Để phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, bên cạnh việc giữ gìn những giá trị tự nhiên và văn hóa quý giá, hoạt động này cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực đến môi trường,
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số khái niệm liên quan
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch kết hợp giữa thiên nhiên và văn hóa địa phương, nhằm nâng cao nhận thức về môi trường Loại hình này không chỉ góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch bền vững, tôn trọng môi trường tự nhiên và văn hóa địa phương Nó nhằm mục đích khám phá những khu vực hoang sơ, đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Hình thức du lịch này không chỉ mang lại trải nghiệm tuyệt vời cho du khách mà còn tạo ra những lợi ích kinh tế – xã hội tích cực cho cộng đồng địa phương.
Nguồn : Tạp chí môi trường
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) vào năm 1994, du lịch được định nghĩa là tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên Mục đích của du lịch thường là để giải trí, nghỉ ngơi, khám phá văn hóa, dưỡng sức và chủ yếu không nhằm kiếm sống.
Kể từ khi xuất hiện vào đầu những năm 1980, du lịch sinh thái đã nhanh chóng phát triển thành một hiện tượng toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ thiên nhiên Đây là loại hình du lịch tự nhiên có trách nhiệm, hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn môi trường.
Du lịch sinh thái, theo Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế, là hoạt động du lịch đến các khu thiên nhiên, nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng địa phương Tại Việt Nam, các chuyên gia Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch nhận định rằng du lịch sinh thái không chỉ mang lại trải nghiệm giáo dục cao về sinh thái và môi trường, mà còn có tác động tích cực đến việc bảo vệ văn hóa và môi trường Hình thức du lịch này đảm bảo lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương và hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn thiên nhiên.
Nhƣ vậy, xét về bản chất, du lịch sinh thái là loại hình du lịch có các đặc trƣng sau:
- Hấp dẫn về tự nhiên
- Bền vững về sinh thái
- Cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên thông qua giáo dục và giải thích nhằm phát triển bền vững tài nguyên du lịch
- Cung cấp những lợi ích cho khu vực và địa phương
DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau:
Tổ chức thực hiện và phát triển dựa vào những giá trị thiên nhiên và văn hóa bản địa Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái
Có giáo dục và diễn giải về môi trường
Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng b Đặc trƣng cơ bản của du lịch sinh thái
Du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên và giá trị văn hóa lịch sử do con người tạo ra, kết hợp với các dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch Những yếu tố này tạo ra sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng và khám phá của du khách, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội.
Bên cạnh những đặc trƣng chung của ngành du lịch, DLST cũng hàm chứa những đặc trƣng riêng bao gồm:
Du lịch sinh thái (DLST) đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục con người về môi trường, giúp họ tiếp cận gần gũi hơn với thiên nhiên và các khu bảo tồn đa dạng sinh học Mặc dù hoạt động du lịch có thể tạo ra áp lực lớn lên môi trường, DLST được xem là giải pháp hiệu quả để cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.
Hoạt động du lịch sinh thái (DLST) không chỉ góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên mà còn duy trì tính đa dạng sinh học Thông qua DLST, con người được giáo dục về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, từ đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
5 các nguồn tài nguyên đó cũng nhƣ thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
Sự tham gia của cộng đồng địa phương là yếu tố quan trọng trong việc giáo dục du khách về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Nó không chỉ nâng cao nhận thức cho cộng đồng mà còn gia tăng thu nhập cho người dân địa phương Đồng thời, sự tham gia này cũng góp phần tích cực vào hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái.
DLST cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Hoạt động diễn giải trong du lịch sinh thái (DLST) nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường và khuyến khích ý thức bảo tồn, tạo nên sự khác biệt giữa DLST và các hình thức du lịch tự nhiên khác Mặc dù các sản phẩm du lịch tự nhiên đều có giá trị, DLST nổi bật với tính giáo dục và trách nhiệm cao hơn DLST phức tạp hơn về hướng dẫn an toàn và chi phí bảo hiểm, đòi hỏi ý thức trách nhiệm từ cả người tổ chức và du khách Sau chuyến tham quan, khách du lịch sinh thái sẽ hiểu biết hơn về đặc tính sinh thái và văn hóa địa phương, từ đó thay đổi thái độ và hành vi để tích cực tham gia vào bảo tồn và phát triển tự nhiên cũng như văn hóa khu vực.
*Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái:
Du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái (DLST), có tác động trực tiếp đến môi trường và hệ sinh thái Những ảnh hưởng tiêu cực của DLST có thể làm thay đổi và biến tính các hệ sinh thái, dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường sống Nhiều hệ sinh thái dễ bị tổn thương trước áp lực phát triển DLST, gây ra sự giảm sút đa dạng sinh học.
Du lịch sinh thái (DLST) đặt bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái lên hàng đầu, khác với các loại hình du lịch khác Đây là một nguyên tắc cơ bản mà DLST cần tuân thủ để đảm bảo sự bền vững cho thiên nhiên và cộng đồng địa phương.
- Mục tiêu của hoạt động DLST là bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái
DLST phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái điển hình Sự hủy hoại hệ sinh thái và thoái hóa môi trường sẽ dẫn đến sự diệt vong của DLST.
Môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bao quanh con người và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất cũng như sự phát triển của con người và thiên nhiên Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 1994, khái niệm về môi trường không chỉ giới hạn trong các yếu tố này mà còn bao gồm cả tài nguyên, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội.
Môi trường du lịch được hiểu rộng rãi là tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn, trong đó hoạt động du lịch diễn ra và phát triển (Nguồn: Phạm Trung Lương – Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch)
Ảnh hưởng của hoạt động DLST đến môi trường và con người
Du lịch không chỉ mang lại lợi ích vật chất mà còn cả tinh thần cho con người, như tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời cung cấp môi trường nghỉ ngơi và giải trí Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch đang đối mặt với vấn đề quản lý lỏng lẻo, dẫn đến những tác động tiêu cực ngày càng rõ rệt đối với môi trường.
Hoạt động du lịch có tác động lớn đến môi trường tự nhiên, khi số lượng du khách gia tăng, việc sử dụng tài nguyên cũng tăng theo, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đất, nước và không khí Sự gia tăng này làm suy giảm đa dạng sinh học và gây nhiễu loạn sinh thái Để đáp ứng nhu cầu của du khách, cần nhiều phương tiện, chỗ lưu trú và dịch vụ, điều này dẫn đến thiệt hại lớn cho môi trường và khó có thể phục hồi.
