1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG VÀ TIỀM NĂNG QUẶNG VÀNG Ở KHU VỰCHỐ CHUỐI, XÃ SÔNG TRÀ, HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

15 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đây, kết hợp với các đợt khảo sát thực tế của nhóm tác giả, bài báo trình bày những đặc điểm về địa chất, chất lượng lư

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG VÀ TIỀM NĂNG QUẶNG VÀNG Ở KHU VỰC

HỐ CHUỐI, XÃ SÔNG TRÀ, HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

Hoàng Hoa Thám 1* , Nguyễn Thị Thủy 1 , Nguyễn Hướng 2

1 Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Huế

2 Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ

*Email: thamdc77@gmail.com

TÓM TẮT

Vàng là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm, có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Quảng Nam là một trong những tỉnh ở Việt Nam giàu tài nguyên thiên nhiên, lớn về tiềm năng, phong phú về chủng loại, trong đó phải kể đến là vàng Chính vì tầm quan trọng đó, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về loại hình nguyên liệu khoáng này.

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đây, kết hợp với các đợt khảo sát thực tế của nhóm tác giả, bài báo trình bày những đặc điểm về địa chất, chất lượng lượng và tiềm năng quặng vàng ở khu vực Hố Chuối, xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở cho công tác điều tra, thăm dò cũng như đánh giá khả năng khai thác chúng.

Từ khóa: chất lượng, quặng vàng, Quảng Nam, tiềm năng.

1 MỞ ĐẦU

Vàng là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản qúy hiếm, có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Vàng không chỉ biết đến là một kim loại được

sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phải kể đến là lĩnh vực trang sức

Quảng Nam là một trong những tỉnh ở Việt Nam giàu tài nguyên thiên nhiên, lớn về tiềm năng, phong phú về chủng loại, trong đó phải kể đến là vàng Trên toàn bộ diện tích khu vực Quảng Nam đã phát hiện khoảng 14 mỏ, điểm mỏ, điểm khoáng hóa vàng Trong số đó, đáng chú ý nhất là mỏ Vàng Bồng Miêu đã được phát hiện và điều tra, khai thác từ rất lâu Chính vì tầm quan trọng của nguồn tài nguyên khoáng sản này, trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về loại hình khoáng sản này nhằm góp phần vào sự phát triển của đất nước nói chung, của tỉnh Quảng Nam nói riêng

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đây [1], [3], [5], [6],… kết hợp với các đợt khảo sát thực tế của nhóm tác giả, bài báo trình bày những đặc điểm

về địa chất, chất lượng và tiềm năng quặng vàng ở khu vực Hố Chuối, xã Sông Trà, huyện Hiệp

Trang 2

Đức, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở cho công tác điều tra, thăm dò cũng như đánh giá khả năng khai thác chúng

2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu có diện tích khoảng 14ha, được giới hạn bởi tọa độ địa lý sau (bảng 1)

Bảng 1 Tọa độ các điểm khép góc

Tọa độ VN-2000 (KTT: 107045’, múi 3 độ) Điểm góc

2.2 Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu

2.2.1 Địa tầng

Trên toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu có mặt các thành tạo địa chất với các phân vị địa tầng từ cổ đến trẻ như sau:

Giới Proterozoi (PR)

Giới Proterozoi gồm các thành tạo biến chất của hệ tầng Khâm Đức (PR2-3 kđ) và thành

tạo lục nguyên phun trào được xếp vào hệ tầng Núi Vú (PR3-1 nv), gồm các đá phiến

amphibol, amphibolit, đá gneis biotit, đá phiến biotit có chứa granat, đá phiến thạch anh-sericit,

đá phiến silic,…

Giới Paleozoi (PZ), hệ Cambri trung- hệ Ordovic hạ

Hệ tầng A Vương (2 -O 1 av): gồm chủ yếu các đá phiến thạch anh-sericit-clorit, đá

phiến sericit; đá phiến thạch anh-biotit xen lớp mỏng quarzit, cát kết dạng quarzit, quarzit

Giới Mezozoi (MZ)

