để quan sát thần, sắc, hình thái, mắt mũi, môi, lưỡi, rêu lưỡi của người bệnh để biết tình hình

Tên biến số Định nghĩa nhân theo y học cổ truyền thông qua vọng văn vấn thiết bệnh tật bên trong của cơ thể phản ánh ra bên ngoài

Văn chẩn là phương pháp thầy thuốc sử dụng tai để lắng nghe tiếng nói, hơi thở, tiếng ho và tiếng nấc của bệnh nhân, đồng thời dùng mũi để ngửi hơi thở và các chất thải như phân, nước tiểu, khí hư Qua đó, thầy thuốc có thể phân biệt tình trạng bệnh thuộc hư hay thực, hàn hay nhiệt, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp Ngoài ra, văn chẩn còn bao gồm việc hỏi bệnh, trong đó có thập vấn.

Thiết chẩn là phương pháp khám bệnh gồm bắt mạch (mạch chẩn) và thăm khám tứ chi và các bộ phận của cơ thể (xúc chẩn)

2.7.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường

Sử dụng bộ câu hỏi EQ-5D-5L (Phiên bản tiếng Việt) với 5 lĩnh vực, 5 mục để đánh giá (phụ lục 1)

1 Đi lại của người bệnh (phụ lục 1)

2 Tự chăm sóc bản thân với 5 mức đánh giá (phụ lục 1)

3 Sinh hoạt thường lệ của người bệnh (phụ lục 1)

4 Đau khó chịu với 5 mức đánh giá (phụ lục 1)

5 Lo lắng/ u sầu (phụ lục 1)

CÁCH THU THẬP THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ

2.8.1 Cách thu thập thông tin

Tất cả đối tượng nghiên cứu trong quá trình khám định kỳ đều trải qua khám lâm sàng, thực hiện các xét nghiệm cần thiết và phỏng vấn để khai thác các yếu tố liên quan đến bệnh theo mẫu bệnh án chuẩn bị sẵn Kết quả được ghi nhận vào phiếu bệnh án thống nhất, với số liệu được thu thập hồi cứu từ năm 2019.

 Tính ch ỉ s ố kh ối cơ thể :

Để đo cân nặng bệnh nhân, sử dụng bàn cân Trung Quốc có thước đo chiều cao Bệnh nhân cần mặc một bộ quần áo mỏng, không đi giày dép và không đội mũ Kết quả cân nặng được ghi bằng kilogam, với sai số không vượt quá 100g.

Để đo chiều cao, bệnh nhân đứng thẳng với hai gót chân sát mặt sau của bàn cân, đầu thẳng và mắt nhìn về phía trước Sử dụng thước đo chiều cao gắn liền với cân, kéo thước thẳng đứng đến hết tầm rồi từ từ hạ xuống cho đến khi chạm đỉnh đầu Kết quả được đọc trên vạch thước đo, tính bằng mét (m) và sai số không vượt quá 0,5 cm.

- Tính chỉ số khối cơ thể:

BMI Cân nặng (kg) Chiều cao 2 (m)

- Thể trạng bệnh nhân được phân loại theo bảng phân loại các mức độ BMI của WHO năm 2000 áp dụng cho vùng Châu Á - Thái Bình Dương

Sử dụng ống nghe và huyết áp kế đồng hồ Nhật Bản để đo huyết áp động mạch cánh tay Bệnh nhân cần nằm nghỉ trong 15 phút trước khi tiến hành đo và không sử dụng thuốc có ảnh hưởng đến huyết áp.

