3 tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển kinh tế hộ nông dân nói chung và hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng trong những năm qua, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP -
TRẦN MAI HƯƠNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ TAM ĐIỆP - TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP -
TRẦN MAI HƯƠNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ TAM ĐIỆP - TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN HÀ
Hà Nội, 2013
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu đã được cảm ơn và các thông tin chỉ dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Trần Mai Hương
Trang 5Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban Gián hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, Khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo giảng dạy tại trường Đặc biệt, tác
giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hà đã dành rất nhiều thời gian
và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đồng thời, tác giả cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Xây dựng Việt Xô, các quý thầy cô Khoa Kinh tế cùng toàn thể các anh, chị và ban lãnh đạo Phòng Công thương, Phòng Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thống kê thị xã, các hộ nông dân đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra khảo sát để có dữ liệu viết luận văn
Mặc dù đã có cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình xong do thời gian có hạn, kiến thức và sự hiểu biết của tác giả còn hạn chế về vấn đề nghiên cứu nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Ninh Bình, ngày… tháng… năm 2013
Tác giả luận văn
Trần Mai Hương
Trang 6iii
MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tồn tại và phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá 4
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 4
1.1.2 Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp 9
1.1.3 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá 14
1.2 Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá 15
1.2.1 Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ 15
1.2.2 Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp 16
1.2.3 Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá 19
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá 22
1.3.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên 22
1.3.2 Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý 23
1.3.3 Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ 25
1.3.4 Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước 25
1.4 Sơ lược tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước và ở Việt Nam 27
Trang 7iv
1.4.1 Trên thế giới 27
1.4.2 Tại Việt Nam 28
1.5 Lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội 36
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở thị xã Tam Điệp 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 45
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 46
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở thị xã Tam Điệp Tỉnh Ninh Bình 49
3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân trong vùng 49
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở thị xã Tam Điệp 50
3.1.3 Tổ chức các hoạt động sản xuất của hộ nông dân 54
3.1.4 Kết quả sản xuất của hộ nông dân 57
3.1.5 Thu nhập và đời sống của hộ nông dân 60
3.1.6 Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở thị xã Tam Điệp 64
3.1.7 Ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến sản xuất của hộ 66
3.1.8 Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ 67 3.1.9 Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo
Trang 8v
hướng sản xuất hàng hoá ở thị xã Tam Điệp 68
3.2 Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân thị xã Tam Điệp theo hướng sản xuất hàng hoá 72
3.2.1 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và tái tạo nguồn lực 72
3.2.2 Hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong thời gian tới nhằm tăng số lượng hộ nông dân theo hướng SXHH 73
3.2.3 Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với qúa trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế cả nước và nước ngoài 74
3.2.4 Phát huy nội lực, tạo bước phát triển mới trong kinh tế hộ nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài để tạo điều kiện cho hộ nông dân sản xuất hàng hoá 75
3.3 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá 76
3.3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá 76
3.3.2 Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá 77
3.4 Những giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân nông dân trong vùng theo hướng sản xuất hàng hoá 82
3.4.1 Giải pháp chung 82
3.4.2 Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân từng vùng sinh thái 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 Kết Luận 92
2 Kiến nghị 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9LĐNN Lao động nông nghiệp
TLSX Tư liệu sản xuất
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 103.4 Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo thu nhập năm 2012 53 3.5 Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân 2012 53 3.6 Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hướng SXKD chính 54
3.7 Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông lâm nghiệp của hộ
3.8 Tổng thu từ sản xuất nông – lâm nghiệp ở hộ điều tra 57
3.9 Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ
3.10 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân vùng
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế
hộ phát triển
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc,
tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ) Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, việc thực hiện và đưa nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI vào cuộc sống (năm 1987) và đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (năm 1988) Kinh tế hộ nông dân nước ta đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước Khai thác
có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp – nông thôn, phát huy những lợi thế vốn có của đất nước, tạo công ăn việc làm, từng bước làm tăng thu nhập cho lao động làm nông nghiệp là những mục tiêu mà kinh tế hộ nông dân nước nhà về cơ bản đã làm được trong thời gian qua Tuy nhiên, cũng từ những kết quả đạt được
đó, trên con đường phát triển kinh tế hộ nông dân nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta làm tốt hơn nữa trong thời gian tới như ruộng đất cho người nông dân, vốn, tín dụng cho hộ nông dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thị trường cung ứng vật tư đầu vào, đầu ra, nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức cho người lao động trong nông nghiệp nông thôn
