Tổng quan về nước thải tinh bột mì
Tổng quan ngành công nghiệp sản xuất bột mì
Tinh bột khoai mì là nguồn cung cấp thực phẩm cho hơn 500 triệu người trên thế giới (theo Cock, 1985; Jackson & Jackson, 1990) Tinh bột khoai mì cung cấp
37% calories trong thực phẩm của Châu Phi, 11% ở Mỹ La Tinh và 60% ở các nước
Tinh bột mì là một sản phẩm nông nghiệp quan trọng được sản xuất và xuất khẩu rộng rãi trên toàn thế giới Brazil dẫn đầu với sản lượng khoảng 25 triệu tấn mỗi năm, trong khi Nigeria, Indonesia và Thái Lan cũng đóng góp một lượng lớn cho thị trường xuất khẩu Châu Phi cũng tham gia vào việc sản xuất tinh bột mì, góp phần vào nguồn cung toàn cầu.
Năm 1997, sản lượng tinh bột mì toàn cầu đạt 85,2 triệu tấn, trong đó Châu Á chiếm 48,6 triệu tấn và Mỹ La Tinh cùng Caribbean đóng góp 32,4 triệu tấn (FAO, 1998) Tại Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến tinh bột mì gặp khó khăn do thiếu điều kiện xây dựng nhà máy chế biến, dẫn đến việc sản xuất chủ yếu diễn ra ở quy mô hộ gia đình, sản xuất trung bình và sản xuất lớn.
II.2.2 Hiện trạng ngành chế biến tinh bột mì ở Việt Nam
Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu tinh bột mì hiện nay (sau Indonesia và Thái Lan)
Sản lượng tinh bột mì xuất khẩu đạt 180 – 350 nghìn tấn/năm
Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật,
Singapore, Malaysia, Hàn quốc và Đông Âu
Sản phẩm được chế biến từ khoai mì: tinh bột mì, bột ngọt, acid glutamate, acid amin, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ,…
II.2.2.2 Tình hình sản xuất tinh bột mì trong nước
Diện tích trồng mì trên cả nước chủ yếu tập trung ở các khu vực:
_ Đông Bắc sông Hồng: Vĩnh Phúc, Hà Tây
_ Đông Bắc: Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai
_ Tây Bắc: Sơn La, Hòa Bình
_ Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An
_ Duyên Hải Nam Trung Bộ: Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định,
_ Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông
_ Đông Nam Bộ: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Thuận
Trong đó Gia Lai là tỉnh có diện tích trồng khoai mì lớn nhất nước (Gia Lai:
47.695 ha; Tây Ninh: 45.137 ha – số liệu thống kê 2006)
Khoảng 12% khoai mì được tiêu thụ trực tiếp
22% dùng cho thức ăn gia súc
49% củ khoai mì được bán dùng trong quá trình sản xuất tinh bột mì
Bảng II.3: Thống kê số liệu về diện tích, sản lượng và năng suất khoai mì tính trên cả nước trong giai đoạn 2001 – 2006
(Hội thảo chuyên đề: Phát triển ngành chế biến tinh bột khoai mì ở Việt Nam, 2006)
Bảng II.4: Một số nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì tại các tỉnh miền Nam
Tên công ty Tỉnh Công suất
Bình Phước và Tây Ninh là hai tỉnh miền Nam Việt Nam, nổi bật với cảnh quan thiên nhiên đa dạng và văn hóa phong phú Bình Phước nổi tiếng với các vườn cao su và sản phẩm nông nghiệp, trong khi Tây Ninh thu hút du khách với núi Bà Đen và các lễ hội truyền thống Cả hai tỉnh đều có tiềm năng phát triển du lịch và kinh tế mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của khu vực.
(Hội thảo chuyên đề: Phát triển cụm công nghiệp sinh thái cho ngành chế biến tinh bột khoai mì tại Việt Nam, 2007)
II.2.2.3 Định hướng phát triển bền vững (Nông nghiệp)
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, tính đến năm 2010, các giống khoai mì được trồng phổ biến bao gồm KM60, KM64, KM94, KM95, H34 và Ấn Độ Những giống này chủ yếu được trồng ở các vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Ninh, Kon Tum và Bình.
Thúc đẩy sự kết nối giữa các nông trại trồng trọt và các công ty chế biến khoai mì quy mô nhỏ là rất quan trọng, nhằm tăng cường hợp tác với các tổ chức và hội phát triển cây khoai mì cả trong và ngoài nước.