Hoạt động du lịch có tác động sâu sắc đến môi trường văn hóa-xã hội, khi số lượng du khách trong và ngoài nước ngày càng tăng, bao gồm nhiều thành phần và giai cấp khác nhau Sự phát triển của du lịch khiến người dân địa phương thường xuyên tương tác với du khách, từ đó làm thay đổi các hệ thống giá trị, nhân cách, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, cũng như các nghi lễ truyền thống và tổ chức cộng đồng.
Sự phát triển du lịch không chỉ tạo ra cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân, mà còn dẫn đến hiện tượng di cư lao động, đặc biệt là ở các khu du lịch Nếu lực lượng lao động nhập cư này không được quản lý chặt chẽ, họ có thể trở thành nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn của cộng đồng địa phương.
Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu
Trong vài thập kỷ qua, du lịch toàn cầu đã bùng nổ, dẫn đến những tác động tiêu cực đến kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường của các điểm đến Do đó, các nhà nghiên cứu du lịch đang ngày càng chú trọng vào việc phân tích những ảnh hưởng xấu mà du lịch gây ra cho môi trường và đề xuất các chiến lược phát triển du lịch bền vững hơn.
Từ những năm 1980, nghiên cứu về ảnh hưởng của du lịch đến phát triển bền vững đã được nhiều nhà khoa học tiến hành Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ tính toàn vẹn của môi trường sinh thái trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ cho du lịch, nhằm tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Du lịch thiên nhiên đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, với các loài động vật hoang dã bị quấy rối và mất nơi sống, cùng với việc tàn phá rừng để phục vụ cho các hoạt động cắm trại và cung cấp hàng lưu niệm Nhiều du khách và chính quyền địa phương hiện nay đã nhận thức rõ về những thiệt hại mà du lịch thiên nhiên gây ra đối với giá trị thiên nhiên và đời sống của người dân Sự phát triển của du lịch thiên nhiên kéo theo những rủi ro ngày càng gia tăng cho môi trường và xã hội Việc xác định sức chứa của các khu du lịch vẫn là thách thức lớn cho các nhà quản lý, nhằm đảm bảo tính bền vững và bảo vệ môi trường trước những thay đổi do hoạt động du lịch gây ra.
Du lịch tự nhiên đang phát triển nhanh chóng nhưng cũng gặp phải tình trạng thiếu trách nhiệm, khi du khách đổ xô đến những điểm đến mới để khám phá vẻ đẹp thiên nhiên, rồi lại nhanh chóng rời bỏ sau khi đã thỏa mãn sự tò mò, dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường (David Western, 1999).
Các nhà quản lý du lịch, quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương đều hướng tới mục tiêu chung là tối ưu hóa lợi ích kinh tế từ ngành du lịch Họ thường xuyên tìm kiếm các cơ hội để phát triển bền vững và nâng cao giá trị kinh tế cho cộng đồng.
Du lịch sinh thái mang lại 10 lợi ích kinh tế quan trọng, nhưng cũng đặt ra thách thức về giá trị và lợi ích kinh tế Để tối ưu hóa trải nghiệm cho khách, cần thiết lập các nguyên tắc chỉ đạo và cơ chế giám sát môi trường hiệu quả Hơn nữa, quy hoạch du lịch sinh thái cần được thực hiện một cách bài bản, đồng thời mở rộng sự tham gia của cộng đồng địa phương và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực này.
Từ thập niên 90 của thế kỷ XX, nghiên cứu về du lịch đã thu hút nhiều sự chú ý, đặc biệt trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam phát triển mạnh mẽ Một số công trình tiêu biểu như “Đề tài tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (Viện nghiên cứu phát triển du lịch, 1991) và “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010” (Tổng cục du lịch, 1994) đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch và quy hoạch du lịch Quốc Gia Những nghiên cứu này không chỉ tập trung vào lý luận mà còn thực tiễn, phản ánh quy mô và phạm vi lãnh thổ đa dạng trong phát triển du lịch.
Trong những năm gần đây, tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên và xã hội đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu, cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của vấn đề môi trường trong hoạt động du lịch Các hội thảo như “Hội thảo quốc tế về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” do Tổng cục du lịch Việt Nam phối hợp với quỹ Hains Seidel tổ chức, cùng với “Hội thảo về DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam”, đã được tổ chức để thảo luận về những vấn đề này.
Trên toàn cầu và tại Việt Nam, nghiên cứu về Du lịch sinh thái (DLST) và tác động của nó đến môi trường đã thu hút nhiều công trình và đề tài Chùa Hương, với vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện khí hậu lý tưởng và cảnh quan thiên nhiên đẹp, là một trong những địa điểm lý tưởng cho sự phát triển của DLST.
“Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Tràng An – Ninh Bình thực hiện là thực sự cần thiết
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường của trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và các trường khác
Bùi Văn Thương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp tại ĐHLN vào năm 2011 với đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến môi trường tự nhiên tại khu du lịch sinh thái Cửu Thác - Tú Sơn - Kim Bôi - Hòa Bình" Đề tài này đã đề xuất một số giải pháp và mô hình, tuy nhiên, các giải pháp này chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu mà chưa được kiểm nghiệm tính khả thi trong thực tế.
Nguyễn Thùy Linh đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường tại khu du lịch Yên Tử, Thị xã Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh trong khóa luận tốt nghiệp năm 2011 Đề tài đã phân tích hiện trạng hoạt động du lịch và tác động của nó, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực Mặc dù các giải pháp được đưa ra rất thiết thực, nhưng nghiên cứu thiếu các dự báo và tính thuyết phục trong các đề xuất.
Lý Thị Ngọc Nga đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp năm 2015 với đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường khu du lịch SaPa - Tỉnh Lào Cai" Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các tác động của du lịch đối với môi trường, với đối tượng điều tra khá đa dạng Tuy nhiên, các biện pháp đề xuất trong nghiên cứu chủ yếu mang tính chất định tính, chưa đưa ra giải pháp cụ thể và khả thi.
1.4 Đặc trưng của ngành du lịch
Mọi dự án phát triển du lịch đều dựa trên việc khai thác giá trị từ tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa và lịch sử, kết hợp với cơ sở hạ tầng và dịch vụ đi kèm Quá trình này không chỉ tạo ra các sản phẩm du lịch từ tiềm năng tài nguyên mà còn mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.