Trang 13“Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn Thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu khả năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ nông dân
ở thị xã Tam Điệp, đề xuất một số giải chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân thị xã Tam Điệp theo hướng sản xuất hàng hoá
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ nông dân
ở thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009 – 2011
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở thị
xã Tam Điệp trong những năm tới theo hướng sản xuất hàng hoá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề có tính lý luận và thực
Trang 143
tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển kinh tế hộ nông dân nói chung và hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng trong những năm qua, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
hàng hoá ở thị xã Tam Điệp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: bao gồm phạm vi về nội dung nghiên cứu,
địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế hộ nông dân trong
bước chuyển sang cơ chế thị trường hiện nay, nghiên cứu những yếu tố kinh tế chủ yếu tác động đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá Phân tích thực trạng kinh tế hộ nông dân trong bước chuyển đổi cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá trong những năm 2009 – 2011 và nêu lên định hướng và những giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá của địa phương nghiên
cứu đến năm 2015
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5 năm 2012 đến
tháng 5 năm 2013 Trong quá trình thực hiện, các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011 và số liệu điều tra hiện trạng của năm 2011
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá và bổ sung lý luận về kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ theo
hướng sản xuất hàng hoá trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay
- Phản ánh thực trạng của phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
ở thị xã Tam Điệp trong những năm gần đây
- Đưa ra một số quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế
hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 154
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tồn tại và phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là“Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội”
Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người
cùng chung huyết tộc và những người làm công”
- Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái
nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”
- Năm 1981, Harris (London – Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “Hộ
là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” [17] và trên góc độ này, nhóm các đại
biểu thuộc trường phái “Hệ thống Thế Giới” (Mỹ) là Smith (1985 – Martin và
Beiltell (1987) có bổ sung thêm: “ Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung” [16]
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980)
các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế” [10]
Đây mới chủ yếu nêu lên những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có
Trang 165
chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài )
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh
tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi vì
hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau )
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [19]
Nhà khoa học Traianốp cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông
nghiệp” [21]
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển
Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và
Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản” [21] Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã
thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc
độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà
Trang 176
khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [11] Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm
2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và
thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [3]
Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính
là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm
vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
Hộ nông dân là thực thể kinh tế văn hoá xã hội chủ yếu ở nông thôn, vì vậy cần phải hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế hộ nông dân làm nền tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế nông thôn
Sau các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân của C.Mác và V.I.Lênin
đã xuất hiện một xu hướng nghiên cứu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân
Theo Hemery, Margolin (1988) thì “xã hội nông dân lạc hậu không nhất thiết
Trang 187
phải đi lên chủ nghĩa tư bản, mà có thể phát triển lên chế độ xã hội khác bằng con
đường phi tư bản chủ nghĩa” [20]
Các tác giả của thuyết dân tuý cho rằng có nhiều con đường phát triển của lịch sử, lịch sử không phải chỉ có một con đường phát triển mà nó tiến hoá bằng các chu kỳ, mang tính chất vùng, có các thời kỳ trì trệ và tiến lên Do đó các nước đi sau
có thể đuổi kịp, thậm chí có thể vượt các nước đi trước Phải đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phục hồi nền văn minh nông dân, chủ yếu là cộng đồng nông thôn và hợp tác xã thủ công nghiệp Phải tiến hành công nghiệp hoá do nhà nước Chỉ có bằng cách này mới công nghiệp hoá mà tránh được các nhược điểm của chủ nghĩa xã hội
Trong quyển I của bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ quá trình tước đoạt ruộng đất của nông dân Anh một cách ồ ạt, làm phá vỡ nền nông nghiệp truyền thống và sự hình thành của các tầng lớp trại chủ tư bản chủ nghĩa thuê đất và vay vốn của địa chủ, bóc lột người làm thuê Người dự đoán, kinh tế hộ sẽ hoàn toàn bị xoá bỏ trong điều kiện phát triển đại công nghiệp Nhưng ở quyển III, C.Mác khẳng định, ngay ở Anh, với thời gian đã thấy hình thức sản xuất nông nghiệp cơ bản được phát triển không phải là các nông trại lớn mà là các nông trại gia đình, không dùng lao động làm thuê Các nông trại lớn không có khả năng cạnh tranh với nông trại gia đình
V.I.Lênin cho rằng:“cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách
tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ” Khi phân tích
kết cấu xã hội nông dân nước Nga, V.I.Lênin đã lưu ý, hộ nông dân khai thác triệt
để năng lực sản xuất đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Ông đã chỉ ra năng lực tự quyết định của quá trình sản xuất của hộ nông dân trong nền kinh
