1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu trồng nấm bào ngư xám trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn

74 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Trồng Nấm Bào Ngư Xám Trên Cơ Chất Mạt Cưa Cao Su Có Bổ Sung Phân Trùn
Tác giả Nguyễn Thu Thảo
Người hướng dẫn GVC. Th.S Nguyễn Thị Sáu
Trường học Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP. HCM
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học
Thể loại Đồ Án Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Tính hiệu suất sinh học của nấm bào ngư Xám trồng trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn so với trồng nấm trên mạt cưa cao su không có bổ sung phân trùn... Loài nấm Độ ẩm thíc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM KHOA MÔI TRƯỚNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU TRỒNG NẤM BÀO NGƯ XÁM TRÊN CƠ CHẤT MẠT CƯA CAO SU CÓ BỔ SUNG PHÂN TRÙN

Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Giảng viên hướng dẫn: GVC Th.S NGUYỄN THỊ SÁU Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THU THẢO

MSSV: 107111158 Lớp: 07DSH1

TP Hồ Chí Minh, 2011

Trang 2

Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài:

Nấm ăn có thể coi là loại thực phẩm an toàn không chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như chất bảo quản, cân bằng về giá trị dinh dưỡng Vì vậy coi nấm như một loại rau sạch hay thịt sạch và các loại thực phẩm thuốc

Ngành sản xuất nấm ăn rất phù hợp với nước ta có nền kinh tế nông nghiệp Hơn nữa nước ta có đầy đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm như điều kiện khí hậu đa dạng, nguồn nguyên liệu dồi dào như là rơm rạ, thân ngô, dây lạc, gỗ cành, gỗ vụn, mạt cưa,… đạt trên 40 triệu tấn; lực lượng lao động dồi dào, kỹ thuật nuôi trồng đơn giản, không cần công nghệ cao, thị trường tiêu thụ nấm lớn

Về giống và công nghệ thì các nhà khoa học đã có trong tay một số lượng giống khá phong phú Vấn đề quan trọng quyết định việc lựa chọn xem có thể trồng được những loài nấm nào? ở địa phương nào? vào mùa vụ nào? Các yếu tố trên để xác định được độ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển sợi nấm và sự hình thành quả thể Chính vì các lí do đó nên chúng tôi làm đề tài “Nghiên cứu trồng nấm bào ngư Xám trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn”

Phân trùn là gì? Tại sao phải sử dụng phân trùn để trồng nấm bào ngư Xám hay các loại nấm khác để đẩy nhanh tốc độ lan tơ và năng suất nấm?

Khi sản xuất nấm mà dùng đủ lượng phân trùn sẽ ngăn ngừa và làm tăng sức

đề kháng đối với nấm bệnh Sử dụng phân trùn đúng bí quyết sản xuất hiện đại là nguyên nhân quan trọng để nông dân làm giàu, để có đủ thực phẩm thật sự sạch và

để đảm bảo sức khỏe cho nhân loại Mọi loại nấm đều cần phân để đảm bảo năng xuất cần thiết và việc sử dụng phân được người nông dân áp dụng từ nhiều năm nay, đã và đang góp phần tăng sản lượng, chất lượng của nấm Một tác dụng có lợi nữa là làm tăng độ phì nhiêu của đất, đất được cải thiện do dùng các bịch mạt cưa sau khi thu nấm để bón cho đất Hơn nữa người dân thu được lợi nhuận cao do sản xuất có hiệu quả hơn mà giá thành phân trùn lại rẻ tiền nên cần phải áp dụng ngay

để đạt năng suất cao nhất

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nấm bào ngư Xám (Pleurotus sajor-caju), cơ chất

mạt cưa cao su và phân trùn

- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình nuôi trồng được tiến hành ở trang trại nấm Bảy Yết (2/73A ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hoocmon, thành phố Hồ Chí

Minh)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm hình thái của tơ nấm bào ngư Xám trên môi

trường mạt cưa cao su (làm đối chứng)

-Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm hình thái của tơ nấm bào ngư Xám trên môi trường mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn: 2%, 5 %, 8%

-Xây dựng quy trình tối ưu nuôi trồng nấm bào ngư Xám trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn

-Tính hiệu suất sinh học của nấm bào ngư Xám trồng trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung phân trùn so với trồng nấm trên mạt cưa cao su không có bổ sung phân trùn

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Trang 5

1.1.Giới thiệu chung về nấm bào ngư Xám

Giới nấm (Mycota hay Fungi)

Nấm bào ngư được nuôi trồng phổ biến thuộc họ Pleurotaceae Theo nghĩa

chữ Hy Lạp Pleurotus có nghĩa sự mang một bên (Pleuron: bên cạnh) và hình

dạng như vỏ sò (otes: lỗ tai)

Đầu tiên nấm bào ngư được trồng ở Châu Âu trên gỗ, rồi sau đó trên mùn cưa, cùi bắp, rơm rạ Nhiều giống nấm bào ngư được trồng ở vùng ôn đới, cũng mọc tốt ở điều kiện nhiệt độ nước ta (28-300C) Các nhà trồng nấm Hungari đã có

công tìm ra phương pháp trồng nấm bào ngư xám đen (Pleurotus ostreatus) với

quy mô công nghiệp Nhờ sự giúp đỡ về giống của Hungari năm 1977 PTS Văn

Mỹ Dung đã trồng ra nấm bào ngư đầu tiên ở nước ta tại thành phố Hồ Chí Minh

Hình dạng quả thể phẳng, lúc già mới cong lại, mũ nấm có hính tròn, đường kính mũ nấm: 5-15cm, kích thước cuống nấm: 1,5-3 x 3-10cm, kích thước bào tử nấm 8,6-10,6 x 4 micromet Màu trắng tro hay nâu xám, thịt nấm dày vừa phải, màu trắng Cuống nấm màu trắng, trên to dưới nhỏ, gốc cuống có lông nhung

Loài nấm này có tên khoa học là Pleurotus sajor-caju hay tên tiếng Anh:

Phoenix-tail Mushroom [GS.TS Nguyễn Lân Dũng, 2005]

Trang 6

Hình 1.1: Nấm bào ngư Xám (Pleurotus sajor-caju)

Đến giai đoạn trưởng thành nấm bào ngư sẽ phát tán bào tử, nhờ gió đưa bào tử giải ra khắp nơi, gặp điều kiện môi trường thuận lợi sẽ hình thành hệ sợi nấm sơ cấp Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủ tạo nên một mạng để rồi hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợp của hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể hoàn chỉnh [GS.PTS.Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 2005]

Hình 1.2: Chu kỳ sinh trưởng của nấm bào ngư Xám

Trang 7

Chu trình sống bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp, kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm Tai nấm lại sinh đảm bào tử và chu trình sống lại tiếp tục bắt đầu Một vòng tuần hoàn khép kín cho sự phát triển của nấm bào ngư

Hình 1.3: Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư Xám (a) Dạng san hô; (b) Dạng dùi trống; (c) Dạng phễu; (d) Dạng phễu lệch; (e) Dạng

lá lục bình

Quả thể nấm phát triển qua nhiều giai đoạn, dựa theo hình dạng tai nấm mà

có tên gọi cho từng giai đọan:

Dạng san hô: quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chùm

Dạng dùi trống: mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả

về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ nấm không khác nhau bao nhiêu

Dạng phễu: mũ mở rộng, trong không khí cuống còn ở giữa (giống cái phễu)

Dạng bán cầu lệch: cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm của mũ

Dạng lá lục bình: cuống ngừng tăng trường, trong khi mũ vẫn tiếp tục phát triển, bìa mép thẳng đến dợn sóng

Nấm bào ngư Xám có đặc điểm là tai nấm có dạng phễu lệch, phiến nấm mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn Tai

Trang 8

nấm bào ngư khi còn non có màu xám nhạt, nhưng khi trưởng thành màu trở nên đậm hơn Mặt dưới của nấm có màu trắng còn mặt trên có màu xám Nấm mọc đơn lẻ hoặc thành cụm tập chung bao gồm 3 phần: mũ, phiến, cuống

Từ giai đoạn phễu sang phễu lệch sang bán cầu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt

về khối lượng (trọng lượng tăng), sau đó giảm dần Vì vậy thu hái nấm bào ngư nên chọn lựa tai nấm vừa chuyển sang dạng lá [Lê Duy Thắng, 1999]

1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng

Một số yếu tố không kém phần quan trọng cho việc trồng nấm bào ngư Xám là nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng, Oxy… Ngoài các yếu tố trên thì cần cho sự tăng trưởng của nấm còn có các chất dinh dưỡng trong nguyên liệu

Nấm bào ngư có nhiều chủng loại khác nhau, khả năng phân bố đối với

nhiệt độ cũng rất rộng Có những loài mọc ở nhiệt độ thấp, như: bào ngư tím (P ostreatus), ra nấm ở 150C, thậm chí phải “sốc lạnh” ở 50C trong 24 giờ trước khi chuyển sang 150C (Laborde và J Delmas, 1974) hay bào ngư xám (P sajor-caju)

ra nấm đồng loạt khi sốc lạnh ở 150C trong 12 giờ Một số loài khác cần từ 250C –

320C [Lê Duy Thắng, 1999]

Ở Việt Nam hiện nuôi trồng thông dụng một số loài bào ngư sau:

- Bào ngư trắng (P florida) ra nấm ở 27-28 0C

- Bào ngư xám (P sajor-caju) ra nấm ở 24-25 0C

- Bào ngư Nhật (P abalonus) ra nấm ở 26-28 0C

-Bào ngư vua (P eryngii) ra nấm ở 26-27 0C

Loài nấm bào ngư Nhiệt độ thích hợp

cho tăng tơ

Nhiệt độ thích hợp

ra nấm

Nhiệt độ thích hợp sản xuất

Trang 9

300C ± 50C

200C ± 50C Bảng 1.1: Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài loài nấm bào ngư Ngoài nhiệt độ, nấm bào ngư còn chi phối bởi ẩm độ Ẩm độ thích hợp cho

tơ nấm phát triển là từ 60 – 70% (độ ẩm cơ chất trồng nấm) và cho quả thể là 70 – 90% (độ ẩm không khí) [Lê Duy Thắng, 1999]

Độ ẩm: rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 60 - 70%, còn độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70% Ở giai đoạn tưới đón nấm ra quả thể, độ ẩm không khí tốt nhất là 80 – 95% Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống Khi nhiệt

độ trong không khí thấp hơn nhiệt độ trong nhà trồng thì cần tưới nước để giảm nhiệt độ, đồng thời làm tăng độ ẩm cho nhà trồng Khi đó sẽ làm giảm hiện tượng làm héo quả thể [Lê Duy Thắng, 1999]

Trang 10

Độ ẩm đạt 65% (vắt chặt, chỉ có nước ướt vân tay) Nếu quá ẩm hoặc quá khô cần phải chỉnh lại bằng cách phơi hay bổ sung nước, ủ lại 1-2 ngày sau mới trồng [GS.PTS Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 2005]

Loài nấm Độ ẩm thích hợp

của cơ chất (%)

Độ ẩm tương đối (%) của không khí

Thích hợp cho sự sinh trưởng của hệ sợi nấm

Thích hợp cho sự phát triển của quả nấm

Bảng 1.2: Độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của nấm bào ngư

Ánh sáng: Yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể nhằm kích thích nụ nấm phát triển Nhà nuôi trồng nấm cần có ánh sáng khoảng 200 – 300 lux (ánh sáng khuếch tán – ánh sáng phòng) Còn ánh sánh yếu sẽ làm chân nấm dài ra và mũ hẹp [Lê Duy Thắng, 1999]

Độ pH: Nguyên liệu mạt cưa khi chế biến thường có những biến đổi về pH Đối với nấm bào ngư Xám, khả năng chịu đựng sự giao động pH tương đối tốt,

pH môi trường có thể giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9 thì tơ nấm vẫn mọc được Tuy nhiên pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong khoảng 5 – 7

pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình [Lê Duy Thắng, 1999]

Độ thông thoáng: Thời kì nuôi sợi không cần nhiều O2 tự nhiên nên chỉ cần

độ thông không khí vừa phải Thời kì nấm lên sử dụng nhiều O2 tự nhiên nên nồng

Trang 11

độ CO2 tăng lên cao hơn khi sợi nấm đang trong thời kì phát triển nên cần độ thông thoáng nhiều hơn

Đặc biệt quá trình nẩy nầm của bào tử và tăng trưởng của tơ nấm bào ngư

có liên quan đến nồng độ CO2 cao (22%), nhưng khi cần ra nấm thì nồng độ CO2

phải giảm và lượng oxy tăng lên Nếu không mũ nấm sẽ bị hẹp lại trong khi chân nấm dài ra, dẫn đến tai nấm bị dị dạng Vì vậy nhà trồng cần có độ thông thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp [Lê Duy Thắng, 1999]

1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư Xám

Các loài nấm bào ngư pleurotus là nguồn thực phẩm bổ dưỡng quý giá với

hàm lượng protein cao tới 33 – 43% sinh khối khô Thành phần acid amin phong phú, có đủ các acid amin không thay thế, bên cạnh đó là các thành phần gluxit, vitamin, khoáng chất, acid béo (chủ yếu là acid không no, acid hữu cơ…) Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng

và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu…

Do đặc tính khác biệt với thực vật và cả động vật về khả năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản nên nấm được xếp vào một giới riêng Với vị ngọt đậm, thân nấm giòn, dai Nấm bào ngư chế biến được nhiều món ăn từ chay đến mặn nên được mệnh danh là thứ thực phẩm vừa là “rau sạch” mà cũng vừa là “thịt

sạch”

Nấm ăn nói chung và nấm bào ngư nói riêng là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein chỉ đứng sau thịt, cá, giàu các chất khoáng và các acid amin tan trong nước, các acid amin không thay thế như lyzin, tryptophan, các acid amin chứa nhóm lưu huỳnh Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn các vitamin quan trọng

Thành phần các chất dinh dưỡng chính của một số loài nấm Bào ngư bao gồm: carbonhydrate, protein, amino acid, chất béo, khoáng chất, hoạt chất và các

