Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thuế được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau, với quan điểm của Mác và ăng Ghen cho rằng thuế là sự đóng góp cần thiết của công dân để duy trì quyền lực công cộng Theo họ, việc thu thuế không chỉ là nghĩa vụ mà còn là cách thức để đảm bảo sự hoạt động của nhà nước.
Hà Nội – 1962 Trong bối cảnh xã hội phát triển, Nhà nước cần đảm nhiệm vai trò quản lý nền kinh tế và chăm sóc đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng Để đảm bảo chi tiêu, việc gia tăng nguồn thu tài chính là cần thiết, trong đó thuế được xem như phương thức chủ yếu để huy động nguồn lực cho ngân sách quốc gia.
Trong những năm gần đây, chính sách thuế và cơ chế quản lý thu thuế đã có nhiều đổi mới, góp phần tăng thu ngân sách và khuyến khích sản xuất, kinh doanh Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT) được Quốc hội khóa IX thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/1999, đánh dấu sự ra đời của hệ thống thuế mới.
Sau 15 năm thực hiện và nhiều lần điều chỉnh, Luật thuế GTGT đã có tác động tích cực trong việc khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư Luật này không chỉ tạo ra nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách nhà nước mà còn giúp Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, nó cũng góp phần tăng cường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý thuế.
Luật Quản lý thuế, được Quốc hội khóa XI thông qua vào ngày 26 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, đánh dấu một bước tiến mới trong việc thực thi chính sách thuế Phương thức quản lý thuế này, hiện đại và tiên tiến, đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, cho phép người nộp thuế tự khai, tự tính và tự nộp thuế mà không có sự can thiệp từ cơ quan thuế.
Nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong việc tuân thủ pháp luật về thuế là rất quan trọng, giúp các cơ sở kinh doanh chủ động hơn trong việc thực thi Luật thuế Đồng thời, cơ quan thuế có thể tập trung nguồn lực vào công tác tư vấn, hỗ trợ và tuyên truyền cho người nộp thuế, từ đó nâng cao hiệu quả kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, góp phần tổ chức quản lý thuế một cách hiệu quả.
Mặc dù Luật thuế GTGT đã đạt được nhiều thành công, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế như hệ thống thuế chưa đồng bộ và thường xuyên phải điều chỉnh, quy trình quản lý thuế chưa phù hợp với một số trường hợp cụ thể Điều này tạo ra kẽ hở cho người nộp thuế lách luật và trốn thuế, dẫn đến thất thoát ngân sách nhà nước hàng năm Từ khi tái lập tỉnh năm 1992, Ninh Bình vẫn là một tỉnh nhỏ với số thu ngân sách nhà nước hàng năm thấp, trong đó tỷ trọng thuế GTGT chiếm khoảng 55% tổng số thuế, phí và lệ phí.
Từ năm 2011 đến 2015, thu thuế GTGT tại Ninh Bình đã có sự tăng trưởng liên tục, với số thu lần lượt là 919 tỷ, 1.046 tỷ, 1.098 tỷ, 1.191 tỷ và 1.571 tỷ đồng Mặc dù đóng góp của thuế GTGT vào ngân sách ngày càng quan trọng, nhưng số thu thực tế vẫn chưa phản ánh đúng tiềm năng của tỉnh Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng sử dụng hóa đơn giả, khai khống hóa đơn đầu vào, gian lận thuế, và nợ đọng thuế kéo dài Để nâng cao hiệu quả thu thuế GTGT, cần quản lý chặt chẽ hơn, nhằm tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.
7 thì rất cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu và có những biện pháp khắc phục những hạn chế này
Luật thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp, đặc biệt là tại Ninh Bình Việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp trong khu vực này.
Thuế giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.
Tình hình nghiên cứu
Kể từ khi thực hiện cải cách thuế, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liên quan đến thuế và công tác quản lý thuế Để xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài này, học viên đã tham khảo một số công trình nghiên cứu trước đó.
Pháp luật về quản l{ thuế GTGT tại Việt Nam của Th.s Trương Thị Hồng Nhung, năm
Năm 2013, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nghiên cứu và đưa ra các kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) cùng với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhuận (2014) tập trung vào việc hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại Chi cục thuế Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Bài viết đánh giá các hạn chế và bất cập trong công tác quản lý thuế GTGT, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT cho các doanh nghiệp tại khu vực này.