II.2.2.4 Quy trình công nghệ sản xuất tinh bột mì
Nguồn nguyên liệu chính sản xuất tinh bột khoai mì có hai loại: củ mì tươi và mì lát khô
Tóm tắt quy trình chế biến khoai mì từ khoai mì tươi:
Củ từ bải nguyên liệu được băng tải chuyển lên khâu rữa
Khâu rửa bao gồm hai giai đoạn: rửa sơ bộ và rửa ướt Rửa sơ bộ nhằm tách lượng đất cát bám trên củ, trong khi rửa ướt giúp loại bỏ hoàn toàn phần đất cát còn lại và một phần lớn vỏ củ.
Sau khi rửa, củ được đưa vào máy cắt, cắt thành những lát nhỏ giúp cho quá trình mài sát được thuận lợi
Các nguyên liệu được đưa vào máy nghiền để thực hiện quá trình mài xát và xay Tại giai đoạn này, nguyên liệu được nghiền nhỏ, giúp giải phóng một lượng lớn tinh bột tự do, từ đó tăng hiệu suất thu hồi bột trong toàn bộ quy trình.
Sau khi nghiền, hỗn hợp sệt được ly tâm để lấy dịch bào
Sau khi tách một lượng lớn dịch bào, hỗn hợp sệt được đưa vào ly tâm để tách bã, với kích thước lỗ rây giảm dần từ đầu đến cuối Trong quá trình này, bổ sung 0,05% SO2 vào khối lượng nhằm kiềm chế các quá trình sinh hóa gây phân hủy và giữ màu trắng cho tinh bột.
Sữa bột được sản xuất từ quá trình tách bã sẽ được xử lý qua hệ thống ly tâm siêu tốc để loại bỏ hoàn toàn lượng dịch bào còn lại và thu hồi tinh bột.
Lượng sữa bột tinh thu được sẽ được xử lý qua hệ thống ly tâm để tách nước, nhằm giảm độ ẩm và tăng hiệu quả cho quá trình sấy sau đó Sau khi thu được bột ẩm, sản phẩm sẽ được đưa vào hệ thống sấy khí thổi, tiếp theo là làm mát, sàng lọc và đóng bao.
Li tâm tách bã Nước
Hình II.2: Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột khoai mì
NƯỚC THẢI CẦN XỬ LÝ Tách nước
Li tâm siêu tốc tách dịch bào lần 2
Li tâm lắng tách dịch bào lần 1 Nghiền Ép bã
Hiện trạng ô nhiễm của ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Khu vực miền Nam hiện có từ 15 đến 20 nhà máy chế biến tinh bột khoai mì quy mô lớn, trong đó nổi bật là nhà máy chế biến tinh bột khoai mì KMC tại Bình.
Công ty VEDAN tại Bình Phước sở hữu nhà máy chế biến tinh bột khoai mì hiện đại, cùng với các đơn vị liên doanh như VINAFOOD-GCR và TAPIOCA Việt Thái Ngoài ra, nhà máy tinh bột khoai mì ở Bình Thuận và các công ty tinh bột sắn tại Phú Yên và Quảng Ngãi cũng đóng góp vào ngành công nghiệp chế biến tinh bột khoai mì tại Việt Nam.
Tại Bình Định, các cơ sở sản xuất như Quốc Khánh và Tiến Phát đang gây ô nhiễm nghiêm trọng trên diện rộng Mặc dù nhà máy có hầm chứa, nhưng chất thải không được xử lý qua bất kỳ hệ thống nào, dẫn đến nước thải rút xuống hầm và đổ ra suối Hố.
Mùa mưa đến, mây đen kéo về khiến đồng ruộng bị hư hại, hoa màu của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nước bẩn mang theo bã mì trôi lềnh bềnh trên ruộng, gây ra tình trạng ghẻ lở cho cộng đồng.
Bảng thống kê dưới đây trình bày tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải từ một số nhà máy chế biến tinh bột khoai mì quy mô lớn tại Việt Nam.