Trang 12

vitamin được nhiều nhà dinh dưỡng học quan tâm nghiên cứu, nhằm đánh giá vai trò quan trọng của nấm như nguồn thực phẩm cho con người

Đạm

Phân tích trên nấm cho thấy, nấm có hàm lượng đạm cao, hàm lượng đạm nấm bào ngư Xám là 10,5 - 30,4%, bào ngư mỏng là 9,9 - 26,6% Nấm có đầy đủ các acid amin thiết yếu như: isoleucin, leucin, lysine, methionin, phennylalnin, threonin, valin, tryp-tophan, histidin Đặc biệt nấm giàu lysine và leucin, ít tryptophan và methionin Ngoài ra, tùy theo cơ chất trồng nấm mà hàm lượng đạm có thay đổi Nhìn chung, lượng đạm của nấm chỉ đứng sau thịt và sữa, cao hơn các loại rau cải, ngũ cốc như khoai tây (7,6%), bắp cải (18,4%), lúa mạch (7,3%) và lúa mì (13,2%)

Chỉ số acid amin không thay thế EAI (essential aminoacid index) được xác định bằng cách so sánh với các acid amin không thay thế của trứng gà EAI của

nấm sò phượng vĩ (Pleurotus saijor – caju) là 65,24; của nấm sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae) là 48,08; của nấm sò tím (Pleurotus ostreatus) là 47,33

Giá trị sinh học BV (biological value) theo Oser (1959) được tính bằng công thức sau đây:

BV = 1,09 x (EAI) – 11,70

BV của nấm sò phượng vĩ (Pleurotus saijor – caju) là 59,41, của nấm sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae) là 40,71; của nấm sò tím (Pleurotus

ostreatus) là 39,89 [GS.TS Nguyễn Lân Dũng, 2005]

Acid amin Loài nấm sò

Trang 13

Bảng 1.3: Thành phần các acid amin trong nấm bào ngư

Chú thích: 1 Nấm sò phượng vĩ (Pleurotus saijor – caju); 2 Nấm sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae); 3 Nấm sò tím (Pleurotus ostreatus) [GS.TS

Chất béo

Lượng chất béo của nấm bào ngư Xám là 1,6 % so với trọng lượng khô, của nấm rơm là 3,0%, của nấm hương là 2,1%, của nấm mỡ là 3,1 %, của mộc nhĩ là 1,3%, của ngân nhĩ là 0,6 % [GS.TS Nguyễn Lân Dũng, 2005]

Trang 14

Chất béo có trong nấm chiếm từ 1 - 10% trọng lượng khô của nấm, bao gồm các acid béo tự do, monoflycerid, diglycerid và triglyceride, serol, sterol ester, phos - phor lipid và các acid béo thiết yếu chiếm từ 54 -76% tổng lượng chất béo, các acid béo thiết yếu ở bào ngư là 62,94%

Carbohydrat và sợi

Tổng lượng Carbohydrat và sợi chiếm từ 51 - 88% trong nấm tươi và khoảng 4 - 20% trên trọng lượng nấm khô, bao gồm các đường pentose, methyl pentos, hexose, disaccharide, đường amin, đường rượu, đường acid Trehalose là một loại “đường của nấm” hiện diện trong tất cả các loại nấm, nhưng chỉ có ở nấm non vì nó bị thủy giải thành glucose khi nấm trưởng thành Polysaccharid tan trong nước từ quả thể nấm luôn luôn được chú ý đặc biệt vì tác dụng chống ung thư của nó

Thành phần chính của sợi nấm ăn là chitin, một polymer của n–acetylglucosamin, cấu tạo nên vách của tế bào nấm Sợi chiếm từ 7,5 - 17,5% ở nấm bào ngư

Vitamin

Lượng chứa một số vitamin của nấm sò được trình bày trong bảng sau đây:

Nấm sò

Vitamin (mg/100g nấm khô) Vit C Vit B1 Acid

nicotinic

Vit B2 Acid

pantotenic

Acid folic

Trang 15

phosphor, natri, calci và magie, các nguyên tố khoáng này chiếm từ 56 - 70% lượng tro Phosphor và calcium trong nấm luôn luôn cao hơn một số loại trái cây

và rau cải Ngoài ra còn có các khoáng khác như sắt, đồng, kẽm, mangan, cobalt

Tên loài Nước Protein

Bảng 1.5: Thành phần dinh dưỡng của nấm Bào ngư (%)

Hàm lượng nước của 3 loài nấm bào ngư trên dao động trong khoảng 89 - 91.7% Nghĩa là lượng sinh khối khô chỉ vào khoảng 10% song tỷ lệ chất dinh dưỡng rất đáng kể và cân đối, vượt hơn hẳn các loại rau quả Do đó quan niệm trước đây coi nấm như là một loại rau là không chính xác Hàm lượng protein thô

của nấm Bào ngư nếu như so với các loại thịt cá lượng protein đạt xấp xỉ 40%

trọng lượng khô, trị số sinh năng lượng khá thấp, chỉ cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu Đây là một trong những ưu điểm của loài nấm ăn này, thích hợp cho người ăn kiêng

Ở nấm bào ngư còn phát hiện được chất kháng sinh, gọi là pleurotin Chất này ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương (Robins và cộng sự, 1947) Bên cạnh đó, Yoshioka và cộng sự (1975) cũng tìm thấy hai polysaccharide có tính kháng ung bướu Cả hai đều có nguồn gốc là glucose Trong đó chất được biết nhiều nhất, bao gồm 69% β (1-3) glucan, 13% galactose, 6% mannose, 13% uronic acid [Lê Duy Thắng, 1999]

Trang 16

Hình 1.4: Công thức hóa học của pleurotin Giá trị năng lượng của nấm: Được tính trên 100 g nấm khô Phân tích của Crisan & Sands; Bano & Rajarathnam cho kết quả nấm bào ngư Xám 345 - 367 Kcal; nấm bào ngư mỏng 300 - 337 Kcal; Bào ngư trắng 265 - 336 Kcal Theo kết quả trên của các nhà nghiên cứu thì cùng là bào ngư nhưng có sự khác biệt về giá trị năng lượng trong mỗi loại Trong đó nấm bào ngư Xám có giá trị năng lượng lớn nhất Vì thành phần sinh năng lượng là lipit của bào ngư Xám là cao hơn so với 2 loại bào ngư nhật và bào ngư trắng

1.1.4 Một số điểm lưu ý khi trồng nấm bào ngư Xám

Bệnh sinh lý: Sợi tơ nấm rất mỏng manh và yếu ớt, do đó, dể bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh, như nhiệt độ, ánh sáng, pH, nồng độ CO2 , oxy, kể cả độ ẩm của môi trường Điều kiện không thích hợp, tơ mọc chậm, thưa, rối lại như bông hoặc thành nhiều lớp, đậm lợt khác nhau Thường tơ yếu dẫn đến sức đề kháng giảm, dễ nhiễm bệnh và chết Đối với quả thể, tai nấm trong hoàn cảnh không thuận lợi có những biểu hiện bất thuờng, thịt nấm bị mềm nhũn, trở vàng dễ hư thúi, cuốn nấm chia thành nhiều nhánh, tạo chùm, tai nấm nhỏ như nấm bào ngư