Chính phủ (2013) đã trình bày trong Báo cáo về kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) của một số quốc gia trên thế giới, kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013.
ThS Trương Bá Tuấn, Cải cách chính sách thuế GTGT: Kinh nghiệm các nước và một số hàm { đối với Việt Nam, Sách tài chính Việt Nam 2012;
Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan tại một số nước, TS Lê Thị Thanh Huyền, Tạp chí tài chính (2014);
Các nghiên cứu hiện có về kiểm soát thuế GTGT chủ yếu tập trung vào cấp chi cục và kinh nghiệm quốc tế trong cải cách thủ tục hành chính thuế để nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tuy nhiên, tại tỉnh Ninh Bình, chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả quản lý thu thuế GTGT Đặc thù của Ninh Bình với số lượng doanh nghiệp ít (3.218 doanh nghiệp tính đến 31/12/2015) và nguồn thu chủ yếu từ các tập đoàn lớn như Tập đoàn Thành Công, Xuân Thành, và Hoàng Phát Vissai, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất, tạo ra thách thức cho việc quản lý thuế Mặc dù doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng cao, nhưng số nộp ngân sách nhà nước lại thấp, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể lên tới 16.2% vào năm 2015 Nghiên cứu một cách hệ thống chính sách thuế GTGT và hiệu quả quản lý thu thuế tại Cục thuế Ninh Bình là cần thiết để nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả quản l{ thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình.
Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về Luật thuế GTGT và quy trình quản l{ thuế, luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Làm rõ những cơ sở l{ luận về thuế GTGT và quản l{ thuế GTGT đối với doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được áp dụng để nghiên cứu sự chuyển dịch của nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững Luận văn sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, trừu tượng hóa và khái quát hóa nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu một cách hiệu quả.
Phương pháp thu thập dữ liệu trong luận văn này dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp, cụ thể là các báo cáo định kỳ hàng tháng và hàng năm của Cục Thuế Ninh Bình Thông tin từ Cục Thuế được coi là chính thống, do đó đảm bảo độ tin cậy cao cho nghiên cứu.
Để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã thu thập số liệu sơ cấp từ 120 doanh nghiệp thông qua phương pháp điều tra ngẫu nhiên Thông tin được thu thập chủ yếu qua bảng hỏi, bên cạnh đó, tác giả còn áp dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm thu thập những nhận định và kiến thức chuyên sâu về quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Ninh Bình.
Phương pháp xử lý nguồn dữ liệu:Được xử l{ và phân tích bằng phần mềm EXCEL và một số phần mềm khác trong ngành thuế.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Đề tài đã hệ thống hoá, góp phần hoàn thiện những vấn đề l{ luận về quản l{ thu thuế GTGT
Đề tài nêu rõ những hạn chế và nguyên nhân trong quản lý thu thuế GTGT tại Cục Thuế Ninh Bình, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT tại cơ quan này.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 11 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT
1.2.1 Khái niệm thuế Giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế hiện đại, đã được nghiên cứu từ sớm bởi các nhà kinh tế Xuất hiện lần đầu vào năm 1917, thuế GTGT đã trải qua nhiều giai đoạn áp dụng và kiểm nghiệm tại nhiều quốc gia trên thế giới, dẫn đến sự hình thành nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về loại thuế này.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Tổng số thuế được tính vào giá bán cuối cùng mà người tiêu dùng phải trả Các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ thực hiện việc nộp thuế này thay cho người tiêu dùng bằng cách gộp thuế vào giá bán Do đó, người tiêu dùng chính là đối tượng chịu thuế Tại Việt Nam, thuế GTGT được hiểu là thuế áp dụng cho giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong toàn bộ quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng.
2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12)
1.2.2 Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là loại thuế gián thu áp dụng cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả Khoản thu này được tính thêm vào giá bán của nhà cung cấp, do đó, giá mà người tiêu dùng trả cho hàng hóa và dịch vụ đã bao gồm thuế GTGT.