Bảng II.5: Tải lượng ô nhiễm do nước thải tinh bột khoai mì tại Việt Nam
STT Tên cơ sở công nghiệp Tải lượng ô nhiễm (kg/ngày)
SS BOD 5 COD N org P-PO 4
1 Công ty cổ phần Vedan 15.600 30.060 38.700 326,4 8,28
2 Công ty khoai mì Tây
3 Nhà máy chế biến tinh bột
4 Phân xưởng sản xuất tinh bột khoai mì Phước Long
5 Nhà máy chế biến tinh bột khoai mì KMC
(Hội thảo chuyên đề: phát triển ngành chế biến tinh bột khoai mì tại Việt Nam, 2006)
Tổng quan về nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì Miwon – Tây Ninh
II.4.1 Tình hình chung về ô nhiễm nước thải tinh bột khoai mi ở Tây Ninh
Theo thống kê của Sở Khoa học và Công nghệ Môi trường, tỉnh Tây Ninh hiện có hơn 300 cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu tập trung tại các huyện Tân Biên, Tân Châu và Châu Thành.
Hệ thống xử lý nước thải tại các cơ sở như Thành và Dương Minh Châu thường rất sơ sài và không đạt tiêu chuẩn, dẫn đến ô nhiễm môi trường xung quanh Điều này đã gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt sông và mạch nước ngầm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.
Nhiều cơ sở sử dụng hệ thống xử lý nước thải bằng ao sinh học nhưng chưa hoàn chỉnh, dẫn đến tình trạng nước thải tràn ra ngoài và ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Nước thải từ lò mì đã làm ô nhiễm các giếng nước gần đó, khiến người dân không thể sử dụng Để có nước sạch phục vụ sinh hoạt, họ buộc phải khoan giếng sâu từ 45m trở lên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.
Tình trạng ô nhiễm nặng nề tại Tân Biên do nước thải từ các cơ sở sản xuất tinh bột khoai mì thủ công đã gây ra mùi hôi thối nồng nặc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của nhiều loài cá trong khu vực.
Bến Đá (đoạn đổ ra sông Vàm Cỏ), rạch Tây Ninh
II.4.2 Tổng quan về nhà máy sản xuất bột mì Miwon – Tây Ninh
II.4.2.1 Giới thiệu chung về nhà máy
Tên nhà máy : Nhà máy chế biến tinh bột mì Miwon Đại diện : LEE KWANG YOUNG
Chức vụ : Giám đốc Địa điểm nhà máy: Ấp B2, xã Phước Minh, huyện Dương Minh Châu - Tây
Công ty Miwon Việt Nam đầu tư vào nhà máy chế biến tinh bột khoai mì tại tỉnh Tây Ninh thông qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tiếp nhận nhà máy chế biến khoai mì có sẵn của Công ty Tân
Hoàng Minh (công suất sản xuất 60 tấn/ngày) vào ngày 06/12/2004 và đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/03/2005;
Giai đoạn 2 của dự án mở rộng nhà máy sẽ được thực hiện sau khi nhà máy giai đoạn 1 hoạt động ổn định Trong giai đoạn này, sẽ tiến hành lắp đặt dây chuyền chế biến tinh bột biến tính với công suất 50 tấn/ngày và dây chuyền chế biến lỏng với công suất 20 tấn/ngày.
Sau khi tiếp nhận Công ty Tân Hoàng Minh, Chi nhánh Miwon Tây Ninh thuộc Công ty Miwon Việt Nam đã hoàn thành báo cáo đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường Giấy chứng nhận số đã được cấp bởi Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tây Ninh.
Vị trí của nhà máy chế biến tinh bột mì Miwon – Tây Ninh được xác định như sau:
Toạ độ địa lý: 106 0 19,195’ độ kinh Đông và 11 0 19,695’ độ vĩ Bắc
_ Bắc giáp tỉnh lộ 781 và hồ Dầu Tiếng;
_ Nam đất màu trồng cây tràm;
_ Đông giáp nhà máy Trường An;
_ Tây giáp kênh tiêu thoát ra sông Sài Gòn (chiều dài kênh tiêu từ nhà máy đến điểm tiếp nhận nước thải tại sông Sài Gòn khoảng 4km)
II.4.2.2 Dây chuyền sản xuất bột mì của nhà máy
Hình II.3 Sơ Đồ Công Nghệ Chế Biến Tinh Bột Mì
Nguồn tin: Điều tra tổng hợp
Tách tạp chất, vỏ gỗ và bốc vỏ lụa
Băm nhỏ và nghiền nát Nước cấp
Tách bột (vắt nước) Tách dịch
SO2 Đóng bao Sấy khô
II.4.2.3 Nhu cầu nguyên liệu sản xuất
Công ty chủ yếu sử dụng củ mì làm nguyên liệu, với khoảng 300 tấn củ mì được nhập vào mỗi ngày Nguyên liệu này chủ yếu được trồng và cung cấp bởi người dân trong xã, cùng với một lượng lớn từ các xã lân cận.