Tệ hại nhất là tai nấm chết non, chất lượng giảm, gây thiệt hại cho người trồng

Chất lượng dinh dưỡng của cơ chất cũng có tác động đến hoạt động của nấm Dinh dưỡng kém, nhiều tạp chất, tơ nấm không bám được vào cơ chất, co cụm lại, mọc thưa hoặc lão hóa sớm (tơ chảy nước vàng, tiết sắc tố, chuyển màu ) Quả thể khó tạo thành hoặc nếu có thì nhỏ thưa, tai nấm bị dị dạng Bệnh sinh lý không kèm theo mầm nhiễm và xảy ra thường xuyên trong quá trình nuôi trồng tự

Trang 17

nhiên Nấm bào ngư có sức sống rất mạnh, tuy nhiên nấm lại rất nhạy cảm với môi trường như nhiệt độ lên xuống đột ngột cũng có thể làm nấm ngừng tăng trưởng, không mọc hoặc héo nhũn Đặc biệt nước tưới nhiễm phèn hơi nặng (pH axit), thì tai nấm ngả vàng, tai bị dị dạng, mũ nấm khô nứt Trường hợp phèn nhẹ cũng làm trên bề mặt mũ nấm có những nốt sần mở ra thành hốc nhỏ Quá trình cung cấp nước cho nấm, nếu giọt tưới lớn sẽ dễ làm chết các tai nấm đang phát triển Tai nấm trong trường hợp này, nhũn ra và rũ xuống

Nấm bào ngư rất nhạy với môi trường Khi nấm ở dạng san hô, nếu nhiệt độ lên trên 320C trong 1 một giờ, nụ nấm bị khô quéo lại như cỏ úa Cũng như trong giai đoạn này, nếu độ ẩm tăng lên trên 90% nhiều giờ thì nấm non sẽ bị thối nhũn

Nấm bào ngư Xám còn nhạy cảm với các tác nhân gây ô nhiễm môi trường như hóa chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng… cả trong nguyên liệu, cũng như không khí nơi nuôi trồng Tai nấm thường sẽ bị biến dạng hoặc ngừng tạo quả thể

Do đó cần lưu ý khâu chế biến nguyên liệu hoặc kiểm tra các điều kiện nuôi trồng khi thấy tai nấm có biểu hiện không bình thường

Bệnh nhiễm: Yếu tố gây bệnh đa dạng, chủ yếu là các nhóm vi sinh vật, như vi trùng, nấm mốc, nấm nhầy, nấm dại Các tác nhân này ảnh hưởng gián tiếp lên sinh trưởng và phát triển của nấm, bằng cách cạnh tranh nguồn thức ăn và thay đổi pH của môi trường Hậu quả là tơ mọc chậm, thưa, thậm chí ngừng lại Quả thể không tạo thành hoặc dị dạng, năng suất giảm Nhiều khi tơ bị vàng hoặc thúi rửa hoặc mất từng lõm Quả thể ngừng phát triển, hư hỏng hoặc bị bủng từ gốc lên cuống Trong trường hợp này, ngoài yếu tố vi sinh vật còn có sự tham gia của côn trùng Chúng tấn công trực tiếp đến tơ hoặc quả thể nấm Đối với bệnh nhiễm thì việc phát hiện mầm bệnh không phải là khó, nhưng trừ bệnh lại là vấn đề không đơn giản Do đó, cần hiểu biết về các nguyên nhân gây bệnh và tìm biện pháp phòng ngừa là cách làm tích cực nhất

Trang 18

Trong quá trình trồng nấm bào ngư Xám cũng như các loại nấm khác thường bị một số sâu bệnh phá hoại và làm giảm năng suất rất lớn Nên cần có một

số biện pháp xử lí trước khi sự cố sảy ra làm ảnh hưởng tới sản xuất và chất lượng nấm So với các loại nấm trồng khác, thì nấm bào ngư Xám là loài ít bệnh Chủ yếu thường gặp là hai loại bệnh phổ biến là: các loại mốc như mốc cam, mốc

xanh, mốc đen thuộc loài Trichoderma sp và ấu trùng ruồi nhỏ

Các loại nấm mốc phát sinh khi trồng nấm là do đâu? Thứ nhất là do nguyên liệu khử trùng và ủ nguyên liệu chưa đảm bảo được nhiệt độ, hay môi trường cấy giống bị ô nhiễm nặng từ nhiều đợt cấy giống trước để lại Đối với mốc xanh, ngoài việc tranh giành thức ăn chúng còn thay đổi môi trường sống, tạo ra nhiều tạp chất ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nấm bào ngư Xám

Để hạn chế sự phát triển loài mốc này, có hai biện pháp: khử trùng tốt nguyên liệu hoặc nâng pH

Nguyên nhân dẫn đến côn trùng phá hoại là do nhà trồng nấm liên tục, vệ sinh không đảm bảo, độ ẩm quá cao Trước mỗi lần trồng nấm đợt kế tiếp thì phải dọn sạch các túi nấm đã thu hái hết, cọ giá đặt bịch vì trên giá chứa nhiều bụi, mạt cưa, và nấm bệnh Phun nền bằng nước javen, dùng thuốc bảo vệ thực vật phun để tiêu diệt hết côn trùng, nên dừng sản xuất một vài tuần giữa hai lần trồng nấm để làm tổng vệ sinh môi trường xung quanh Đối với ấu trùng của ruồi nhỏ, chúng thường chui vào giữa các khe của phiến nấm, cắn phá làm hư hại nấm Đối với bịch phôi, chúng làm tơ nấm đổi màu, thâm nâu Tốc độ sinh sản của chúng lại rất nhanh, nên thiệt hại gây ra không nhỏ Nhà trồng vì vậy nên có lưới chắn để không cho chúng lọt vào Tuy nhiên, vấn đề chính vẫn là đảm bảo vệ sinh nhà trại sạch sẽ

và được khử trùng thường xuyên

Trong các loại bào tử, thì bào tử nấm bào ngư được ghi nhận là có ảnh hưởng đến sức khỏe con người Đối với vài trường hợp, khi hít phải bào tử nấm, nhạy cảm sẽ biển hiện trong tám giờ, còn ngược lại là từ bốn đến sáu tuần Người bệnh có triệu chứng khó thở, mệt mỏi, nhức đầu, ho và sốt (có thể tới 390C), đôi

Trang 19

khi có nhiều vết đỏ ở tay Bệnh có thể kéo dài trong vài ngày, rồi dứt, nhưng sau

đó lại tái phát và nhất là khi tiếp xúc lại với nấm [Lê Duy Thắng, 1999]

Để ngăn ngừa bệnh nên tránh hít các bào tử nấm, bằng cách mang khẩu trang hoặc mạng che mặt khi đi vào nhà trồng nấm bào ngư Có nơi còn dùng mặt

nạ (như loại phòng hơi độc) khi thu hái nấm Có thể tránh vào nhà trồng vào sáng

sớm hay trời lạnh, hoặc tưới ẩm nhà trồng để rửa bớt bào tử trước khi vào [Lê Duy

Thắng, 1999]

1.1.5 Bảo quản chế biến nấm bào ngư

1.1.5.1 Bảo quản nấm bào ngư

Sau khi thu họach, để đưa nấm đến tay người tiêu thụ, cần một thời gian bảo quản Vì vậy cần một số biện pháp bảo quản sau đây nhằm giữ cho sản phẩm được lâu hơn mà điều quan trọng là chất lượng không được giảm.

