1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình bày hiểu biết của em về quảng cáo và khuyến mại mỹ phẩm qua việc vận hành luật thương mại tại việt nam

23 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Khái niệm quảng cáo mỹ phẩm Trong Luật quảng cáo 2012 giải thích người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có nhu cầuquảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình.. Khoản 21

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ BÀI 2

NỘI DUNG 3

1.Với quy định pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền: 12

2 Với thương nhân thực hiện khuyến mại: 14

3 Với người tiêu dùng: 14

KẾT BÀI 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

PHỤ LỤC 17

Trang 2

MỞ BÀI

Thị trường mỹ phẩm đã và đang được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng,thu hút nhiều nhà đầu tư với nguồn lợi nhuận khổng lồ Xã hội ngày càng phát triển, nhucầu làm đẹp của con người ngày càng tăng cao, không chỉ với phái đẹp mà còn cả vớiphái mạnh Mỹ phẩm là một mặt hàng mang tính chất đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe con người vì thế nó chịu sự quản lí của Nhà nước chặt chẽ hơn so với các hànghóa thông thường khác Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại chưa dành một sự quan tâmđúng mực cho thị trường kinh doanh đầy tiềm năng nhưng cũng rất phức tạp này Vì vậy,

để hiểu hơn về thị trường mỹ phẩm cũng như để tìm hiểu sâu hơn các quy định của pháp

luật Việt Nam về vấn đề này, bài tiểu luận xin nghiên cứu đề tài: “Trình bày hiểu biết của em về quảng cáo và khuyến mại mỹ phẩm”.

Trang 3

NỘI DUNGI) Quảng cáo mỹ phẩm

1) Khái niệm mỹ phẩm

Khái niệm mỹ phẩm được quy định tại Điều 2 Thông tư số 06/2011/TT-BYT quyđịnh: “Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những

bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và

cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làmsạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặcgiữ cơ thể trong điều kiện tốt”

Từ quy định trên có thể thấy mỹ phẩm gồm những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm chứa các chất hóa học có khảnăng tác động đến cơ thể con người

- Thứ hai, mỹ phẩm có tác dụng làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hìnhthức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thế hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt

2) Khái niệm quảng cáo mỹ phẩm

Trong Luật quảng cáo 2012 giải thích người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có nhu cầuquảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình Còn theo Điều 102 Luậtthương mại 2005: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thươngnhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình.”.Theo cách hiểu như ở Pháp lệnh Quảng cáo thì nó có nội hàm rộng hơn và bao trùm hơntheo cách hiểu ở Luật thương mại

Khoản 21 Điều 2 Thông tư số 06/2011/TT-BYT quy định về khái niệm quảng cáo mỹphẩm: “Quảng cáo mỹ phẩm là các hoạt động giới thiệu, quảng bá mỹ phẩm nhằm thúcđẩy quá trình sản xuất, bán, sử dụng mỹ phẩm.”

Từ quy định trên, ta có thể thấy quảng cáo mỹ phẩm chính là một hoạt động xúc tiếnthương mại bởi vì nó mang những dấu hiệu, tính chất của hoạt động xúc tiến thương mại.Quảng cáo mỹ phẩm là hoạt động mang tính chất giới thiệu hàng hóa là mỹ phẩm chongười có nhu cầu sử dụng, chủ thể là đơn vị kinh doanh mỹ phẩm và với mục đích thúcđẩy việc tiêu thụ mỹ phẩm Nhưng cần lưu ý là đối tượng được quảng cáo ở đây là mỹphẩm cho người, là một loại hàng hóa đặt biệt, có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thậm

Trang 4

chí là tính mạng của con người Vì vậy việc quảng cáo và khuyến mại mỹ phẩm có nhữngđặc điểm riêng so với hoạt động quảng cáo và khuyến mại hàng hóa, dịch vụ chung.