Du lịch mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội, bao gồm việc tạo ra cơ hội việc làm và nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương Ngoài ra, du lịch còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên tại những khu vực có hoạt động phát triển du lịch.
12 lợi ích đem lại cho du khách trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên lạ, các truyền thống văn hoá lịch sử
Những đặc trƣng cơ bản của ngành du lịch bao gồm:
Tính đa ngành trong khai thác du lịch thể hiện qua sự hấp dẫn của cảnh quan tự nhiên, giá trị lịch sử và văn hóa, cùng với cơ sở hạ tầng và dịch vụ đi kèm Du lịch không chỉ tạo ra thu nhập cho ngành này mà còn mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực kinh tế khác thông qua việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ như điện, nước, nông sản và hàng hóa cho khách du lịch.
KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Hình 2.1 : Bản đồ vị trí Tràng An – Ninh Bình
Khu du lịch Tràng An nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội hơn 90 km về phía nam, gần trục đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A Khu vực này giáp với Gia Viễn, Nho Quan, Tam Cốc – Bích Động và được chia thành 4 khu chức năng chính: khu bảo tồn đặc biệt (cố đô Hoa Lư), khu trung tâm, khu hang động và khu tâm linh núi chùa Bái Đính Với 47 hạng mục di tích lịch sử và hệ thống hang động kéo dài khoảng 20 km, Tràng An có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển du lịch.
Khu du lịch Tràng An, tọa lạc tại tỉnh Ninh Bình, nổi bật với hệ thống giao thông thuận lợi nhờ có đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A Tỉnh Ninh Bình phát triển du lịch với nhiều điểm tham quan hấp dẫn như Tam Cốc - Bích Động, vườn quốc gia Cúc Phương và nhà thờ đá Phát Diệm Đặc biệt, điểm nhấn của khu du lịch Tràng An chính là di sản văn hóa Cố đô Hoa.
Lƣ với hai đền chính: Đền Đinh, Đền Lê là một điểm du lịch hấp dẫn, nổi tiếng
Tất cả các yếu tố thuận lợi này là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của khu du lịch Tràng An trong tương lai Địa hình và địa mạo của khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút du khách.
Tràng An là một khu du lịch nổi bật với địa hình núi rừng, thung lũng và hang động Khu vực này được chia thành hai vùng chính: vùng đồng bằng và vùng núi, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đa dạng và hấp dẫn cho du khách.
Vùng đồng bằng có diện tích hạn chế và địa hình tương đối bằng phẳng, với đất đai màu mỡ Tuy nhiên, khu vực này còn xen kẽ nhiều vùng núi thấp trũng, dẫn đến việc chỉ có thể canh tác một vụ lúa mỗi năm.
Vùng núi tại huyện Hoa Lư và Gia Viễn nổi bật với những dải núi đá vôi nằm chủ yếu ở phía Tây Nam và Đông Bắc Địa hình nơi đây phức tạp, bao gồm nhiều hang động, núi non xen kẽ với đầm lầy và ruộng trũng ven núi, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên độc đáo.
Hang động là tài nguyên thiên nhiên quý giá của khu du lịch Tràng An, với hệ thống hang động đa dạng tạo nên cảnh đẹp đặc sắc Mỗi hang động không chỉ mang vẻ đẹp kỳ thú mà còn gắn liền với các giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng riêng biệt Đặc biệt, một số hang động được xem như cửa phật, trong đó nổi bật là động Bái Đính.
Hang Sáng và hang Tối nằm đối diện nhau, tạo thành một quần thể hang động độc đáo Hang Sáng, với chiều cao 2m, dài 25m và rộng 15m, là nơi thờ Phật và có bề mặt tương đối bằng phẳng Ngược lại, hang Tối cao và rộng hơn nhiều, bao gồm 7 buồng, tạo nên một không gian rộng rãi hơn Cả hai hang động này đều được công nhận là "Di tích lịch sử – văn hóa Nam chùa Bái Đính".
Động Người Xưa, nằm ở độ cao 40-60m tại Tràng An, là một hang Karst độc đáo với cửa hang cao và lòng hang sâu gần 100m Hệ thống nhũ đá tại đây vẫn giữ được vẻ nguyên vẹn với nhiều hình thù kỳ lạ, trong đó có những chuỗi nhũ đá dài hàng chục mét Hang còn có nhiều ngăn thông qua một máng sỏi cuộn lớn, có thể là dấu tích của một con suối ngầm Đặc biệt, phía trước cửa động là một đống vỏ ốc cao hàng mét đã hóa thạch, tạo nên một điểm nhấn thú vị cho địa điểm này.
15 thạch-di tích về sự sống của người tiền sử Ngày nay động vẫn được các nhà khoa học nghiên cứu và khám phá
Khu du lịch Tràng An nổi bật với hệ thống hang động xuyên thủy tuyệt đẹp, thu hút đông đảo du khách tham quan Hành trình khám phá các hang động tại Tràng An mang đến những trải nghiệm thú vị và ấn tượng cho du khách.
Du khách sẽ được chiêm ngưỡng nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo với các hình dạng khác nhau, như hòn ông Trạng - một kiểu địa hình “Hạ Long trên cạn” được hình thành từ các trầm tích có độ phân lớp khác nhau Những lớp đá dày hơn tạo nên địa hình karst với các đỉnh cao, trong khi những nơi khác lại có hình lưỡi mác độc đáo, được ví như rừng đá Bên cạnh đó, một số khu vực tạo ra các khối đá cao vút như hòn Bút Tháp, trong khi các đá vôi với lớp mỏng tạo nên địa hình với các vỉa đá chồng xếp giống như hình tập sách, được gọi là hòn Tập Sách.
Địa hình khu vực Tràng An rất thuận lợi cho phát triển du lịch với hơn 100 hang động dài gần 20 km, xen lẫn những dãy núi đá vôi và thung lũng Thiên nhiên ưu đãi Tràng An với cảnh quan đẹp, hấp dẫn từ những dãy núi đá vôi trùng điệp và các hồ nước nối tiếp nhau, tạo nên vẻ hùng vĩ và thơ mộng.
Khu vực Tràng An, được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi hình cánh cung, từng là một vùng biển cổ do quá trình biến đổi địa chất kéo dài Các nhà địa chất cho rằng sự vận động địa chất đã tạo ra các khe nứt, hình thành nên dòng chảy trong các hang động đá vôi, biến nơi đây thành một "bảo tàng địa chất ngoài trời" Sự hình thành các hang động karst bắt nguồn từ hoạt động trồi lên của các khối xâm nhập núi lửa, cùng với việc nâng cao các lớp đá vôi, dẫn đến hiện tượng động đất và đứt gãy Tại các giao điểm của các đứt gãy lớn, núi lửa phun trào đã biến chất đá vôi thành vôi sống (CaO), dễ hòa tan trong nước.
Nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hang động và thung lũng giữa các khối đá vôi bằng cách cuốn trôi các chất như vôi sống, bùn và sét - kaolin Dung nham từ núi lửa khi gặp nước sẽ chuyển hóa thành bùn và sét mềm, dễ dàng bị cuốn trôi hoặc lắng đọng trong các khe nứt do có mật độ nặng hơn đá vôi Quá trình này không chỉ làm sạch lòng hang mà còn tạo ra các thạch nhũ đặc sắc mà chúng ta thấy ngày nay.
Khu du lịch Tràng An, nằm trong vùng khí hậu Ninh Bình, có điều kiện khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch Khí hậu là yếu tố quan trọng trong môi trường tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến mùa vụ du lịch tại đây.
Kinh tế xã hội
Năm 2018, mặc dù gặp nhiều khó khăn và thách thức như thời tiết diễn biến khó lường và hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp trở ngại, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện đã nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả quan trọng Kinh tế tăng trưởng tích cực, cơ sở hạ tầng được đầu tư có trọng điểm, và công tác xây dựng nông thôn mới được chỉ đạo quyết liệt Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, trong khi an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định Quốc phòng được tăng cường, và công tác cải cách hành chính cũng được chú trọng.
Trong năm qua, công tác quản lý và điều hành của chính quyền các cấp đã có những chuyển biến tích cực, dẫn đến 20 đạo đạt kết quả tốt Hầu hết các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều được thực hiện và vượt qua kế hoạch đã đề ra.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 20.282 ha, tương ứng 94,43% kế hoạch, với tổng sản lượng lương thực quy thóc ước đạt 75.340 tấn, giảm 4.673 tấn so với năm 2017 và đạt 94,175% kế hoạch năm Giá trị bình quân đạt 94,35 triệu đồng/ha canh tác, tăng 4,23 triệu đồng/ha so với năm trước Công tác bảo vệ thực vật được chú trọng, không có thiệt hại lớn do sâu bệnh Đồng thời, đã chủ động thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp.
Quần thể danh thắng Tràng An, với diện tích hơn 12.000 ha, là một vùng thiên nhiên kỳ thú và rừng núi nguyên sơ, đã được công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Sự công nhận này đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành du lịch, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ, đồng thời giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Năm 2017, Ninh Bình đã đón hơn 7 triệu lượt khách du lịch, tăng hơn 8% so với năm 2016 Trong số đó, khách nội địa đạt hơn 6,15 triệu lượt, tăng 7%, trong khi khách quốc tế đạt 850.000 lượt, ghi nhận mức tăng trên 20%.
Doanh thu từ du lịch đạt hơn 2,5 nghìn t đồng, tăng 43% so với năm
2016, riêng Quần thể danh thắng Tràng An đón trên 6 triệu lƣợt khách
Tập trung vào công tác tuyên truyền mừng Đảng, mừng xuân và kỷ niệm 1050 năm nhà nước Đại Cồ Việt, các ngày lễ lớn của dân tộc và sự kiện phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương bằng nhiều hình thức phong phú, chú trọng cơ sở Tăng cường kiểm tra các dịch vụ văn hóa và cơ sở kinh doanh văn hóa Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được đẩy mạnh, đảm bảo việc cưới, tang lễ và lễ hội đúng quy định Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao diễn ra sôi nổi, đạt nhiều thành tích cao, trong đó có Ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc huyện Nho Quan năm 2018 Đồng thời, xây dựng mới 22 nhà văn hóa thôn và 03 nhà văn hóa.
Trong giai đoạn 2016-2018, đã có 21 xã và 18 cơ quan, đơn vị được kiểm tra và công nhận đạt chuẩn văn hóa, trong đó có 22 cơ quan, đơn vị và khu dân cư lần đầu được công nhận Đồng thời, 61 khu dân cư cũng đã đạt chuẩn văn hóa liên tục trong 3 năm Năm 2018, có thêm 03 xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới.
Tràng An là hệ thống phòng thủ phía Nam của kinh thành Hoa Lư, nơi còn lưu giữ nhiều đền phủ và dấu tích của các quan lại triều Đinh và Nhà Trần Trong khu vực này, du khách sẽ khám phá những di tích lịch sử như Đền Trình, nơi thờ 4 công thần Nhà Đinh, bao gồm 2 vị Tả Thanh Trù và 2 vị Hữu Thanh Trù, những người đã bảo vệ Đinh Toàn trong thời kỳ loạn lạc Khi Thái hậu Dương Vân Nga nhường ngôi cho Lê Hoàn, các ông đã tuẫn tiết tại đây, và nhân dân đã xây dựng ngôi Phủ để tưởng nhớ Bên cạnh Đền Trình là Đền Tứ Trụ, nơi thờ 4 vị đại thần Nhà Đinh, gồm Tể tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thái sư Lưu Cơ và Thượng thư Trịnh Tú.
Sách Đại Nam Quốc sử Diễn ca cũng như thơ ca dân gian thường nói đến
Tứ trụ "Bặc, Điền, Cơ, Tú" là bốn người trụ cột quan trọng của triều Nhà Đinh, gồm các vị quan thân cận, cùng quê hương và cùng tuổi với Đinh Tiên Hoàng Đế Họ đã hỗ trợ vua Đinh trong việc dẹp loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước Hiện nay, các vị đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ được thờ phụng ở nhiều nơi, đặc biệt là tại vùng Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.
Phủ Khống tọa lạc trên một dải đất hẹp, tựa lưng vào hang Khống, bên phải là dãy núi đá dựng đứng và trước mặt là thung lũng nước rộng lớn Đây là nơi thờ 7 vị quan trung thần triều Đinh, gắn liền với truyền thuyết về cái chết của vua Đinh Tiên Hoàng Theo truyền thuyết, 7 vị quan đã chôn các quan tài theo nhiều hướng và tự sát để bảo vệ bí mật về ngôi mộ thật Một vị tướng trấn giữ thành nam đã rất cảm kích trước nghĩa khí của họ.