Đối với nấm tươi: Hái nấm xong dùng dao sắc nhọn cắt sạch phần gốc, tách những cụm nấm lớn thành những cụm nhỏ, cho vào túi PE, buộc kín miệng túi vừa chặt, vận chuyển nhẹ nhàng đến nơi tiêu thụ Nấm tươi có hàm lượng đạm cao nên rất nhanh bị hỏng và dễ dập nát Nấm bào ngư Xám chỉ giữ được thời gian ngắn, bằng cách làm chậm sự phát triển, giảm cường độ hô hấp, chống thoát nước và bảo quản ở nhiệt độ thấp Nấm bào ngư trong điều kiện được giữ lạnh ở 5 - 8oC thì bảo quản được lâu Thời gian để được 48 giờ vẫn đảm bảo được chất lượng tốt Ở gia đình có tủ lạnh, nấm bào ngư nên được bảo quản ở ngăn rau

Đối với nấm khô: Làm khô ở mức tối đa (còn 10 - 12%), bằng cách lấy nước trong tai nấm ra, sau đó bảo quản trong túi kín để tránh hút ẩm trở lại Nấm bào ngư Xám dễ làm khô, chỉ cần dàn mỏng để nơi thoáng có gió là nấm khô quéo lại Nếu phơi và sấy thì thời gian càng nhanh hơn Nhiệt độ sấy khoảng 50oC Thường nấm khô có mùi thơm đặc trưng hơn nhưng không giòn, ngọt như nấm tươi Tỉ lệ nấm khô/nấm tươi là 1/11 (11 kg tươi thu được 1kg nấm khô)

Trang 20

Đối với dạng khác như muối mặn thì nấm được bảo quản ở độ muối 20-22

độ Dạng muối chua có thể giữ nấm được thời gian khá lâu Dạng đóng hộp, chế biến gần như thành phẩm và được cho vào bao bì kín, là các hộp thiếc đóng kín lại

1.1.5.2 Chế biến nấm bào ngư

Với nấm bào ngư tươi: Đun sôi nước, thả nấm vào trong 1 – 2 phút, vớt ra ngâm trong nước lạnh, vớt ra để ráo nước cho nấm săn chắc và hết mùi ngái, rồi mới chế biến

Với nấm sấy khô: rửa sạch trụng qua nước sôi 1 –2 phút để chế biến như nấm tươi

Nấm chế biến thành nhiều món ăn: nấu cháo, nấu canh, xào mì với thịt, làm nem, chiên với trứng, muối xả ớt chiên, nướng, pha lẫn với giò nạt,

Chú ý: Không nên ăn quá nhiều nấm Định lượng 200g/người/bữa Không

cần thêm bột ngọt vì nấm đã đủ ngọt, phải nấu chín, không nấu tái

1.2 Thực trạng công nghệ sản xuất và chế biến nấm hiện nay của Việt Nam và thế giới

1.2.1 Tình hình trong nước

Thực trạng nghề trồng nấm tại Việt Nam đang được những người nông dân, nhà khoa học quan tâm một cách đáng kể so với trước đây là làm một cách tự phát, không có một kỹ thuật trồng nấm chuẩn nào Trồng nấm chỉ được những người nông dân tự học, tự tìm tòi cho mình một số kiến thức cơ bản để trồng nấm Bước đầu gặp thất bại, từ những thất bại đó cho họ một số kiến thức đáng kể để đưa tới thành công như ngày hôm nay Khi trồng nấm những người nông dân không biết bắt đầu từ đâu? Một câu hỏi được đặt ra - Muốn trồng nấm thì mua giống ở đâu, bán cho ai, ai mua và giá cả như thế nào ? Đó là những vấn đề cần giải quyết trước khi trồng nấm

Trang 21

Việc tổ chức sản xuất nấm bào ngư của các đơn vị chuyên kinh doanh về nấm còn nhiều thiếu sót Chất lượng giống nấm chưa đảm bảo từ khâu sản xuất đến quá trình nuôi trồng, bảo quản, cách sử dụng Các giống nấm bào ngư đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn giống khác nhau Một số giống được nhập từ một số nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Một số khác được sưu tầm trong nước, song việc chọn lọc, kiểm tra để đánh giá tiềm năng về năng suất, chất lượng của từng loại, từ đó để nhân giống đại trà phục vụ cho sản xuất hầu như chưa có đơn vị nào đảm trách

Khâu hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nấm đạt chất lượng xuất khẩu đến từng hộ gia đình không đầy đủ, do thiếu cán bộ và trình độ kỹ thuật viên non kém Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và làm công tác kỹ thuật về nấm được đào tạo cơ bản tại các trường đại học, có kinh nghiệm lâu năm và chuyên tâm với nghề nghiệp còn quá ít

Công tác nghiên cứu về công nghệ chọn, tạo giống, công nghệ nuôi trồng nấm bào ngư đạt năng suất cao, chi phí thấp, công nghệ bảo quản nấm đạt chất lượng ở các trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuất chưa được chú trọng đúng mức Các thiết bị, công nghệ trồng nấm nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,… không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở Việt Nam

Hợp đồng xuất khẩu nấm thường không đủ về số lượng, chất lượng còn thấp dẫn đến mất lòng tin với khách hàng nước ngoài

Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng và cách ăn nấm trên các phương tiện thông tin đại chúng còn ít

1.2.2 Tình hình trên thế giới

Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu sản xuất nấm bào ngư, nấm hương, nấm rơm, nấm mỡ là chủ yếu Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo mô hình công nghiệp được cơ giới hóa chuyên môn rất cao với sản lượng từ 200-1000 tấn/năm đối với mỗi công ty sản xuất nấm Để có được sản

Trang 22

lượng lớn như vậy thì tất cả các khâu sản xuất phải liên tục, thực hiện một cách liên hoàn Tất cả các khâu đều do máy thực hiện, năng suất trung bình đạt từ 40-60% so với nguyên liệu ban đầu

Khu vực Châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hản Quốc, Thái Lan…) triển khai theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt là ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân Hiện tại Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nấm nhất trên thế giới Sản lượng nấm của Trung Quốc trung bình khoảng 3 triệu tấn/năm, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới Tại Hàn Quốc thì sản xuất nấm mỡ và nấm hương với quy mô vừa và nhỏ nên sản lượng cả nước đạt được là 92000 tấn/năm Trước những năm 80 công nghệ nuôi cấy nấm hương với chủng tốt và túi đựng cơ chất thay gỗ khúc và áp dụng cơ giới hóa cho quy mô sản xuất thì sản lượng nấm tăng mạnh, vì vậy nước Nhật Bản chiếm được vị trí vương quốc nấm hương chiếm sản lượng 360100 tấn/năm Sau đó vào những năm 80 trở

đi đến nay thì công nghệ trồng và nghiên cứu nấm hương đã được trú trọng nên Trung Quốc đã sản xuất nấm hương vượt qua Nhật Bản và chiếm vị trí thứ nhất trên thế giới