3) Ý nghĩa của hoạt động quảng cáo mỹ phẩm

- Đối với người tiêu dùng: Thị trường tiêu dùng đã và đang trở nên rất cạnh tranh vớinhững thương hiệu mới ra đời Quảng cáo là để thông báo, truyền đạt một thông điệp củadịch vụ hay sản phẩm mới, mà đối tượng cụ thể ở đây là mỹ phẩm, đến người tiêu dùng.Quảng cáo sẽ giúp cho người tiêu dùng chủ động hơn trong việc lựa chọn mỹ phẩm vớinhững công dụng, chức năng phù hợp bởi vì hầu hết các loại mỹ phẩm hiện này được sửdụng thông qua hướng dẫn sản phẩm, thông tin trên quảng cáo mà không có sự hướngdẫn của bác sĩ

- Đối với chủ thể kinh doanh mỹ phẩm: Thị trường mỹ phẩm đã và đang được đánhgiá là một thị trường đầy tiềm năng, thu hút nhiều nhà đầu tư với nguồn lợi nhuận khổng

lồ Khi mà mỹ phẩm là một mặt hàng mang tính chất đặc biệt và chịu sự quản lí chặt chẽcủa Nhà nước, quảng cáo có một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đến các chủ thể kinhdoanh, các chủ thể thực hiện quảng cáo mỹ phẩm Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của hoạtđộng quảng cáo mỹ phẩm, những thương nhân kinh doanh mỹ phẩm đã rất thành côngkhi gây dựng được những thương hiệu mỹ phẩm rất quen thuộc với người tiêu dùng Hoạtđộng quảng bá càng phát triển sẽ thúc đẩy lượng tiêu thụ sản phẩm và lòng tin của ngườitiêu dùng càng tăng

4) Quy định của pháp luật hiện hành về quảng cáo mỹ phẩm

4.1 Chủ thể quảng cáo mỹ phẩm.

Các quy định của pháp luật về chủ thể quảng cáo mỹ phẩm cũng giống chủ thểquảng cáo thương mại nói chung, bao gồm: người quảng cáo thương mại, thương nhânkinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại, người phát hành quảng cáo thương mại vàngười cho thuê phương tiện quảng cáo Các chủ thể này tham gia hoạt động quảng cáo ởnhững khâu khác nhau với mục đích khác nhau Quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể khitham gia hoạt động quảng cáo được quy định Luật thương mại năm 2005, Luật quảng cáonăm 2012 và Thông tư 06/2011/TT-BYT

- Người quảng cáo: là tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo về mỹ phẩm do mìnhsản xuất, phân phối Người quảng cáo phải có Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáotheo quy định của pháp luật

Trang 5

- Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một sốhoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảngcáo với người quảng cáo.

- Người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm quảng cáo mỹphẩm đến người tiêu dùng, bao gồm cơ quan báo chí, truyền thanh, truyền hình, nhà xuấtbản, tổ chức quản lý mạng thông tin máy tính, ng¬ười tổ chức chương trình văn hoá, thểthao, hội chợ, triển lãm và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác

- Người cho thuê địa điểm, phương tiện để quảng cáo là người được quyền kinhdoanh các phương tiện quảng cáo như báo chí, truyền hình Vì vậy, trên thực tế, ngườicho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo đồng thời là người tiến hành quảng cáo

4.2 Đối tượng của quảng cáo mỹ phẩm.

Đối tượng của quảng cáo thương mại có thể hiểu là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

mà người thực hiện quảng cáo muốn thông qua hoạt động quảng cáo để giới thiệu tớicông chúng Tuy nhiên, không phải hàng hóa, dịch vụ nào cũng được phép quảng cáo.Luật Thương mại năm 2005 đã quy định các trường hợp cấm quảng cáo tại Điều 109

Với đối tượng quảng cáo là mỹ phẩm, trước hết đó phải là sản phẩm mỹ phẩm đãđược phép lưu thông trên thị trường Các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm

mỹ phẩm ra thị trường chỉ được phép đưa mỹ phẩm ra lưu thông khi đã được cơ quanquản lý nhà nước có thẩm quyền cấp số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm vàphải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả và chất lượng sản phẩm TheoĐiều Thông tư 06/2011/TT-BYT, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm saukhi sản phẩm lưu thông trên thị trường