Sau khi vị tướng qua đời, người dân trong vùng đã lập đền thờ và trồng cây thị ngay trước cửa Phủ để tưởng nhớ các bậc trung thần Cây thị này có tuổi thọ hàng nghìn năm và cho ra hai loại quả: một loại tròn và một loại dẹt.
Hang Ba Giọt nổi bật với nhiều nhũ đá đa sắc màu, trong đó có loại cây bụt mọc từ trần hang xuống Đặc biệt, các nhũ đá ở đây không khô cứng như những hang khác mà luôn ướt đẫm, tiếp tục biến hình và tạo ra những hình dáng, sắc thái mới lạ.
Hang Sính, hang Si và hang Ba Giọt gắn liền với một truyền thuyết buồn về tình yêu Chuyện kể rằng, có một chàng công tử yêu một nàng công nương tha thiết Khi chàng mang sính lễ đến hang Sính để cầu hôn, thì nàng đã bị cống nạp cho nước láng giềng Sau đó, chàng đến hang Ba Giọt để tắm gội, và cuối cùng ôm khối tình riêng, trầm mình ở hang Si.
Theo truyền thuyết, ai khi đi qua hang Ba Giọt và nhận được ba giọt nước từ nhũ đá nhỏ vào lòng bàn tay sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và hạnh phúc trong tình yêu.
MỤC TIÊU- ĐỐI TƯỢNG- PHẠM VI- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Góp phần nâng cao chất lượng môi trường cho khu du lịch sinh thái Tràng An- Ninh Bình
Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực nghiên cứu, cùng với việc thu gom, quản lý và xử lý rác thải, rác trên sông, cũng như tình hình động thực vật trong khu vực này.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: rác thải trên cạn, rác thải trên sông, thực vật tại nơi nghiên cứu và các loài động vật hiện đang có
- Phạm vi nghiên cứu: Khu du lịch Tràng An – Ninh Bình
Nội dung nghiên cứu
1: Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại Tràng An- Ninh Bình
2: Đánh giá hiện trạng việc thu gom quản lý và xử lý rác thải, rác trên cạn và trên sông ; tác động của việc ô nhiễm lên động thực vật tại nơi nghiên cứu
3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng môi trường tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Các số liệu thống kê được thu thập từ nhiều nguồn như Ban quản lý khu du lịch Tràng An, các nghiên cứu khoa học, tạp chí và tài liệu liên quan Dựa trên những thông tin này, chúng tôi tiến hành chọn lọc, cập nhật và đánh giá các vấn đề phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, tài liệu cũng bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, số liệu báo cáo lượng khách và doanh thu hàng năm.
3.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
+ Tuyến trên cạn: xung quanh bến thuyền và bãi gửi xe của khu du lịch + Tuyến trên sông:
Tuyến 1 bắt đầu từ bến thuyền trung tâm, di chuyển qua Đền Trình, hang Tối, hang Sáng, và hang Nấu Rượu, nơi thuyền dừng lại Từ đây, du khách sẽ leo khoảng 500 bậc đá để đến đền Trần Tiếp tục hành trình, du khách sẽ khám phá hang Nấu Rượu, hang Ba Giọt, hang Seo, và hang Sơn Dương Sau đó, đoàn sẽ ghé thăm phủ Khống, tiếp theo là hang Trần và hang Quy Hậu trước khi trở về điểm xuất phát.
Tuyến 2 bắt đầu từ bến thuyền trung tâm, đưa du khách đến các điểm tham quan nổi bật như hang Lấm, đền thánh Cao Sơn, hang Vạng, hang thánh trượt, và đền suối Tiên Hành trình tiếp tục đến hang Đại, nơi du khách có thể dừng thuyền để tham quan Hành cung vũ lâm, trước khi ghé thăm phim trường Kong Cuối cùng, hành trình kết thúc trở về bến thuyền.
Tuyến 3 bắt đầu từ bến thuyền trung tâm, đi qua các điểm tham quan nổi bật như Đền Trình, hang Đột, hang Vân, đền Suối Tiên, Núi Địa Linh, hang Đại, Hành Cung Vũ Lâm, và phim trường Kong, trước khi trở về điểm xuất phát.
Tác giả thực hiện điều tra thực địa trên tuyến du lịch tiêu biểu để hiểu rõ đặc trưng lãnh thổ và đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến môi trường khu vực.
Trong quá trình điều tra, tác giả tiến hành quan sát trực tiếp cảnh quan thiên nhiên, ghi nhận những vấn đề bất cập hiện nay Việc ghi chép và chụp ảnh được thực hiện để cung cấp dẫn chứng cụ thể cho các quan sát này.
Khảo sát thực địa là phương pháp quan trọng giúp hiểu rõ tình hình thực tế tại khu du lịch (KDL) Qua đó, chúng ta thu thập được thông tin chính xác và cụ thể, từ đó xác định vấn đề cần giải quyết và đưa ra các đề xuất phù hợp nhất.
Cách thực hiện Địa điểm Đối tƣợng Mục đích
Quan sát trực tiếp, ghi nhận và chụp ảnh hiện trạng
Các điểm tham quan, các khu vực diễn ra hoạt động du lịch
Các khu vực dịch vụ du lịch
- các hoạt động của du khách, phương tiện vận chuyển…
- các yếu tố môi trường
- các yếu tố động vật, thực vật…
- Đánh giá sơ bộ hiện trạng KDL về môi trường, hoạt động du lịch qua đó xác định các vấn đề còn tồn tại
- So sánh độ tin cậy các thông tin từ tài liệu
- Làm cơ sở, tài liệu cho đề tài
Đối tượng phỏng vấn bao gồm khách du lịch và cán bộ nhân viên trong khu du lịch Tràng, nhằm thu thập ý kiến và thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau.
An, người dân địa phương tham gia vào công tác quản lý và lái đò trên sông với tổng số phiếu điều tra là 70 phiếu
Phỏng vấn thông qua trao đổi trò chuyện có những câu hỏi mở
Phỏng vấn trên cơ sở phác thảo các ý tưởng cơ bản
Phỏng vấn bằng phiếu điều tra với hệ thống những câu hỏi lựa chọn và câu hỏi mở
+ Mẫu điều tra là khác nhau đối với các đối tƣợng khác nhau:
Người dân địa phương: 30 phiếu
Ban quản lý KDL : 5 phiếu
Thời gian điều tra diễn ra từ ngày 25/3/2019 đến 31/3/2019 tại khu vực Tràng An, bao gồm các quầy dịch vụ và địa bàn dân cư, với mẫu biểu điều tra được trình bày ở phần phụ lục.