Tại vùng nghiên cứu, giới Mezozoi bao gồm hệ tầng Nông Sơn (T3n-r ns), hệ tầng Bàn

Cờ (J1 bc), hệ tầng Khe Rèn (J1 kr) và hệ tầng Hữu Chánh (J2 hc),

Hệ tầng Nông Sơn (T 3 n-r ns): gồm các đá cuội dăm kết xen cát kết, cuội kết, sạn kết,

bột kết, cát bột kết,

Trang 3

Hệ tầng Khe Rèn (J 1 kr): gồm chủ yếu là bột kết chứa các hóa thạch thân mềm, cát kết

hạt vừa, sét vôi, vôi sét, bột kết xen cát kết,…

Hệ tầng Hữu Chánh (J 2 hc): gồm các đá cát kết, bột kết, các lớp mỏng hoặc thấu kính

sạn kết, cuội kết, cát bột kết, bột sét kết,…

Giới Kainozoi (KZ)

Bao gồm hệ Neogen (N) và hệ Đệ Tứ (Q) bao gồm chủ yếu là cuội kết, sạn kết chứa

cuội màu xám vàng, xám trắng, chuyển lên cát kết, bột kết của hệ tầng Ái Nghĩa (Nan) và các

trầm tích Đệ Tứ phân bố khắp nơi trong các trũng đồng bằng, thung lũng sông, suối, khu vực ven biển Quảng Nam

2.2.2 Các thành tạo magma xâm nhập

Trên diện tích khu vực nghiên cứu, các thành tạo xâm nhập phát triển phong phú và đa dạng Thành phần thay đổi từ mafic cho đến axit, có tuổi từ Proterozoiđến Paleogen gồm các phức hệ sau: Phức hệ Chu Lai (G PR3 cl), Hiệp Đức (U PZ1 hđ), Núi Ngọc (Gb/PZ1 nn), Điện

Bông (G/PZ1 đb), Trà Bồng (Di–GDi/O–S tb), Đại Lộc (GaD1 đl), Bến Giằng–Quế Sơn (Di–

GDi–G/PZ3 bg–qs), Cha Val (Gb/aT3 cv), Hải Vân (G/a T3 hv), Đèo Cả (G/K đc) và phức hệ Bà

Nà (G/K2–E bn).

2.2.3 Các đứt gãy

Khu vực nghiên cứu nằm ở rìa Đông Bắc địa khối Kontum thuộc cấu trúc miền uốn nếp Hecxinit Trường Sơn, thuộc đứt gãy Tam Kỳ - Phước Sơn nằm trong phạm vi của 2 hệ thống đứt gãy lớn:

- Đứt gãy sông Cu Đê nằm trong đới hút chìm Bạch Mã-Hướng Hóa ở phía Bắc và đứt gãy Hưng Nhượng - Tà Vi khuôn theo mặt đáy địa di Trà Bồng - Tà Vi ở phía Nam

- Các hệ thống đứt gãy trẻ hơn theo phương vĩ tuyến và á vĩ tuyến; đông bắc - tây nam

và đông nam - tây bắc

2.3 Đặc điểm địa chất khu mỏ

Tổng hợp từ các nguồn tài liệu đã được công bố [2], [4], [6], trên diện tích khu vực

nghiên cứu chủ yếu xuất hiện các thành tạo thuộc hệ tầng Khâm Đức có tuổi Proterozoi (PR2-3

kđ).

Phân hệ tầng dưới (PR 2-3 kđ 1 ): bao gồm các đá phiến thạch anh biotit, đá phiến felspat

thạch anh biotit, đá phiến thạch anh biotit có silimanit granat xen các đá gneis biotit, đá plagiogneis biotit, đá phiến felspat thạch anh biotit horblend, lớp mỏng đá phiến thạch anh mica,

và các thấu kính nhỏ đá amphibolit Đá bị vò nhàu và nứt nẻ mạnh, các đá bị migmatit hoá trên diện rộng và phur đều trên toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu Trong các thành tạo địa chất này thường liên quan chủ yếu là vàng gốc, các gânmạch thạch anh sulfur chứa vàng, các điểm khoáng hoá dạng mạch thạch anh nhiễm ít sulfur,