Thuế GTGT áp dụng cho giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ trong các giai đoạn sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Tổng số thuế GTGT thu được từ tất cả các giai đoạn sẽ tương đương với số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Theo nguyên tắc, thuế chỉ cần thu ở khâu bán hàng cuối cùng, nhưng thực tế khó xác định rõ khâu này Do đó, mọi hành vi mua hàng đều phải tính thuế Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được cộng vào giá bán ở khâu sau, và người tiêu dùng cuối cùng sẽ gánh toàn bộ số thuế GTGT trên hàng hóa Tổng số thuế mà người tiêu dùng phải trả tương ứng với tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn trong quá trình sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, được biểu hiện ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do
NNT chỉ là người đại diện cho người tiêu dùng trong việc nộp thuế GTGT vào ngân sách nhà nước Vì vậy, thuế GTGT không phải là một phần của chi phí sản xuất, mà chỉ là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi cách tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, vì tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn tương đương với số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, bất kể có bao nhiêu giai đoạn trong quá trình đó.
Thuế GTGT chỉ áp dụng cho hoạt động tiêu dùng trong lãnh thổ Việt Nam, không đánh thuế đối với tiêu dùng ngoài lãnh thổ Điều này đảm bảo sự công bằng trong giao dịch quốc tế, khi không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu.
1.2.3 Cách tính thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT mà doanh nghiệp phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp a Phương pháp khấu trừ thuế
Các cơ sở kinh doanh cần tuân thủ đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn và chứng từ theo quy định của pháp luật.
♦ Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;
♦ Cơ sở kinh doanh đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh
Xác định số thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải nộp = Số thuế GTGT đầu ra - Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Trong đó:
- Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT
Thuế GTGT trên hoá đơn GTGT được tính bằng cách nhân giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra với thuế suất GTGT tương ứng.
Trong trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán đã bao gồm thuế GTGT, thuế GTGT đầu ra sẽ được tính bằng giá thanh toán trừ đi giá tính thuế.
Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Thông tư 219/2013/TT- BTC
Căn cứ tính thuế GTGT bao gồm giá tính thuế và thuế suất, với ba mức thuế suất phổ thông là 0%, 5%, và 10%, cùng với 28 mặt hàng, dịch vụ không chịu thuế theo Điều 4 của Luật quản lý thuế số 13 Việc quy định các mức thuế suất khác nhau nhằm điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Đặc biệt, hàng hóa xuất khẩu, bao gồm cả hàng gia công xuất khẩu, được áp dụng mức thuế suất 0% để khuyến khích hoạt động xuất khẩu.
Việt Nam áp dụng mức thuế suất 5% cho các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng, như thuốc chữa bệnh Đối với các hàng hóa và dịch vụ không thuộc mức thuế suất 0% và 5%, mức thuế suất phổ thông là 10% Phương pháp tính thuế được áp dụng là phương pháp trực tiếp.
Doanh nghiệp và hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới một tỷ đồng sẽ không phải áp dụng thuế, trừ khi họ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật số 31/2013/QH13.
♦ Hộ, cá nhân kinh doanh;
Tổ chức và cá nhân nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại đây cần thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Tuy nhiên, ngoại trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí, những đối tượng này sẽ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam thực hiện khấu trừ và nộp thay.
♦ Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng k{ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này (số 31/2013/QH13);
Cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu
Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu * Tỷ lệ %
Như vậy căn cứ để tính thuế là Doanh thu tính thuế và tỷ lệ % để tính GTGT
+ Tỷ lệ % để tính GTGT trên doanh thu được quy định theo từng hoạt động như sau:
– Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;
– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;
–Hoạt động kinh doanh khác: 2%
+ Doanh thu để tính thuế GTGT:
Khái quát chung về quản lý thuế GTGT
1.3.1 Khái niệm quản lý thuế GTGT
Theo giáo trình “Tài chính công” của Khoa Tài chính Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005), quản lý thuế bao gồm các biện pháp nghiệp vụ do cơ quan chức năng thực hiện nhằm thu ngân sách nhà nước Đây là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thuế, hướng đến đối tượng nộp, với mục tiêu đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng theo quy định pháp luật.