1.3 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến nấm tại trang trại nấm Bảy Yết (2/73A ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hoocmon, thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 23

Thị trường tiêu thụ trong nước luôn đảm bảo đó là hệ thống co-op mart trên địa bàn thành phố Trại nấm sản xuất ra không thiếu nơi tiêu thụ mà còn không đủ cung ứng cho nhà phân phối

Nguồn nguyên liệu mạt cưa thì luôn có chất lượng ổn định và được nhà phân phối mạt cưa chở đến tận cơ sở sản xuất Nguồn nguyên liệu là phế thải của các cơ sở sản xuất gỗ nên giá thành cũng rẻ

Cơ sở đã tận dụng được một số lao động nhàn rỗi là bà con xung quanh cơ

sở Nên không thiếu nguồn lao động mà còn giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người dân

Trang trại mở rộng quy mô sản xuất với kinh nghiệm lâu năm của Ông Bảy

và với sự tâm huyết yêu nghề của ông Không những giúp cho bà con xung quanh

về kỹ thuật trồng nấm mà còn là nơi bao tiêu sản phẩm nấm

1.3.2.Khó khăn

Cơ sở sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa hợp tác với các cơ sở sản xuất các vùng lân cận Sản xuất chưa tập chung chưa theo quy mô công nghiệp, cần phải có dây truyền sản xuất liên hoàn từ khi làm meo giống đến khi sản xuất, tới nơi tiêu thụ sản phẩm, năng suất chưa thật sự ổn định, và năng suất trồng nấm còn hạn chế Chưa tận dụng hết tiềm năng hiện có, chưa xây dựng được mối liên kết giữa nhà

kỹ thuật, nhà sản xuất và doanh nghiệp

Năng suất chất lượng còn thấp do sản xuất còn mang tính thủ công chưa được đầu tư nhiều thiết bị vào công nghệ sản xuất nấm

Các biện pháp phòng dịch bệnh trong quá trình nuôi trồng nấm, cơ sở còn chưa quan tâm tích cực dẫn đến hậu quả là khi dịch bệnh xảy ra làm giảm sản lượng, chất lượng nấm, gây thất thu

Meo giống là khâu quan trọng trong việc nuôi trồng nấm để đạt năng suất khi thu hoạch Tuy hiện nay việc làm meo giống nhìn chung còn chưa đạt được các yêu cầu cao về chất lượng nên có nguy cơ bị thoái hóa giống, như thuần

Trang 24

chủng, không có mầm bệnh, khả năng kháng khuẩn để tạo ra sản phẩm nấm đạt chất lượng, sản lượng trong nuôi trồng

1.4 Thị trường tiêu thụ nấm bào ngư Xám

Thị trường tiêu thụ nấm lớn nhất trên thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, các nước Châu Âu Hằng năm các nườc này phải nhập khẩu từ Trung Quốc (dạng nấm muối và nấm đóng hộp) Tại các nước này, do khó khăn về nguồn nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôi trồng nấm và kinh doanh mặt hàng này đang chuyển sang các nước chậm phát triển để mua nguyên liệu và đầu tư sản xuất, chế biến tại chỗ

Hiện nay thị trường tiêu thụ nấm bào ngư trong nước đang tăng rất mạnh Các tỉnh miền Trung và Nam Bộ tiêu thụ trung bình 50 tấn nấm/năm Thành phố

Hồ Chí Minh và Hà Nội có những lúc cao điểm đã tiêu thụ trên 30 tấn nấm/năm

Trại nấm Bảy Yết có thị trường tiêu thụ trong nước như cung cấp nấm bào ngư tươi cho các siêu thị, chủ yếu là Co.op mark và Vinatex Sản phẩm được đem đến Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Pasteur kiểm định ba tháng/ lần Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư khi được xét nghiệm tại trung tâm y tế dự phòng :

+ Hàm lượng glucid: 4,16 % khối lượng

+ Hàm lượng protein: 3,42 % khối lượng

+ Năng lượng: 30,32 Kcal/100g

+ Độ pH: 5,03

+ Hàm lượng canxi: 5,00 mg/100g

+ Hàm lượng magie: Không phát hiện

+ Hàm lượng nước: 89,10% khối lượng

+ Hàm lượng tro không tan/ hữu cơ : Không phát hiện

Kết quả xét nghiệm vi sinh vật có trong sản phẩm:

+ Tổng số vi khuẩn hiếu khí : 4,0x103 /g

Trang 25

+ Coliforms: <10 /g

+ E.Coli: Không phát hiện

+ Clostridium perfringens : Không phát hiện

+ Tổng số bào tử nấm men, mốc: 1,4 x103/g

+ Bacillus cerus : 0/g

- Ngoài ra nấm bào ngư tươi còn cung cấp cho các chợ đầu mối

- Giá thành nấm bào ngư Xám tại trại nấm Bảy Yết

Nấm bào ngư Xám tươi 30.000 đồng / kg

Nấm bào ngư Xám khô 300.000 đồng / kg

1.5 Đặc điểm cấu trúc thành phần mạt cưa cao su

1.5.1 Cellulose

Cellulose có nhiều hơn tất cả các hợp chất khác của cơ thể sống Vì đó là nguyên liệu cấu trúc chính của thành tế bào thực vật Thành phần chủ yếu của vách tế bào thực vật và chiếm 50% tổng lượng hydrocacbon trên trái đất Ngoài thực vật là nguồn chủ yếu còn có trong giới động vật, nhưng số lượng rất ít Cellulose là chất trùng hợp từ các đơn phân glucose Tuy nhiên các đơn phân này nối với nhau bằng liên kết -1,4-glucozit làm cho các đơn phân glucose luân phiên nhau một “sấp” lại một “ngửa” Sự thay đổi này tương đối nhỏ đã dẫn đến sự thay đổi lớn về tính chất polysaccharide thu được

Cellulose là polysacarit liên kết với nhau bằng liên kết -1,4-glucozit, mức

độ polyme hóa của cellulose rất cao tới 10.000 - 14.000 đơn vị glucoza/phân tử

Số lượng lớn liên kết hydro nội và ngoài phân tử làm cho phân tử cellulose có độ cứng và vững chắc

Trang 26

Hình 1.5: Cấu trúc phân tử cellulose Liên kết glucozit không bền với acid Cellulose dễ bị phân hủy bởi acid và tạo thành sản phẩm phân hủy không hoàn toàn là hydro-cellulose có độ bền cơ học kém hơn cellulose nguyên thủy, còn khi thủy phân hoàn toàn thì sản phẩm tạo thành là D-glucoza

Về bản chất hóa học cellulose là một rượu đa chức có phản ứng với kiềm hay kim loại kiềm tạo thành cellulose-ancolat Nguyên tử hydro ở các ở các nhóm

OH bậc một và hai trong phân tử cellulose cũng có thể bị thay thế bởi các gốc metyl, -etyl,… tạo ra những chất có độ kết tinh và độ hòa tan cao trong nước khác nhau