 Đặc điể m b ệnh nhân đái tháo đườ ng theo y h ọ c c ổ truy ề n (theo mẫu bệnh án)

 Ch ất lượ ng cu ộ c s ố ng b ệnh nhân đái tháo đườ ng (theo mẫu bệnh án)

- Các xét nghiệm sinh hoá máu được tiến hành trên máy phân tích tự động + Xét nghiệm glucose máu lúc đói, creatinin máu bằng phương pháp enzym glucooxydase

- Cách lấy máu làm xét nghiệm:

+ Máu: Bệnh nhân được lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng lúc đói, không chống đông ly tâm lấy huyết thanh

 Đánh giá mức kiểm soát đường huyết và các bệnh kèm theo

Mục tiêu điều trị chung ĐTĐ dựa theo ADA (hội đái tháo đường Mỹ) 2017

Bảng 2.2 Mục tiêu điều trị ĐTĐ typ 2 theo ADA 2017

HbA1c < 7,0% (cá thể hóa) ĐH trước ăn 80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/l) ĐH sau ăn < 180mg/dL

Huyết áp < 140/90 mmHg ( 40 mg/dL (1,1 mmol/L) (nam)

> 50 mg/dL (1,30 mmol/L) (nữ) TG: < 150mg/dL (1,7 mmol/L)

Bệnh nhân được lấy kết quả đường máu và chỉ số HbA1c bốn lần trong năm 2019 và lần thứ 5 là trong năm 2020

 Đánh giá thể trạng bệnh nhân

Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể áp dụng cho người châu Á [12]

Bảng 2.3 Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể áp dụng cho người châu Á [12]

Nguy cơ Béo phì độ 1 Béo phì độ 2

≥ 30 Chỉ số BMI được lấy vào năm 2020 tại thời điểm tham ra nghiên cứu

 Phân loại tăng huyết áp

Phân độ tăng huyết áp theo Hội tim mạch và huyết áp Châu âu (ESC/ESH) năm 2018

Bảng 2.4 Phân độ tăng huyết áp theo Hội tim mạch và huyết áp Châu âu

Mức độ Huyết áp tâm thu (mmHg) Huyết áp tâm trương

Tăng HA giai đoạn 1 (độ I)

Tăng HA giai đoạn 2 (độ II)

Tăng HA giai đoạn 3 (độ

Tăng HA tâm thu đơn độc

Huyết áp được đo và lấy kết quả năm 2020 tại thời điểm khám lâm sàng

 Bệnh nhân đái tháo đường theo y học cổ truyền

Bệnh đái tháo đường theo y học cổ truyền thuộc chứng tiêu khát, thông qua các đặc điểm trên lâm sàng ta phân các thế tương ứng sau

Thể âm hư nhiệt thường biểu hiện qua các triệu chứng như họng khô, miệng táo, cảm giác phiền muộn và sợ nhiệt Người bệnh thường cảm thấy khát nước, thích uống nhiều, ăn nhanh đói, tiểu đỏ, đại tiện bí kết Ngoài ra, chất lưỡi có màu đỏ và rêu lưỡi vàng, kèm theo mạch tế hoạt sác hoặc tế huyền sác.

Để th ể th ấ p nhi ệ t kh ố n t ỳ, người bệnh thường có thân hình béo bệu, bụng trướng sau khi ăn, cảm giác nặng nề và khó chịu ở vùng ngực bụng Họ cũng có thể cảm thấy mỏi mệt ở tứ chi, tiểu tiện có màu vàng đỏ, đại tiện không hết, lưỡi đỏ và có rêu vàng nhờn, cùng với mạch đập nhanh và mạnh.

Thể khí âm lưỡng hư thường biểu hiện qua các triệu chứng như họng khô, miệng táo, cảm giác mệt mỏi và vô lực, dễ đói sau khi ăn, khó thở và ngại nói Người bệnh có thể cảm thấy ngũ tâm phiền nhiệt, hồi hộp với nhịp tim nhanh, mất ngủ, tiểu đỏ, và tiểu bí Lưỡi thường có màu đỏ, ít tân dịch, với rêu mỏng hoặc có thể tróc rêu, cùng với mạch tế sác vô lực hoặc tế mà huyền.