Quản lý thuế là quá trình mà Nhà nước áp dụng các công cụ và phương pháp phù hợp để tác động lên đối tượng quản lý thuế, nhằm đảm bảo các hoạt động diễn ra đúng với mục tiêu đã đề ra.
Quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thuế, với mục tiêu thu đúng, đủ và kịp thời cho ngân sách nhà nước Đối tượng quản lý thuế bao gồm các mối quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế, từ mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế (NNT), đến sự tương tác giữa NNT với nhau, cũng như các mối quan hệ nội bộ trong cơ quan thuế và giữa cơ quan thuế trong nước với quốc tế Do đó, quản lý thuế GTGT rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi các công cụ và phương pháp quản lý phù hợp.
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, thiết lập khung pháp lý cao nhất cho hoạt động quản lý thuế tại Việt Nam Luật này chuyển đổi từ cơ chế quản lý chuyên biệt sang cơ chế tự khai, tự nộp, nhấn mạnh trách nhiệm của người nộp thuế (NNT) trong việc tự tính và nộp thuế Nó áp dụng toàn diện cho tất cả các khâu trong quá trình thu nộp thuế và quy định rõ quyền, nghĩa vụ của NNT, công chức thuế và cơ quan thuế Đặc biệt, luật còn nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong công tác quản lý thuế.
1.3.2.Nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng
Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc quan trọng trong quản lý thuế, chi phối hoạt động giữa cơ quan nhà nước và người nộp thuế (NNT) Nguyên tắc này quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý, cùng với quyền và nghĩa vụ của NNT, đảm bảo mọi hoạt động diễn ra theo quy định của pháp luật Trong mối quan hệ này, các bên liên quan có thể được lựa chọn cách thức thực hiện nghĩa vụ thuế một cách hợp pháp.
24 những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi qui định của pháp luật về quản l{ thuế
Đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý thuế là điều cần thiết, tương tự như các hoạt động quản lý khác Các phương pháp quản lý thuế phải được lựa chọn sao cho tối đa hóa số thu vào ngân sách nhà nước (NSNN) theo đúng quy định pháp luật, đồng thời giảm thiểu chi phí quản lý thuế.
Ba là, công khai và minh bạch là nguyên tắc quan trọng trong quản lý thuế Nguyên tắc này yêu cầu mọi quy định về quản lý thuế, bao gồm hệ thống chính sách và quy trình thu nộp thuế, phải được công bố rộng rãi cho người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân liên quan Điều này không chỉ thúc đẩy hoạt động quản lý thuế đúng luật và trong sạch mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất và kinh doanh.
Để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, các quốc gia cần điều chỉnh quy định quản lý và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế Việc thực hiện cam kết quốc tế về thuế không chỉ giúp các cơ quan nhà nước hòa nhập vào hệ thống thuế toàn cầu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Để áp dụng thuế giá trị gia tăng một cách công bằng và hiệu quả, cần giải quyết một số vấn đề cơ bản nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển nền kinh tế quốc dân, và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Các doanh nghiệp lớn và vừa trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ cần tuân thủ đầy đủ chế độ hóa đơn và chứng từ hợp lệ Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và thực hiện khấu trừ thuế cho từng cơ sở kinh doanh.
Công tác kế toán doanh nghiệp, đặc biệt là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cần được thực hiện một cách chính xác để phản ánh trung thực các chi phí thực tế liên quan đến sản phẩm Hệ thống bán lẻ, bao gồm cửa hàng, siêu thị, cần tuân thủ chế độ sổ sách kế toán hợp lệ và được kiểm tra chặt chẽ Việc quy định rõ chỉ số giá cả trong từng thời kỳ là cần thiết để điều chỉnh giá bán lẻ, đảm bảo giá trị gia tăng hợp lý cho sản phẩm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, cán bộ thu thuế cần được đào tạo chuyên sâu về chế độ hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán, cũng như thông thạo quy định về quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng Vai trò của người thu thuế và người nộp thuế cần được hiểu rõ, vì họ vừa là người thu thuế vừa là người trả thuế Cán bộ thu thuế phải có khả năng tính toán chính xác mức thuế phải thu và mức khấu trừ kịp thời, nhằm tránh tình trạng tiêu cực có thể xảy ra do kém phẩm chất Việc tính sai mức khấu trừ hoặc hoàn thuế chậm có thể gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp Đối với người nộp thuế, ngoài việc tính toán đúng số thuế sau khi được khấu trừ, họ cần có phẩm chất của một doanh nhân lương thiện, xem việc nộp thuế đầy đủ và kịp thời là nghĩa vụ hợp pháp và công bằng.
Mở rộng hình thức thanh toán mua bán hàng hóa qua tài khoản ngân hàng giúp xác định doanh thu bán hàng một cách chính xác, từ đó làm cơ sở cho việc tính thuế hiệu quả hơn.
Ý thức tự nguyện và tự giác chấp hành các luật thuế của doanh nghiệp đang dần được cải thiện, điều này gắn liền với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế.
Hệ thống pháp luật đang ngày càng được hoàn thiện, góp phần đưa việc thực hiện pháp luật vào nề nếp và kỷ cương Điều này không chỉ thể hiện trong nhận thức tư tưởng mà còn trong hành động thực tế của mọi người.
Quy định về hệ thống sổ sách kế toán, năng lực quản lý của cơ quan thuế, và ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế là những yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý thu thuế, đặc biệt là đối với sắc thuế giá trị gia tăng (GTGT).
1.3.3 Nội dung quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế GTGT
Hiện nay, Việt Nam chưa có hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả quản lý thuế, đặc biệt là thuế GTGT Việc nắm rõ các tiêu chí quản lý thuế tốt rất quan trọng, vì nó định hướng cho hoạt động quản lý thuế tại các địa phương Để đánh giá hiệu quả quản lý thuế, cần đảm bảo các tiêu chí cụ thể.
Thứ nhất, quan hệ với NNT phải đáp ứng được yêu cầu:
Cung cấp thông tin chất lượng và thường xuyên cho người nộp thuế là rất quan trọng Những thông tin này bao gồm văn bản, chính sách, tình hình kê khai và nộp thuế của người nộp thuế với cơ quan thuế, cũng như giải đáp các vướng mắc liên quan Việc sử dụng thông tin của người nộp thuế phải tuân thủ đúng phạm vi pháp luật cho phép.
Áp dụng pháp luật thuế một cách công bằng, minh bạch và đáng tin cậy là rất quan trọng Cần giải thích rõ ràng cho người nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của họ, cũng như cung cấp thông tin chi tiết về các thủ tục khiếu nại và kháng nghị.
+ Giảm thấp chi phí tuân thủ cho NNT: Xử l{ các câu hỏi, yêu cầu và khiếu nại của NNT một cách chính xác và kịp thời
Thứ hai, quan hệ với cán bộ thuế phải đảm bảo yêu cầu:
Để nâng cao chất lượng công chức, viên chức, việc truyền đạt và đề cao các tiêu chuẩn đạo đức là rất quan trọng Đồng thời, quy trình tuyển dụng cần đảm bảo công bằng và khuyến khích những cá nhân có giá trị, đồng thời bảo vệ họ khỏi sự sa thải độc đoán.
Để nâng cao tiêu chuẩn chuyên môn cho công chức viên chức thuế, cần cung cấp cơ hội đào tạo hiệu quả, giúp họ tiếp cận những vấn đề thuế phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Để đảm bảo thu đúng, đủ và kịp thời nguồn thu cho ngân sách nhà nước, cần áp dụng hiệu quả các công cụ quản lý thuế như pháp luật, kế hoạch và chính sách, cùng với một số công cụ hỗ trợ khác.
Để đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế, cần xây dựng một bộ tiêu chí bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng, nhằm đảm bảo việc đánh giá diễn ra một cách chân thực và khách quan.
Nghiên cứu định lượng tập trung vào việc thu thập dữ liệu dưới dạng số và phân tích mối quan hệ theo cách diễn dịch Để đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng (GTGT), chúng ta cần sử dụng một số chỉ tiêu cụ thể.