-Cellulose cũng bị oxy hóa bởi một số tác nhân tạo thành sản phẩm oxy hóa một phần là oxy - cellulose Tác nhân oxy hóa chọn lọc nhất là acid iodic (HIO4),

và muối của nó Cellulose không tan trong nước, dung dịch kiềm làm trương phồng mạch Xenlulo và hòa tan một phần cellulose phân tử nhỏ Đặc biệt cellulose dễ hòa tan trong dung dịch cupri amin hydrat (Cu(NH3)4(OH)2) và hàng loạt các dung dịch là các phức chất của đồng, niken, cadmi, kẽm [ J.F Kennedy,1989]

1.5.2 Lignin

Lignin là một polymer gốc rượu, có cấu trúc 3 chiều rất phức tạp và có nhiệm vụ nâng đỡ cấu trúc tế bào gỗ Sau cellulose, lignin là một polymer phong phú tự nhiên được thực vật tổng hợp và là phần lớn nguồn chất thơm đa dạng trên trái đất Sự có mặt của lignin giúp cho tế bào thực vật cứng rắn hơn và đồng thời giúp cho thực vật tránh được sự xâm nhiễm của vi sinh vật Lignin được tìm thấy

Trang 27

trong vách tế bào ở dạng phức hợp với những polysaccharide như cellulose và hemicellulose, nó cũng giúp bảo vệ những polysaccharide này khỏi sự phân huỷ sinh học

Lignin được sinh tổng hợp bởi sự polymer hoá các tiền chất phenylpropanoid Có 3 loại tiền chất được phân loại tuỳ thuộc theo số lượng nhóm methoxyl trên vòng thơm, được mô tả bằng các công thức hoá học sau:

Hình 1.6: Cấu trúc các đơn phân của phân tử lignin Lignin gỗ mềm chứa hầu hết những đơn vị guaiacyl (1 nhóm methoxy), lignin gỗ cứng chứa số lượng cân bằng guaiacyl và syringyl (2 nhóm methoxy), các lignin khác chứa cả p-hydroxyphenyl (không còn nhóm methoxy) và 2 loại kia [Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2004; J.F Kennedy, 1989]

Trang 28

1.5.3 Hemicellulose

Cũng là một phần polysacarit thường gặp trong vách tế bào thực vật với hàm lượng lớn sau cellulose Tuy nhiên cellulose, hemicellulose được hình thành không chỉ một đường mà nhiều đường khác nhau, thậm chí cả từ acid urnoic của chúng Người ta gọi tên cụ thể một loại hemicellulose là dựa theo tên loại đường chủ yếu tạo nên nó Ví dụ: xylan là một hemicellulose mà thành phần chủ yếu của

nó là xyloza, manan – manoza,… Trong gỗ cây lá kim, chủ yếu hemicellulose được tạo nên từ loại đường 6 cacbon: galactam, manan…

Khác với cellulose, phân tử hemicellulose nhỏ hơn nhiều thông thường không quá 150 gốc đường, được nối với nhau không chỉ bằng liên kết -1,4 mà còn bằng liên kết -1,3 và -1,6 glucozit tạo ra mạch ngắn và phân nhánh

Vì độ polyme thấp, phân nhánh và hỗn hợp nhiều đường nên hemicellulose không có cấu trúc chặt chẽ như ở xenlulo và độ bền hóa lý cũng thấp hơn Hemicellulose dễ tan trong dung dịch kiềm, trong nước nóng và dễ bị phân hủy bởi acid lỏng

Xylan là một hemicellulose phổ biến nhất trong tự nhiên chiếm 30% khối lượng rơm, 20 - 25% cây gỗ lá rộng, 7 - 17% cây gỗ lá kim [Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2004; J.F Kennedy, 1989]

1.5.4 Lignin-cellulose tự nhiên là một cơ chất khó phân hủy

Trang 29

Mỗi thành phần cấu tạo nên lignin - cellulose riêng, do bản chất các kiên kết hóa học, do mức độ polyme hóa và tính không tan trong nước là đối tượng khó phân hủy Tính khó phân hủy lại gia tăng lên nhiều lần khi chúng liên kết với nhau

và với các thành phần khác nữa thành một thể cấu trúc chặt chẽ và phức tạp

Các mạch phân tử cellulose không bao giờ tồn tại riêng lẻ mà nhờ liên kết hydro giữa phân tử tạo thành các cấu trúc lớn hơn gọi là vi sợi, dọc theo sợi có những vùng tại đó các phân tử sắp xếp song song và chặt khít gọi là vùng kết tinh, xen kẽ những vùng mà có sự sắp xếp kém trật tự và chặt chẽ là vùng vô định hình Các vi sợi liên kết với nhau bằng cách đan xen ở những vùng vô định hình này

Các vi sợi cellulose, lignin, đan xen theo những quy tắc những quy tắc nhất định để hình thành nên cấu trúc Với cấu trúc nhiều lớp gồm nhiều thành phần có bản chất hóa học khác nhau như vậy, lignin - cellulose có độ bền vật lý cao rất khó xâm nhập đối với các vi sinh vật và enzyme Hơn nữa để phân hủy bất cứ thành phần nào của phức hợp một cách hiệu quả và triệt để cần phải tác động đến thành phần khác [Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2004; J.F Kennedy, 1989]

1.6 Đặc điểm thành phần của phân Trùn Quế

1.6.1 Đặc điểm sinh học của Trùn Quế

dục đực và cái trên cùng một cơ thể) tuy nhiên chúng không thể tự thụ tinh cho nhau mà sinh sản thông qua việc thụ tinh chéo giữa 2 cơ thể khác nhau Chúng sinh sản quanh năm và thời gian thành thục ngắn nên sản lượng giun nuôi thu được khá cao Kích thước nhỏ, giun trưởng thành dài khoảng từ 10

- 15 cm, thân mảnh giống sợi len Nhưng bù lại chúng sinh sản rất nhanh theo cấp số nhân nên lượng sinh khối thu được trong quá trình nuôi là khá lớn Giun không có phổi mà hô hấp qua da, nếu da bị khô thì giun sẽ chết vì vậy trong quá trình nuôi phải thường xuyên duy trì độ ẩm của chất nền Những ngày trời mưa giun ngoi lên khỏi mặt đất vì vậy khi nuôi giun phải tránh để nước mưa rơi

Trang 30

xuống luống Giun là loài sợ ánh sáng vì vậy khi xây dựng chuồng trại phải đảm bảo không bị ánh sáng rọi trực tiếp và sử dụng đặc tính này trong việc thu hoạch giun

Nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho trùn quế rất đa dạng bao gồm cả phân gia súc (phân trâu, bò, heo, gà ), xác bã thực vật (rơm rạ, lá cây ,mạt cưa ), rác thải gia đình (tuy nhiên loại thức ăn này không được khuyến cáo) Quá trình xử lý nhờ vi khuẩn có trong ống tiêu hóa của trùn đất Phân trùn có khả năng khử mùi và trung hòa pH của đất trồng Chất lượng của phân trùn tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu thức ăn cho trùn

Phân trùn được làm từ phân gia súc, gia cầm thì có chất lượng tốt hơn cả Nhưng phân trùn được làm từ rơm rạ, mạt cưa thì lại có cấu hình tơi xốp, tạo độ thông thoáng và giữ nước tốt Phân trùn là một loại phân hữu cơ 100%, được tạo thành từ các chất thải hữu cơ sau khi qua ống tiêu hóa của trùn quế (Perionyx excayatus)