Ngoài củ mì, còn có các loại bao bì, bao nilon, v.v Chủ yếu được thu mua từ các công ty, các nhà máy sản xuất bao bì trong nước
Các thiết bị máy móc của công ty phần lớn được nhập từ nước ngoài, chủ yếu được nhập từ Nhật.
Nước thải trong chế biến tinh bột khoai mì
Quy trình sản xuất khoai mì tiêu tốn một lượng nước lớn, khoảng 15 – 20m³ cho mỗi tấn sản phẩm Nước thải từ quá trình này chứa tinh bột không thu hồi, protein, chất béo, khoáng chất và các thành phần như SO3²-, SO4²- từ công đoạn tẩy trắng Lưu lượng nước thải cao với nồng độ chất hữu cơ lên tới 16 – 20 Kg COD/m³ gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường.
Trong quy trình sản xuất, nước thải từ các bước như rửa củ, nghiền củ, ly tâm, sàn loại sơ, lọc thô, khử nước và tách dịch là những nguồn chính gây ô nhiễm nước.
Trong quá trình rửa củ mì, nước được sử dụng để loại bỏ bụi bẩn trên bề mặt củ Việc rửa không kỹ có thể dẫn đến việc bùn bám lại, ảnh hưởng xấu đến màu sắc của tinh bột Nước thải từ công đoạn rửa và lột vỏ chứa nhiều tạp chất như bùn, đất, cát, mảnh vỏ, cùng với HCN sinh ra từ sự phân hủy phazeolutanin dưới tác động của men cyanoaza.
Nước thải trong quá trình nghiền củ, lọc thô có nhiều tinh bột, protein và khoáng chất tách ra trong quá trình nghiền thô
Nước thải từ quá trình tách dịch có nồng độ chất hữu cơ cao (BOD) và chứa nhiều chất rắn lơ lửng (SS) Bên cạnh đó, nước thải này còn chứa các dịch bào có tanin, enzyme và nhiều vi chất có trong củ mì.
Lượng nước thải từ nhà máy ước tính có 10% nguồn gốc từ nước rửa củ và 90% phát sinh từ các quá trình ly tâm, sàng lọc và khử nước.
II.5.2 Đặt tính nước thải của ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Nước thải từ quá trình chế biến tinh bột khoai mì thường có pH thấp và chứa hàm lượng chất lơ lửng cao, đồng thời ô nhiễm cất hữu cơ và nhiễm độc Cyanua Về mặt cảm quan, nước thải này có màu trắng đục, mùi chua và độ đục rất cao.
Bảng II.6: các thông số nước thải ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả TCVN 5945 – 2005
II.5.3 Tác động của nước thải chế biến tinh bột khoai mì đến môi trường nước
II.5.3.1 Ảnh hưởng của pH Độ pH quá thấp sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận do các loài vi sinh vật có trong tự nhiên trong nước bị kiềm hãm phát triển
Ngoài ra nước có tính axit sẽ gây ăn mòn, làm mất cân bằng trao đổi chất, ức chế sự phát triển bình thường của quá trình sống
II.5.3.2 Ảnh hưởng của các chất hữu cơ
Hàm lượng chất hữu cơ cao trong nước dẫn đến giảm nồng độ oxy hòa tan, ảnh hưởng tiêu cực đến sự sống của thủy sinh vật Bên cạnh đó, tình trạng này còn gây ra ô nhiễm mùi, làm suy giảm chất lượng môi trường nước.
II.5.3.3 Ảnh hưởng của chất lơ lửng
Các chất rắn lơ lửng trong nước gây đục và màu, làm giảm ánh sáng cần thiết cho quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh, từ đó giảm lượng oxy sản sinh Ngoài ra, cặn lắng xuống đáy sông không chỉ gây bồi lắng mà còn cản trở lưu thông và thay đổi dòng chảy Phần cặn này có thể bị phân hủy kị khí, dẫn đến mùi hôi khó chịu trong khu vực xung quanh.