tế tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều hướng phát triển hàng hoá khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín của hộ dẫn đến những quá trình
vỡ kết cấu kinh tế” [20]
David (1903) đã nhận xét rằng, chủ nghĩa tư bản không làm phá sản nền sản xuất tiểu nông, nền kinh tế này có “ưu thế”, “ổn định”, nếu so với các nông trại lớn
tư bản chủ nghĩa
Trang 198
Theo Tchayanov (1924), luận điểm cơ bản nhất của Tchayanov là coi kinh tế
hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng của nó, và trong mỗi chế
độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là
có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động – tiêu dùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao động Sản lượng chung của hộ gia đình hàng năm trừ đi chi phí sẽ là sản lượng thuần mà gia đình dùng để tiêu dùng, đầu tư sản xuất và tiết kiệm Mỗi hộ nông dân cố gắng đạt được một thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với mức độ nặng nhọc của lao động Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo cân bằng sinh học, do tỷ lệ giữa người tiêu dùng và người lao động quyết định
J.Harris (1982) trong bài giới thiệu cho cuốn sách “Phát triển nông thôn” đã
phân loại các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông dân, nông nghiệp ra ba xu hướng chính, đó là xu hướng tiếp cận hệ thống, mô hình ra quyết định và tiếp cận cấu trúc lịch sử
Vấn đề được tranh luận chủ yếu là, trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá, xã hội nông thôn phân hoá thành tư bản nông nghiệp, người làm thuê nông nghiệp hay là người nông dân sản xuất nhỏ, có đất đai, tư liệu sản xuất kinh doanh bằng lao động gia đình vẫn tồn tại vì có được nông sản rẻ hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa
Nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế nông dân ở các nước đang phát triển gần đây Georgescu – Roegen (1960) cho thấy, nông trại nhỏ dùng lao động cho đến lúc thu nhập ròng xuống đến số không và chủ yếu nhằm tăng sản lượng của một đơn vị ruộng đất
Dandekar (1970) cho rằng có hai kiểu nông dân, một kiểu sản xuất hàng hoá, chỉ đầu tư lao động đến lúc lãi bằng tiền lương và một kiểu tự túc, chủ yếu đầu tư lao động nhằm tăng sản lượng đủ sống
Trang 209
Nhiều công trình nghiên cứu (Vergopoulos – 1978), Taussig – 1978 cho thấy nông trại nhỏ gia đình hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản chủ nghĩa, và chính hình thức sản xuất này có lợi cho chủ nghĩa tư bản hơn vì khai thác được cao nhất thặng
dư lao động ở nông thôn và giữ được giá nông sản thấp
Hayami và Kikuchi (1981) nghiên cứu sự thay đổi của kinh tế nông thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng, lãi do đầu
tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật, nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng
Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit phân tích (Roemer – 1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982) Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân Mối quan hệ đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư
và thúc đẩy việc luân chuyển Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội
1.1.2 Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp có vị trí quan trọng, là ngành duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn xã hội Trong một thời gian dài, nông nghiệp tự cung tự cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, thu nhập và đời sống của nông dân thấp kém Chỉ từ khi chuyển sang kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng hoá trở thành động lực để thúc đẩy nông nghiệp phát triển Sản xuất hàng hoá còn là quá trình phát huy tốt nhất các lợi thế, các tiềm năng kinh tế - xã hội của các vùng sản xuất
Vì vậy nó có vai trò điều tiết sản xuất, điều tiết giữa các vùng, giữa người tiêu dùng
và người sản xuất Ở các nước kinh tế phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, toàn bộ các
Trang 2110
trang trại gia đình đều tham gia sản xuất hàng hoá Ở các nước này, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp rất thấp, quy mô nông trại lớn Trái lại, ở các nước kinh tế kém phát triển, phần lớn dân số là nông dân Nước ta có gần 80% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cung tự cấp, số hộ nông dân tham gia sản xuất hàng hoá còn ít
1.1.2.1 Sản xuất hàng hoá là xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại đã xuất hiện và tồn tại từ lâu Nông
hộ là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Kinh tế hộ là hình thức kinh tế trong quy mô gia đình, gắn với gia đình Kinh tế hộ, theo Traianốp (nhà kinh tế lớn của Nga), là hộ gia đình độc lập, có hình thức kinh tế phức tạp Xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô hộ gia đình nông dân Trong hơn 30 năm hợp tác hoá ở nước ta, kinh tế hộ gia đình bị hoà tan trong kinh
tế hợp tác xã, chỉ còn lại một bộ phận nhỏ dưới hình thức kinh tế phụ gia đình Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ thì khái niệm mô hình phát triển về kinh tế hộ mới được chú ý nghiên cứu
Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế theo quy mô gia đình hoặc theo quy mô liên gia đình, đạt trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cao, có khối lượng hàng hoá lớn và tỷ suất hàng hoá cao Trang trại là mô hình kinh tế hướng tới của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các hộ sản xuất hàng hoá Cho dù các cơ hội và điều kiện sản xuất ban đầu có khó khăn nhưng sau khi được giao quyền sử dụng đất lâu dài, sức sản xuất được giải phóng, trong quá trình phát triển sản xuất, kinh tế nông hộ sẽ có sự phân hoá Một bộ phận nông dân do điều kiện sản xuất gặp khó khăn, ít kinh nghiệm sản xuất, thiếu vốn, sản xuất không có hiệu quả, mức sống rất thấp, họ có thể thoát ly sản xuất nông nghiệp và chuyển sang làm dịch vụ, làm thuê hoặc sản xuất tiểu thủ công nghiệp tuỳ theo khả năng và hoàn cảnh của họ, thậm chí có thể rời khỏi nơi sinh sống cũ để ra thành thị hoặc lập nghiệp ở một nơi
Trang 2211
mới Thu nhập từ nguồn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cộng với các thu nhập khác có thể giúp họ có cuộc sống tốt hơn so với làm nông nghiệp Như vậy ruộng đất sẽ từng bước được tích tụ trong tay những hộ làm ăn giỏi Khi đã đạt tới một quy mô nhất định, các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá sẽ xuất hiện trên thị trường, hình thành các hộ nông dân sản xuất hàng hoá Đó là xu hướng vận động, phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân Với xu thế này, các hộ sản xuất hàng hoá sẽ không ngừng tăng lên về số lượng cũng như về quy mô nông hộ Chính những hộ sản xuất hàng hoá này đã góp phần to lớn vào việc phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp Ở nước ta, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4 năm 1988) giao quyền