Trang 4

Phân hệ tầng giữa (PR 2-3 kđ 2 ): bao gồm các đá phiến thạch anh fenspat biotit, gneis biotit, đá phiến thạch anh biotit (hình 1), đá phiến thạch anh biotit horblend, đá phiến thạch anh hai mica, xen đá gneis biotit horblend, plagiogneis biotit, đôi nơi xen lớp mỏng đá amphibolit

Hình 1 Ảnh đá biến chất hệ tầng Khâm Đức tại khu vực nghiên cứu.

a Vết lộ đá phiến thạch anh-biotit;

b Lát mỏng chụp dưới hai nicol vuông gốc (+), độ phóng đại 100 lần

Các đá phiến thạch anh biotit phân bố xen với đá gneis biotit, đá có dạng hạt mịn, màu xám tối, cấu trúc phân phiến mỏng Phần trên xen kẽ giữa đá phiến thạch anh felspat hai mica,

đá phiến thạch anh silimanit chứa granat (hình 2)

Nhìn chung các đá thuộc hệ tầng Khâm Đức (PR2-3 kđ) bị vò nhàu uốn nếp tạo thành

một nếp uốn không cân đối dạng tuyến kéo dài theo phương gần đông- tây hơi uốn cong quay

bề lõm về đông nam, được bổ sung bởi hàng loạt nếp uốn nhỏ cùng phương và phức tạp hoá bởi các đứt gãy phương tây bắc - đông nam, đông bắc - tây nam; các đá phổ biến hiện tượng migmatit hoá và granit hoá Đồng thời ở phía tây tây nam chúng bị thể magma xâm nhập granitoit phức hệ Bà Nà xuyên cắt gây biến chất tiếp xúc

- Trong vùng nghiên cứu còn có các lớp đá quarzit nằm xen kẹp trong đá phiến thạch anh biotit là loại đá cát kết thạch anh tái kết tinh tạo thành Đá có màu xám trắng, xám đen, xám nâu do nhiểm sắt, kết cấu dạng khối, rắn chắc (hình 3) Đây chính là đối tượng liên quan đến các lớp đá chứa quặng sắt magnetit trong diện tích mỏ

Trang 5

Hình 2 Ảnh lát mỏng đá phiến thạch

anh-silimanit-granat, chụp dưới 2 nicol vuông gốc

Hình 3 Vết lộ các lớp đá quarzit xen kẹp các đá

phiến thạch anh- biotit-clorit

3 ĐẶC ĐIỂM CÁC THÂN QUẶNG

Trên toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu, quặng vàng thường xuất hiện trong các vi mạch thạch anh sulful với hàm lượng không đồng đều Các vi mạch thạch anh sulful xuyên cắt các lớp đá quarzit và nằm chỉnh hợp trên các đá của hệ tầng Khâm Đức (PR2-3 kđ 2)

Từ các kết quả khảo sát thực địa, kết hợp với các tài liệu đã được công bố [3, 5] cho thấy: Phần lớn điểm quặng được phân bố trong các đá trầm tích biến chất thuộc hệ tầng Khâm Đức, phân hệ tầng giữa (PR2-3 kđ 2 ) bao gồm: đá gneis biotit, đá phiến thạch anh biotit horblend,

đá phiến thạch anh biotit, đá gneis biotit hornblend, đá phiến thạch anh felspat hai mica, đá phiến thạch anh hai mica, đá phiến thạch anh silimanit chứa granat, lớp mỏng đá plagiogneis biotit Các đá này chính là môi trường liên quan đến các thành tạo chứa quặng vàng

Dựa vào các đặc điểm đặc trưng về địa chất, đặc điểm phân bố thì trên diện tích ngiên cứu xuất hiện các thân quặng sau:

3.1 Thân quặng TQ1

Thân quặng xuất lộ dưới kéo dài theo phương Tây Bắc-Đông Nam, với chiều rộng của thân quặng quan sát được từ 1,0 đến 6,0m, chiều dài của thân khoáng khoảng 400m