3.4.4 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn
Dựa trên điều tra thực địa, chúng tôi đánh giá tác động của khu du lịch đối với cảnh quan, động vật và thực vật tại từng điểm Chúng tôi đã thiết lập 6 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 400m2, tại các vị trí đối xứng nhau ở phía trên và phía dưới khu du lịch qua trục đường chính.
3.4.5 Phương pháp xử lí số liệu
Dựa trên số lượng du khách, dân số và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm của địa phương, chúng ta có thể tính toán lượng chất thải rắn sinh hoạt hiện tại và dự đoán khối lượng phát sinh đến năm 2025.
Trong đó: t: Số dân năm cần tính (người)
0: Số dân của năm được tính làm gốc (người) r: t lệ gia tăng dân số (tham khảo số liệu) t: Hiệu số giữa năm cần tính và năm lấy làm gốc (năm) Để dự báo khối lƣợng CTRSH phát sinh đến năm 2025 thì áp dụng công thức sau: Lƣợng CTRSH phát sinh trong một năm
Trong đó: sh: Khối lƣợng CTRSH phát sinh trong một năm (tấn) g: Là hệ số phát sinh CTRSH (kg/người/ngày) t: Số dân của năm cần tính (người)
Công thức tính lượng rác thải phát sinh bình quân đầu người:
R là lượng thải phát sinh đầu người (tấn/ ngày)
A là số dân (triệu người)
M là khối lượng CTR bình quân đầu người (kg/người/ngày)
Khối lƣợng RTSH (tấn/ngày) = (Mức phát sinh bình quân * Dân số trong năm) / 1000
Hệ số phát sinh rác = Khối lượng rác cân được/ Số khẩu trong gia đình
Công thức tính dân số tương lai:
N t : Dân số tương lai (người)
N0: Dân số hiện tại (người) r: T lệ gia tăng dân số tự nhiên t: Số năm trong thời gian dự báo k: T lệ gia tăng dân số (%)
(Nguồn: VOER - Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam)
Sau khi thu thập và phân tích thông tin, chúng tôi sẽ lựa chọn và đánh giá kết quả để tìm ra giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp Đề xuất giải pháp chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài, đồng thời tham khảo các giải pháp từ những nghiên cứu trước đây và báo cáo môi trường tỉnh Hòa Bình Chúng tôi cũng xem xét các điều luật, thông tư, và nghị định liên quan nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện môi trường sống cho cộng đồng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại Tràng An - Ninh Bình
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch tâm linh ở Việt Nam, đặc biệt là tại Ninh Bình, đã thu hút ngày càng nhiều du khách Trong đó, quần thể Tràng An là điểm đến nổi bật, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số khách du lịch đến Ninh Bình.
Nguồn: Tổng hợp từ các số liệu thống kê
Hình 4.1: Biểu đồ t tr ng khách du lịch đến qu n thể Tràng An năm 2011 – 2018
Năm 2011, Tràng An thu hút 1,98 triệu lượt khách, chiếm 60,8% tổng lượng khách đến Ninh Bình Đến năm 2012, tổng số khách đến Ninh Bình đạt 3,75 triệu lượt, tăng 15,6% so với năm trước, trong đó khách đến Tràng An tiếp tục tăng lên 2,13 triệu lượt, thể hiện sự hấp dẫn của điểm đến này.
Năm 2013, lượng khách du lịch đến quần thể Tràng An và tỉnh Ninh Bình tăng mạnh, với 61,8% số lượng khách đến Ninh Bình ghé thăm Tràng An Đến năm 2014, quần thể Tràng An được chọn làm địa điểm tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc Vesak 2014, khiến lượng khách đến đây chiếm tới 76,02% tổng số khách của tỉnh Tuy nhiên, đến năm 2015, tỷ lệ khách đến Tràng An giảm xuống còn 58,4% tổng lượng khách du lịch của tỉnh.
29 nhỏ Tuy nhiên tính đến tháng 10/2016 lƣợng khách đến với Tràng An đạt 67,1% lƣợng khách của tỉnh
Tràng An, với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp và di sản văn hóa phong phú, đã trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều du khách Số liệu thống kê cho thấy lượng du khách đến Tràng An trong năm 2018 đã tăng đáng kể.
Bảng 4.1.:Kết quả kinh doanh của khu du lịch Tràng An năm 2018
Tháng Số lƣợng khách (lƣợt) Doanh thu (t đồng)
Nguồn: Thông tin văn hóa Tràng An 2018
Tháng 05 năm 2018, toàn tỉnh ƣớc đón 629.197 lƣợt khách tham quan du lịch, đạt con số nhiều nhất trong năm, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, khách nội địa: 558.806 lƣợt khách, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2017; khách quốc tế: 70.391 lƣợt khách, đạt 100% so với cùng kỳ năm 2017; khách lưu trú qua đêm: 47.924 lượt khách, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017 Doanh thu ƣớc đạt: 242,941 t đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2017
Tràng An thu hút khoảng 350.000 du khách mỗi năm, đặc biệt đông vào dịp lễ 30/4, với lượng khách trong nước chiếm tỷ lệ cao hơn so với khách quốc tế Khách quốc tế chủ yếu đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc và Lào Thời gian lưu trú của du khách thường là hai ngày, trong khi số lượng khách đi về trong ngày rất ít Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đa dạng và phong phú.
Đánh giá hiện trạng việc thu gom quản lý và xử lý rác thải, rác trên cạn và trên sông ; tác động của việc ô nhiễm lên động thực vật tại nơi nghiên cứu
và trên sông ; tác động của việc ô nhiễm lên động thực vật tại nơi nghiên cứu
4.2.1 ác ngu n phát sinh từ hoạt động du lịch
Để nâng cao ý thức cho du khách, các địa điểm vui chơi đều có biển báo cấm vứt rác bừa bãi và thùng rác được đặt cách nhau 20-30m, sạch sẽ và có nắp đậy Việc này giúp giảm thiểu rác thải tự phát trong khu sinh thái, đồng thời các thùng rác được bố trí hợp lý để thuận tiện cho việc phân loại rác tại nguồn cho du khách và người dân địa phương.
Rác thải là một thách thức lớn đối với các khu du lịch, đặc biệt là tại Tràng An Tại đây, chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các khu dịch vụ nghỉ dưỡng như nhà nghỉ cộng đồng, hoạt động ăn uống tại các quầy bán hàng dọc đường, cũng như sinh hoạt của người dân địa phương và du khách.