II.5.3.4 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng
Hàm lượng dinh dưỡng (N, P) cao gây phú dưỡng hóa nguồn nước, dẫn đến sự phát triển không kiểm soát của rong và tảo, làm xấu đi môi trường sống của nguồn tiếp nhận.
II.5.3.5 Ảnh hưởng của Cyanua
Cyanua tồn tại trong nước dưới dạng muối CN- và HCN, gây ảnh hưởng độc hại đến hệ thủy sinh thực vật Khi nước bị ô nhiễm, nó có thể ngấm xuống đất và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Tuy nhiên, trong điều kiện thích hợp, HCN có thể phân hủy và giảm thiểu tác động của nó.
NH4 + là chất dinh dưỡng cho các thực vật thủy sinh.
Phương pháp xử lý nước thải tinh bột khoai mì
II.6.1 Xử lý cơ học
Việc tách các tạp chất thô như vỏ khoai mì và đất cát ra khỏi nước rửa củ là rất quan trọng Các phương pháp phổ biến bao gồm song chắn rác, lắng trọng lực, lọc và tách ly Đây là bước xử lý sơ bộ cần thiết để đảm bảo các quy trình xử lý tiếp theo diễn ra ổn định và hiệu quả.
II.6.2 Xử lý hóa học
Trung hòa là phương pháp hiệu quả và đơn giản để xử lý các chất ô nhiễm vô cơ, thông qua việc thêm axit hoặc bazơ nhằm điều chỉnh pH về mức cho phép từ 6 đến 9, đồng thời hỗ trợ quá trình xử lý sinh học.
Oxy hóa khử là phương pháp hiệu quả để phân hủy hầu hết các chất hữu cơ và vô cơ trong nước, chuyển đổi các chất hữu cơ khó phân hủy thành dễ phân hủy, từ đó nâng cao tỉ lệ BOD/COD Phương pháp này cũng được sử dụng để khử độc một số chất hữu cơ độc hại như cyanide và ammonia Quá trình thực hiện bao gồm việc thêm các tác nhân oxy hóa và khử với pH phù hợp, trong đó các chất oxy hóa có thể sử dụng bao gồm Cl, KmnO4, H2O2, O3, và MnO2 Tuy nhiên, do tiêu tốn nhiều hóa chất, phương pháp này thường chỉ được áp dụng khi các chất ô nhiễm không thể xử lý bằng các phương pháp khác.
II.6.3 Xử lý hóa lý
Keo tụ là quá trình khử chất ô nhiễm dạng keo bằng cách sử dụng chất đông tụ để trung hòa điện tích các hạt keo, tạo thành bông cặn lớn có khả năng lắng trọng lực Chất đông tụ thường là muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp PAC, hiệu quả nhất trong khoảng pH 5 – 7,5 Việc bổ sung các chất trợ keo tụ như Polimine có thể cải thiện tốc độ lắng và rút ngắn thời gian xử lý Phương pháp này giúp loại bỏ một lượng lớn chất rắn lơ lửng trong nước thải tinh khoai mì, đồng thời giảm nồng độ COD và BOD.
Tuyển nổi là phương pháp thường được áp dụng để tách các hợp chất lơ lửng nhỏ, không tan và có trọng lượng nhẹ, giúp chúng lắng chậm Ngoài ra, phương pháp này cũng có thể được sử dụng để tách các chất hòa tan và hoạt động bề mặt hiệu quả.
Quá trình tách tạp chất bằng cách tạo ra các bọt khí nhỏ, giúp chúng dính kết với các hạt và kéo chúng lên bề mặt, sau đó được thu gom bằng thiết bị vớt bọt Phương pháp này có nhiều ưu điểm, bao gồm cấu tạo thiết bị đơn giản, vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp, cùng với độ lựa chọn cao trong việc tách tạp chất và tốc độ nhanh hơn so với quá trình lắng.
Cơ học và hấp phụ là hai phương pháp quan trọng trong xử lý nước thải, trong đó chất lơ lửng nhỏ mịn và vi hữu cơ bị loại bỏ qua quá trình lọc cát hoặc hấp phụ Hấp phụ được áp dụng rộng rãi để loại bỏ triệt để các chất hữu cơ hòa tan có độc tính cao hoặc không thể phân hủy sinh học sau xử lý sinh học Các chất hấp phụ thường được sử dụng bao gồm thanh hoạt tính, các chất tổng hợp, và một số chất thải từ sản xuất như tro, xỉ, mạc sắt, khoáng chất, và keo nhôm Phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong giai đoạn xử lý cuối cùng và có khả năng tái chế chất hấp phụ.