sử dụng đất ổn định cho hộ nông dân, đã tạo ra những điều kiện và môi trường cho kinh tế hàng hoá phát triển
Có thể nói, lịch sử phát triển nông nghiệp là lịch sử vận động và phát triển của kinh tế hộ nông dân và các trang trại gia đình Sự vận động này tuân theo quá trình từ thấp đến cao, từ sản xuất tự cấp, tự túc đến sản xuất hàng hoá Kinh tế hộ nông dân đã trải qua các hình thái sau:
- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển rất thấp của kinh tế hộ Họ sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, họ có ít vốn, công cụ sản xuất thô sơ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động thấp Hiện nay còn tồn tại ở một số dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh, các vùng núi cao biệt lập với xã hội Thiếu lương thực, thực phẩm là nỗi lo lắng thường xuyên của họ
- Nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán Đặc điểm của nhóm hộ này là sản xuất chủ yếu để cung cấp lương thực, thực phẩm và một số loại nông sản cần thiết khác đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho gia đình, ít tiếp xúc với thị trường Trong quá trình phát triển, nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc là bước phát triển cao hơn so với nhóm hộ kinh tế sinh tồn Hiện nay ở Đồng bằng sông Hồng, phần lớn hộ nông dân sản xuất là để tự cấp tự túc Kinh tế tự cấp
tự túc thường dẫn đến sự bảo thủ, chậm phát triển
- Nhóm hộ sản xuất hàng hoá nhỏ: Trong quá trình sản xuất, hộ nông dân luôn muốn sản xuất hướng ra ngoài, một bộ phận hộ nông dân làm ăn khá giả, ngoài
Trang 2312
phần tiêu dùng cho gia đình, còn dư ra một ít sản phẩm, họ đã đưa ra thị trường Khi cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừa trao đổi trên thị trường và trở thành những hộ sản xuất hàng hoá nhỏ Nếu các yếu tố khách quan và chủ quan thuận lợi như ruộng đất nhiều, giá nông sản cao, thời tiết thuận lợi, vốn nhiều, những hộ này
có cơ hội để phát triển thành các hộ sản xuất hàng hoá lớn Ngược lại, nếu gặp rủi
ro trong sản xuất thì họ có thể trở thành nhóm hộ tự cấp tự túc
- Nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn: Gặp điều kiện thuận lợi, một bộ phận của nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn, thành các trang trại gia đình Kinh tế trang trại lấy sản xuất nông sản hàng hoá là chính, xuất phát từ yêu cầu của thị trường mà lựa chọn loại nông sản hàng hoá để sản xuất Nhưng dù có phát triển sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp thì các trang trại gia đình vẫn tỏ ra có hiệu quả nhất so với các loại trang trại khác Kinh tế mỗi hộ vẫn độc lập, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình, thuê mướn nhân công ít hoặc chỉ thuê lao động thời vụ
Như vậy sự vận động của kinh tế hộ nông dân đã trải qua các giai đoạn từ sản xuất để sinh tồn đến sản xuất tự cung tự cấp rồi lên sản xuất hàng hoá Tiến lên sản xuất hàng hoá là xu thế tất yếu của phát triển kinh tế hộ mà động lực của sự phát triển là tối ưu hoá lợi nhuận, hướng sản xuất tới trao đổi sản phẩm trên thị trường
1.1.2.2 Sản xuất hàng hoá là động lực thúc đẩy từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong nông nghiệp
Kinh tế hộ gia đình đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, thể hiện rất rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp Trang trại gia đình ở các nước phát triển, hộ nông dân ở các nước đang phát triển là lực lượng chủ yếu sản xuất ra sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp Ở Mỹ với 2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra 50% đậu tương của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40 – 50 triệu tấn ngô, hàng triệu tấn thịt các loại v.v
- Các trang trại gia đình đã hình thành cách đây hàng trăm năm Lúc đầu quy
mô trang trại nhỏ, sản phẩm hàng hoá ít Càng về sau quy mô các trang trại càng lớn, năng suất lao động càng cao Hiện nay nhờ áp dụng những thành tựu kỹ thuật tiên tiến như hoá học hoá, cơ giới hoá và cách mạng sinh học, tin học, đã giúp các trang trại hiện đại hoá sản xuất Nhiều khu vực trên thế giới như Tây Âu và Bắc
Trang 2413
Mỹ, sản phẩm hàng hoá nông nghiệp đã dư thừa, 1 lao động nông nghiệp nuôi được 35-100 người Động lực dùng trong nông nghiệp có tới 82% là sức máy móc cơ điện Bằng việc hiện đại hoá các trang trại gia đình, các nước phát triển đã đạt được nền sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp
- Ở các nước đang phát triển, hàng hoá nông sản chủ yếu được sản xuất tại các trang trại hoặc các hộ gia đình có quy mô nhỏ từ 1 – 5 ha Trong một số ngành, đặc biệt là trồng cây ăn quả, cây công nghiệp tuy quy mô trang trại nhỏ song vẫn tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn với tỷ suất hàng hoá cao là nhờ tính năng động của mạng lưới tổ chức tốt về dịch vụ và lưu thông hàng hoá Các trang trại ở Malaixia năm 1992 sản xuất được 6,4 triệu tấn dầu cọ, chiếm 53% sản lượng dầu cọ trên thế giới
- Ở nước ta, một thời gian dài kinh tế tập thể giữ vai trò chủ yếu, kinh tế gia đình bị coi là kinh tế phụ Cơ chế điều hành bằng mệnh lệnh hành chính của hợp tác
xã đã kìm hãm sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, sản xuất mất động lực nên kinh tế bị trì trệ trong một thời gian dài, đặc biệt là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng Năng suất cây trồng không tăng, năm 1970 ngân sách lúa đạt 20,1 tạ/ha thì năm 1980 đạt 21,79 tạ/ha Trong 10 năm năng suất tăng 3,4% Từ năm 1988 khi hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài, nền kinh tế bắt đầu mở cửa tiếp xúc với cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá của hộ nông dân bắt đầu phát triển
- Một số nông sản xuất khẩu quan trọng như gạo, cao su, cà phê, chè, v.v đang hoà nhập và có vị trí đáng kể trên thị trường thế giới
Như vậy sản xuất hàng hoá đã và đang là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các hộ gia đình từng bước chuyển từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá lớn
Trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm hàng hoá là những sản phẩm sản xuất được bán ra ngoài tỉnh, ngoại huyện (nếu phạm vi là huyện), ngoài xã (nếu phạm vi
là xã), hoặc theo phạm vi hộ là những sản phẩm hộ nông dân bán ra Hộ nông dân là
cơ sở của sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp Chính vì vậy nghiên cứu hộ nông dân phát triển sản xuất hàng hoá để có thể rút ra những kết luận, đưa ra những giải pháp biện pháp, biện pháp tác động đến sản xuất hàng hoá nói chung
Trang 2514
Sản xuất hàng hoá để tạo điều kiện phát huy tính năng động sáng tạo trong việc khai thác và tận dụng những tiềm năng kinh tế xã hội cũng như lợi thế so sánh của từng vùng kinh tế Nó có vai trò quan trọng trong việc điều tiết sản xuất, phân công lao động xã hội, điều tiết thị trường