Âm dương lưỡng hư và khí huyết nội đình có thể gây ra nhiều triệu chứng như mệt mỏi, khô họng, miệng táo, lưng và gối lạnh, tay chân sợ lạnh, tiểu đêm nhiều, chóng mặt, hồi hộp, mất ngủ, ra mồ hôi tự nhiên, dễ bị cảm, khí đoản và ngại nói Bên cạnh đó, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân phù, tiểu tiện có bọt hoặc lượng ít, nam giới có thể gặp phải tình trạng liệt dương, trong khi nữ giới có thể cảm thấy lãnh cảm Các triệu chứng khác bao gồm đại tiện khô nát không đều, lưỡi bệu có hằn răng, và mạch đập trầm tế vô lực.

Thể huyết ứ trệ có thể biểu hiện qua nhiều triệu chứng như đau ngực, đau sườn, đau lưng, đau vai, và các vị trí đau cố định Người bệnh có thể cảm thấy đau như kim châm, tê bì chi thể, và triệu chứng đau thường tăng lên vào ban đêm Da dẻ khô ráp, môi tím, và mặt có ban ứ cũng là những dấu hiệu cần chú ý Ngoài ra, tình trạng hồi hộp, hay quên, tâm phiền mất ngủ, cùng với chất lưỡi tối có ban ứ và tĩnh mạch dưới lưỡi giãn to, có thể cho thấy sự hiện diện của mạch huyền hoặc trầm sáp.

Bệnh nhân được thăm khám thông qua vọng văn vấn thiết và được chẩn đoán thể bệnh theo YHCT

 Đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường

S ử d ụ ng b ộ câu h ỏ i EQ-5D-5L (Phiên b ả n ti ế ng Vi ệ t) theo ph ụ l ụ c 1 Đánh giá khả năng đi lại của bệnh nhân và điểm số tương ứng

1 Tôi đi lại không khó khăn: 1 điểm

2 Tôi đi lại hơi khó khan: 2 điển

3 Tôi đi lại khá khó khăn: 3 điển

4 Tôi đi lại rất khó khan: 4 điển

5 Tôi không thể đi lại được: 5điển Đánh giá khả năng tự chăm sóc và điểm số tương ứng

1 Tôi thấy không khó khăn gì khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 1 điểm

2 Tôi thấy hơi khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo: 2 điểm

3 Tôi thấy khá khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo: 3 điểm

4 Tôi thấy rất khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo: 4 điểm

5 Tôi không thể tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo: 5 điểm Đánh giá khả năng sinh hoạt thường lệ và điểm số tương ứng

1 Tôi thấy không khó khăn gì khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 1 điểm

2 Tôi thấy hơi khó khăn gì khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 2 điểm

3 Tôi thấy khá khó khăn gì khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 3 điểm

4 Tôi thấy rất khó khăn gì khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 4 điểm

5 Tôi không thể thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi: 5 điểm Đánh giá đau/ khó chịu của bệnh nhân và điểm số tương ứng

1 Tôi không đau hay không khó chịu: 1 điểm

2 Tôi hõi đau hay hõi khó chịu: 2 điểm

3 Tôi khá đau hay khá khó chịu: 3 điểm

4 Tôi rất đau hay rất khó chịu: 4 điểm

5 Tôi cực kỳ ðau hay cực kỳ khó chịu: 5 điểm Đánh giá lo lắng / u sầu và điểm số tương ứng

1 Tôi không đau hay không khó chịu: 1 điểm

2 Tôi hõi đau hay hơi khó chịu: 2 điểm

3 Tôi khá đau hay khá khó chịu: 3 điểm

4 Tôi rất đau hay rất khó chịu: 4 điểm

5 Tôi cực kỳ ðau hay cực kỳ khó chịu: 5 điểm

Bệnh nhân được khảo sát và đánh giá chất lượng cuộc sống thông qua thang điểm EQ5D phiên bản tiếng Việt, từ đó xác định điểm số chất lượng cuộc sống của từng bệnh nhân.