4.3 Phương tiện quảng cáo mỹ phẩm.

Phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sảnphẩm quảng cáo thương mại Theo Thông tư 06/2011/TT-BYT, quảng cáo mỹ phẩm đượcthực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, truyền thanh,Internet, sách, báo, tạp chí, tờ rơi, pano, áp phích, vật thể trên không, vật thể dưới nướchoặc các phương tiện quảng cáo khác Việc sử dụng từng phương tiện quảng cáo cụ thểtrong hoạt động quảng cáo mỹ phẩm phải tuân theo các quy định tại Thông tư này và nhưLuật Quảng cáo năm 2012

- Quảng cáo mỹ phẩm trên phương tiện truyền hình, truyền thanh thì các khoản

1, 3, 4 Điều 22 phải được đọc to, rõ ràng Trường hợp hiển thị bằng chữ trên

Trang 6

màn hình các nội dung trên thì tốc độ hiển thị phải phù hợp và cỡ chữ quảngcáo đủ lớn bảo đảm rõ ràng, dễ đọc ( Điều 23 )

- Quảng cáo trên báo chí, tờ rơi thì cuối trang đầu tiên của tài liệu quảng cáo mỹphẩm phải in: (a) Số Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo của Sở Y tế; b)ngày tháng năm nhận hồ sơ hợp lệ ghi trên Phiếu tiếp nhận ( Điều 24 )

4.4 Sản phẩm quảng cáo mỹ phẩm.

Sản phẩm quảng cáo chứa đựng những thông tin được chuyển tải đến công chúngthông qua các phương tiện quảng cáo Sản phẩm quảng cáo mỹ phẩm cũng như sản phẩmquảng cáo thương mại nói chung, bao gồm: “những thông tin bằng hình ảnh, hành động,

âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảngcáo thương mại” (Điều 105 Luật Thương mại năm 2005)

Có thể nói sản phẩm quảng cáo quyết định phần lớn sự thành công của một chiếndịch quảng cáo Trong khi đó, mục tiêu thúc đẩy thương nhân tạo ra sản phẩm quảng cáothương mại chính là lợi nhuận, là việc tiêu thụ hàng hóa, sử dụng dịch vụ được thúc đẩythông qua quảng cáo Do vậy, quảng cáo phải mang tính cạnh tranh, thể hiện được sựvượt trội của hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo so với hàng hóa, dịch vụ cùng loại Sảnphẩm quảng cáo mỹ phẩm chứa đựng nội dung quảng cáo mỹ phẩm và hình thức quảngcáo mỹ phẩm Nội dung của quảng cáo mỹ phẩm là yếu tố then chốt của hoạt độngquảng cáo Nội dung quảng cáo mà sản phẩm đặc biệt là mỹ phẩm phải đáp ứng hai điềukiện:

- Phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho ngườisản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo (Khoản 1, Điều 19, Luật Quảng Cáo)

- Phù hợp với các tài liệu chững minh tính an toàn và hiệu quả của mỹ phẩm vàphải tuân thủ theo hướng dẫn về công bố tính năng sảm phẩm của ASEAN (Khoản 3,Điều 21, Thông tư 06)

Với những điều kiện trên, nội dung quảng cáo mỹ phẩm phải đủ các thông tin quyđịnh tại Điều 22, Thông tư 06 bao gồm: tên mỹ phẩm; tính năng, công dụng (nếu các tínhnăng, công dụng chủ yếu của mỹ phẩm nếu chưa thêt hiện lên trên tên của sản phẩm); tên

và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sảm phẩm mỹ phẩm ra thị trường;lưu ý khi sử dụng (nếu có)

Nội dung của quảng cáo mỹ phẩm hết giá trị trong các trường hợp sau:

- Mỹ phẩm có số đăng ký lưu hành, số Phiếu tiếp nhận bản công bố tiêu chuẩnchất lượng mỹ phẩm, số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm đã hết giá trị

Trang 7

- Mỹ phẩm bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khuyến cáo ngừng sửdụng hoặc bị thu hồi sản phẩm.