Thân quặng bao gồm lớp đá quarzit nằm trùng khớp với thế nằm của đá vây quanh Trong lớp đá có các vi mạch thạch anh-sulfur-vàng xuyên cắt lên các đá vây quanh theo các phương vị khác nhau Các vi mạch thạch anh-sulfua-vàng phân bố với mật độ không đều, đôi chổ chúng tạo thành ổ, đám khá giàu sulfur Các lớp đá quaczit giòn hơn các lớp đá của hệ tầng Khâm Đức nên chúng dể dàng bị dập vỡ, nứt nẻ, hình thành các hệ thống khe nứt và đây chính

là điều kiện thuận lợi cho sự tập trung các thân quặng sulfua chứa vàng (hình 4)

Trang 6

Hình 4 Ảnh vết lộ thân quặng TQ1 bị dập vỡ mạnh [3].

Thân quặng có màu xám đen, xám nâu, xám xanh, đôi chổ có màu nâu đỏ khá cứng chắc, bị nứt nẻ mạnh Trong thân quặng đôi chổ hàm lượng sulfur khá giàu và chúng thường bị phong hóa mạnh Quá trình phong hóa đã hình thành nên các ổ thạch anh tập trung ở các khe nứt, tại những nơi các mạch thạch anh dể bị vở nát do vận động kiến tạo tạo nên

Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng có thành phần khoáng vật chủ yếu là magnetit: 40%; pyrotin: 25-68%; Pyrit: 1-3%; Hematit: 1%; nền đá biến đổi có thành phần chủ yếu là thạch anh và amphibol [3] (hình 5)

Quặng có kiến trúc hạt tha hình đến nửa tự hình, cấu tạo khối Trong mẫu còn xuất hiện các vi mạch xuyên cắt, chúng được lấp đầy bằng các vi hạt thạch anh và một ít khoáng vật màu khác

Kết quả phân tích nung luyện vàng cho kết quả hàm lượng vàng từ 0,4 - 1,5g/T [3, 5] Đây là thân quặng có triển vọng nhất trong khu vực nghiên cứu Vàng trong mẫu có màu vàng đậm, thường có dạng hạt tha hình, một số đẳng thước, vảy nhỏ Vàng được hình thành chủ yếu lấp đầy, hay phân bố dọc theo các khe nứt, hay xen kẹptrong pyrit, một số nằm trong pyrotin, còn lại là dạng xuyên lấp trong các khe nứt của phi quặng, hoặc lấp đầy các lỗ hổng của thạch anh (hình 5)

Trang 7

Hình 5 Vàng hạt méo mó (vàng) trong pyrotin (xám sáng), Độ phóng đại 100lần.

3.2 Thân quặng TQ2

Thân quặng 2 xuất lộ dưới dạng mạch, vĩa, thấu kính, với chiều dài khoảng 300m, bề dày thân quặng khoảng từ 1,0-1,2m, chúng kéo dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam

Thân quặng bao gồm lớp đá quarzit nằm xen kẹp với các đá biến chất hệ tầng Khâm Đức Trong đó xuất hiện các vi mạch thạch anh-sulfur chứa vàng xuyên cắt lên các đá vây quanh Các mạch thạch anh-sulfur này bị nén ép, vò nhàu tạo nên các vi uốn nếp với các phương vị khác nhau

Thân quặng TQ2, có thành phần khoáng vật chủ yếu là pyrotin, pyrit, chalcopyrit, gơtit Thân quặng có màu xám đen, xám nâu, khá cứng chắc nhưng bị nứt nẻ mạnh, trong mạch có sự phân tập khá rõ ràng, tại nơi tiếp xúc với các vi mạch thạch anh chúng dể bị tách ra

và vỡ nát do sự phong hóa khá mạnh của sulfur

Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng có thành phần khoáng vật chủ yếu là magnetit: 30%; pyrotin: 25-60%; Pyrit: 1-3%; Hematit: 1%; nền đá biến đổi có thành phần chủ yếu là thạch anh và amphibol