Địa phương thu gom rác hai ngày một lần với tổng lượng khoảng 80 tấn mỗi tháng Trong mùa lễ hội, việc thu gom được điều chỉnh thành một ngày một lần Có những tháng lượng rác thải tăng đột biến, yêu cầu đơn vị thu gom phải thực hiện tới 35 chuyến xe, với tổng khối lượng vượt 100 tấn Lượng rác thải sinh hoạt gia tăng, đặc biệt từ khoảng 70 nhà hàng phục vụ hàng nghìn khách mỗi ngày.
Trước tình trạng ô nhiễm môi trường do người dân và khách du lịch xả rác bừa bãi, UBND xã đã chỉ đạo tăng cường lực lượng thu gom rác thải và sắp xếp thêm chuyến dọn dẹp để tập kết rác tại bãi trung chuyển, nhằm ngăn chặn tình trạng rác thải chất đống bên đường Tuy nhiên, do lượng rác tăng đột biến, một số khu vực vẫn còn tồn đọng rác thải Điều này cũng phản ánh ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế của một bộ phận người dân và du khách.
Bảng 4.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn của hoạt động du lịch tại Tràng An
STT Nguồn phát sinh của hoạt động du lịch Lƣợng rác
1 Khu dịch vụ ăn uống 70,15
2 Quầy bán hàng dọc đường 97,06
3 Hoạt động sinh hoạt của du khách (Trên cạn + dưới sông)
Nguồn: Số liệu điều tra,2019
Theo bảng 4.2, chất thải rắn từ hoạt động du lịch chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng chất thải rắn của khu vực Nếu không được thu gom và xử lý hiệu quả, nguồn chất thải này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường nước, đất và không khí.
* Thành phần chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của du khách và người dân địa phương có thành phần đa dạng, chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy.
Hình 4.2 Thành ph n chất thải rắn tại Tràng An
Theo số liệu trong hình 4.1, tỷ lệ chất thải rắn hữu cơ chiếm ưu thế với 52,5% Các thành phần khác bao gồm: giấy và vải vụn chiếm 7,5%; túi nilon 17,5%; kim loại và nhựa 5%; và các loại khác cũng chiếm 17,5% Chất thải hữu cơ chủ yếu đến từ cơm, canh và thực phẩm thừa ôi thiu, chủ yếu phát sinh từ các quán ăn phục vụ du khách.
4.2.2.Tình hình thu gom và xử l rác th i của hoạt động du lịch
Hình 4.3 Sơ đồ tổng quan khu du lịch Tràng An
Nguồn:Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An
Việc thu gom chất thải rắn từ hoạt động du lịch được thực hiện theo tuyến và các điểm tập kết rác, trong khi chất thải rắn sinh hoạt của du khách từ các hộ gia đình được thu gom theo cụm dân cư, với mỗi 5 - 10 hộ tạo thành một điểm tập kết chất thải rắn được chứa trong thùng có nắp đậy kín Người dân Tràng An tích cực hưởng ứng và thực hiện các hoạt động thu gom này Tuy nhiên, hiện tại tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom chỉ đạt khoảng 70%.
Đội vệ sinh thực hiện thu gom rác thải dưới sông theo tuyến, thường xuyên sử dụng thuyền để vớt rác Rác sau khi được thu gom sẽ được tập kết tại hai bên bờ sông và sau đó được vận chuyển về điểm xử lý.
Địa phương tổ chức thu gom rác thải 2 ngày/lần vào ngày thường, với khoảng 20 chuyến mỗi tháng và tổng lượng rác khoảng 80 tấn Trong mùa lễ hội, tần suất thu gom tăng lên 1 ngày/lần Đặc biệt, trong tháng 1 và 2/2019, lượng rác tăng đột biến, yêu cầu đơn vị thu gom phải thực hiện 35 chuyến xe, xử lý hơn 100 tấn rác/tháng Để đảm bảo vệ sinh môi trường, đơn vị thu gom đã tăng cường lao động và bổ sung thêm chuyến xe, nhằm dọn dẹp và tập kết rác thải tại bãi trung chuyển, ngăn chặn tình trạng rác thải chất đống bên đường.
Đội Vệ sinh môi trường huyện thực hiện việc thu gom và vận chuyển chất thải rắn phát sinh tại Tràng An hàng ngày đến các bãi xử lý.
Chất thải rắn tại khu vực không được phân loại ngay từ nguồn, dẫn đến việc vận chuyển trực tiếp đến bãi rác mà không qua trạm trung chuyển để sơ tuyển và phân loại, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.
Các ca làm việc trong ngày gồm 3 ca đƣợc bố trí nhƣ sau :
Bảng 4.3 Các điểm tập kết rác tại Tràng An
STT Tên điểm tập kết Địa điểm
5 Hải Nham Linh Cốc – Hải Nham 80
6 Thung Nham Thung Nham-Vườn chim 196
7 Động Thiên Hà Thiên Hà 60
8 Ninh Vấn Làng đá Ninh Vấn 90
9 Văn Lâm Làng thêu Văn Lâm 75
Tổng cộng: 9 điểm tập kết có xây dựng
Nguồn: Số liệu điều tra, 2019
Thời gian thu gom rác tại địa phương được đánh giá là hợp lý, nhưng tình trạng tồn đọng rác thải vẫn xảy ra do lượng rác tăng đột biến Một số người dân và du khách thiếu ý thức bảo vệ môi trường, dẫn đến việc vứt rác bừa bãi Địa phương đang nỗ lực tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng về việc vứt rác đúng nơi quy định và yêu cầu các nhà hàng bố trí thùng rác lớn để hạn chế tình trạng rác thải gây ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan Di sản.
UBND xã yêu cầu đơn vị thu gom rác tăng cường nhân lực và phương tiện để cải thiện công tác thu gom Nếu đơn vị không đáp ứng đủ năng lực, UBND xã sẽ chấm dứt hợp đồng và tìm kiếm đơn vị thu gom rác thải khác, nhằm bảo vệ môi trường du lịch.