- Có những thay đổi về thông tin ảnh hưởng đến tính an toàn và chất lượng của

mỹ phẩm, tổ chức cá nhân phải gửi 01 bộ hồ sơ đăng ký quảng cáo mỹ phẩm về Sở Y tếnơi đặt trụ sở chính của tổ chức, cá nhân công bố sản phẩm mỹ phẩm

Trình tự thủ tục cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo mỹ phẩm được quyđịnh tại Điều 27 của Thông tư: “Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký quảng cáo mỹ phẩm, tổchức hội thảo, sự kiện giới thiệu mỹ phẩm hợp lệ theo đúng quy định của Thông tư này

và lệ phí theo quy định hiện hành, Sở Y tế gửi cho đơn vị nộp hồ sơ đăng ký một Phiếutiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo, tổ chức hội thảo, sự kiện giới thiệu mỹ phẩm (Phụ lục

số 11-MP) kèm theo mẫu hoặc kịch bản quảng cáo đạt yêu cầu (áp dụng với hồ sơ đăng

ký quảng cáo mỹ phẩm) Ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ là ngày Sở Y tế nhận đủ hồ

sơ hợp lệ Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu Sở Y tế không có vănbản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì đơn vị được quyền quảng cáo, tổ chức hội thảo, sự kiệngiới thiệu mỹ phẩm theo đúng nội dung đã đăng ký”

4.6 Những hành vi bị cấm trong quảng cáo mỹ phẩm.

Theo quy định tại Điều 8, LQC 2012, có 16 hành vi quảng cáo bị cấm như sau: quảngcáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 7 của Luật này; quảng cáo làmtiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốcphòng; quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuầnphong mỹ tục Việt Nam; quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàngiao thông, an toàn xã hội; quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối vớiQuốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ,lãnh đạo Đảng, Nhà nước; quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc,xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật;

5) Những bất cập về hoạt động quảng cáo mỹ phẩm

Trang 8

Theo thống kê của tổ đặc quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam, hiện nay trên thị trường cóđến hơn 50% sản phẩm mỹ phẩm đang bị làm giả, làm nhái các thương hiệu nổi tiếng.Theo thống kê của Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội, năm 2014, các đơn vị quản lýthị trường đã kiểm tra các nhà kho chứa hàng, các chợ cũng như các tuyến giao thôngtrọng điểm, kết quả đã phát hiện, xử lý 164,804 sản phẩm hóa mỹ phẩm nhập lậu, sảnphẩm không rõ nguồn gốc đang được tuồn vào thị trường Việt Nam để tiêu thụ Với hìnhthức, mua nguyên liệu, vỏ hộp từ Lạng Sơn, Trung Quốc về tự sang chiết, đóng gói vàtuồn ra thị trường tiêu thụ Chi cục quản lý thị tường Thành phố Hồ Chí Minh công bốtháng 11/ 2016: Trong tổng số vụ kiểm tra vi phạm về kinh doanh, sản xuất mỹ phẩm tìnhtrạng giả nhãn hiệu chiếm 50%, hàng kém chất lượng chiếm 22%, giả kiểu dáng, nguồngốc xuất xứ 17%, số còn lại là hàng hóa nhập ngoại không hóa đơn chứng từ chứng minhnguồn gốc

Trên thực tế, không ít các nhà sản xuất, kinh doanh quá chú trọng đến mục tiêu lợinhuận mà đưa ra những sản phẩm quảng cáo đề cao tính năng, lợi ích của hàng hóa dịch

vụ bất chấp hậu quả mà nó có thể đem lại Chính vì thế, việc tạo ra và sử dụng sản phẩmquảng cáo phải được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật cũng như sự kiểm soát chặt chẽcủa cơ quan chức năng Với sản phẩm quảng cáo mỹ phẩm, yêu cầu đó càng trở nên cầnthiết Thực tế, có rất nhiều các trường hợp sản phẩm không được Hội Doanh nghiệp HàngViệt Nam chất lượng cao (HVNCLC) thẩm định và cấp nhưng nhiều hãng mỹ phẩm vẫn

tự ý gắn logo HVNCLC để quảng cáo cho snar phẩm của mình mà không đăng ký Hànhđộng này không chỉ đơn thuần là để đánh bóng tên tuổi, phát triển hoạt động quảng cáonữa mà là một hành vi lừa dối người tiêu dùng