XỬ LÝ SỐ LIỆU

Số liệu được xử lý bằng phần mềm phân tích số liệu SPSS 20.0

SAI SỐ VÀ KHỐNG CHẾ SAI SỐ

Tên sai số Nội dung Cách khắc phục

Sai số nhớ lại Đối tượng tham gia không nhớ được thông tin quá lâu hoặc những thông tin có chia đơn vị nhỏ để trả lời câu hỏi

Tăng đơn vị của một số câu hỏi Giảm thời gian hỏi: thường lấy thời gian 3 tháng hoặc ít hơn là tốt nhất

Lưu ý hỏi đơn giản, câu hỏi phải được khẳng định

Sai số thông tin Sai số trong quá trình nhập liệu

Thống nhất cách nhập liệu (dùng bệnh án nghiên cứu)

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

- Tiến hành nghiên cứu một cách trung thực và nghiêm túc

- Đối tượng nghiên cứu được thông báo về mục đích nghiên cứu

- Khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu, người nghiên cứu mới được đưa đối tượng vào mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu và ý kiến đề xuất được áp dụng để đánh giá kiểm soát đường huyết tại bệnh viện, đồng thời phân tích đặc điểm của bệnh đái tháo đường theo y học cổ truyền Qua đó, nghiên cứu cũng nhằm đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.

- Nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức của Học Viện Y Dược Học Cổ Truyền Việt Nam.

DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường đang trở thành đại dịch của các bệnh không lây nhiễm và được xem là “kẻ giết người thầm lặng.” Nhờ vào những tiến bộ trong chẩn đoán và phát hiện sớm, cùng với các biện pháp chăm sóc và điều trị tích cực, tỷ lệ tử vong do biến chứng cấp tính và mạn tính ở bệnh nhân đái tháo đường đã giảm đáng kể, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt là tại khu vực Thành phố.

Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an không chỉ phục vụ cán bộ chiến sĩ trong ngành Công an mà còn tiếp nhận một lượng lớn bệnh nhân có bảo hiểm y tế, trong đó bệnh nhân mắc các bệnh nội tiết chuyển hóa, đặc biệt là đái tháo đường, chiếm tỷ lệ cao Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 273 bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện và từ kết quả thu được, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét quan trọng.

4.1 Đặc điểm kiểm soát đường huyết ở người bệnh Đái tháo đường typ2 tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An năm 2019-2020

4.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Tuổi tác là yếu tố quan trọng liên quan đến sự phát triển bệnh đái tháo đường Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh này tăng lên theo độ tuổi, đặc biệt là ở nhóm người từ 50 tuổi trở lên.

Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 273 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 62,3 ± 1 Đặc biệt, mẫu nghiên cứu phù hợp với nhóm tuổi thường mắc đái tháo đường typ 2 (>40 tuổi), và 68,1% bệnh nhân trong nghiên cứu là từ 60 tuổi trở lên, được phân loại theo WHO là lớp tuổi già.

Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Hương (2015) về tình hình sử dụng thuốc ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 64,84 Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng điều trị và quản lý bệnh nhân trong bối cảnh y tế hiện nay.

DỰ KIẾN BÀN LUẬN

Đái tháo đường đang trở thành đại dịch của các bệnh không lây nhiễm, được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” Nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán và phát hiện sớm, cùng với các biện pháp chăm sóc và điều trị tích cực, tỷ lệ tử vong do biến chứng cấp tính và mạn tính ở bệnh nhân đái tháo đường đã giảm đáng kể, cải thiện chất lượng cuộc sống của họ Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt tại khu vực Thành phố.

Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an không chỉ phục vụ cán bộ chiến sĩ ngành Công an mà còn tiếp nhận một lượng lớn bệnh nhân có bảo hiểm y tế, trong đó có tỷ lệ cao bệnh nhân mắc các bệnh nội tiết chuyển hóa, đặc biệt là đái tháo đường Chúng tôi đã nghiên cứu 273 bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện và từ kết quả thu được, xin đưa ra một số nhận xét quan trọng.