Ninh Bình hiện có 6 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm 1 nhà máy xử lý chất thải rắn thành phân vi sinh với công suất 600 tấn/ngày đêm Phần chất thải vô cơ được chôn lấp tại bãi rác Thung Quèn Khó, TP Tam Điệp Ngoài ra, còn có 5 lò đốt rác quy mô nhỏ với công suất từ 250 đến 500 kg/giờ tại các xã Khánh Thiện, Khánh Hòa, Khánh Thủy và thị trấn Yên Ninh.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng môi trường tại khu vực nghiên cứu
4.3.1 i i pháp pháp l a.Quy định phân loại rác tại nguồn ( phần này kết hợp với sự hỗ trợ của cộng đồng )
Phương pháp phân loại rác tại nguồn không chỉ tiết kiệm nguyên vật liệu cho các loại rác có thể tái sinh, mà còn giúp giảm chi phí xử lý và nâng cao hiệu quả xử lý Để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện phân loại rác, có thể áp dụng các biện pháp hợp lý và hiệu quả.
Hỗ trợ 2 thùng chứa, 1 thùng màu xanh chứa chất thải thực phẩm, 1 thùng màu nâu chứa các chất thải còn lại
Giảm phí thu gom rác thải nhằm khuyến khích việc phân loại Cần áp dụng mức phí khác nhau cho các loại chất thải, trong đó chất thải có thể tái chế như thủy tinh, kim loại, giấy và carton sẽ được thu phí thấp hơn so với các loại chất thải không có giá trị tái chế.
Xử phạt hành chính sẽ được áp dụng cho các hành vi vi phạm tại khu vực Tràng An hoặc toàn thành phố Mức phạt đề nghị sẽ được thực hiện đối với các hành vi cụ thể.
- Vứt rác bừa bãi nơi công cộng, vứt rác xuống dòng nước
Một số khu vực chưa thực hiện tốt việc thu gom rác thải, dẫn đến tình trạng ô nhiễm và mùi hôi khó chịu Để nhận được sự đồng thuận từ cộng đồng, cần lắp đặt thêm nhiều thùng rác công cộng và tăng cường công tác vệ sinh đường phố cũng như các khu vực công cộng một cách thường xuyên và hiệu quả hơn.
- Các công ty, dịch vụ thu gom rác cũng cần có nhận thức: quét cho sạch, gom cho hết rác để người dân thấy đó mà noi theo
Để thực hiện biện pháp này, mỗi phường cần thành lập một tổ công an môi trường gồm 2-3 thành viên, tất cả đều phải tốt nghiệp đại học, có kiến thức về môi trường và có chứng chỉ từ khóa học ngành công an.
Ký quỹ hoàn trả là một công cụ kinh tế hiệu quả giúp thu hồi sản phẩm đã sử dụng để tái chế hoặc tái sử dụng, đồng thời tạo nguồn kinh phí đáng kể cho việc xử lý chất thải sau khi sử dụng.
Ký quỹ hoàn trả là khoản tiền mà người tiêu dùng phải thanh toán thêm khi mua sản phẩm, coi như tiền thế chân cho bao bì Khi người tiêu dùng trả lại bao bì và phế thải cho người bán hoặc trung tâm tái chế hợp lệ, họ sẽ nhận lại khoản tiền ký quỹ này.
Hiện nay, hệ thống ký quỹ hoàn trả có thể áp dụng cho các sản phẩm bền lâu, có thể tái sử dụng hoặc không bị tiêu hao trong quá trình tiêu dùng, chẳng hạn như bao bì đồ uống, ắc quy, xi măng và bao bì thức ăn gia súc.
45 d.Sự hỗ trợ của cộng đồng
Con người là tế bào của xã hội, vì vậy nhà nước có trách nhiệm bảo vệ môi trường để đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cho mọi người Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong trách nhiệm này là thu gom và xử lý rác thải tại các khu vực công cộng trong thành phố, nhằm giữ cho đường phố luôn sạch đẹp và bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi những điều kiện vệ sinh kém.
Hiện nay, nhiều quốc gia đã áp dụng các hệ thống tiên tiến để thu gom và phân loại rác, nhưng tình trạng rác thải vẫn chưa được cải thiện Do đó, sự hợp tác của cộng đồng và các cơ quan liên quan là rất cần thiết để xây dựng một thế giới sạch đẹp, đáp ứng ước mơ chung của nhân loại trong bối cảnh dân số bùng nổ và các ngành công nghiệp hiện đại Nếu không có sự chung tay của cộng đồng, tình trạng rác rưởi sẽ vẫn tồn tại trên đường phố, trong hẻm, góc chợ, và ngay cả sau nhà của họ.
Sự hỗ trợ của cộng đồng nên tập trung vào các vấn đề sau:
- Thu gom rác trong nhà của các hộ dân nên đặt trong hai thùng rác riêng biệt:
Một thùng màu nâu dùng để chứa ve chai, kim loại, sành sứ và giấy carton, trong khi thùng màu xanh được dành cho thức ăn thừa, vỏ trái cây và hoa quả hư thối Cần lưu ý rằng mỗi loại rác thải phải được đặt vào bao bì đúng cách để đảm bảo quy trình phân loại hiệu quả.
- Đổ rác đúng giờ tại nơi mà xe thu gom rác sẽ đến thu rác
Không vứt rác ra đường và tại những nơi công cộng hay chung quanh các thùng rác ở khu vực
4.3.2 Nâng cao nhận thức của cộng đ ng
Phân loại chất thải rắn tại nguồn là một chương trình mới, yêu cầu sự tham gia của nhiều chủ thể trong cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai chương trình này Do đó, việc thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn ở Tràng An cần được tiến hành từng bước, nhằm điều chỉnh kịp thời và đạt được nhiều thành công.
Xây dựng nhà máy tái chế CTR là một giải pháp hiệu quả trong việc xử lý chất thải rắn, không chỉ biến chất thải hữu cơ thành phân bón mà còn phân loại và tái chế các thành phần khác như giày vụn, nhựa, kim loại và thủy tinh Những vật liệu này sẽ được tái sử dụng hoặc cung cấp cho các cơ sở sản xuất trong thành phố, góp phần giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
Xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh là cần thiết để xử lý các thành phần chất thải rắn không thể tái chế, bao gồm chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn nguy hại đã qua xử lý sơ bộ Các ô chôn lấp này phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở mức tối thiểu.
Sử dụng thùng rác làm từ các vật liệu xanh, thân thiện với môi trường và có giá thành rẻ là giải pháp hiệu quả thay thế cho thùng rác bằng nhựa hoặc các chất gây ô nhiễm Sản phẩm này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đáp ứng tiêu chí sử dụng vật liệu bền vững.
Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mói, thô, nó có thể đƣợc xem là một sản phẩm xanh
(b) Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến môi trường và sức khoẻ thay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống
(c) Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lƣợng tái sinh, ít chi phí bảo trì),