Kiến trúc hạt nửa tự hình, hạt tha hình; cấu tạo khối, vi mạch lấp đầy khe nứt

Kết quả phân tích nung luyện vàng cho kết quả hàm lượng vàng từ 0,7-1,5g/T

3.3 Đặc điểm chất lượng, tính chất công nghệ quặng

3.3.1 Đặc điểm chất lượng quặng

* Đặc điểm hình thái các thân quặng

Các thân quặng trong vùng nghiên cứu xuất lộ dưới dạng vĩa, dạng mạch, ít hơn là dạng thấu kính, với chiều dài từ 300m đến 400m; dày 1,0m đến 6,0m Phương kéo dài chung của các thân khoáng chủ yếu là phương đông bắc – tây nam Hình thái các thân quặng thuộc dạng các vi

Trang 8

mạch thạch anh sulfur chứa vàng xuyên cắt trong lớp đá quaczit có thế nằm phổ biến là

120-140030-400 (hình 6)

Do đặc điểm các lớp đá quaczit giòn hơn các lớp đá khác của hệ tầng Khâm Đức nên dể dàng bị dập vỡ, nứt nẻ do các hoạt động kiến tạo giai đoạn sau hình thành các hệ thống khe nứt Chính các hệ thống khe nứt này là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhiệt dịch của vật chất lấp đầy chúng tạo nên các vi mạch thạch anh sulful chứa vàng đan xen, xuyên cắt trong lớp đá quaczit, sự phân bố và mật độ không đều, đôi chổ chúng tạo thành ổ, đám khá giàu sulfur, các vi mạch thạch anh sulfur chứa vàng có chiều dày từ 0,05-0,1m

Thân quặng có màu xám đen, xám nâu khá cứng chắc, trong đó có các vi mạch thạch anh xuyên cắt làm cho chúng dể bị vở nơi tiếp xúc với vi mạch, tại nơi các vi mạch thạch anh xuyên cắt quan sát thấy có pyrit, chalcopyrit (hình 7),… Các thân quặng phân bố tại đây có dạng lớp, vỉa với bề dày từ 1,0 - 6,0m, ổn định nằm chỉnh hợp và bị biến dạng uốn nếp khớp đều với

đá vây quanh

Nhìn chung, đá vây quanh các thân quặng bị biến chất không đều, đặc biệt các thân quặng cùng đặc điểm biến dạng với đá vây quanh; vò nhàu, uốn nếp đa dạng, ép phiến

Hình 6 Vàng dạng gân mạch

lấp đầy các khe nứt trong thạch anh

Hình 7 Vàng dạng đẳng thước (vàng)

trong pyrit (xám sáng)

* Đặc điểm thành phần khoáng vật

Dựa vào các kết quả phân tích [3], cho thấy thành phần các khoáng vật trong các đá tại

mỏ bao gồm các khoáng vật sau:

- Magnetit: có hàm lượng chiếm khoảng 4% - 40%, tồn tại chủ yếu ở dạng hạt tha hình,

kích thước nhỏ dao động từ 0,03-0,2mm xâm tán trong đá, có chỗ phân bố thành dạng mạch

Trang 9

- Pyrotin: trong mẫu phân tích có hàm lượng chiếm khoảng 25% - 68%, tồn tại chủ yếu

ở dạng hạt tha hình xâm tán cùng magnetit Có chỗ phân bố tạo thành các vi mạch nhỏ xen kẽ giữa các mạch khoáng vật tạo đá tạo thành nhịp

- Pyrit: có hàm lượng khoảng 3% - 8%, tồn tại chủ yếu ở dạng hạt tha hình xâm tán

cùng pyrotin, phần lớn là tạo thành mạch lớn ~1cm xuyên cắt nền mẫu, kích thước 0,1->1mm Đôi khi gặp xâm tán tản mạn trong đá, hoặc trong thạch anh, đôi chỗ lấp đầy khe nứt tạo thành các vi mạch ngắn