Đối với nước ta hiện nay nông nghiệp được coi là hàng đầu, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, xuất khẩu thu ngoại tệ Để đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước, Đảng ta đã xác định chỉ có thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nền kinh tế của chúng ta mới không bị tụt hậu, đất nước mới thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Muốn vậy chúng ta phải có vốn đầu tư để trang bị khoa học công nghệ, cả về máy móc thiết bị lẫn con người Trong khi đó với thực tại là một nước nông nghiệp thì phải xuất phát từ nông nghiệp, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lấy vốn đầu tư phát triển các ngành khác Và vì vậy chỉ có thể phát triển sản xuất hàng hoá thì mới làm cho nông nghiệp phát triển nhanh, mạnh, tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn, chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường quốc tế
Phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp có tác dụng rất lớn để giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao trình độ chất lượng lao động sản xuất nông nghiệp
1.1.3 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
Theo từ điển Larousse: phát triển là một quá trình, là “tổng hoà các hiện tượng được quan niệm như một chuỗi nhân quả kế tiếp nhau diễn tiến” Có thể hiểu phát triển kinh tế là quá trình biến đổi về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định.Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về
cơ cấu kinh tế - xã hội Cho nên phát triển kinh tế là khái niệm chung nhất về một
sự chuyển biến của nền kinh tế, từ trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn
Căn cứ vào mục tiêu cơ chế hoạt động của hộ nông dân, có thể phân biệt các kiểu hộ nông dân như sau: Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường Kiểu hộ chủ yếu tự cấp có bán một số lượng sản phẩm để đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả Kiểu hộ bán phần lớn sản lượng, phản ứng nhiều với giá thị trường Kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá có mục tiêu kiếm lợi nhuận như
là một xí nghiệp
Trang 2615
1.2 Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá
1.2.1 Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ
Để đưa HND tiến lên sản xuất hàng hoá thì điều quan trọng đầu tiên là phải xác định HND là đơn vị kinh tế tự chủ về mặt kinh tế, pháp lý, thể hiện trên các mặt sau:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Hộ nông dân phải có quyền sở hữu về
ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác Ở nước ta chỉ khi giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho các HND thì HND mới bắt đầu có quyền tự chủ trong sản xuất Cùng với việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho HND, họ còn được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế ruộng đất như Luật đất đai đã quy định
- Quan hệ về quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ nông dân cũng
làm chủ trong quản lý sản xuất Hộ là người lựa chọn, định hướng sản xuất, định chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất về mặt pháp lý
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế độc lập do một người chủ hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý
Về hình thức quản lý cũng có những hộ liên doanh theo kiểu 2-3 hộ gia đình
tự nguyện hợp nhất trong một “hộ” lớn hơn với tư cách pháp nhân mới để có thêm năng lực về vốn, ruộng đất, kỹ thuật, có thêm sức cạnh tranh với các hộ khác Các dạng nông hộ này hiện nay có ở một số ngành sản xuất tương đối đặc biệt như nuôi tôm cá ven biển, sản xuất tiểu thủ công nghiệp – những ngành cần nhiều vốn và kỹ thuật hơn sản xuất truyền thống
hộ sản xuất hàng hoá
Trang 2716
HND trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự họ chịu trách nhiệm về những rủi ro trong sản xuất, tự quyết định sản xuất và tiêu thụ SP Chính điều này làm cho HND phải tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế trong sản xuất, họ trở nên năng động trong kinh doanh Kết quả là TLSX, sức lao động được sử dụng có hiệu quả nhất
Trong các yếu tố xác nhận HND là đơn vị kinh tế tự chủ trình bày ở trên, quyền được sử dụng ruộng đất lâu dài và làm chủ trong phân phối sản phẩm làm ra
là hai yếu tố quan trọng nhất
1.2.3 Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp
1.2.3.1 Sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ
Cũng giống như quá trình sản xuất vật chất khác của xã hội, quá trình sản xuất nông nghiệp được tiến hành theo bốn giai đoạn: sản xuất – chế biến, bảo quản – lưu thông – tiêu dùng Ở bất cứ nước nông nghiệp nào, các quá trình trên đều do
hộ nông dân, các trang trại đảm nhận hoặc ở từng giai đoạn đều có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân Sản xuất nông nghiệp ở mọi quốc gia đều mang tính chất truyền thống lâu đời Nền nông nghiệp đã trải qua cá c hình thái kinh tế khác nhau như: nô
lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Hiện nay kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là hình thức kinh tế có hiệu quả nhất trong nông nghiệp Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ và trang trại trong suốt lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp là do những nguyên nhân khách quan sau:
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thể sống, quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hoá về vật chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng, con gia súc Đó là quá trình liên tục đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của con người Nó khác hoàn toàn với các quy trình, các sản phẩm có thể phân chia rõ ràng trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp Đặc thù trên của sản xuất nông nghiệp phù hợp với lao động có trách nhiệm trong gia đình, nó cũng phù hợp với kiểu tổ chức sản xuất gia đình, sản xuất trang trại Traianốp – nhà nông học Nga nổi tiếng đã rút ra kết luận: Càng gần, càng gắn bó với quá trình sinh học thì sản xuất càng mang tính hộ gia đình; càng xa quá trình sinh học càng có nhu cầu liên kết, tập trung hoá và chuyên môn hoá
Trang 2817
- Về mặt xã hội, HND là một tế bào bền vững của xã hội, là đơn vị tiêu chuẩn sản xuất cơ bản của nông nghiệp, mang tính đa dạng, phân tán, phức tạp của nghề nông, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lao động Đặc điểm này làm cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với sản xuất của hộ gia đình hơn bất kỳ tổ chức nào khác
Sự phát triển của công cụ sản xuất từ việc chọc lỗ gieo hạt đến các công cụ thủ công và tiến bộ hơn là cày bừa, dùng sức súc vật đến máy móc cơ khí ngày nay vẫn không làm mất đi công trình của kinh tế hộ gia đình Đối tượng dùng các công