Tỷ trọng số thuế GTGT so với tổng số nộp NSNN
Tỷ trọng thuế GTGT trong tổng thu ngân sách nhà nước ngày càng cao cho thấy hiệu quả thu thuế tốt, nhưng chỉ tiêu này không đủ để đánh giá toàn diện hiệu quả thu thuế GTGT, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và lộ trình giảm thuế suất hiện nay Tỷ trọng thuế GTGT có xu hướng giảm trong tương lai, và sự biến động trong hoạt động của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến chỉ tiêu này Khi nền kinh tế thuận lợi, doanh nghiệp hoạt động mạnh mẽ, số thu từ thuế GTGT tăng cao, ngược lại, trong thời kỳ khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản và hoạt động sản xuất kinh doanh đình trệ, dẫn đến giảm thu ngân sách từ thuế GTGT.
Tổng số thu thuế GTGT trên dự toán pháp lệnh được giao
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá hiệu quả lập dự toán thu ngân sách và năng lực thu thuế của cơ quan thuế, đồng thời giúp phân tích nguyên nhân biến động qua các năm.
Chỉ số tuân thủ của NNT
Bao gồm 2 chỉ tiêu thành phần, phản ánh mức độ tuân thủ của NNT Cụ thể:
Số tờ khai thuế nộp đúng hạn và số tờ khai thuế chưa nộp là những chỉ số quan trọng đánh giá mức độ tuân thủ thời gian nộp tờ khai thuế của người nộp thuế (NNT) trong năm Việc tuân thủ này không chỉ phụ thuộc vào ý thức tự giác của NNT mà còn bị ảnh hưởng bởi sự quản lý chặt chẽ của cán bộ thuế đối với từng doanh nghiệp và khu vực Xác định chính xác và kịp thời số thuế GTGT để kê khai nộp vào ngân sách là yếu tố then chốt để quản lý nguồn thu và đôn đốc thu thuế, nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước.
Tỷ lệ nợ thuế GTGT của NNT so với tổng số thu thuế GTGT là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu nợ thuế, bao gồm theo dõi, đôn đốc và cưỡng chế thu nợ Chỉ số này phản ánh mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và khả năng thực hiện các mục tiêu chiến lược trong quản lý nợ thuế Khi tỷ lệ này càng thấp, hiệu quả thu thuế GTGT càng cao và ngược lại.
Tỷ lệ số thuế truy thu thuế GTGT sau thanh tra, kiểm tra trên tổng số thu thuế GTGT
Số thuế GTGT truy thu sau thanh tra, kiểm tra là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra trong việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của ngành thuế Tỷ lệ này phản ánh mức độ đóng góp của công tác thanh tra, kiểm tra đối với tổng số thu nội địa, từ đó cung cấp cơ sở quan trọng để kiểm soát và nâng cao hiệu quả thu ngân sách.
33 tra sự tự giác của người nộp thuê trong việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đối với sắc thuế GTGT
Để đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế GTGT tại Cục thuế Ninh Bình, bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, cần xem xét các chỉ tiêu định tính quan trọng.
Sự hài lòng của NNT khi giao dịch với cơ quan thuế
Thuận lợi và khó khăn của NNT khi tiếp cận chính sách thuế mới
Để đo lường sự phù hợp của các quy trình liên quan đến Đăng ký thuế, Kế toán thuế, thanh tra và kiểm tra, cần thu thập nhiều thông tin phản hồi từ người nộp thuế (NNT) Tác giả đã thực hiện khảo sát 90 doanh nghiệp ngẫu nhiên dưới sự quản lý của Cục thuế Ninh Bình để thu thập ý kiến về việc khai thuế, nộp thuế và tuân thủ pháp luật thuế Nếu quản lý thu thuế hiệu quả, NNT sẽ có đánh giá tích cực về tác động của cơ quan thuế trong cải cách thủ tục hành chính, tuyên truyền và hỗ trợ chính sách thuế cho doanh nghiệp, cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước.