4.1 Đặc điểm kiểm soát đường huyết ở người bệnh Đái tháo đường typ2 tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An năm 2019-2020

4.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Tuổi tác có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của bệnh đái tháo đường, với tỷ lệ mắc bệnh tăng cao theo độ tuổi Nghiên cứu cho thấy, nhóm người từ 50 tuổi trở lên có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất.

Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 273 bệnh nhân, với độ tuổi trung bình là 62,3 ± 1 Mẫu nghiên cứu phù hợp với đặc điểm lứa tuổi thường mắc đái tháo đường typ 2 (>40 tuổi), được xếp vào lớp tuổi già theo WHO, trong đó 68,1% bệnh nhân trên 60 tuổi.

Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Hương (2015) chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường là 64,84 Tương tự, Nguyễn Thị Bích Hải (2018) cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Vĩnh Yên là 63,02, với 64,7% bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên Bùi Thế Bừng tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang ghi nhận tuổi trung bình là 55,4, trong đó nhóm tuổi 50-59 chiếm 62% Phạm Thị Thủy (2018) cũng cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân đái tháo đường type 2 ở Bắc Ninh là 60,3 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trước đó.

Độ tuổi từ 30-39 chỉ chiếm 2,6% trong số bệnh nhân mắc đái tháo đường, trong khi độ tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,2% Sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh theo độ tuổi cho thấy rằng người cao tuổi có nguy cơ cao hơn, có thể do họ thường xuyên đăng ký bảo hiểm tại bệnh viện.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ chiếm 50,9% và nam 49,1%, tương tự như các tác giả khác như Phạm Thị Thủy (2018) với tỷ lệ nữ 53,9% và nam 46,1%, cũng như Nguyễn Thị Bích Hải (2018) với nữ 51,0% và nam 49,0%.

Theo nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cộng sự tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nam giới là 3,5%, trong khi ở nữ giới là 5,3% Tuy nhiên, một nghiên cứu quốc gia về tình hình đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ được thực hiện trong giai đoạn 2002 - 2003 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới.

Giới tính là một yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số CLCS, với nam giới có điểm số cao hơn nữ giới Nghiên cứu của Rubin RR và Peyrot M cũng cho thấy rằng phụ nữ, đặc biệt là trong nhóm có thu nhập thấp, có điểm CLCS thấp hơn.

Nhóm tuổi 30-49 mắc bệnh ĐTĐ typ 2 ở nam giới cao hơn nữ giới với tỷ lệ lần lượt là 12% và 5,1% Ngược lại, ở nhóm tuổi ≥ 70, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới chỉ đạt 14,1%, trong khi nữ giới là 27,3% Đối với nhóm tuổi 60-69, tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới tương đối ngang nhau, với nam là 46,3% và nữ là 48,2% Điều này cho thấy nam giới có xu hướng mắc bệnh ĐTĐ typ 2 ở độ tuổi trẻ hơn so với nữ giới, có thể do thói quen ăn uống và lối sống, như việc tiêu thụ bia rượu nhiều hơn.

Qua nghiên cứu 273 bệnh nhân tôi thấy, số bệnh nhân có thời gian phát hiện bệnh < 5 năm chiếm tỷ lệ cao 52,4% Tương đương với Đoàn Thị Thu Hương

(2015) là 50%[5], Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy(2018) là 52,8%[48] nhưng có sự khác biệt lớn với tác giả Nguyễn Thị Bích Hải (2018) chỉ có 6,2%[49]

Thời gian phát hiện bệnh 5-10 năm chiếm tỷ lệ 41,4%, Nguyễn Thị Bích Hải

Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2018) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân chỉ đạt 13,4%, trong khi một nghiên cứu khác ghi nhận tỷ lệ lên đến 63,0% Sự khác biệt này có thể do đặc điểm bệnh nhân ở mỗi khu vực khác nhau, dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh, thói quen ăn uống và chế độ sinh hoạt cũng khác biệt.