Trao đổi ion là quá trình làm sạch nước chứa cyanua bằng cách cho các ion trên bề mặt vật rắn trao đổi với ion cùng điện tích trong dung dịch khi tiếp xúc Chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ tự nhiên hoặc tổng hợp Mặc dù phương pháp này hiệu quả ở giai đoạn cuối, nhưng nó khá tốn kém và yêu cầu tái sinh ionit.
II.6.4 Xử lý sinh học
Xử lý hiếu khí là quá trình sử dụng bùn hoạt tính, hồ ổn định có sục khí, bể tiếp xúc sinh học và cánh đồng tưới để xử lý nước thải Tuy nhiên, các công trình này thường yêu cầu diện tích lớn và nước thải tinh bột khoai mì có hàm lượng ô nhiễm cao, dẫn đến việc tiêu tốn nhiều năng lượng trong quá trình sục khí Phương pháp này chỉ nên áp dụng sau khi nước thải đã trải qua giai đoạn tiền xử lý để giảm nồng độ các chất ô nhiễm.
Xử lý kỵ khí, bao gồm các thiết bị như USB, lọc kỵ khí và hệ thống lọc đệm giãn nở, cho thấy tính khả thi cao hơn so với xử lý hiếu khí Phương pháp này không chỉ có chi phí đầu tư và vận hành thấp mà còn yêu cầu lượng hóa chất bổ sung ít, tiết kiệm năng lượng và cho phép thu hồi biogas Hơn nữa, lượng bùn sinh ra thấp hơn, giúp tăng khả năng vận hành cao tải và giảm diện tích cần thiết cho công trình.
II.6.5 Các công nghệ xử lý đang được áp dụng và nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 16 về chế biến tinh bột khoai mì trên thế giới, với mức sản xuất tinh bột mì đạt tới 2.050.300 tấn mỗi năm (Diệu, 2003)
Củ mì tươi là nguyên liệu chính để sản xuất tinh bột mì, và hiện nay, nhiều nhà máy chế biến tinh bột khoai mì đã được xây dựng tại Việt Nam Việc này không chỉ tăng giá trị của tinh bột mì mà còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như dệt, giấy, thực phẩm, xà phòng, chất tẩy, dược phẩm và mỹ phẩm Hàng năm, Việt Nam sản xuất một lượng lớn tinh bột khoai mì phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước.
Ngành chế biến tinh bột mì tại Việt Nam đã đạt sản lượng 500.000 tấn (Diệu, 2003), tuy nhiên, sự phát triển này cũng dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là đối với các nguồn tiếp nhận nước thải Để sản xuất một tấn tinh bột mì, các nhà máy chế biến thải ra khoảng 12 – 15 m³ nước thải (Hiển và cộng sự, 1999; Mai, 2004).
Kết quả khảo sát cho thấy nước thải từ các nhà máy chế biến tinh bột mì có hàm lượng chất hữu cơ cao, với COD từ 7.000 đến 41.500 mg/l, BOD từ 6.200 đến 23.000 mg/l, và SS từ 500 đến 8.600 mg/l Ngoài ra, nước thải này có pH thấp, dao động trong khoảng 4,2 đến 5,7.
Hàm lượng độc tố CN trong nước thải tinh bột mì rất cao, dao động từ 19 đến 96 mg/l Nước thải này có khả năng phân hủy kỵ khí rất hiệu quả, đạt tới 92,3 – 93,3% cho nước thải nguyên thủy và 94,6 – 94,7% cho nước thải sau lắng sơ bộ (Mai, 2006) Vì vậy, nước thải từ các nhà máy chế biến tinh bột mì là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Hiện nay, việc xử lý nước thải từ các nhà máy sản xuất tinh bột mì chủ yếu được thực hiện tại các cơ sở lớn thông qua hệ thống hồ ổn định kết hợp với thực vật nước Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống này gặp nhiều nhược điểm như phát sinh mùi hôi, yêu cầu diện tích lớn và thời gian lưu nước kéo dài từ 20 đến 40 ngày để phân hủy hoàn toàn các chất hữu cơ Công nghệ xử lý hiện tại dẫn đến kết quả đầu ra không ổn định và khó đạt tiêu chuẩn quy định của Việt Nam.
Nam, thông thường là TCVN 5945 – 2005 cột B