- Gơthit: có hàm lượng khoảng 1% dạng hạt tha hình có khi gặm mòn thay thế cho

pyrit

- Chancopyrit: có hàm lượng không đáng kể chỉ gặp ít hạt nhỏ xâm tán trong đá

Chancopyrit là khoáng vật ít phổ biến trong quặng, thường có dạng hạt tha hình, kích thước 0,05-0,3mm tạo thành đám, ổ nhỏ, lấp nhét trong các khe nứt của đá hoặc dạng hạt tha hình, xen lẫn trong đám pyrotin

- Nền đá biến đổi có thành phần chủ yếu là thạch anh và amphibol

* Đặc điểm thành phần hóa học

Kết quả phân tích mẫu nung luyện vàng cho thấy hàm lượng vàng tại khu vực đánh giá khá thấp chỉ từ 0,4 - 1,5g/T được thể hiện ở bảng 2 dưới đây:

Bảng 2 Kết quả phân tích nung luyện vàng [3]

Số TT Số hiệu mẫu Hàm lượng Au (g/t) Số TT Số hiệu mẫu Hàm lượng Au (g/t)

So sánh kết quả phân tích vàng ở khu vực Hiệp Đức so với vàng ở ku vực A Vao, tỉnh Quảng Trị được thể hiện ở bảng 3 dưới đây:

Bảng 3 Hàm lượng vàng, bạc ở khu vực A Vao, Quảng Trị

Hàm lượng Au (g/t) STT Số hiệu thân quặng

Hàm lượng Ag trung bình (g/t)

Trang 10

7 TQ.6B 0,70 6,80 1,46 15,00

Như vậy, dựa vào kết quả phân tích từ bảng 3.1 và bảng 3.2 cho thấy hàm lượng vàng ở khu vực Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam thấp hơn rất nhiều so với hàm lượng vàng ở khu vực A Vao, tỉnh Quảng Trị

3.3.2 Tính chất công nghệ quặng

Trong diện tích nghiên cứu, khoáng sản chính là các vi mạch thạch anh sulfur chứa vàng xuyên cắt trong các lớp đá quaczit có từ tính mạnh, chúng nằm chỉnh hợp với thế nằm đá của hệ tầng Khâm Đức (PR2-3 kđ 2) Vì vậy muốn lấy được quặng vàng phải xay nghiền lớp đá quaczit để tuyển vàng

Hàm lượng vàng trong quặng nguyên khai tại mỏ theo kết quả phân tích nung luyện vàng chỉ đạt từ 0,4 - 1,5 g/tấn (bảng 2) [3] Tuy nhiên, sau khi tuyển từ để tách lấy quặng sắt magnetit thì hàm lượng vàng trong quặng nguyên khai sẽ được nâng lên đáng kể

Các khoáng vật trong thân quặng gồm chủ yếu magnetit, hematit, pyrotin thứ yếu có gơthit, chalcopyrit, pyrit Khoáng vật magnetit có độ hạt khá mịn, xâm tán không đều trong thân quặng Khoáng vật phi quặng chủ yếu thạch anh dạng hạt nhỏ chiếm tỉ lệ khá cao từ 24-87%, các khoáng vật gơthit, chalocpyrit, pyrit chiếm tỉ lệ nhỏ và phân bố không đều, chúng chủ yếu tập trung trong các vi mạch thạch anh xuyên cắt trong thân quặng, đôi chổ chúng tập trung thành ổ khá giàu, dưới kính lúp không nhìn thấy khoáng vật vàng

Nghiên cứu mẫu công nghệ nhằm xác định thành phần vật chất quặng, xác định tính chất vật lý, tính chất cơ lý của quặng, nghiên cứu cấp độ hạt chứa quặng để sử dụng dây chuyền tuyển quặng hợp lý Sử dụng công nghệ tuyển từ để lấy quặng sắt, tuyển trọng lực, tuyển nổi và tuyển thủy luyện để lấy quặng vàng, từ đó nhằm lựa chọn công nghệ tuyển hợp lý để tách và thu hồi các khoáng vật khác nhau trong mỏ một cách hiệu quả nhất

4 TIỀM NĂNG QUẶNG VÀNG Ở KHU VỰC

HỐ CHUỐI, XÃ SÔNG TRÀ, HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM.

Ngày đăng: 12/07/2021, 01:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w