Tỷ lệ phát hiện bệnh sau 10 năm là 6,2%, gần giống với nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Hương (2015) với 5,3%, và có sự khác biệt nhỏ so với nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2018) chỉ đạt 3,4%.

Theo tác giảM Javanbakht, et al (2012) người bệnh có thời gian mắc bệnh trên 10 năm có điểm số thấp hơn người mắc bệnh

Ngày đăng: 12/07/2021, 01:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô, Châu Quý. Bệnh học nội khoa tập 2. Hà Nội : Nhà xuất bản Y học, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoa tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
2. Đỗ, Quân Trung. Chẩn đoán đái tháo đường và điều trị. Hà Nội : Nhà xuất bản Y học, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán đái tháo đường và điều trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
3. Thái, Quang Hồng. Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường . Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
4. Nguyễn , Nhạn thị . Đái tháo đường ở người già. . : Tạp chí Y học thực hành (548) tr 75- 83, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường ở người già
6. Tạ, Bình Văn. Những nguyên lý nền tảng đái tháo đường - tăng glucose máu. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý nền tảng đái tháo đường - tăng glucose máu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
7. Tierney, Papadakis Ms, Phlee. Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại. Hà Nội : Nhà xuất bản Y học, tr 733- 800, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
9. Tạ, Bình Văn. Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, phương pháp điều trị và biện pháp dự phòng . Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, phương pháp điều trị và biện pháp dự phòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
10. Hoàng , Ước Kim. Thực trạng bệnh đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở các đối tượng có nguy cơ cao tại thành phố thái nguyên năm 2006. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở các đối tượng có nguy cơ cao tại thành phố thái nguyên năm 2006
11. Trần , Dàng Hữu . Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở người 30 tuổi trở lên tại thành phố Quy Nhơn . s.l. : Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên nghành nội tiết và chuyển hóa lần 3, tr 648- 660, 2007. Bộ Y tế (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở người 30 tuổi trở lên tại thành phố Quy Nhơn
13. Bộ Y tế. Bệnh béo phì, Hướng chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết chuyển hóa. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh béo phì, Hướng chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết chuyển hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
14. Nguyễn , Trí Văn. Rối loạn lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường. s.l. : www.timmachhoc.com, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường
15. Tạ, Bình Văn. Khuyến cáo về Bệnh Đái tháo đường của Hội nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về Bệnh Đái tháo đường của Hội nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
16. Tạ Văn Bình và cộng sự (2012), "Kết quả điều tra đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở đối tượng có nguy cơ cao tại Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hoá và Nam Định", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 6, tr. 738-749 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở đối tượng có nguy cơ cao tại Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hoá và Nam Định
Tác giả: Tạ Văn Bình và cộng sự
Năm: 2012
17. Phan Thị Kim Lan (2010), “Liên quan giữa đái tháo đường và tăng huyết áp”, Tạp chí Y học thực hành, số 507 – 508, tr 885 – 888 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thị Kim Lan (2010), “Liên quan giữa đái tháo đường và tăng huyết áp
Tác giả: Phan Thị Kim Lan
Năm: 2010
19. Nguyễn , Siêu tử. dịch "Hoàng đế nội kinh". Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế nội kinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
20. Tuệ , Tĩnh. Tuệ tĩnh toàn tập. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuệ tĩnh toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
21. Lê, Trác Hữu. Hải thượng Y tông tâm lĩnh. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải thượng Y tông tâm lĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
22. Trương , Bình Việt. Bài giảng bệnh học nội khoa Y học cổ truyền. Hà nội : Nhà xuất bản Y học, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bệnh học nội khoa Y học cổ truyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
8. Bách khoa toàn thư mở (2014). Tiểu đường, truy cập ngày 27-11-2018, tại trang web https://vi.wikipedia.org/wiki/Tiểu_đường Link
12. Tổng kết dự án đái tháo đường, truy cập ngày 20-9-2018, tại trang web http://moh.gov.vn/news/pages/tinhoatdong.aspx?ItemID=225 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w