Hoạt động quảng cáo mỹ phẩm trên internet hiện nay khá tự do và khó kiểm soát Với

sự phát triển chóng mặt của các trang mạng xã hội như facebook, Instargram, các diễnđàn như webtretho, raovat, shopee, … việc quản lý hoạt động quảng cáo mỹ phẩm lạicàng gặp nhiều khó khăn Không chỉ quảng cáo các loại mỹ phẩm đã có tên tuổi, đã đượccông bố chất lượng sản phẩm mà trên các trang mạng xã hội hiện nay xuất hiện rất nhiềunhững loại mỹ phẩm handmade, mỹ phẩm giả, nhái được quảng cáo và buôn bán tràn lankhông chịu bất kỳ sự kiểm soát của cơ quan chức năng nào

II) Khuyến mại mỹ phẩm

1 Khái niệm khuyến mại:

Trang 9

Theo Điều 88, luật Thương mại năm 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thươngmại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cáchdành cho khách hàng những lợi ích nhất định.”

Các lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là: dùng thử hàng mẫu miễnphí; Tặng quà; Giảm giá; Tặng phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; Tặng kèm phiếu

dự thi; Tổ chức các chương trình may rủi; Tổ chức chương trình khách hàng thườngxuyên; Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí vàcác sự kiện khác vì mục đích khuyến mại; Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơquan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận Trong thực tế, các hình thức này đượccác doanh nghiệp áp dụng khá linh hoạt và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc,như vừa giảm giá vừa tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặctặng quà trong những "giờ vàng mua sắm" nhất định trong ngày (thường là giờ thấp điểm

để kích thích tiêu dùng) Giảm giá thường là hình thức được các doanh nghiệp áp dụngnhiều nhất

2 Các quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại mỹ phẩm

Pháp luật không có quy định riêng về khuyến mại mỹ phẩm, hoạt động khuyến mại

mỹ phẩm được điều chỉnh bởi các quy định của Luật thương mại năm 2005 về khuyếnmại nói chung và Nghị định 37/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật thương mại về hoạtđộng xúc tiến thương mại

2.1 Chủ thể thực hiện khuyến mại.

Chủ thể thực hiện khuyến mại là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Namhoặc thương nhân nước ngoài Theo khoản 2 Điều 88 Luật thương mại, thương nhân thựchiện khuyến mại gồm 2 trường hợp: thương nhân trực tiếp khuyến mại mỹ phẩm màmình kinh doanh và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại cho mỹ phẩm củathương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đo Điều này tăng có hội thương mạicho các thương nhân

2.2 Các hình thức khuyến mại.

Có nhiều cách thức khác nhau để thương nhân dành cho khách hàng những lợi íchnhất định Lợi ích mà khách hàng được hưởng có thể là lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa)hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí) Hàng hóa, dịch vụ đượckhuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại phải là những hàng hóa, dịch vụđược kinh doanh hợp pháp

Trang 10

Theo quy định tại Điều 92 Luật thương mại, các hình thức khuyến mại mỹ phẩmgồm:

- Đưa hàng mẫu mẫu để khách hàng dùng thử chứ không phải trả tiền Thôngthường, hình thức khuyến mại này được sử dụng khi thương nhân cần giới thiệu một sảnphẩm mới hoặc sản phẩm đã cải tiến, do vậy, hàng mẫu đưa cho khách hàng dùng thử làhàng đang bán hoặc sẽ được bán trên thị trường

- Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền Điều này đượcthực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm sản phẩm của thương nhân Hàng hóa,dịch vụ dùng làm quà tặng có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanhhoặc là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác Việc tặng quà trong trường hợp nàykhông chỉ có ý nghĩa thúc đẩy hành vi mua sắm mà thương nhân còn có cơ hội quảngcáo, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của nhau

- Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng trước đó, được ápdụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo

- Bán hàng có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi.Theo các chương trình này, khách hàng có thể được hưởng lợi ích nhất định theo nhữngphương thức khác nhau Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có mệnh giánhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thươngnhân Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí, theo điều kiện donhà cung ứng dịch vụ đưa ra Khác với điều này, phiêu dự thi có thể mang lại giải thưởnghoặc không mang lại gì cho khách hàng, phụ thuộc vào kết quả dự thi của họ

- Tổ chức các sự kiện để thu hút khách hàng Các sự kiện này được tổ chức gắnliền hoặc tách rời với việc mua hàng, ví dụ các chương trình mang tính may rủi mà kháchhàng trúng thưởng hoàn toàn do sự may mắn như: bốc thăm, cào số trúng thưởng, bóc,

mở sản phẩm trúng, vé số dự thưởng.Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trìnhvăn hóa, nghệ thuật, giải trí…có thể là lợi ích phi vật chất mà thương nhân dành khuyếnmại cho khách hàng, cũng có thể nhằm hướng tới khách hàng mục tiêu của thương nhân.Ngoài các sự kiện trên, thương nhân có thể tổ chức chương trình khách hàng thườngxuyên, các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại

Ngoài ra, pháp luật không cấm thương nhân sử dụng các hình thức khác để khuyếnmại nhưng khi tiến hành phải được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp nhận

2.3 Hạn mức khuyến mại.

Trang 11

Hạn mức theo đơn giá: Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định mứcgiátối đa cho hành hoá, dịch vụ khuyến mại không lớn hơn 50% giá trị hành hoádịch vụ này trước thời điểm khuyến mại

Hạn mức tính theo tổng giá trị hành hoá, dịch vụ dùnh để khuyến mại.Tổng giá trị của hành hoá, dịch vụ mà thương nhân thực hiện trong một chương trìnhkhuyến mại không lớn hơn 50% tổng giá trị hành hoá, dịch vụ khuyến mại trừ trườnghợp khuyến mẫu bằng đưa hành mẫu, cung ứng dịch vụ hành mẫu dùng thử khôngphải trả tiền

Hạn mức thời gian khuyến mại: Tổng thời gian thực hiện chương trìnhkhuyến mại đối với một nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ không đước quá 90 ngày trongnăm, một chương trình khuyến mại không được quá 45 ngày Quy định này ápdụng đối với các hình thức khuyến mại: bán hàng, cung ứng dịch vụ giá giảm hơn so vớigiá bán hang cung ứng dịch vụ trước đó

Tổng thời gian thực hiện khuyến mại đối với một nhãn hiệu hàng hoá dịch vụkhông được qua 180 ngày trong 1năm và 1 chương trình khuyến mại không quá 90ngày.Hạn mức này áp dụng đối với các hình thức bán hàng: cung ứng dịch vụ kèm theoviệc tham dự các chương trình mang tính chất may rủi

2.4 Trình tự, thủ tục khuyến mại.

Thông báo về việc khuyến mại: Thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mạiquy định tại phải gửi thông báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến SởThương mại nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiệnkhuyến mại Nội dung thông báo về chương trình khuyến mại được quy định tại Điều 15Nghị định 37/2006

Đăng kí khuyến mại: Thương nhân phải gửi hồ sơ đăng ký khuyến mại bao gồmnhững nội dung quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 37/2006/NĐ-CP đến Sở Côngthương (đối với hình thức khuyến mại bằng hình hình bán hàng kèm theo chương trình

dự thưởng mang tính may rủi) hoặc Bộ Công thương (đối với các hình thức khuyến mạikhác) Trong thời hạn 7 ngày làm việc, các cơ quan này phải xem xét, xác nhận bằng vănbản việc đăng ký chương trình khuyến mại của thương nhân nếu hồ sơ đăng ký hợp lệ

Thực hiện chương trình khuyến mại: thương nhân thực hiện chương trình khuyếnmại có trách nhiệm gửi văn bản thông báo cho Sở Thương mại nơi thực hiện chươngtrình khuyến mại kèm theo bản sao văn bản xác nhận của Bộ Thương mại trước khi thựchiện chương trình khuyến mại

Ngày đăng: 11/07/2021, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w