Phân trùn là loại phân bón thiên nhiên giàu dinh dưỡng có tác dụng kích thích

sự tăng trưởng Không giống như phân chuồng, phân trùn được hấp thu ngay một cách dễ dàng Phân trùn không chỉ kích thích tăng trưởng mà còn tăng khả năng duy trì giữ nước trong đất và thậm chí còn có thể ngăn ngừa các bệnh

Phân trùn chứa một sinh vật có hoạt tính cao như vi khuẩn, nấm mốc đặc biệt là hệ vi khuẩn cố định đạm tự do (Azotobacter), vi khuẩn phân giải lân, phân giải celluose và chất xúc tác sinh học Vì thế hoạt động của các vi sinh vật lại tiếp tục phát triển

1.6.2 Thành phần của phân Trùn

Phân trùn quế: Sau khi ăn các loại chất thải hữu cơ, trùn quế sẽ cho ra

nguồn phân hữu cơ (vermicompost) sạch và đồng nhất; Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng đất mùn, có lẫn trứng và ấu trùng của trùn quế Theo các nhà nghiên cứu,

Trang 31

phân trùn là loại phân hữu cơ tự nhiên duy nhất hiện nay có chứa đầy đủ hàm

lượng các chất cần thiết

Nghiên cứu về vermicompost sớm nhất là Fosgate và Babb (1972), các tác giả đã nuôi trùn bằng phân chuồng và nhận thấy vermicompost thu được có hiệu lực tương đương với mỗi hỗn hợp dinh dưỡng

Buchanan và cộng sự (1988) cho rằng hầu hết các dạng vermicompost đều

có các yếu tố dinh dưỡng mà ở dạng cây sẵn sàng hấp thụ luôn cao hơn compost

có cùng nguồn nguyên liệu là rác hữu cơ ban đầu

Edwards (1988) phân tích và cho thấy tất cả mẫu vermicompost đều có hàm lượng nitrogen dễ tiêu rất cao

Sau đây là bảng thành phần hóa học của phân trùn có nguồn gốc động vật Các chỉ số ở trên cho thấy phân trùn có nguồn gốc động vật là tốt rất nhiều vì trong phân trùn chứa rất nhiều thành phần đa lượng lẫn vi lượng Trong thành phần của phân trùn chứa:

Những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng gồm những nguyên tố dinh dưỡng cần có cho sự phát triển và kéo dài của tơ nấm

N: Nitơ được hấp thu ở dạng NO3-, NH4+

P: Phospho được hấp thu ở dạng H2PO4

-K: Kali được hấp thu ở dạng K+

S: Lưu huỳnh được hấp thu dưới dạng SO4

2-Ca: Canxi được hấp thu dưới dạng Ca2+

Mg: Magiê được hấp thu dưới dạng Mg2+

Những nguyên tố vi lượng cần thiết không kém các nguyên tố đa lượng Các kim loại nặng: Fe, Mn, Zn, Cu, Mo… được hấp thu dưới dạng cation hóa trị hai hoặc ở dạng hợp chất

Trang 32

Các phi kim: Clo và Bo được hấp thu dưới dạng Cl-, H2PO4- Clo cần lượng lớn hơn cần thiết để điều hòa thẩm thấu và tăng khả năng chống nấm bệnh

Thành phần hoá học

Vermicompost (Có nguồn gốc từ phân chuồng)

Trang 33

Aluminum (ppm) 7012, 00

Bảng 1.6: Thành phần hoá học của vermicompost

1.6.3 Tác dụng của phân Trùn Quế

Phân trùn quế cung cấp các chất khoáng cần thiết cho sự phát triển của nấm như đạm, lân, kali, canxi, magic Nó cũng chứa mangan, đồng, kẽm, coban, borat, sắt…là những khoáng chất vi lượng thiết yếu thiếu nó sẽ ảnh hưởng không tốt tới giai đoạn ra quả thể Sự hữu dụng nhất là các chất này là được tơ nấm hấp thu ngay không như những phân hữu cơ khác phải được phân hủy trước khi tơ nấm hấp thụ Sẽ không có bất cứ rủi ro nào xãy ra khi bổ sung phân trùn quế

Chất mùn trong phân loại trừ được những độc tố, nấm hại và vi khuẩn cóhại trong đất, nên nó có thể đẩy lùi những bệnh Do vậy, phân trùn quế hạn chế khả năng gây hại

Phân trùn quế có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu

cơ Điều này ngăn ngừa tơ nấm hấp thu nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng

Phân trùn quế có nồng độ pH = 7 nên nó hoặt động như một chất điều hòa

pH, giúp tơ nấm phát triển tốt ở pH = 5-7

Acid Humid trong phân trùn quế, kích thích sự phát triển của nấm

Phân trùn quế tăng khả năng giữ nước vì phân trùn có dạng hình khối, nó là những cụm khoáng chất kết hợp và cũng có khả năng giữ nước, góp phần làm cho

cơ chất tơi xốp và giữ ẩm được lâu

IAA (Indol Acetic Acid) có trong phân trùn quế là một trong những chất kích thích

Trang 34

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Trang 35

2.1 Vật liệu, hoá chất và thiết bị

- Bông gòn không thấm nước

-Kìm cấy giống, đèn cồn, meo giống cấp 3, bàn cấy giống

-Thước đo (cm)

- Lò hấp bịch phôi

Hình 2.1: Máy sàng mạt cưa

Trang 36

Hình 2.2: Lò hấp bịch phôi

2.1.2 Nguyên vật liệu và hoá chất

- Giống cấp 3 được cung cấp bởi trang trại nấm Ông Bảy Yết (2/73A ấp Tân Lập,

xã Tân Thới Nhì, huyện Hoocmon, thành phố Hồ Chí Minh)

- Môi trường nuôi trồng ra quả thể:

-Mạt cưa cao su

-Phân trùn ( phân được làm từ phân trâu, phân bò)

-Phân D.A.P (diammon phosphat): (NH4)2HPO4

-Cám gạo

-Vôi bột

-Khoáng vi lượng (KH2PO4, MgSO4…)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sau khi đã nhân các giống cấp một, cấp hai, cấp ba thành công đối tượng trên với số lượng khá nhiều Tiếp theo sẽ cấy giống cấp ba vào môi trường cơ chất

Trang 37

mạt cưa để tiến hành nuôi trồng khảo nghiệm Quá trình nuôi trồng được tiến hành

ở trang trại nấm Bảy Yết (2/73A ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hoocmon, thành phố Hồ Chí Minh)

2.2.1 Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm của tơ nấm bào ngư Xám:

2.2.1.1 Công thức giá thể tổng hợp 1 trên môi trường mạt cưa cao su

- Mạt cưa cao su được loại bỏ tạp bẩn

- Nước bổ sung cho đến khi cơ chất đạt độ ẩm 65 - 70%

2.2.1.2 Công thức giá thể tổng hợp 2 trên môi trường mạt cưa cao su có

- Nước bổ sung cho đến khi cơ chất đạt độ ẩm 65 - 70%

2.2.1.3 Công thức giá thể tổng hợp 3 trên môi trường mạt cưa cao su có

bổ sung phân trùn 5 %

Ngày đăng: 11/07/2021, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w