Tổng quan về quản lý thuế GTGT ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1.Tình hình quản lý thuế GTGT ở một số nước trên thế giới
Xu hướng hiện nay của nhiều quốc gia là tăng cường vai trò của thuế giá trị gia tăng (GTGT) và giảm dần thuế suất thuế thu nhập để thu hút đầu tư Trong khu vực Châu Á, nhiều quốc gia đang xem xét điều chỉnh chính sách thuế GTGT Cụ thể, vào tháng 7/2012, Hạ viện Nhật Bản đã thông qua lộ trình tăng thuế suất GTGT từ 5% lên 8% vào tháng 4/2014 và lên 10% vào tháng 10/2015 Tương tự, Thái Lan cũng đang xem xét kế hoạch tăng thuế suất GTGT từ 7% lên 10%.
Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới, hiện có khoảng 54% quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) với biểu thuế suất gồm một mức duy nhất, không bao gồm mức thuế suất 0% áp dụng cho hàng xuất khẩu.
23% số nước áp dụng biểu thuế suất thuế GTGT với hai mức thuế suất và số còn lại là nhiều hơn hai mức
Áp dụng một mức thuế suất giúp giảm chi phí tuân thủ thuế và đơn giản hóa yêu cầu quản lý, trong khi việc áp dụng nhiều mức thuế suất có thể làm tăng chi phí nộp thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.
1.5.2 Bài học kinh nghiệm quản lý thuế GTGT ở các nước trên thế giới a Thuỵ Điển: Là một nước đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969) Trước khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một thuế suất 10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Mục tiêu của sự chuyển đổi là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động xuất khẩu
Tất cả người nộp thuế doanh thu đã chuyển sang nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), với tổng số 160.000 người nộp thuế doanh thu Ngoài ra, có 200.000 hộ nông dân không phải nộp thuế trong cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nộp khâu trước
Thụy Điển ban đầu áp dụng mức thuế doanh thu 10%, nhưng nhờ cơ chế khấu trừ, thuế GTGT đã giảm Để bù đắp nguồn thu, quốc gia này đã tăng phí bảo hiểm thêm 1% trên tổng quỹ lương Trong quá trình thực hiện, Thụy Điển cũng đã điều chỉnh thuế suất và bổ sung các mức thuế mới.
Thứ tư: Đối với những đầu tư trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT cũng được khấu trừ
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách thuế GTGT để trợ cấp
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Tài chính, 2011 Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 – 2020 Hà Nội: Nhà xuất bản Tài chính
2 Bộ Tài chính, 2012 Thông tư số 06/2012/TT-BTC Hà Nội
3 Bộ Tài chính, 2013 Thông tư số 156/2013/TT-BTC Hà Nội
4 Bộ Tài chính, 2013 Thông tư số 219/TT-BTC, Hà Nội
5 Bộ Tài chính, 2014 Thông tư số 119/2014/TT-BTC, Hà Nội
6 Bộ Tài Chính, 2014 Thông tư số 151/2014/TT-BTC Hà Nội
7 Cục thuế tỉnh Ninh Bình, 2011,2012,2013,2014,2015 Báo cáo năm Ninh Bình
8 Nguyễn Thị Thùy Dương, 2011 Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận án tiến sĩ Trường đại học kinh tế quốc dân
9 Lê Thị Thanh Huyền,2014 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan tại một số nước Tạp chí tài chính 2014
10 Trương Thị Hồng Nhung, 2013 Pháp luật về quản lý thuế GTGT tại Việt Nam Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội
11 Nguyễn Văn Nhuận, 2014 Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Luận văn thạc sĩ kinh tế Đại học
12 Quốc Hội, 2006 Luật Quản lý thuế, số 78/2006/QH11, ngày 29/11/2006 Hà Nội
13 Quốc Hội , 2008 Luật thuế GTGT, số 13/2008/QH12, ngày 03/6/2008 Hà Nội
14 Quốc Hội, 2013 Luật thuế GTGT, số 05/2013/VBHN-VPQH, ngày 11/7/2013 Hà Nội
15 Trương Nhật Quang, 2012 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác thu thuế trên địa bàn thị xã Tây Ninh Luận văn thạc sĩ kinh tế.Đại học quốc gia TP HCM
16 Trương Bá Tuấn, 2012.Cải cách chính sách thuế GTGT: Kinh nghiệm các nước và một số hàm ý đối với Việt Nam Sách tài chính Việt Nam 2012;