cụ sản xuất ấy là lao động gia đình Thực tiễn ở nước ta cho thấy, kinh tế hộ gia đình có sức sống riêng của nó, tuy trong thời gian dài ít được chú ý phát triển hoặc hạn chế và ngăn cản, nhưng sự tồn tại khách quan đã quyết định sự vận động và phát triển của nó, thể hiện khá rõ nét tính hiệu quả của sản xuất trên đất 5% của gia đình là bằng chứng mạnh mẽ của kinh tế hộ gia đình Đối với sản xuất nông nghiệp, không một tổ chức nào có hiệu quả sản xuất cao như ở khu vực gia đình Thay đổi công cụ lao động chỉ trợ giúp cho các quá trình biến đổi sinh học diễn ra trong sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quá trình đối với mục đích khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ cho con người Chính đặc điểm này quy định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại
Trong sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra quá trình xã hội hoá sản xuất Nhưng do đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp – đối tượng của nó là các cá thể hoặc quần thể sinh vật, kết quả của sản xuất là các sản phẩm nông nghiệp
- Đòi hỏi quá trình sản xuất liên tục không thể phân chia thành các bán thành phẩm, từ người đầu tiên bắt đầu quy trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng; tốt nhất vẫn là do các hộ nông dân đảm nhận Hơn ai hết, họ gắn liền cuộc sống của gia đình
họ với đất đai, với sản phẩm cuối cùng
Từ những nhận định như trên có thể kết luận, đặc thù riêng của quá trình sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình là một đơn vị chủ thể của tổ chức sản xuất xã hội
1.2.3.2 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp
Như trên đã trình bày về sự tồn tại khách quan của hộ nông dân là do đặc
Trang 29Một số nhà khoa học khác của lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là: “hệ thống các nguồn lực” có nghĩa hộ là đơn vị để duy trì và phát triển nguồn lao động, vốn , đảm bảo cho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng như của toàn
xã hội Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau, do
đó đem lại hiệu quả khác nhau Vì thế các tác giả đã đưa ra ý kiến về chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong nông thôn
Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích luỹ cơ bản cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các gia đình Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng diễn ra sâu sắc, càng tạo nhiều cơ hội để các cá nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân công lao động của xã hội, xoá bỏ sự ép buộc lao động
đã có thời diễn ra ở một số nước, trong đó có nước ta
Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippines trong chiến lược phát triển kinh tế cũng rất chú ý tới khu vực kinh tế nông thôn mà hạt nhân cơ bản là kinh tế nông hộ Rất nhiều cuộc hội thảo quốc tế
về kinh tế hộ đã khẳng định, ở các nước trong khu vực chủ thể kinh tế nông nghiệp
là hộ nông dân Khi sản xuất gặp khó khăn và có biến động lớn thì kinh tế nông hộ
có khả năng thích ứng cao, nó có khả năng phục hồi rất nhanh sau mỗi biến động
Ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ được coi là “kinh tế phụ gia đình” nhưng trên thực tế sản xuất của nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập từ kinh tế gia đình chiếm 50-60% tổng thu nhập của hộ, Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản
Trang 3019
xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50% Thời kỳ này thực chất là thời kỳ trì trệ nhất của nông nghiệp nước ta trong hơn 30 năm qua Từ khi Nghị quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất – kinh doanh, kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở nước ta Nó thể hiện rõ trên các mặt:
- Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (lao động, đất đai, tiền vốn và các kinh nghiệm sản xuất ) để tạo ra nhiều nông sản phẩm hàng hoá cho xã hội, tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những năm 1990 đến nay
- Phát triển kinh tế hộ tạo cho sản xuất phát triển, mặt khác mở rộng thị trường nông sản phẩm hàng hoá cho quá trình phát triển công nghiệp thành thị và nông thôn
- Phát triển kinh tế hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà nó còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hoá và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống – cơ sở kinh tế vũng chắc để giải quyết các vấn đề xã hội
1.2.4 Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá
Quá trình phát triển nền nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ nông nghiệp tự cung tự cấp đến đa dạng hoá sản xuất và sản xuất chuyên môn hoá Xã hội càng phát triển, đời sống ngày càng nâng cao, đòi hỏi nhu cầu nông sản phẩm ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng, cùng với nó khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết cụ thể hơn, sự chuyên môn hoá ngày càng sâu và sự gắn bó giữa người sản xuất và tiêu dùng càng chặt chẽ, những hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp có quy mô nhỏ, đầu tư thấp không
có khả năng thích ứng Một bộ phận hộ nông dân có điều kiện phát triển sản xuất với quy mô lớn về đầu tư, tích tụ ruộng đất, chuyên môn hoá .chuyển sang sản xuất hàng hoá, mục đích thu được lợi nhuận cao
Nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường được hình thành là kết quả phát
Trang 3120
triển của lực lượng sản xuất Trong nền kinh tế thị trường HND chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của thị trường.Thông qua sự vận động của kinh tế thị trường, những hộ nông dân sản xuất kém hiệu quả phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí
bị phá sản Trong khi đó những hộ nông dân có lãi càng có điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn và tạo điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn và tạo ra nhiều sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá lớn hơn
Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn đã và đang dần dần thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới máy móc, những thành tựu khoa học kỹ thuật về lai tạo giống cây mới, chế tạo ra những sản phẩm sản phẩm sinh học, hoá học Giúp tăng cường khả năng chế ngự thiên nhiên của con người, tăng hiệu quả sản xuất, tăng năng suất, chất lượng nông sản, giải phóng sức lao động người nông dân thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ bé tự cung tự cấp chuyển thành
hộ nông dân sản xuất hàng hoá Ngày nay khi mà nền nông nghiệp thế giới đã trải qua nhiều bước phát triển thăng trầm, người ta đã rút ra được kết luận đó là: Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tự nó quyết định phương thức sản xuất và con đường phát triển thích hợp
Những đặc điểm chủ yếu quyết định con đường chuyển từ phát triển tự nhiên, hiện vật sang nền nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá mà trong đó nông trại gia đình là nhân vật trung tâm
Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được Con người biết sử dụng đất đai một cách hợp lý thì nó không những không bị giảm độ phì mà ngày càng tốt hơn.Tuy nhiên diện tích ruộng đất phục vụ nông nghiệp chỉ có giới hạn nhất định Do vậy nền tảng của phát triển nông nghiệp là sự gắn bó của người lao động với ruộng đất, với tư liệu sản xuất Chính điều này quy định nghề nông khác hẳn với sản xuất công nghiệp và quy định đơn vị sản xuất trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân khác hẳn với các xí nghiệp quy mô lớn như trong công nghiệp
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi là những sinh vật sống, có chu kỳ sản xuất dài, có phản ứng nhạy cảm với tự nhiên hay điều kiện
Trang 3221
sống, do vậy đòi hỏi người nông dân phải am hiểu sâu sắc đối với từng loại vật nuôi, cây trồng, từng điều kiện tác động Do tính chất thời vụ, sự chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết nên trong nông nghiệp không thể chuyên môn hoá cao một loại sản phẩm thuần nhất Trong sản xuất nông nghiệp chỉ có thế phát triển chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp mới tận dụng được đất đai, lao động, tiền vốn làm cho sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao
Do sản xuất nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn mang tính thời vụ cao đòi hỏi người lao động phải có một tinh thần trách nhiệm và tự giác cao Vì thế hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu hợp tác xã tập thể là kém hiệu quả, chỉ có hộ gia đình nông dân là phù hợp nhất
Trong nông nghiệp quá trình tái sản xuất kinh tế và quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn đan xen để mạng lại hiệu quả và là một quá trình liên tục, hoàn chỉnh không thể chia cắt về thời gian, không gian Do vậy sản xuất nông nghiệp không thể phân chia ra các công đoạn máy móc như công nghiệp
Sự mâu thuẫn giữa chi phí sản xuất và thu nhập được gắn với sản phẩm cuối cùng Thái độ, kỹ năng, năng suất lao động có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi, do vậy đòi hỏi có sự thống nhất giữa các đơn vị sản xuất và đơn vị phân phối Qua đây có thể thấy: Hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp thích hợp nhất là hộ gia đình nông dân, khi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất và lợi ích của mình được đảm bảo thì họ sẽ huy động mọi nguồn lực để đầu tư vào sản xuất với ý thức hoàn toàn tự nguyện
Công cụ sản xuất hiện đại không làm mất đi tính chất sinh học của đối tượng sản xuất nông nghiệp Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây con, nó đòi hỏi sự thống nhất giữa quá trình quản lý với quá trình lao động, sản xuất phân phối và tiêu dùng, sự thống nhất giữa chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế Đặc tính này quy định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ
Như vậy có thể kết luận rằng: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất
mà nền sản xuất xã hội chuyển từ sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp thành sản xuất kinh tế hàng hoá, hộ gia đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, là nhân vật trung tâm trong quá trình chuyển nền nông nghiệp tự nhiên hiện vật sang nền nông nghiệp hàng hoá
Trang 33Sản xuất của HND hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất nông nghiệp Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợi nhuận và lợi nhuận thu được
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên
có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự nhiên, vị trí của mảnh đất đó, hay có thể nói gọn lại là địa tô chênh lệch 1 Đất đai là TLSX chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuất hàng hoá
- Khí hậu và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí
Trang 3423
hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro
do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản
phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp
1.3.2 Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý
Đây là nhóm yếu tố kinh tế và tổ chức liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng
Cũng giống như mọi ngành sản xuất của xã hội, sản xuất hàng hoá của hộ nông dân bị chi phối bởi quan hệ cung cấp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
- Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến
bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại t rong sản xuất hàng hoá của hộ nông dân
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Vốn là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá Khi có quy mô vốn đủ lớn kinh tế hộ mới chuyển thành kinh tế trang trại gia đình
Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một hệ thống công cụ phù hợp Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các hộ nông dân Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng
Trang 35- Yếu tố thị trường
Thị trường: Nói đến thị trường là nói đến yêu cầu của xã hội đối với nông phẩm Trong cơ chế thị trường, các HND hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất Đối với từng HND, để đáp ứng yêu cầu thị trường về nông sản hàng hoá, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau
Nói cách khác thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản lượng Cơ chế thị trường bao gồm nhiều nhân tố: hàng hoá, tiền, mua, bán, cung cầu tác động qua lại với nhau
Sản xuất hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, những sản phẩm nào được giá thì hộ nông dân chú ý phát triển Vì vậy nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng nào Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi, nơi đó có sản xuất hàng hoá phát triển
Trong cơ chế thị trường, các HND hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất Từ đó kinh tế hộ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá
- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các
hộ nông dân càng cần có sự hợp tác để có thêm vốn, thêm nhân lực, thêm kinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất hàng hoá có hiệu quả cao hơn, tự vệ chống lại sự chèn ép (ép cấp, ép giá) của tư thương Thực tế trong thời gian qua cho thấy,
để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các hộ nông dân phải liên kết, hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và điều quan
Trang 3625
trọng là giúp nhau tiêu thụ nông sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác
mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, năng suất gia súc và
năng suất lao động của mình
1.3.3 Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ
- Yếu tố kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá
- Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ
Sản xuất của HND không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những
hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giầu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng hoá của một vùng
1.3.4 Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm các yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới Ngoài các yếu tố như đã nêu ở trên, HND còn có những điều kiện khác ảnh hưởng đến mức độ sản xuất hàng hoá của hộ, đó là việc nắm bắt được nhu cầu thị trường; khả năng gắn sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, đồng thời phải có kỹ năng tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường, có sản phẩm thặng dư
Trang 3726
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông hộ Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào sản xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất loại nông sản hàng hoá Từ năm 1988 trở lại đây, theo tinh thần Nghị quyết 10 giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân và hàng loạt các chính sách được ban hành như chính sách thị trường thống nhất trong
cả nước, chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn, chính sách thuế đất v.v , sản xuất hàng hoá đã phát triển nhanh chưa từng có Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, năm 1989 nước ta đã có 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá để xuất khẩu và từ đó đến nay trung bình hàng năm đã xuất 1,5 – 2,0 triệu tấn gạo và một số nông sản khác như cao su, cà phê v.v Giá trị nông sản xuất khẩu tăng nhanh
Từ hộ sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển thành HND sản xuất hàng hoá phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất hàng hoá Chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả Các nhóm yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá được minh hoạ qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hộ nông dân sản xuất hàng hóa
Kinh tế - TC
Vốn Kết cấu hạ tầng Thị trường
Kỹ năng lao động Liên kết-hợp tác
Hộ nông dân sản xuất hàng hóa
Trang 38vị trí và vai trò của nó trong phát triển kinh tế
- Tình hình phát triển kinh tế trang trại tại Pháp
Ở Pháp, năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 1993 còn 801.400 trang trại Tốc độ trang trại giảm năm bình quân 2,7%/năm Diện tích bình quân của các trang trại tăng lên Diện tích trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên ở Pháp năm 1955 là 12 ha, năm 1993 có 35,1 ha Số trang trại dưới 5 ha chiếm 27,6%, số trang trại từ 5-20 ha chiếm 22,6 %, số trang trại trên 20 ha chiếm 49,8% Bình quân quy mô về diện tích của trang trại là 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp Hiện nay, các trang trại gia đình sản xuất ra lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước với tỷ suất hàng hoá về ngủ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% và riêng năm 1981 đã xuất khẩu trên 24 triệu tấn ngũ cốc
- Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ
Trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại phát triển với trình độ cao Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và các trang trại
có xu hướng giảm dần về số lượng Năm 1960 có 3.962.000 trang trại, năm 1970 có 2.954.000, năm 1992 còn 1.925.000 trang trại Trong khi đó diện tích bình quân của các trang trại cũng tăng lên, năm 1950 là 86 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là
151 ha, và năm 1992 là 198,7 ha [3]
Hiện nay ở Mỹ các trang trại gia đình đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người [7]
Trang 3928
- Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân các nước Châu Á
Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài, kinh tế nông nghiệp sản
phẩm sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước ở lãnh thổ Châu Á đã tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung, mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Ở Nhật Bản, năm 1946-1949, Nhà nước đã mua 1,95 triệu ha đất của các chủ
ruộng để bán cho các nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng Nhìn chung việc tiến hành cải cách ruộng đất đã có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các trang trại gia đình theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá Quy
mô ruộng đất bình quân của một trang trại ở Nhật bản năm 1990 là 1,2 ha tăng lên 1,5 lần trong vòng 40 năm Số trang trại chuyên làm nông nghiệp trong giai đoạn 1960-1998 giảm trên 3 lần, từ 2 triệu xuống chỉ còn 620.000 cơ sở Các trang trại có thu nhập từ nghề nông nghiệp giảm dần, làm nghề ngoài nông nghiệp tăng lên [5]
Ở Malaixia, kinh tế hộ nông dân đã đóng góp quan trọng vào phát triển nông
nghiệp, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ngày càng chiếm ưu thế Năm 1990 kinh tế trang trại gia đình đóng góp 9% kinh ngạch xuất khẩu và 11% GDP, thu hút tới 88% lực lượng lao động nông nghiệp, góp phần rõ rệt trong việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và liên kết các bang nghèo xa xôi vào sự thống nhất kinh
tế đa sắc tộc của quốc gia [5]
Ở Hàn Quốc năm 1950, Nhà nước mua lại ruộng đất của chủ ruộng trên 3 ha
để bán cho nông dân Việc chú trọng phát triển kinh tế trang trại đã tự túc được vấn
đề lương thực Từ năm 1975, các trang trại ở Hàn Quốc đã chuyển hướng đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao Sản lượng rau quả sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân hằng năm 8-10% [5]
1.4.2 Tại Việt Nam
1.4.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hộ nông dân
Từ khi có Chỉ thị 100 CT (01/1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt là
Trang 4029
từ sau Nghị quyết số 10 – NQ/TƯ của Bộ Chính trị (4/1988), hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, tiến hành sản xuất hàng hoá, hạch toán kinh doanh và
có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác thì
mô hình kinh tế hộ mới được chú ý, kinh tế hộ từng bước được khởi sắc và phát triển
Với mục tiêu giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá Nghị quyết
10 đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: Giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, hoá giá các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã mà tập thể quản lý không có hiệu quả để bán cho xã viên sử dụng Thực hiện việc khoán đến hộ và khuyến khích làm giàu chính đáng Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế các thể và tư nhân trong nông nghiệp Mở rộng thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của hộ nông dân Sắp xếp đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã, các đơn
vị kinh tế quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá Nghị quyết số 06 – NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “ Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày từ kinh tế hộ” [1]
Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình,